Thứ Ba, 25 tháng 7, 2023

Chủ nghĩa xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp cận từ phương diện đạo đức qua tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã giải đáp thấu đáo, lập luận chặt chẽ, sắc bén, lý giải sâu sắc những câu hỏi lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là gì? Được phát triển và hoàn thiện ra sao? Và từng bước được thực hiện hóa như thế nào? Từ phương diện đạo đức, vấn đề chủ nghĩa xã hội và định hướng chủ nghĩa xã hội cũng được nhìn nhận hết sức sâu sắc, nhất là làm rõ sự ưu việt nhân văn, nhân đạo, vì con người của chế độ xã hội chủ nghĩa và yêu cầu xây dựng Đảng ta về đạo đức, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, giữ gìn uy tín, thanh danh của Đảng. Thứ nhất, về chủ nghĩa tư bản Xét về bản chất, chủ nghĩa tư bản dựa trên sự bóc lột giá trị thặng dư, sự tước đoạt tự nhiên, sự duy trì bất bình đẳng xã hội với khoảng cách ngày càng rộng. Và đó không phải là mục tiêu mà nhân loại hướng tới. Trong bài viết của mình, Tổng Bí thư đã phân tích một cách khách quan, toàn diện về vai trò, vị trí, những giá trị mà chủ nghĩa tư bản đã đóng góp cho nhân loại mà chúng ta phải kế thừa và tiếp thu có chọn lọc, đồng thời chỉ ra những hạn chế, nhược điểm, thuộc tính tiêu cực cố hữu của chủ nghĩa tư bản. Đó là, những khủng hoảng kinh tế tài chính, khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động ngày càng sâu sắc và không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn,… Nguyên nhân của nó là do “quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”(1). Tổng Bí thư cũng chỉ rõ bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” chỉ là hình thức trống rỗng, không bảo đảm được quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. “Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn”(2). Trước đây, trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, V.I.Lê-nin phân tích rõ bản chất của dân chủ tư sản là sự bình đẳng hình thức, tức là sự bình đẳng được công nhận bằng pháp luật tư sản, dân chủ ở chỗ công nhận sự bình đẳng của con người trước pháp luật. Nhưng trên thực tiễn không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó. Không bình đẳng về kinh tế, tất yếu không bình đẳng về chính trị. Và dân chủ ở đây chỉ là hình thức, không thực chất. Trong đời sống chính trị một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Trong tác phẩm cùa mình, Tổng Bí thư đã chỉ rõ “ở Mỹ, một bộ phận rất nhỏ, thậm chí là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải tư liệu sản xuất, kiểm soát tới ¾ nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản”. Mặt khác, ở các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị và “đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”(3). Như vậy, mặc dù chủ nghĩa tư bản có những bước tiến đóng góp to lớn cho lịch sử nhân loại, nhưng đó là xã hội không thực sự vì con người mà vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người, sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội,… Đó cũng không phải là mục tiêu mà nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng đang hướng tới. Thứ hai, về chủ nghĩa xã hội Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, nhân đạo, vì con người và hạnh phúc của con người. Trước đây trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiên cứu cuộc cách mạng tư sản Bắc Mỹ (1775 - 1783), đặc biệt là cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794), Người đã tìm thấy ở chủ nghĩa nhân văn thoát thai từ thời Phục hưng lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái từ trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (1776), Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (1789). Người rất khâm phục, tuy nhiên theo Người, đây là những cuộc cách mạng chưa đến nơi, tức là chưa đem lại quyền lợi thực sự của nhân dân lao động và cũng không trả lời được con đường giải phóng dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân dự lễ Giỗ tổ Hùng Vương_Ảnh: TTXVN “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(4). Cũng trong thời gian tiếp xúc với văn hóa phương tây, Người đã đến với chủ nghĩa Lê-nin - con đường chân chính giải phóng các dân tộc thuộc địa mà bấy giờ Người đang khao khát tìm kiếm, “từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lê-nin vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”(5). Sau đó khi được hỏi chủ nghĩa xã hội là gì, Người trả lời: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ. Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”(6). Ở đây, thể hiện rõ trong quá trình đi tìm đường cứu nước và sau này lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đến với chủ nghĩa xã hội luận giải nó không chỉ từ khát vọng giải phóng dân tộc và nhu cầu giải phóng con người một cách triệt để và sáng tạo mà còn khát vọng làm rạng danh vẻ vang dân tộc, xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, đưa dân tộc Việt Nam bước lên đài vinh quang sánh vai cùng với các cường quốc trên thế giới. Người nhấn mạnh: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang, tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước lên đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(7). Trong cuốn sách, Tổng Bí thư nhấn mạnh đến mong ước tốt đẹp, sự ưu việt nhân văn, nhân đạo, vì con người của chế độ xã hội chủ nghĩa cũng chính là mục tiêu, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, kiên định và kiên trì theo đuổi. “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó, sự phát triển thực sự vì con người chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và phe nhóm,… Chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích nhân dân chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”(8). Ở đây, con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển, phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, bảo vệ môi trường, xây dựng gia đình hạnh phúc, thực hiện bình đẳng giới. Từ đây, Tổng Bí thư làm sáng tỏ những đặc trưng của xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những đặc trưng đó vừa thể hiện tính quy luật phổ biến về chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác - Lê-nin, vừa thể hiện tính đặc thù dân tộc và có tính đến đặc điểm của thời đại ngày nay. Để đạt được mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh do nhân dân làm chủ, cần thực hiện tốt các phương hướng cơ bản. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội…; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc…; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Theo Tổng Bí thư, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn, phức tạp. Chúng ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là “bỏ qua chế độ áp bức bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa, bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không bỏ qua những thành tựu giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được”(9). Như vậy, mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa của cách mạng nước ta đồng nhất với chủ nghĩa nhân đạo hiện thực và làm cho mọi người đều có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Từ cách tiếp cận đạo đức học, chúng ta thấy, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói rõ sự thống nhất giữa mục tiêu và phương thức đạt mục tiêu. Nghĩa là, mục tiêu tốt đẹp, mục tiêu hướng thiện thì phương thức thực hiện mục tiêu cũng sẽ phải thiện. Chúng ta không thể đạt mục tiêu bằng mọi giá, không xóa nỗi đau này bằng cách tạo ra nỗi đau khác. Không xây dựng hạnh phúc của dân tộc mình bằng cách chà đạp lên hạnh phúc của dân tộc khác. Cụ thể, về nguyên tắc, làm thế nào để có sự phát triển vì con người chứ không phải đánh mất con người; làm thế nào để không có “nền văn minh” làm giàu trên lưng người khác và trên lưng dân tộc khác. Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là tuân theo các nguyên tắc đó. Tất nhiên, không thể giải quyết tất cả ngay trong một lúc, nhưng trong từng bước đi, phải có những bước tiến cụ thể trong việc giải quyết những vấn đề trên và đó chính là định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ ba, xây dựng Đảng về đạo đức Xây dựng chủ nghĩa xã hội có thành công được hay không phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động tự giác của quần chúng nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng chính là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì thế, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tập trung chú ý đến vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng để xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”, “xây dựng Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt của Đảng, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng nước ta”(10). Nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng không chỉ xuất phát từ tình hình suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống, sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên, mà còn vì định hướng phát triển lâu dài trong tương lai với tầm nhìn và hành động chiến lược nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cách mạng. Tổng Bí thư coi đây là nhiệm vụ then chốt, là vấn đề sống còn của Đảng ta, chế độ ta. Và, theo Tổng Bí thư, “một Đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì Đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”(11). Và để hoàn thành nhiệm vụ trên cần chú ý thực hiện các nội dung sau: Một là, nâng cao tính tự giác, tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Thực tiễn đã chứng minh không phải cứ tăng trưởng kinh tế là đạo đức tự động được nâng lên, không phải cứ đời sống vật chất được cải thiện là sự sa đọa về lối sống, xuống cấp về đạo đức được tự động khắc phục. Sự hình thành phẩm chất đạo đức của mỗi con người không diễn ra một cách tự phát. Nó là kết quả của quá trình nỗ lực của giáo dục và tự giáo dục, tự giác rèn luyện của mỗi cá nhân theo các chuẩn mực đạo đức của xã hội và của Đảng ta. