Thứ Ba, 25 tháng 7, 2023

PHẤN ĐẤU XỨNG DANH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG THỜI KỲ MỚI

 

Thực tiễn gần 80 năm qua, dưới sự chăm lo, rèn luyện, lãnh đạo của Đảng ta, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” luôn tỏa sáng, góp phần quan trọng để Quân đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đây là danh hiệu cao quý và là giá trị cốt lõi để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu, bản lĩnh chính trị, thực sự là công cụ sắc bén, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Giá trị cao quý đó cần được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội hôm nay tiếp tục gìn giữ, bảo vệ, phát huy và phát triển lên tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong  giai đoạn hiện nay và mai sau. Để tiếp tục phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải tiến hành tổng thể nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền những giá trị cốt lõi của “Bộ đội Cụ Hồ”. Những giá trị này đã được hun đúc và xuất phát từ chính nhận thức, tình cảm và trách nhiệm vì Tổ quốc, vì nhân dân của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Đây là Nghị quyết rất quan trọng, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược, cùng sự nhạy bén, kịp thời của Quân ủy Trung ương, với các chủ trương, giải pháp cấp thiết, nhằm tiếp tục phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; đồng thời, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong toàn quân. Qua đó, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở, nền tảng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Vì vậy, thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW là giải pháp nền tảng, xuyên suốt  trong giai đoạn trước mắt để mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhân dân Việt Nam phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.  

Hai là, nêu cao ý thức “tự soi, tự sửa” trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi quân nhân. Để làm được điều này, quân nhân phải tự giác, thật thà, thẳng thắn “tự soi” những tồn tại, hạn chế, khuyết điểm của mình, nhất là hạn chế trong tư tưởng, suy nghĩ, từ đó chủ động “tự sửa” nhằm ngăn chặn, đẩy lùi, loại bỏ những suy nghĩ và hành động trái với đạo đức của “Bộ đội Cụ Hồ”. Hiện nay, đạo đức của người quân nhân cách mạng chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó, “lợi ích cá nhân” là vấn đề cốt yếu dẫn đến nhiều sai phạm. Vì vậy, mỗi quân nhân cần phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng theo nguyên tắc: Luôn phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân, của Quân đội và tập thể cơ quan, đơn vị lên trên hết, trước hết. 

Ba là, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ  theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Quân ủy Trung ương vừa qua, đó là cán bộ "7 dám": "dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung". Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp, vấn đề quan trọng hàng đầu là phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; kiến thức, năng lực toàn diện,… đặc biệt là, bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhân dân; giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Để có được đội ngũ cán bộ như vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng ở tất cả các khâu, các bước trong công tác cán bộ theo phương châm thẳng thắn, khách quan, minh bạch, công khai, tạo động lực mạnh mẽ để mọi cán bộ yên tâm công tác, phát huy hết năng lực, sở trường; có cơ hội và môi trường thuận lợi để cống hiến và phát triển.

Bốn là, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực tế ở nhiều cơ quan, đơn vị quân đội thời gian qua cho thấy, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên nhân cơ bản của nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật quân đội. Những vấn đề trọng yếu, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, như: công tác quân lực, công tác cán bộ; công tác tài chính, mua sắm vật tư, trang bị, tài sản công; xây dựng cơ bản, quy hoạch quản lý, sử dụng đất và công trình quốc phòng; chính sách nhà ở, đất ở của cán bộ,… nhất thiết phải được tập thể cấp ủy, tổ chức đảng thông qua mới thực hiện. Trong sinh hoạt đảng, nhất là ở chi bộ, từng đảng viên phải đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình, bày tỏ chính kiến thẳng thắn, trung thực, khách quan, thấy đúng phải kiên quyết bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh bác bỏ. 

Năm là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Ủy ban kiểm tra các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra định kỳ, đột xuất để kịp thời cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm, kiên quyết không để lọt những người không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, tư duy nhiệm kỳ vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, chủ động nắm chắc tình hình mọi mặt của cơ quan, đơn vị, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa các biểu hiện, hành vi của chủ nghĩa cá nhân, vi phạm đạo đức, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” từ sớm, từ xa. Kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật đảng, kỷ luật Quân đội theo tinh thần không có “vùng cấm”, loại bỏ “cành sâu, mục để giữ cho cây khỏe mạnh” ngay trong từng cơ quan, đơn vị.

Sáu là, tích cực, chủ động và kiên quyết đấu tranh vạch trần âm mưu thâm độc của các đối tượng thù địch, phản động xuyên tạc về hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Thường xuyên giáo dục cảnh giác cho quân nhân có nhận thức đúng đắn về âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và phản động lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh cho mọi quân nhân góp phần làm thất bại âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch. Các đơn vị tổ chức lực lượng đấu tranh chuyên sâu phản bác các quan điểm phản động, sai trái trên mạng internet. Khi có vụ việc, tình hình liên quan đến quân nhân vi phạm các quy định trên mạng xã hội, cần kịp thời chỉ đạo cơ quan nghiệp vụ đơn vị chủ động báo cáo, phối hợp với các cơ quan nghiệp vụ cấp trên và cơ quan chức năng có liên quan tiến hành các biện pháp xử lý, ngăn chặn, bóc gỡ, không để các thông tin, tài liệu, hình ảnh xấu liên quan đến quân nhân tán phát rộng rãi trên mạng xã hội, internet và để các thế lực thù địch, phản động và đối tượng xấu lợi dụng tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta./.

                                                                                        VHT.

 

 

KIÊN TRÌ, KIÊN QUYẾT THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI TIẾN BỘ, NHÂN VĂN

 

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng. Đăc biệt từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

Đến Đại hội XIII Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai. Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại... Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta./.

                                                                                                  VHT.

 

 

TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG HIỆN NAY, TẠI SAO PHẢI BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, thủ đoạn thâm độc của chúng là làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và tính ưu việt của chế độ, lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Điều đó cho thấy việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Từ thực trạng sự phát triển, bùng nổ về công nghệ thông tin đã tác động đến một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Điều đó đã và đang làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Nếu chúng ta không tiếp tục đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì không những thành quả cách mạng đã giành được sẽ bị các thế lực thù địch, phản động cướp mất, mà còn dẫn đến tình cảnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chúng ta sẽ rơi vào nguy cơ “tự hủy hoại mình”, không thể thực hiện được khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.

Xuất phát từ bản chất cách mạng, khoa học và giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được kiểm nghiệm, khẳng định bởi thực tiễn trong hơn 93 năm qua lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta. Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa cộng sản, ánh sáng chân lý của mọi thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy ở hệ lý luận mácxít con đường giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng nhân loại, xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công – Đây là mong muốn của Nhân dân Việt Nam từ ngàn đời nay: đấu tranh giải phóng dân tộc và nguyện vọng được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của. Xuất phát từ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ ngày thành lập đã được Hồ Chí Minh khẳng định là một Đảng kiểu mới - Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, mang bản chất của giai cấp công nhân. Đảng luôn luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Nhận thức sâu sắc về nguy cơ phân liệt, tan rã về chính trị, tư tưởng và tổ chức, từ rất sớm, Đảng ta đã thấy rõ tính tất yếu và luôn chủ động đề ra chủ trương phải bảo vệ đảng. Vì vậy, trong Văn kiện chính thức: Phong trào công nhân (Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương), tháng 10/1930, Đảng ta chỉ rõ: “Giải thích cho công nhân mục đích và đường lối của Đảng Cộng sản trong các vấn đề liên quan đến cuộc sống của công nhân và thái độ đối với các sự kiện lớn diễn ra trong nước. Giải thích cho họ rằng, Đảng Cộng sản là Đảng của họ, vì vậy họ cần phải bảo vệ Đảng”. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự ra đời của nhà nước Việt Nam – Nhà nước Dân chủ Cộng hòa đầu tiên ở Châu Á, là minh chứng sinh động về tính đúng đắn của Đảng và Bác Hồ khi vận dụng sáng tạo, khoa học Chủ nghĩa Mác – Lênin trong giải phóng dân tộc ở Việt Nam.  

Thực tiễn từ sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã để lại nhiều bài học quý giá cho chúng ta, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Các nước XHCN mà đứng đầu là Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, ghi dấu ấn trong lịch sử văn minh nhân loại. Nhưng thật trớ trêu, một số Đảng Cộng sản cầm quyền, trước hết và chủ yếu là Đảng Cộng sản Liên Xô, lại để mất quyền lãnh đạo, làm cho hệ thống XHCN hùng mạnh được họ dẫn dắt sụp đổ, tan rã. Một trong những nguyên nhân khiến Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã là đã mắc mưu của chủ nghĩa đế quốc, của các nhà tư tưởng chống cộng, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay đổi các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những luận điểm của chủ nghĩa xã hội dân chủ. Một loạt vấn đề cơ bản của học thuyết Mác - Lênin đã bị "tư duy chính trị mới" làm cho sai lạc. Đặc biệt là người ta xem nhẹ vấn đề đấu tranh giai cấp, nhấn mạnh những giá trị chung toàn nhân loại; xem nhẹ chuyên chính vô sản, nhấn mạnh hòa hoãn, nhân quyền, cho rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, xét lại sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; nhấn mạnh vấn đề dân tộc, xem nhẹ chủ nghĩa quốc tế; nhấn mạnh vấn đề dân chủ công khai, xem nhẹ vấn đề kỷ luật tập trung thống nhất trong Đảng... Từ chỗ xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, người ta phạm sai lầm nghiêm trọng về đường lối, xa rời con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, ngả dần sang thân phương Tây, đi theo con đường của chủ nghĩa xã hội dân chủ, ảo tưởng trông chờ vào sự cưu mang giúp đỡ của chủ nghĩa tư bản nước ngoài.