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở, “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, mà củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(12). Những phẩm chất đạo đức khi đã được hình thành, được củng cố thì sẽ trở thành nét tính cách ổn định, bền vững, thể hiện sự trưởng thành của con người xã hội, là nền tảng phát triển và hoàn thiện nhân cách của người cán bộ, đảng viên. Họ phải thực sự là “công bộc của dân”, vừa là “người lãnh đạo”, vừa là “người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Họ là những tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng để hướng dẫn và lôi cuốn quần chúng làm theo. Thật vậy, uy tín của Đảng chẳng những được quyết định bằng lý tưởng, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, mà còn phải được quyết định bởi thái độ, đạo đức, lối sống, tác phong công tác làm việc của mỗi cán bộ, đảng viên. Quần chúng học tập, tu dưỡng, phấn đấu làm theo Đảng một cách cụ thể, sinh động thông qua từng đảng viên cụ thể. Vì thế, vai trò của tấm gương đạo đức là hình thức “sản xuất và tái sản xuất” các giá trị đạo đức, truyền các giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ người này sang người khác. V.I. Lê-nin đánh giá sức mạnh của những tấm gương trong việc hình thành những hình thức mới của mối quan hệ giữa người và người. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Người nói: “Trước mắt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà được họ yêu mến, quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức, muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(13). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh phải “tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tích cực đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”(14). Tổng Bí thư phân tích điều kiện Đảng cầm quyền, nếu không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện thì rất dễ bị thoái hóa. Đảng cầm quyền, đương nhiên hầu hết cán bộ quản lý quan trọng là người của Đảng, họ có chức có quyền, có thế lực trong tay. Nghĩa vụ và quyền hạn, trách nhiệm của họ lúc này liên quan đến tiền, hàng, đến lao động, đến con người. Nhất là “trong môi trường phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, cán bộ, đảng viên giữ nhiều trọng trách, thường xuyên phải đối mặt với nhiều cám dỗ tiền bạc, của cải vật chất, quyền lực, lợi ích cá nhân, chúng ta càng phải chăm lo giữ vững bản chất cách mạng và tính tiên phong của Đảng. Nếu không nhận thức sâu sắc điều này, nếu cán bộ, đảng viên không tích cực, kiên trì rèn luyện thì rất dễ bị thoái hóa, biến chất”(15). Vì thế, Đảng ta yêu cầu phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, làm tròn trách nhiệm, là đội tiên phong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tỉnh Cao Bằng đến từng nhà làm căn cước cho đồng bào_Ảnh: TTXVN Hai là, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước. Thực tế cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực đã đạt được những thành tựu to lớn, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước ta trong công tác phòng, chống tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kỳ người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”(16). Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng được phát hiện, điều tra, khởi tố, xét xử nghiêm minh, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao và đồng tình ủng hộ. “Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, “tự diễn biến” tự chuyển hóa” trong Đảng và hệ thống chính trị từng bước được kiềm chế, ngăn chặn”(17). Tuy nhiên, cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu, đặc biệt là sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Cần chú ý là, khi Đảng trở thành Đảng duy nhất cầm quyền và dân chủ trong Đảng được thực hành thực chất và mở rộng thì sẽ rất thuận lợi cho quá trình thực hiện dân chủ cho xã hội, tạo sự ổn định chính trị, thống nhất quyền lực, tạo sự đồng thuận trong quá trình thực hiện và mở rộng dân chủ. Tuy nhiên, quyền lực có tính hai mặt, là sức mạnh to lớn để Đảng sử dụng nhằm đưa cả dân tộc và sự nghiệp xây dựng đất nước đến những thắng lợi mới, nhưng nó cũng có thể làm hư hỏng con người, thậm chí của cả một Đảng nắm quyền lực. V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh từ rất sớm đã chỉ ra những biểu hiện hư hỏng, đó là quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, lợi dụng quyền lực, tranh giành quyền lực, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Vì tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực và thực tiễn vừa qua cho thấy, không ít người đã sử dụng quyền lực của nhân dân như là tài sản riêng của mình, “tư hữu quyền lực” và lấy nó để ban ơn cho người khác, còn mình thì sống ngoài vòng pháp luật. Đặc quyền trong Đảng là tiền đề để nắm đặc quyền trong bộ máy nhà nước, từ đó dễ dẫn tới sự tha hóa quyền lực nhà nước. Thực tế là, “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao còn thiếu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tiêu cực, tham nhũng và cơ chế kiểm soát quyền lực, công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền lực chưa được quan tâm đúng mức”(18). Từ đây, để xây dựng Đảng về đạo đức, Đảng phải “thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa… trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị”(19). Tổng Bí thư đưa ra một số quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng: Một là, công tác phòng, chống tham nhũng trước hết phải có quyết tâm chính trị cao và phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tập trung, thống nhất của Đảng (20). Tại phiên họp thứ 12, ngày 31-7-2017, Tổng Bí thư đã phát biểu “lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy”(21). Trong cuộc họp Ban Bí thư Trung ương ngày 10-4-2018, Tổng Bí thư chỉ đạo, “nếu ai cảm thấy cản trở, nhụt chí, thì dẹp sang một bên cho người khác làm”(22). Đây là thông điệp mạnh mẽ, trở thành mệnh lệnh của toàn Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, thể hiện tinh thần quyết liệt không khoan nhượng của cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay. Hai là, phòng, chống tham nhũng “là phòng, chống giặc nội xâm”, nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, vừa cấp bách, vừa khó khăn, phức tạp, lâu dài, tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục “không ngừng”, “không nghỉ” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực”(23). Và cần chống tham nhũng ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch khó chống nhất trong ba loại kẻ thù nguy hiểm nhất (chủ nghĩa tư bản và bọn phản động; thói quen và truyền thống lạc hậu; chủ nghĩa cá nhân), vì, nó “ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta. Nó chờ dịp - hoặc thất bại, hoặc dịp thắng lợi - để ngóc đầu dậy(24). Chiến thắng tham nhũng, tiêu cực ngoài xã hội, ở người khác đã khó, chiến thắng tham nhũng, tiêu cực của chính mình còn khó hơn nhiều. Ba là, việc xử lý phải lấy giáo dục, răn đe, phòng ngừa là chính, kết hợp giữa trừng trị với khoan hồng, đồng thời bảo vệ, khuyến khích những người dám nghĩ, dám làm, đổi mới sáng tạo vì sự nghiệp chung (25). “Kỷ luật một vài người để cứu muôn người”. “Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ, gắn liền với tăng cường trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu trong công tác cán bộ” (26). Bốn là, đấu tranh phòng, chống tham nhũng không chỉ ở chỗ nhằm vào hành vi tham nhũng và những con người cụ thể mà còn phải chống cả những gì tạo ra môi trường phát triển tham nhũng, “phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”, một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng” và một cơ chế bảo đảm để “không cần tham nhũng” (27). “Và nhốt quyền lực vào trong lồng thể chế, công khai minh bạch, trách nhiệm, bảo đảm quyền lực được vận hành đúng đắn, không bị tha hóa”(28). Kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng”(29). Ở đây, phải gắn công tác phòng, chống tham nhũng với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và với xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là công trình đầy tâm huyết, mang tầm cao trí tuệ, kết tinh những giá trị lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc, là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục tổng kết lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tạo nên sự đồng thuận của xã hội để khơi dậy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./. ------------------------------ (1), (2), (3), (8), (9), (10), (11), (14), (15), (16), (17), (18), (19), (20), (23), (25), (26), (27), (28), (29) Nguyễn Phú Trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 18, 19, 20 - 21, 21 - 22, 25, 370, 226, 56, 225, 393, 44, 403, 30, 404, 405, 406, 379, 405, 411, 409 (4), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 274, 563 (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 438 (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 35 (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 293 (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 552 (21) “Tổng Bí thư: “Lò nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy“””, Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam, ngày 1-8-2017, https://vov.vn/chinh-tri/dang/tong-bi-thu-lo-nong-len-roi-thi-cui-tuoi-vao-cung-phai-chay-653960.vov (22) Minh An: “Những phát ngôn chống tham nhũng quyết liệt của Tổng Bí thư”, Báo điện tử Đài Tiếng Nói Việt Nam, ngày 24-6-2018, https://vov.vn/chinh-tri/nhung-phat-ngon-chong-tham-nhung-quyet-liet-cua-tong-bi-thu-778382.vov (24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 606 (Nguồn: Tạp chí Cộng sản)