Như vậy, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có ý nghĩa quan trọng, góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, qua đó góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới, tạo  điều kiện, tiền đề vững chắc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, quyết tâm mạnh mẽ hơn để phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên theo định hướng XHCN.

 

                                                                                      VHT.

CẦN TIẾP TỤC KIÊN ĐỊNH, GIỮ VỮNG NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG ĐẢNG


Từ thực tiễn thành tựu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian vừa qua đã khẳng định sự đúng đắn, nhất quán trong chủ trương, quan điểm của Đảng, được dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao. Tiếp tục kiên định, kiên trì nguyên tắc tự phê bình và phê bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng đã đạt nhiều kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng ta khẳng định: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã gương mẫu, nghiêm túc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình; đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường kiểm tra, chú trọng gợi ý kiểm tra, chú trọng gợi ý kiểm điểm đối với những tập thể, cá nhân có biểu hiện vi phạm”. Đại bộ phận các cấp ủy, đảng viên đã gương mẫu, nghiêm túc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình. “Các cấp ủy, tổ chức đảng đã dành thời gian thỏa đáng để kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý, coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình”. Nhờ đó, đã góp phần khắc phục các khuyết điểm tồn lại kéo dài, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện còn những hạn chế nhất định. Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình chưa sâu sắc hoặc thiếu tự giác nhận khuyết điểm, trách nhiệm trong công việc; ở một số nơi nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình chưa được thực hiện nghiêm: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”. Việc thực hiện các nội dung, quy trình tự phê bình và phê bình ở một số tổ chức đảng chưa thật sự nghiêm túc, ảnh hưởng đến chất lượng tự phê bình và phê bình. Một số cấp ủy chưa coi trọng và thiếu kiên quyết trong chỉ đạo thực hiện tự phê bình và phê bình; chưa nhìn nhận đúng khuyết điểm và trách nhiệm của mình trước những hạn chế, khuyết điểm của tập thể. Có tình trạng, tổ chức đảng, người có nhiều ưu điểm chưa được động viên khen thưởng thỏa đáng; trái lại, người có khuyết điểm nhưng vẫn được đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được khen thưởng, đưa vào quy hoạch… Những điểm này ít nhiều đã làm hạn chế chất lượng, hiệu quả thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng.

 

Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng đang đòi hỏi từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Đây cũng là cơ sở để ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, góp phần làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII, khóa XIII) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ “để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ,…”. Thấm nhuần bài học đắt giá của việc từ bỏ nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô gắn với yêu cầu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng cần kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Để nâng cao hiệu quả tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện nay, trước hết cần tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải đẩy mạnh giáo dục cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng Đảng; thường xuyên giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ sáng tạo của cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng bộ, chi bộ và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Mọi tổ chức đảng và đảng viên cần có thái độ đúng đắn, trách nhiệm trước khuyết điểm của mình và của người khác, nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình để không dẫn đến vi phạm những khuyết điểm lớn hơn. Đồng thời, các tổ chức đảng cần duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Theo đó, cần “thực hiện nghiêm túc, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hàng năm”; “cấp ủy chủ động gợi ý nội dung để đảng viên kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ trung ương đến cơ sở”. Tổ chức đảng, mọi đảng viên cần thực hiện tự phê bình và phê bình một cách thực chất; các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần chủ động xây dựng kế hoạch, duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình. Qua đó, ngăn ngừa, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong từng cán bộ, đảng viên hiện nay.

Bên cạnh đó, luôn phải để phòng, chống các biểu hiện lệch lạc trong sinh hoạt Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng phải quán triệt rõ mục đích, ý nghĩa và nghiêm túc chỉ đạo, tổ chức thực hiện tự phê bình và phê bình theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; đồng thời, từng cấp ủy viên phải coi trọng kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý; coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình; khuyến khích đấu tranh với những quan điểm và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện thoái hóa, biến chất. Đặc biệt, cần thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình; phát huy tính tích cực, chủ động tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Qua đó, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay./.

                                                                             

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ 27/7!

1. Hoàn cảnh ra đời
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam) ra đời chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Với tinh thần “.... thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu chống lại quân xâm lược. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến quyết liệt chống thực dân Pháp, nhiều đồng bào, chiến sỹ đã ngã xuống, hy sinh một phần xương máu trên các chiến trường. Với truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và nhân dân ta đã dành tất cả tình thương yêu cho các chiến sĩ và đồng bào đã vì độc lập, tự do của Tổ quốc mà bị thương hoặc hy sinh.