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: KHÔNG THỂ NÓI NGÀY 27/7 LÀM NGÀY LỄ LỚN NGHỈ MỘT NGÀY SỢ BÊN KIA HỌ BUỒN, ĐỂ HÒA HỢP SỢ NGHỈ MỘT NGÀY KINH TẾ CÒN NGHÈO CHÚNG M.ÀY NGỒI MÁT ĂN BÁT VÀNG CÒN MUỐN QUÊN ƠN NHỮNG LIỆT SĨ XẢ THÂN CHO DÂN TỘC ĐƯỢC HÒA BÌNH ẤM NO HẠNH PHÚC BỌN LƯƠN!

     Hòa bình được 50 năm rồi vết thương còn đó có nước nào trên thế giới mà nhiều nghĩa trang liệt sĩ như ở Việt Nam không,? 

Mỗi lần đến 27/7 cho dù trời mưa to gió lớn hay nắng đậm nắng nhạt ngày không thắp nhang ở nghĩa trang liệt sĩ thì tôi tranh thủ buổi tối, vào thắp nhang cho các liệt sĩ nhìn cảnh những bà mẹ , những đứa con đứa cháu những người vợ ngồi bên mộ nước mắt đầm đìa không nói nên lời lòng tôi nặng trĩu, khi đi đến khu mộ vô danh có người còn rất trẻ mới 15, 16,17 tuổi nghỉ mà xót .Thân xác họ đang hòa vào sông núi thể mà bọn chúng đã giả tâm sợ bên kia họ buồn, sợ mất một ngày lao động vì đất nước còn nghèo chúng nó chỉ là cái cớ.
 Vậy tôi hỏi bên kìa họ buồn là ai buồn và để hòa hợp với ai? Bên kia là bên nào? Bên kia họ đến xâm lược trút bom giết hại đồng bào sao lại sợ họ buồn đừng lươn lẹo, sợ bên kia họ buồn hay sợ đã ăn đồ la dân lôi ra như ăn cứt mũi? Còn nói về hòa hợp. Hòa hợp thì dân hòa hợp từ lâu chỉ có bọn phản động muốn theo đường dây lợi ích nhóm rồi con cháu chúng bay ăn trên xương máu của các liệt sĩ và bọn muốn dân Việt Nam làm nô lệ chứ bên kia để hòa hợp cái con khỉ móc. Nghỉ một ngày sợ đất nước nghèo thể ai ra luật một tuần được nghỉ 2 ngày một tuần chỉ lần việc 5 ngày sao không sợ đặt nước nghèo mà nghỉ một ngày lễ tri ân các liệt sĩ lại sợ nghèo lươn lẹo hết sức. Dân chửi không sai./.




Ảnh lượm lặt trên Facebook.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 25 THÁNG 7 NĂM 1949!

         "Cũng như chim muốn bay cần phải có hai cánh; một cuộc chiến tranh muốn thắng lợi, cần phải có hai lực lượng chính: quân sự và chính trị”!
     Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Báo cáo “Tình hình thế giới và trong nước tháng 6 và tháng 7 năm 1949” tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 25 tháng 7 năm 1949. Đây là lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã vượt qua giai đoạn cầm cự và chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn phòng ngự và mở rộng tuyên truyền đối ngoại; qua đó, làm cho nhân dân thế giới biết đến cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta chống lại đế quốc, thực dân xâm lược, giải phóng đất nước.
     Với nhãn quan chính trị sắc sảo, Hồ Chí Minh thấy rất rõ mối quan hệ chặt chẽ về cuộc chiến tranh khi đề cập đến tình hình trong nước, lực lượng chính trị và lực lượng quân sự như hai cái cánh của một con chim và con chim muốn bay thì hai cái cánh đó phải mạnh. Cùng với những nhận định của các nhà chính trị, quân sự và báo chí nước ngoài, Hồ Chí Minh đã kết luận về quân sự thì lực lượng Pháp từ mạnh lui xuống yếu và sẽ lui nữa. Lực lượng ta từ yếu tiến lên mạnh và sẽ tiến mãi. Còn về chính trị thì chính trị của Pháp đã cũ rích, lỗi thời, lạc hậu, ngoài thủ đoạn chia để trị và sử dụng việt gian, bù nhìn, chúng không có gì khác. Trong khi đó, chính trị của ta thì rất rõ ràng, nhất quán, trước sau như một là toàn dân đoàn kết, kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Thêm nữa, tình hình dân chủ thế giới rất có lợi cho ta. Do đó, cánh ta đã vững, gió lại thuận chiều, cho nên ta nhất định thắng lợi.
     Hiểu rõ tinh thần chỉ đạo của Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục lãnh đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chính nghĩa của cuộc kháng chiến nhằm phát triển lực lượng chính trị, lực lượng quân sự, khích lệ, động viên kịp thời quân và dân ta anh dũng chiến đấu, đã tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, thống nhất đất nước và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước thu được những thành tựu quan trọng.
     Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị to lớn trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam; từ Quân ủy Trung ương đến cấp cơ sở đã luôn quán triệt và thực hiện nhất quán quan điểm nhiệm vụ quân sự phải quán triệt và tuyệt đối phục tùng nhiệm vụ chính trị của Đảng, của cách mạng. Quan tâm giải quyết căn bản mối quan hệ chính trị và quân sự, tinh thần và vật chất, chất lượng và số lượng, bên trong và bên ngoài, con người và vũ khí… có mối quan hệ hữu cơ, làm điều kiện cho nhau và thúc đẩy lẫn nhau phát triển. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, phẩm chất, đạo đức lối sống “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, kỷ luật tự giác, nghiêm minh, ra sức học tập, rèn luyện về mọi mặt, làm chủ vũ khí trang bị, khoa học công nghệ… đã tạo và nhân lên sức mạnh tổng hợp để Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, xứng đáng với niềm tin yêu và là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước, Nhân dân./.
Môi trường ST.