Đầu năm 1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn ra đời ở Thuận Hóa (Bình Trị Thiên), rồi đến Hà Nội và một số địa phương khác... Sau đó ít lâu được đổi thành Hội giúp binh sĩ bị thương. Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự của Tổng Hội.

Ngày 28-5-1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng tại Nhà hát Lớn Hà Nội để kêu gọi mọi người gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sỹ bị thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự.

Ngày 17-11-1946, cũng tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hội Liên Hiệp Quốc dân Việt Nam đã tổ chức lễ xung phong “Mùa đông binh sỹ”, mở đầu cuộc vận động “Mùa đông binh sỹ” trong cả nước để giúp chiến sỹ trong mùa đông giá rét. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự buổi lễ và Người đã cởi chiếc áo đang mặc để tặng binh sỹ.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 19-12-1946, theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng dậy kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên, đời sống của chiến sỹ, nhất là những chiến sỹ bị thương gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.

Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều quyết định với những chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sỹ, góp phần ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sỹ.

Ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Sắc lệnh số 20/SL, quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sỹ đối với cuộc kháng chiến và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ.

Tháng 6-1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội phụ nữ Cứu quốc, Trung ương Đoàn thanh niên Cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin Tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Bắc Thái) để bàn về công tác thương binh, liệt sỹ và thực hiện Chỉ thị của Hồ Chủ Tịch chọn một ngày nào đó làm ngày Thương binh Liệt sỹ. Tại cuộc họp này các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27 tháng 7 là ngày “Thương binh toàn quốc”. Từ đó hàng năm cứ vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư, quà thăm hỏi, động viên, nhắc nhở mọi người phải biết ơn và hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sỹ. Đặc biệt, từ sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến công tác thương binh, liệt sỹ.

Từ tháng 7 năm 1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi “Ngày Thương binh toàn quốc” thành “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8-7-1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hằng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” của cả nước.

Mỗi năm cứ đến “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” nhất là vào dịp kỷ niệm năm tròn, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta lại tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, đầy tình nghĩa chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng.

2. Ý nghĩa
Ngày Thương binh Liệt sỹ có ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội sâu sắc, đó là: 
- Truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người đã hi sinh, cống hiến vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; qua đó phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
- Tôn vinh các anh hùng, liệt sỹ, thương binh và người có công; khẳng định sự cống hiến, hy sinh của họ cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân là vô giá. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công là vinh dự, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và mai sau.
- Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trân trọng đánh giá cao những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sỹ đối với Tổ quốc; đồng thời cũng luôn chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và lòng biết ơn sâu sắc của các tầng lớp nhân dân, của các thế hệ cách mạng đối với thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng./.

Yêu nước ST.