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG LÀM VIỆC TẠI MỘT SỐ ĐƠN VỊ THUỘC QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN VÀ BỘ TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN 2!

         Sáng 24-7, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã đến thăm và làm việc tại một số đơn vị thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân và Bộ tư lệnh Quân đoàn 2.

Cùng đi với đồng chí Bộ trưởng có Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Trung tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; chỉ huy Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và một số cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng.

Sẵn sàng chiến đấu cao, quản lý vùng trời chặt chẽ

Sau khi kiểm tra sẵn sàng chiến đấu tại Sở chỉ huy sân bay Trung đoàn 927 (Sư đoàn 371) và Sở chỉ huy Sư đoàn 365 thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân, Đại tướng Phan Văn Giang biểu dương các đơn vị duy trì thực hiện nghiêm túc nền nếp, chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý vùng trời; quản lý tốt các hoạt động bay trong khu vực đảm nhiệm. 

Hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng có liên quan; thường xuyên theo dõi nắm chắc tình hình trên không, trên biển, trên đất liền; xử trí chính xác, kịp thời các tình huống, không để bị bất ngờ, lỡ thời cơ.

Nhấn mạnh kết quả hội thao dẫn đường cho lực lượng không quân toàn quân và diễn tập bắn, ném bom đạn thật cho lực lượng không quân năm 2023, Đại tướng Phan Văn Giang cho rằng, mặc dù diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, song nhờ công tác chuẩn bị chu đáo, tổ chức huấn luyện chặt chẽ, các phi công, nhất là phi công trẻ đã thực hiện tốt yếu lĩnh động tác, thực hành bắn ném không phải điều chỉnh kế hoạch nhiều. 

Qua đó khẳng định chất lượng huấn luyện, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của các thành phần ngày càng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

Phát huy những kết quả nổi bật trên, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu Quân chủng và các đơn vị duy trì nghiêm nền nếp, chế độ trực ban chiến đấu, quản lý vùng trời, quản lý, điều hành bay chặt chẽ, đúng quy định. Thực hiện nghiêm quy định “4 biết” trong quản lý vùng trời; sẵn sàng xử trí các tình huống tác chiến phòng không; thường xuyên rà soát, hiệu chỉnh bổ sung, xây dựng mới hệ thống văn kiện chiến đấu phù hợp đặc điểm tình hình, yêu cầu nhiệm vụ.

Tích cực tổ chức luyện tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, kíp chiến đấu sở chỉ huy, các phương án xử lý tình huống tác chiến phòng không, phòng, chống cháy nổ, chiến đấu bảo vệ đơn vị. 

Đồng thời điều chỉnh nội dung, chương trình để huấn luyện các bài bay sát thực tế chiến đấu; tăng cường huấn luyện, luyện tập làm chủ sở chỉ huy tự động hóa. Phối hợp với các cơ quan, đơn vị triển khai đầy đủ các trang thiết bị, hệ thống thông tin liên lạc để góp phần nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu, quản lý vùng trời.

Nhấn mạnh về quản lý con người, Đại tướng Phan Văn Giang cho rằng: Với đặc thù là quân chủng kỹ thuật, đội ngũ cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ lớn. Bởi vậy, trên cương vị lãnh đạo, chỉ huy phải đặt mình ở vị trí của các đồng chí quân nhân chuyên nghiệp hay những người thợ để thấu hiểu và có các biện pháp linh hoạt, sáng tạo tổ chức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời phải dùng trực giác của mình để quản lý, chỉ huy bộ đội, giữ vững đơn vị ổn định, chấp hành nghiêm kỷ luật.

Thực hiện tốt điều chỉnh tổ chức, biên chế

Kiểm tra tại Quân đoàn 2, đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng biểu dương Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn đã lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, đơn vị tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm nghị quyết, kết luận, chỉ thị của trên về thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các nhiệm vụ khác đều chuyển biến tiến bộ rõ nét.

Đặc biệt, Đại tướng Phan Văn Giang ấn tượng với kết quả của Quân đoàn trong thực hiện nghị quyết, kế hoạch của trên về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Theo đó, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn đã lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc; kịp thời ban hành nghị quyết lãnh đạo, thành lập ban chỉ đạo; phân công giao nhiệm vụ cụ thể đến từng thành viên và các cơ quan, đơn vị có liên quan. Chỉ đạo các cơ quan Quân đoàn xây dựng kế hoạch, hướng dẫn các đơn vị được sáp nhập làm tốt công tác chuẩn bị. Đồng thời làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhận thức đúng đắn về thực hiện điều chỉnh tổ chức biên chế.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ điều chỉnh tổ chức, biên chế, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu lãnh đạo chỉ huy Quân đoàn 2 tiếp tục chủ động trong nắm và định hướng tư tưởng; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức bàn giao, sáp nhập nguyên trạng một số đơn vị bảo đảm chặt chẽ, đúng thủ tục, nguyên tắc. Quá trình thực hiện phải thận trọng, không nóng vội, chú trọng làm tốt công tác chính sách để quân nhân yên tâm công tác./.


Yêu nước ST.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN MẠNG

 Thứ nhất, phải xây dựng được công cụ hữu hiệu giúp nhanh chóng phát hiện, ngăn chặn, xử lý các thông tin xấu độc trên mạng xã hội. Công cụ này có thể là các thuật toán tự động sàng lọc, phân loại, ngăn chặn xử lý thông tin trên mạng xã hội dựa trên các từ khóa hoặc các đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh về thông tin xấu độc trên mạng xã hội.

Thứ hai, về nguồn lực, cần huy động sự tham gia của tất cả cán bộ, Đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Mỗi cán bộ, Đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên phải là “người lính xung kích” trong việc đưa trang mạng xã hội của cá nhân mình thành một kênh thông tin, tuyên truyền thường xuyên, chính thống về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó, cần đề cao kỷ luật phát ngôn, ý thức trách nhiệm của Đảng viên, công chức khi tham gia các mạng xã hội. Công chức, Đảng viên tham gia các mạng xã hội tỉnh táo phân tích, kiểm chứng thông tin trên mạng trước khi bình luận, chia sẻ. Tuyệt đối không lưu trữ, cung cấp, phát tán, chia sẻ thông tin xấu độc, không nói trái chủ trương, chính sách, pháp luật trên mạng xã hội.

Thứ ba, bên cạnh việc cung cấp thông tin chính thống, kịp thời phát hiện ngăn chặn thông tin xấu độc thì cần yêu cầu cán bộ, Đảng viên, nhất là Đảng viên giữ cương vị lãnh đạo nêu gương trong sinh hoạt và công vụ. Hành động gương mẫu, nêu gương của cán bộ, Đảng viên, nhất là người đứng đầu, chính là “mệnh lệnh không lời”, trực tiếp truyền cảm hứng mạnh mẽ cho nhân dân học tập, noi theo, qua đó, góp phần bảo vệ và phát huy nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, tăng cường công tác giám sát, kiểm soát thông tin trên không gian mạng để phát hiện thông tin xấu độc từ sớm, từ xa. Tập trung phát hiện các trang web, mạng xã hội thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; Phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá; Phát hiện, xử lý cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá Đảng.

Thứ năm, mở rộng không gian, đối tượng đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Hiện nay nhiều cá nhân có ảnh hưởng trong xã hội tuy không dùng mạng xã hội nhưng thường xuyên phát biểu, bình luận trái chiều, bài xích, phủ nhận tư tưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Phát biểu của những đối tượng này được các thế lực thù địch lợi dụng đăng tải trên không gian mạng để chống phá Đảng. Vì thế, cần phải mở rộng đối tượng đấu tranh, xử lý đến cả những đối tượng không tham gia không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

TÍNH CẦN THIẾT TRONG VIỆC BẢO VỆ TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tốc độ phát triển internet, mạng xã hội nhanh nhất thế giới, là quốc gia có lượng người dùng internet và dùng mạng xã hội lớn (lần lượt ở mức 78 triệu và 70 triệu người tính đến tháng 3/2023 - theo Digital Vietnam Report 2023 của We Are Social).

Có thể nói không có cộng đồng nào ở Việt Nam có số lượng thành viên đông và đa dạng như cộng đồng không gian mạng. Không có môi trường nào có thể truyền bá, định hướng dư luận hiệu quả và nhanh chóng bằng môi trường mạng. Chính vì vậy, các thế lực thù địch ở trong nước và nước ngoài đang ra sức sử dụng không gian mạng để bôi nhọ hình ảnh, nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm làm suy giảm uy tín, vai trò và vị thế của Đảng.

Các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng tập trung chủ yếu vào một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Thứ hai, tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Tấn công vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng; Tung tin giả về thân thế, sự nghiệp, tài sản, “sai phạm” của lãnh đạo cấp cao.

Thứ ba, bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả Đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; Phủ nhận thành quả phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương.

Thứ tư, bịa đặt, đưa ra những thông tin sai lệch, xuyên tạc trên bình diện thông tin đối ngoại; Phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng ta với các chiêu bài như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia.

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Nền tảng tư tưởng là hệ thống quan điểm chỉ đạo nhận thức và hoạt động thực tiễn của một cá nhân, tổ chức hoặc quốc gia. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng đã được xác định rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Trong đó nêu rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.

Như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là những học thuyết, những tư tưởng được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu văn minh của tư duy nhân loại; liên tục được bổ sung, phát triển từ những kết quả nghiên cứu mới nhất của khoa học và tổng kết thực tiễn lịch sử trong nước và thế giới.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có nghĩa là làm cho cán bộ, Đảng viên, nhân dân hiểu đúng và vận dụng các học thuyết nói trên trong thực tiễn; Đấu tranh phản bác các nội dung tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch về lãnh đạo Đảng, nhà nước, về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước; Cung cấp thông tin thường xuyên kịp thời về thành tích phát triển kinh tế-xã hội của đất nước để củng cố, gia tăng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bên cạnh đó, bảo vệ nền tảng của Đảng còn là việc giữ vững hình ảnh, uy tín của từng Đảng viên, cơ sở, cấp ủy Đảng. Mỗi Đảng viên, cơ sở, cấp ủy Đảng không làm tốt công việc được giao, bị dụ dỗ, mua chuộc hoặc có biểu hiện tham ô, tham nhũng hay tự diễn biến, tự chuyển hóa đều tác động tiêu cực đến dư luận xã hội và niềm tin của nhân dân vào Đảng và từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến nền tảng tư tưởng của Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ mang mục đích tự thân mà còn là mang lại nhiều phúc lợi hơn, giảm chi phí, phiền hà, mang lại cuộc sống ấm no hơn, hạnh phúc hơn cho người dân, doanh nghiệp, xã hội. Từ đó người dân, doanh nghiệp, xã hội càng tin yêu Đảng hơn, ủng hộ, phát huy nền tảng tư tưởng của Đảng nhiều hơn.

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch đang tiến hành, về bản chất đó là sự chia rẽ và phá hoại nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Vì vậy, để đập tan âm mưu phản động này, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác chính trị trong quân đội: Kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động; giữ vững được bản lĩnh chính trị, giữ vững kỷ cương, kỷ luật một cách nghiêm minh… và hơn hết: “Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân; tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để chiến thắng quân thù. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây vẫn còn nguyên giá trị”. Đây cũng chính là một trong những cơ sở quan trọng để góp phần vào việc xây dựng một nước Việt Nam “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” như mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Đặt trong bối cảnh lịch sử gần 80 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đặt trong mối quan hệ biện chứng “cá – nước” giữa Quân đội và Nhân dân Việt Nam, và xét trong mối quan hệ với thế giới, chúng ta hoàn toàn có cơ sở khẳng định rằng: Công tác lý luận chính trị trong Quân đội không phải là hoạt động giáo lý khiến cho người chiến sĩ u mê, chỉ biết có mỗi việc cầm vũ khí; cũng không phải là sự ràng buộc để làm cho quân nhân sợ sệt… như những luận điệu xuyên tạc và xảo trá của các thế lực thù địch, chống đối "nhai đi nhai lại"; mà ngược lại: “Bản chất công tác đảng, công tác chính trị là hoạt động lãnh đạo. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, ứng tác chính trị chính là giữ vững và phát huy sự lãnh đạo của tặng đối với các mặt hoạt động, các nhiệm vụ của Quân đội, góp phần xây dựng tổ chức, con người vững mạnh, thiết thực xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị”.

VẤN ĐỀ SAI PHẠM TRONG QUÂN ĐỘI

Thời gian qua, đã có một số sĩ quan cấp tướng và nhiều cán bộ khác của quân đội được giao trọng trách nhưng đã mắc những vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng; làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương quân đội và gây bức xúc trong xã hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai phạm này, tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất đó là do ý định chủ quan của chính những người vi phạm. Cụ thể: Những người vi phạm này, hoặc là họ lợi dụng việc được nhà nước, quân đội giao nhiệm vụ để cấu kết, sai phạm; hoặc là mắc bệnh công thần, kiêu ngạo, đến chủ nghĩa cá nhân, xa rời tổ chức, coi thường kỷ luật Đảng, kỷ cương phép nước. Họ không ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình, đòi hỏi thái quá ở tổ chức, tự cao, tự đại nên đã nảy sinh tiêu cực. Những người này là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống; thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu thường xuyên rèn luyện đạo đức... và hoàn toàn không phải là đại diện cho cho quân đội, cho hệ thống chính trị Việt Nam!

Thực tế đã cho thấy: lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và các cựu chiến binh, cựu quân nhân vẫn luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; luôn giữ gìn và phát huy truyền thống cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Những trường hợp sai phạm như trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh” và đã phải nhận những hình thức kỷ luật đích đáng. Điều này đã cho thấy quan điểm nhất quán của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và rộng hơn là của Đảng và Nhà nước ta: Vừa kiên quyết xử lý sai phạm một cách công khai, nghiêm minh để giữ cho được lòng tin của nhân dân, giữ cho được bản chất trong sạch của chế độ, vừa giữ vững những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của quân đội.

Như vậy, việc một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật  hoàn toàn không phải là sai phạm của “cả hệ thống” mà chỉ là sai phạm của cá nhân. Việc đổ thừa cho quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ mà Đảng, Quân ủy trung ương, thực chất chỉ là chiêu trò lèo lái dư luận, đánh tráo khái niệm nhằm chia rẽ và phá hoại của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, việc các thế lực thù địch, phản động lấy hình thức/nguyên cớ để quy chụp, phủ nhận còn cho thấy rằng, họ hoặc cố tình, hoặc rất kém hiểu biết về thực tiễn sinh động đang diễn ra. Bởi lẽ, trước hoặc cùng một sự vật sự việc nhưng lại mang một tư duy hẹp hòi, định kiến thì hẳn nhiên những người này sẽ không hoặc khó có thể nhìn thấy điểm tốt, điểm tích cực của sự vật, sự việc ấy.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU CỦA KẺ THÙ VỀ TÍNH 'TRUNG LẬP' CỦA QUÂN ĐỘI

 Hoàn toàn ấu trĩ và sai lầm khi cho rằng: vì được trang bị công tác chính trị của Đảng nên quân đội Việt Nam đã mất đi vai trò “trung lập” cũng như mất đi sức mạnh, sức chiến đấu

Theo Từ điển Tiếng Việt, “trung lập” có nghĩa là một tổ chức, một tập thể hoặc cá nhân nào đó “đứng ở giữa hai bên đối lập, không theo hoặc không phụ thuộc vào bên nào”. Chiếu theo nghĩa này thì “quân đội trung lập” là khi “không theo hoặc không phụ thuộc” vào một trong “hai bên đối lập”, và quân đội của một quốc gia chỉ “trung lập” khi quốc gia đó đang có sự tồn tại của “các bên đối lập” tranh giành nhau về quyền lực, lợi ích, vị thế xã hội…

Xét trong bối cảnh tổng thể hiện nay, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử, kinh tế... Hệ thống chính trị của Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích xây dựng, phát triển đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản lãnh đạo: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”… Như vậy, ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có cái gọi là “hai bên đối lập”!

Ở Việt Nam, trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng: “Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp và chịu sự lãnh đạo của giai cấp đã tổ chức ra nó; đó là cơ sở để xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ của Quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tỉnh nhân dân sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân” … Như vậy, quân đội xét ở bất kỳ góc độ nào cũng không thể có cái gọi là “quân đội trung lập”! Điều này, đã từng được Lênin chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”.

Rõ ràng là “Quân đội không thể và không nên trung lập”. Vậy thì, sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội có phụ thuộc vào yếu tố “trung lập” hay là phụ thuộc vào các yếu tố khác? Khi bàn về sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội, Ph.Ăngghen cho rằng: “Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội, và do đó thắng lợi hay thất bại rõ ràng là phụ thuộc vào các điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế”. Như vậy, sức mạnh, sức chiến đấu cho quân đội được hình thành trước hết là do “điều kiện kinh tế” và sau đó là nhiều yếu tố khác gắn với từng hoàn cảnh lịch sử và từng quốc gia riêng biệt. Từ lý luận của Ăngghen, đối chiếu vào lịch sử và thực tiễn hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng ta thấy: Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh, truyền thống dân tộc… trong đó, con người và vũ khí là yếu tố cơ bản nhất. Đặc biệt, yếu tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội là yếu tố chính trị tinh thần: “Quân đội muốn nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ sẵn sàng chiến đấu; đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới thì phải lấy vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội cụ Hồ” làm cơ sở”.

CÔNG TÁC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI TA

Lịch sử gần 80 năm với những chiến công mang tầm vóc thời đại của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cho thấy: Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của Quân đội ta đó chính là nhờ có công tác lý luận chính trị trong quân đội. Có thể khẳng định, ngay từ khi được thành lập, những chiến công, những thành quả các mạng mà quân đội Nhân dân Việt Nam có được thì ngoài về con người và vũ khí còn phải kể đến vai trò của công tác lý luận chính trị. Việc Đảng ta đã ban hành Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) để từ đó hình thành nên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay) đã cho thấy công tác lý luận chính trị “không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam”. Đây cũng là cơ sở đầu tiên dẫn đến hai chiến thắng liên tiếp là Phai Khắt và Nà Ngần vào ngày 24 và 25/12/1944. Chiến thắng này đã tác động mạnh mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Trải qua thời gian, từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) cho đến các văn kiện ở các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc sau này đều đã khẳng định: Công tác chính trị với nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp cho cán bộ và chiến sĩ trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản; ngày càng nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”... Từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Công tác này đã kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

 

Là đội quân từ “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”, nếu trong thời chiến, những chiến thắng hiển hách của quân đội ta đều là những chiến thắng trước kẻ thù xâm lược và phá hoại (thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Khơ-me Đỏ ở biên giới Tây Nam; Trung Quốc ở biên giới phía Bắc…) thì trong thời bình, đó là sự dũng cảm, mưu lược đầy trí tuệ và khoa học trước những nhiệm vụ mới. Đó là Dự báo và nắm chắc đúng tình hình liên quan đến quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại; luôn chủ động để đất nước không bị động, bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; luôn giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững; luôn là lực lượng xung kích đi đầu và thể hiện trách nhiệm cao trong việc giúp dân, giúp nước trong phòng chống đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ... Đặc biệt, trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế với mục tiêu hòa bình, ổn định để cùng phát triển, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cao cả, như: giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc; cử các đội tình nguyện thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi (thông qua các Bệnh viện dã chiến các cấp) và gần đây nhất là cử Đoàn cứu hộ, cứu nạn gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất... Những việc làm này đã góp phần khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm, năng lực tác chiến của Quân đội ta và khẳng định với thế giới: Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội quân không chỉ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc mà còn hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG BẢO VỆ TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về "Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới" khẳng định: Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân.

Nghị quyết chỉ rõ việc phải đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền chính trị; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn; tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu độc trên internet, mạng xã hội... Ðể làm được điều này, một trong những việc cần làm trước hết là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, sử dụng internet và các nền tảng số. Trong đó, cần quán triệt, tuyên truyền triển khai thực hiện tốt Luật An ninh mạng và "Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội" do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành; tuân thủ nghiêm nguyên tắc sử dụng mạng xã hội, khai thác, sử dụng internet một cách hiệu quả, thiết thực và lành mạnh.

Cần phải tăng cường việc ứng dụng công nghệ số trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Dựa vào chuyển đổi số, chúng ta cần tạo ra các nội dung, sản phẩm truyền thông chất lượng, phù hợp với các đối tượng khác nhau trong xã hội. Hiện nay các hình thức truyền thông như video, podcast, infographics,... đang được ưa chuộng. Ðây là những hình thức truyền tải thông tin đa dạng và hấp dẫn, giúp cho các đối tượng khác nhau có thể tiếp cận với thông tin tuyên truyền dễ dàng và nhanh chóng hơn. Do đó trong công tác tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng cần khai thác, phát huy hiệu quả các hình thức biểu đạt mới, gần gũi, giàu tính thuyết phục, hấp dẫn.

Các cơ quan chức năng cần tăng cường quản lý không gian mạng, kịp thời phát hiện các thông tin sai lệch, xuyên tạc, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, gỡ bỏ, xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định pháp luật. Phát huy tối đa lợi thế công nghệ thông tin và mạng lưới báo chí chính thống, chủ động đưa tin, phản ánh kịp thời những vấn đề người dân quan tâm, kiên quyết phản bác thông tin sai lệch, xấu, độc, góp phần định hướng dư luận xã hội. Cần đẩy mạnh việc nắm bắt tư tưởng quần chúng nhân dân qua các hội nhóm trên mạng xã hội, trang fanpage, blog...; xây dựng các trang thông tin lan tỏa gương người tốt, việc tốt, đề cao tinh thần đoàn kết, sẻ chia, "tương thân, tương ái",... với mục tiêu lấy "cái đẹp dẹp cái xấu", góp phần loại bỏ thông tin xấu, độc hại, bóp méo, xuyên tạc sự thật.

Cần tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn cho cán bộ, đảng viên về các kỹ năng, kiến thức sử dụng công nghệ thông tin trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, để mỗi cá nhân nắm rõ cơ chế hoạt động của các mạng xã hội, các trang thông tin điện tử và sử dụng một cách thành thạo, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về an ninh thông tin, bảo mật thông tin trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.

Cần chú trọng bồi dưỡng, phát triển các lực lượng đặc biệt, đặc thù và mạng lưới cộng tác viên với sự hỗ trợ của công nghệ để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, thậm chí chủ động tấn công, loại bỏ các sản phẩm chứa đựng thông tin xuyên tạc, độc hại. Trong công tác tuyên truyền, cần đặc biệt hướng tới thế hệ trẻ, giúp họ nâng cao nhận thức về những cơ hội và thách thức trong chuyển đổi số, tỉnh táo nhận diện các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng, tăng cường sức đề kháng, khả năng miễn dịch, tích cực, từ đó chủ động tham gia đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.


MỘT SỐ THÁCH THỨC TRONG CHUYỂN ĐỔI SỐ BẢO VỆ TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Việc chuyển đổi số đem đến những thách thức to lớn đối với việc quản lý, điều hành, bảo đảm an ninh quốc gia, đặc biệt là công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trong giai đoạn hiện nay. Với đặc tính mở, không gian mạng là môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động chống phá, với thủ đoạn ngày càng tinh vi, nham hiểm. Các đối tượng thiết lập các website, blog, Facebook, YouTube, mở các "diễn đàn", "câu lạc bộ", hình thành các hội nhóm trên mạng,… để phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu độc; đăng tải thông tin sai sự thật nhằm đả kích, phủ nhận thành tựu mà đất nước ta đã đạt được, bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước triệt để lợi dụng internet nhằm thu thập tin tức bí mật nhà nước phục vụ những mưu đồ chính trị đen tối. Thống kê của các cơ quan chức năng cho thấy, trong khoảng 10 năm qua đã phát hiện hơn 1.000 vụ làm lộ bí mật nhà nước.

Bên cạnh những trường hợp cố tình làm lộ bí mật nhà nước đã bị pháp luật xử lý nghiêm minh, vẫn còn nhiều trường hợp làm rò rỉ thông tin xuất phát từ sự chủ quan lơ là, thiếu cảnh giác, thiếu hiểu biết về công nghệ số, hạ tầng thiết bị yếu kém, công nghệ bảo mật hạn chế,... Ðó chính là "miếng mồi béo bở" để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá

BẢO VỆ TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG THỜI ĐẠI SỐ

Ngày 3/6/2020 Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt "Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030" trong đó xác định tầm nhìn đến năm 2030 đó là: "Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp".

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, kịp thời của Ðảng và Chính phủ, công tác chuyển đổi số tại Việt Nam có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển của nhiều lĩnh vực ngành nghề và góp phần không nhỏ vào công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.

Thông qua chuyển đổi số, sức mạnh tổng hợp của Ðảng được phát huy hiệu quả bằng nhiều hình thức như ứng dụng công nghệ số vào chỉ đạo, điều hành, thông tin, báo cáo và cập nhật, sao lưu dữ liệu tổ chức đảng, đảng viên; chuyển đổi số hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý cán bộ, đảng viên, sinh hoạt cấp ủy, chi bộ, công tác kiểm tra, giám sát... và công tác tuyên truyền, nghiên cứu, học tập, quán triệt các nghị quyết của Ðảng trong toàn Ðảng, toàn dân; hoàn thiện phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy thông qua các ứng dụng công nghệ thông tin, đưa vào sử dụng hệ thống văn bản điện tử và hệ thống thông tin báo cáo công tác đảng trong hoạt động điều hành của hệ thống Ðảng và chính quyền... Tại một số tỉnh, thành phố gần như 100% xã, phường, thị trấn thực hiện "Sổ tay đảng viên điện tử".

Ðây có thể coi là một trong những bước đột phá góp phần quan trọng để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra trong công tác xây dựng Ðảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, tạo sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng, ý chí và hành động trong Ðảng, sự đồng thuận trong xã hội.

Với độ phủ sóng rộng, tốc độ lan tỏa nhanh, hình thức biểu đạt phong phú, chuyển đổi số giúp sự lãnh đạo của Ðảng và công tác điều hành của Chính phủ phát huy hiệu lực, hiệu quả tích cực, nâng cao tính minh bạch, tăng cường liên kết chặt chẽ hơn, hạn chế tham nhũng, kiến tạo sự phát triển lành mạnh cho xã hội. Chuyển đổi số cũng giúp tăng cường sự tương tác giữa Ðảng, Chính phủ với người dân, từ đó củng cố và nâng cao sự tin tưởng cũng như trách nhiệm của mỗi cá nhân, tạo cơ hội để người dân tham gia vào quá trình quản lý, giám sát và ra quyết định của các cơ quan công quyền.

Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, chuyển đổi số thúc đẩy sự đổi mới trong các hoạt động được triển khai trên thực tiễn. Bởi với các công nghệ hiện đại, chúng ta có thể xây dựng, tổ chức nhiều hoạt động, sản phẩm phong phú, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của cộng đồng, thích ứng với đòi hỏi mới của xã hội.


MỘT SỐ THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Thời gian gần đây, các trang thông tin tiếng Việt đặt máy chủ ở nước ngoài của các tổ chức Việt Tân, Triều Đại Việt... đang liên tục đăng tải những thông tin sai lệch, phản động để dẫn dắt, hướng lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực; phát tán những video lồng ghép với nội dung xuyên tạc, bóp méo sự thật, hạ uy tín, làm mất niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước; từ đó, chuyển hóa dần sang tư tưởng sai trái, phản động, thù địch.

Lợi dụng các sự kiện chính trị - xã hội “nhạy cảm”, việc bắt, xử lý một số cán bộ về tội tham nhũng; xét xử số đối tượng chống đối vi phạm pháp luật, để lôi kéo, kích động người dân tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự, biểu tình, bạo loạn, lật đổ; tuyên truyền kích động các hoạt động ly khai, tự trị trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đối tượng tác động của chúng không chỉ người trẻ, người dân, người lao động, văn nghệ sĩ mà cả cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ hưu trí, cán bộ, đảng viên có biểu hiện bất mãn, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa… Không ít người sử dụng Internet, mạng xã hội bị “dẫn dụ” và “đánh lừa” bởi những thông tin “thật - giả lẫn lộn”. Các hoạt động này không chỉ ảnh hưởng đến ý thức cộng đồng mà còn ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

ÂM MƯU PHÁ HOẠI CỦA KẺ THÙ TRONG THỜI ĐẠI SỐ

 lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của truyền thông, những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cuộc Cách mạng 4.0), các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đã tăng cường chống phá Đảng và Nhà nước bằng nhiều chiêu thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt với mục đích bôi nhọ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.

Chúng triệt để lợi dụng không gian mạng để tung các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch như: (1) phát tán thông tin xấu độc nhằm tấn công vào nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách, vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; (2) xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo tại Việt Nam; (3) tung tin, cắt ghép hình ảnh, pha trộn thông tin thật - giả, vu khống liên quan đến đời tư, sức khỏe, phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Các chiêu trò chống phá nêu trên đều hướng tới mục đích là tạo nên bức tranh bi quan về tình hình kinh tế, chính trị và xã hội ở Việt Nam; tác động tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; phủ nhận vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, với mục tiêu cuối cùng là tiến tới lật đổ chế độ ở nước ta.

BẢO VỆ TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Thời gian qua, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được những kết quả tích cực. Ban chỉ đạo 35 các cấp được thành lập, cùng với cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã hoạt động hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Tuy nhiên, trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Một là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, nhất là hội viên các đoàn thể nhân dân…

Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng các hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch…

Ba là, kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, được hiện thực hóa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, bằng các thủ đoạn, như: Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng...

Về kinh tế, chúng xuyên tạc, chống phá đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Các thế lực thù địch âm mưu làm cho nền kinh tế nước ta phát triển chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng bóp méo các nguyên lý kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường…, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hôi dân sự” kiểu tư bản chủ nghĩa.

Về văn hóa, chúng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây; o bế các cây viết, khuynh hướng, xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; phát tán những tác phẩm cổ vũ sự chống đối, xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống, đòi “giải thiêng thần tượng”, “hạ bệ thần tượng”. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng của đảng viên và nhân dân ta.

Về ngoại giao, tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam

CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TA

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Người, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh giành chính quyền, đập tan xiềng xích đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp, khai sinh ra Nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, tiếp đến là hai cuộc kháng chiến trường kỳ để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau 35 năm đổi mới, nước ta luôn giữ vững ổn định chính trị, xã hội; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay… Từ điều kiện thực tiễn của cách mạng, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đưa cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là minh chứng sống động và thuyết phục, khẳng định tính đúng đắn của cách mạng Việt Nam trong việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch và phản động đang ra sức đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng khiến cho việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch gặp nhiều khó khăn, như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”.

Thứ Hai, 24 tháng 7, 2023

TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT AN TOÀN KHÔNG GIAN MẠNG!

      Các vụ lừa đảo trực tuyến đang gia tăng với những diễn biến mới, phức tạp trên môi trường số. Cụ thể, theo ghi nhận của Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), trong 6 tháng đầu năm 2023, tình hình lừa đảo trực tuyến tại Việt Nam tăng 64,78% so với cùng kỳ năm 2022; tăng 37,82% so với 6 tháng cuối năm 2022.

Thông tin từ Bộ Công an cho biết, lừa đảo trực tuyến tại Việt Nam hiện có 3 nhóm chính (giả mạo thương hiệu, chiếm đoạt tài khoản và các hình thức kết hợp khác) với 24 hình thức lừa đảo, như: lừa đảo "combo du lịch giá rẻ"; lừa đảo cuộc gọi video Deepfake, Deepvoice; lừa đảo "khóa SIM" vì chưa chuẩn hóa thuê bao; giả mạo biên lai chuyển tiền thành công; giả danh giáo viên/nhân viên y tế báo người thân đang cấp cứu; chiêu trò lừa đảo tuyển người mẫu nhí; thủ đoạn giả danh các công ty tài chính, ngân hàng; đánh cắp thông tin căn cước công dân đi vay nợ tín dụng; lừa đảo chuyển nhầm tiền vào tài khoản ngân hàng...

Cục An toàn thông tin cũng nhận định, các hình thức lừa đảo trên không gian mạng được kẻ lừa đảo thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau và ngày càng tinh vi, trong đó nhắm vào nhiều nhóm đối tượng, bao gồm người cao tuổi, trẻ em, sinh viên, công nhân, nhân viên văn phòng…

Mặc dù mục tiêu chung là lấy lòng tin, đánh cắp thông tin người dùng, sau đó chiếm đoạt tài sản nhưng với mỗi nhóm đối tượng ở độ tuổi khác nhau, kẻ lừa đảo lại thực hiện những hình thức dẫn dụ khác nhau. Đơn cử, với nhóm đối tượng người cao tuổi, các hình thức lừa đảo phổ biến gồm: lừa đảo "combo du lịch giá rẻ"; lừa đảo cuộc gọi video Deepfake; lừa đảo "khóa SIM" vì chưa chuẩn hóa thuê bao...
Hay ở nhóm đối tượng sinh viên, thanh niên, có thể kể đến các hình thức như: cài cắm ứng dụng, link quảng cáo cờ bạc, cá độ, tín dụng đen...; lừa đảo đầu tư tài chính; lừa đảo tuyển cộng tác viên online... Thủ đoạn này khiến các hành vi lừa đảo khó bị nhận diện và phát hiện hơn.

Lừa đảo trực tuyến không chỉ gây thiệt hại về tiền bạc mà còn gây ra nhiều hệ lụy về tinh thần, về sự bất ổn trong cuộc sống và những nguy hại khó lường khác. Một trong các nguyên nhân chính khiến hành vi lừa đảo trên không gian mạng đang không ngừng gia tăng là do người dùng mạng xã hội chưa có ý thức cảnh giác cao độ trong việc nhận diện các hành vi lừa đảo trực tuyến.

Hơn nữa, người dùng cũng chưa nhận thức đầy đủ về các quyền và nghĩa vụ của mình trên môi trường số vốn đã tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý về quản lý các nền tảng mạng xã hội của Việt Nam chưa bắt kịp với thực tế và còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục được hoàn thiện. Mặt khác, sự ưu việt của công nghệ cũng dễ dàng bị kẻ xấu lợi dụng thực hiện các hành vi lừa đảo.

Để tránh các "bẫy" lừa đảo trực tuyến, chúng ta cần thêm rất nhiều "bộ lọc" trên không gian mạng, gồm: hoàn thiện hành lang pháp lý phù hợp với thực tiễn phát triển; tăng cường sự phối hợp hành động giữa cơ quan quản lý, các nhà cung cấp nền tảng dịch vụ và người dùng mạng xã hội; gia tăng các giải pháp về công nghệ để hỗ trợ phát hiện các hành vi có dấu hiệu khả nghi...

Ngoài ra, người sử dụng mạng xã hội cần nâng cao hiểu biết, có ý thức xác minh độ tin cậy của các thông tin mà mình tiếp nhận được từ môi trường mạng. Song song với đó, cần học hỏi kỹ năng sử dụng công nghệ, tự cập nhật thông tin để có thể nhận diện được hành vi lừa đảo đang diễn ra mỗi ngày; tố giác các hành vi có dấu hiệu lừa đảo thông qua đường dây nóng của cơ quan chức năng.
Đặc biệt, với nhóm người cao tuổi (đối tượng "tấn công" chủ yếu của tội phạm mạng hiện nay), cần tỉnh táo, cảnh giác, không chuyển tiền và thông tin cá nhân của mình cho bất cứ ai trên mạng. Với những vấn đề chưa hiểu biết thấu đáo, cần tham khảo thêm ý kiến của các thành viên khác trong gia đình trước khi đưa ra quyết định./.
Yêu nước ST.