Không thể phủ nhận vai trò, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản lý luận quý báu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là ngọn cờ lý luận mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam - con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, không một thế lực thù địch, phản động nào có thể phủ nhận được vai trò, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị ráo riết gia tăng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây mất ổn định chính trị - xã hội, tạo cớ can thiệp, kích động bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm, lợi dụng sự phát triển của internet, các phương tiện truyền thông xã hội để xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận sự thật. Cụ thể, khi nói, viết và phát tán các luận điệu chống phá, chúng cho rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều”, “là sự sao chép máy móc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, không phù hợp với thực tiễn hiện nay, bởi thế, cần từ bỏ để “kịp đi với con đường chung mà thế giới hiện nay đang đi” - con đường tư bản chủ nghĩa (!?). Các thế lực thù địch, phản động còn tìm mọi cách đả kích, bôi nhọ tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân..., đi đến phủ nhận vai trò, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Những luận điệu trên của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị là những tiếng nói lạc lõng, ngụy biện, xảo trá, phản động, vô căn cứ. Bởi vì, họ không hiểu hoặc cố tình không hiểu rằng, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh “đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc”(1). Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự lựa chọn của lịch sử, dân tộc Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội mới không có áp bức, bóc lột, bất công. Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX, phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai phong kiến liên tiếp nổ ra trên khắp mọi miền đất nước. Tuy nhiên, do không có một đường lối cách mạng đúng đắn và phương pháp cách mạng thích hợp, nên tất cả các phong trào nổi dậy, các cuộc khởi nghĩa mang sắc thái giai tầng khác nhau đều bị thất bại. Trong sự bế tắc, khủng hoảng về đường lối cách mạng, đã xuất hiện một người con ưu tú, kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử, đó chính là Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và vượt qua tư duy lối mòn của các nhà yêu nước tiền bối, Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, nô dịch - con đường cách mạng vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sự lựa chọn con đường cách mạng của Người phù hợp với yêu cầu của lịch sử dân tộc, là sự lựa chọn đúng đắn duy nhất của Việt Nam vào thời điểm cách mạng đó. Ngày 3-2-1930, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu tất yếu của lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng, làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt lịch sử dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã khẳng định tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc bị áp bức trên thế giới vì độc lập, tự do và phẩm giá con người. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc và đất nước không tách rời giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự hội tụ của mạch ngầm dòng chảy của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập, tự cường, tự tôn dân tộc; lòng khát khao tự do, hạnh phúc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng, xã, Tổ quốc của dân tộc Việt Nam được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh khơi dậy mạnh mẽ trong thời đại mới. Bác Hồ đọc Tuyên ngôn (tranh của họa sĩ Nguyễn Dương) _Ảnh: Tư liệu Tiếp nối thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam quyết chí, bền lòng với một ý chí sắt đá “đánh nhau có hy sinh, có gian khổ, nhưng bền gan, vững chí thì cuối cùng ta nhất định thắng, địch nhất định thua”(2) cùng tinh thần quyết tử “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(3), theo một phương châm nhất quán: “Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Còn thực dân phản động Pháp thì mong ăn cướp nước ta, mong bắt dân ta làm nô lệ. Vậy ta là chính nghĩa, địch là tà. Chính nhất định thắng tà”(4); trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dù cuộc “chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!(5). Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lập nên kỳ tích Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; đưa đến ký kết Hiệp định Genève vào năm 1954, lập lại nền độc lập, hòa bình ở Việt Nam. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, ra sức đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho miền Nam; miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Toàn thể dân tộc Việt Nam “giương cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước để thỏa lòng mong ước của Người”(6). Với quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam một lần nữa anh dũng chiến đấu, lập nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Tiếp đến là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, sau cuộc trường chinh kéo dài suốt 30 năm, Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang trọn vẹn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, ghi vào lịch sử mốc son chói lọi như lời Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc đi xa: “Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”(7). Thứ hai, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam dẫn dắt soi đường cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước (1975 - 1986), dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ sâu thẳm mệnh lệnh trái tim của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta “đổi mới hay là chết”, Đảng ta đã khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước. Song, đổi mới như thế nào, con đường, cách thức ra sao là những câu hỏi đặt ra trong thời điểm đó. Đại hội VI (tháng 12-1986) của Đảng nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(8). Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng ta chỉ rõ phải: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”(9) và khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991): “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”(10). Sự khẳng định đó cho thấy vai trò to lớn, giá trị lịch sử và ý nghĩa hết sức quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam trước đây, cũng như đối với công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay; thể hiện bước phát triển mới trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng ta, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời, bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh phản bác những những luận điệu sai trái, phản động, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội IX (tháng 4-2001), Đảng ta lần đầu tiên nêu định nghĩa về tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”(11). Đặc biệt, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI (tháng 1-2021) của Đảng, tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động… Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”(12). Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh. “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(13), tại Đại hội XIII (tháng 1-2021) của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới”(14). Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế mà chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước. Trong khi đó, “Các thế lực thù địch chống phá ngày càng quyết liệt. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều thách thức”(15). Vì vậy, “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(16). Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị vô cùng to lớn đối với cách mạng Việt Nam, mà còn có giá trị to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sản phẩm của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam, mà còn là sản phẩm của thời đại, của nhân loại tiến bộ. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã bắt kịp nhu cầu khát vọng của thời đại; tìm ra con đường đấu tranh tự giải phóng cho các dân tộc thuộc địa; có sức cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả giải phóng con người. Vấn đề trên được thể hiện ở cả phương diện lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới hết sức sinh động. Cụ thể là, ngay những năm 20 của thế kỷ XX, trong quá trình hình thành, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện khát vọng chung của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Những nhận thức sâu sắc và độc đáo về mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản phản ánh khát vọng độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức đúng sự biến chuyển của thời đại, đặt cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa vào phạm trù cách mạng vô sản và hoạt động không mệt mỏi cho phong trào cách mạng thế giới. Người kiên quyết bảo vệ và phát triển quan điểm của V. I. Lê-nin về khả năng to lớn và vai trò chiến lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa đối với cách mạng vô sản. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, giành độc lập dân tộc để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người nhận thức sâu sắc về mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Đồng thời, Người chỉ rõ tầm quan trọng đặc biệt của độc lập dân tộc trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội, về tính tự thân vận động của công cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc, về khả năng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Khẳng định bài học chung của các dân tộc, Người nhấn mạnh, “... trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới…, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi” (17). Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân cùng Tổng Giám đốc UNESCO Audrey Azoulay tham quan triển lãm ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lễ kỷ niệm 35 năm Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) thông qua nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam" (1987 - 2022) _Ảnh: TTXVN Tư tưởng Hồ Chí Minh và cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú đầy nhiệt huyết của Người là một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Hai tiếng “Việt Nam - Hồ Chí Minh” đã vang lên ở nhiều nước trên thế giới, là nguồn cổ vũ bất tận, động viên các dân tộc thuộc địa bị áp bức, đứng lên đấu tranh giành nền độc lập, đòi quyền sống, quyền làm người, quyền mưu cầu hạnh phúc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi mãi là chân lý sáng ngời, góp phần vào sự phát triển của nhân loại. Tôn vinh Người và giá trị tư tưởng của Người, năm 1987, Khóa họp Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông qua nghị quyết tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Trong lòng nhân dân thế giới, Chủ tịch Hồ Chi Minh là bất tử, tư tưởng của Người còn sống mãi. Bạn bè năm châu khâm phục và coi Người là biểu tượng cao đẹp của những gì thuộc về lương tri và phẩm giá làm người. Ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới Romesh Chandra đã viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”(18). Sự nghiệp đấu tranh cách mạng và công cuộc đổi mới của Việt Nam thực hiện theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đã và đang cổ vũ cuộc đấu tranh chung của nhân loại tiến bộ vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Đó cũng chính là minh chứng sinh động và thuyết phục nhất khẳng định giá trị vĩ đại, sức sống trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tự nó phản bác và đập tan những luận điệu xuyên tạc về tư tưởng của Người, đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thể kỷ qua”(19) và “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”(20)./. --------------------------------- (1) Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 18-2-1995, của Bộ Chính trị khóa VII, “Về những định hướng lớn trong công tác tư tưởng” (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 14, tr. 575 (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 534 (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 178 (5), (6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 131, 627, 612 (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 125 (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 127 (10) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 21 (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 83 - 84 (12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 88 (13), (14), (15), (16), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 26, 25 - 26, 32, 33 (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 529 (18) Romesh Chandra: “Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới”, Báo Nhân Dân, ngày 21-5-1980 (19) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2003, tr. 99 (20) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Thế giới còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 3 (Nguồn: Tạp chí Cộng sản)

Nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mưu toan phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng trong tình hình mới

Tập trung dân chủ (TTDC) là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây luôn là mục tiêu công kích của các lực lượng thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị, hòng phủ nhận nguyên tắc này, mưu toan phủ nhận bản chất của Đảng. Trước bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới, khu vực thì việc kiên quyết bảo vệ và giữ vững nguyên tắc TTDC là vấn đề có tính chất “sống còn”, ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch hòng phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ Trong suốt quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn dùng mọi “ngón đòn” tinh vi, xảo quyệt hòng phủ nhận nguyên tắc TTDC, tiến tới mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Một trong những âm mưu cực kỳ thâm độc, nguy hiểm đó là “tấn công”, phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất, chặt chẽ về mặt tổ chức và hoạt động của Đảng, làm cho Đảng tan rã cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Chúng lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, “núp bóng dân chủ”, “đội lốt nhân quyền” tung chiêu bài “thư ngỏ”, “góp ý”, “hội thảo khoa học” để rêu rao rằng: Tập trung và dân chủ là hai mặt không thể thống nhất, “đã tập trung thì không thể có dân chủ, đã dân chủ thì không thể tập trung”, “tập trung với dân chủ như lửa với nước”. Bởi vậy, hoặc chỉ có tập trung, hoặc chỉ có dân chủ (!?). Thực chất, các quan điểm này muốn tách rời tập trung với dân chủ nhằm phủ nhận một mặt nào đó để xuyên tạc rằng Đảng ta quan liêu, độc đoán, chuyên quyền hoặc dân chủ vô chính phủ, mưu toan phá vỡ sự chặt chẽ, thống nhất trong tổ chức và hoạt động của Đảng, mưu toan làm suy giảm sức chiến đấu, uy tín của Đảng ta. Trong bối cảnh nước ta thực hiện công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trước sự vận động, phát triển của tình hình cách mạng, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn dùng chiêu bài xuyên tạc, thổi phồng, bôi đen, bóp méo, suy diễn vấn đề TTDC. Chúng cho rằng: TTDC chỉ phù hợp khi Đảng còn hoạt động bí mật hoặc trong điều kiện chiến tranh, còn trong thời bình, nguyên tắc đó đã lỗi thời, không còn phù hợp, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới trì trệ, tiêu cực (!?). Nguy hiểm hơn, một mặt, chúng vẫn tỏ ra ca ngợi Đảng và Bác Hồ đã vận dụng tốt nguyên tắc TTDC, sáng suốt chèo lái con thuyền cách mạng trong thời chiến; mặt khác, chúng lợi dụng những yếu kém, khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để đánh lận và “đổ lỗi” cho những khuyết điểm, hạn chế đó đều do nguyên tắc TTDC không còn phù hợp trong thời bình, khi đất nước đổi mới, hội nhập sâu rộng... (!?). Từ đó, chúng đòi hỏi Đảng phải từ bỏ nguyên tắc TTDC “cho phù hợp tình hình mới” (!?). Bất chấp thực tiễn khách quan, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị xuyên tạc rằng: Một đảng là độc đoán, chuyên quyền, không có đối trọng, không có dân chủ, xã hội không phát triển, không thể có dân chủ trong chế độ một đảng duy nhất cầm quyền; Việt Nam muốn dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì cần phải chấm dứt sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản (!?). Theo chúng: Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là “xu hướng của thời đại”, của các quốc gia trên thế giới cũng là “hướng đi”, “bước tiến” đúng đắn của Việt Nam (!?). Đây là âm mưu thâm độc cổ xúy cho đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập hòng tạo cơ hội cho các lực lượng phản động, thù địch “ngóc đầu” chống phá Đảng, Nhà nước, mưu toan xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm, nhất là khi Đảng ta đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 ở các khóa XI, XII và XIII, với quan điểm “không có vùng cấm”, “không có trường hợp ngoại lệ”, xử lý nghiêm nhiều cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng sai phạm, làm trong sạch Đảng thì các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không từ bất kỳ thủ đoạn thâm độc nào để xuyên tạc, bóp méo sự thật. Chúng quy chụp, đánh đồng hiện tượng thành bản chất, như tham nhũng là bản chất của Đảng, của TTDC, là hệ quả của một đảng cầm quyền (!?); mục đích của Đảng đã thay đổi không còn vì nước, vì dân như lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sống, giờ đây là vì lợi ích nhóm, lợi ích của cán bộ, đảng viên (!?). Chúng xuyên tạc rằng: Chống tham nhũng là để thanh trừng phe, cánh chứ không phải là để làm cho Đảng sạch hơn, mạnh hơn (!?). Thực tiễn cho thấy, trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhiệm vụ chống tham nhũng được coi là phương thuốc chữa bệnh đặc hiệu, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh. Với quan điểm “xử một người, cứu muôn người”, “chặt cành để cứu cây”, làm cho Đảng thực sự trong sạch, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, xứng đáng với sứ mệnh lịch sử và trọng trách mà nhân dân giao phó, “cuộc đại phẫu” này tuy đau, nhưng cần thiết và được nhân dân đồng tình ủng hộ. Chưa khi nào uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam được tăng cao như ngày nay. Vì vậy, những luận điểm “đánh lận bản chất, bôi đen mục tiêu”, mưu toan tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng cần phải được nhận diện và đấu tranh phản bác kịp thời. Không thể phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và sinh hoạt Đảng; là tiêu chí để phân biệt chính đảng của giai cấp công nhân, đảng cách mạng chân chính với các đảng khác. Đảng ta đã khẳng định: “Sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”(1). Thực hiện tốt nguyên tắc TTDC là vấn đề thuộc về bản chất của Đảng Cộng sản. Vì vậy, tuyệt đối không thể phủ nhận nguyên tắc này. Trong Điều lệ Đảng được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua đã quy định rõ nội dung nguyên tắc TTDC, đó là: (i) Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; (ii) Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ; (iii) Cấp uỷ các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp uỷ cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình; (iv) Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương; (v) Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp uỷ có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số; (vi) Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên(2). Rõ ràng, ngay từ Điều lệ Đảng, Đảng ta đã rất tôn trọng nguyên tắc TTDC. Các đại biểu biểu quyết thông qua Quy chế làm việc của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng _Ảnh: TTXVN Tập trung và dân chủ có quan hệ thống nhất, biện chứng với nhau không thể tách rời, càng không thể đối lập. Tập trung trên cơ sở dân chủ, nhưng dân chủ phải có sự lãnh đạo để bảo đảm tập trung. Dân chủ là điều kiện, tiền đề của tập trung, tập trung là cơ sở bảo đảm cho dân chủ được thực hiện và phát huy. Theo V.I. Lê-nin: “Chế độ TTDC, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa; mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ”(3). Nếu tuyệt đối hóa tập trung thì sẽ dẫn đến quan liêu, chuyên quyền, độc đoán; ngược lại, tuyệt đối hóa dân chủ sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng, vô tổ chức, vô kỷ luật. Cả hai biểu hiện trên đều không đúng và làm giảm sức mạnh của Đảng. Tập trung dân chủ thể hiện bản chất của Đảng. Vì vậy, không thể phân biệt nguyên tắc này phù hợp hay không phù hợp trong giai đoạn chiến tranh hay hòa bình. TTDC là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng. Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, TTDC luôn là nguyên tắc “rường cột” của Đảng, không ngừng được bổ sung, phát triển phù hợp với sự vận động, phát triển của tình hình cách mạng, đúng với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Dân chủ không phụ thuộc vào một đảng hay nhiều đảng mà phụ thuộc vào bản chất của chính đảng cầm quyền. Trong điều kiện ở Việt Nam, một đảng lãnh đạo, đó là đảng của giai cấp công nhân, lấy lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc làm mục tiêu hàng đầu, xuyên suốt và luôn xây dựng, chỉnh đốn để Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh thì tính chất dân chủ, tiến bộ phụ thuộc vào bản chất, mục đích phục vụ chứ không phụ thuộc số lượng bao nhiêu đảng, một đảng hay đa đảng. Vì vậy, luận điệu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là một âm mưu thâm độc hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng lái cách mạng Việt Nam đi theo quỹ đạo của các nước tư bản, “ngược dòng” và “đi ngược” với nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam. Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đến nay là minh chứng để khẳng định không thể phủ nhận nguyên tắc TTDC. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định Đảng phải “tổ chức theo lối dân chủ tập trung”(4). Từ đó đến nay, trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy TTDC làm nguyên tắc tổ chức cơ bản...”(5). Với bản lĩnh chính trị vững vàng, đường lối lãnh đạo đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp quần chúng nhân dân đoàn kết, anh dũng đứng lên vượt qua mọi khó khăn, thử thách, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “rung trời, lở đất”, “đập tan mọi xiềng xích”, “phá nát mọi gông cùm”, đánh đổ thực dân, phong kiến, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đưa người dân từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước. Tiếp nối truyền thống, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta viết tiếp bản hùng ca Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, làm nên khúc tráng ca khải hoàn đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả. Đặc biệt, sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, diện mạo đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, đời sống của nhân dân được nâng cao; hệ thống chính trị được xây dựng, củng cố vững mạnh, bảo đảm sự ổn định chính trị của đất nước; quốc phòng, an ninh được tăng cường, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đối ngoại, hội nhập quốc tế không ngừng mở rộng, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(6). Việt Nam trở thành “điểm sáng”, niềm tin của cộng đồng quốc tế. Vì vậy, không có lý do gì có thể buộc Việt Nam phải từ bỏ nguyên tắc TTDC, càng không có cơ sở khoa học nào “đòi hỏi” Việt Nam phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thay đổi mục tiêu, thay đổi chế độ. Lịch sử đã chứng minh, nếu Đảng Cộng sản nào từ bỏ nguyên tắc TTDC thì Đảng đó tự “bóp chết” chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, thành quả cách mạng mà biết bao thế hệ đã đổ xương, đổ máu sẽ bị tiêu tan. Thực tiễn ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu những năm 90 của thế kỷ trước đã cho chúng ta một bài học hết sức “đau xót” cần rút kinh nghiệm để tránh đi vào “vết xe đổ” trong lịch sử. Dưới sự tác động của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị và sự sai lầm của Đảng Cộng sản Liên Xô, nguyên tắc TTDC đã bị từ bỏ - bản chất của Đảng bị “biến dạng” và “biến chất”. Đặc biệt, ngày 15-3-1990, tại Đại hội đại biểu nhân dân bất thường, Điều 6 Hiến pháp của Liên Xô quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã bị xóa bỏ. Đây là “dấu mốc” quan trọng, “khởi nguồn” cơ chế “đa nguyên, đa đảng” và tất yếu “dọn đường” cho sự ra đời nhiều tổ chức, đảng phái chính trị đối lập cạnh tranh vai trò lãnh đạo. “Sau khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô bị xóa bỏ, ngay lập tức, các đảng phái xuất hiện “như nấm sau mưa”, ngoài Đảng Cộng sản Liên Xô còn có tới 153 tổ chức đảng phái khác ra đời và cạnh tranh vai trò lãnh đạo với Đảng Cộng sản. Đến đầu năm 1991, sự tồn tại của Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ còn trên danh nghĩa và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào cuối năm 1991 là tất yếu, khi Đảng Cộng sản đã mất quyền lãnh đạo”(7). Không tốn một viên đạn, nhưng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” có sức “công phá” và “hủy diệt” chưa từng có, đã làm cho Liên Xô - một siêu cường quốc, một Đảng với hơn 20 triệu đảng viên, một quân đội với hơn 4 triệu quân nhân được trang bị vũ khí hiện đại và tinh nhuệ bậc nhất thế giới đã nhanh chóng mất sức chiến đấu, “khoanh tay đứng nhìn”. “Thành trì vĩ đại” bị sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu mà hệ lụy của nó còn ảnh hưởng nhiều năm, nhiều quốc gia và qua nhiều thế hệ. Xung đột ở U-crai-na, những nguy cơ gây bất ổn ở châu Âu và đe dọa sự ổn định, trật tự thế giới đang minh chứng rõ hệ quả của việc từ bỏ nguyên tắc TTDC, từ bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô. Thực tiễn này một lần nữa khẳng định: Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không thể chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không được từ bỏ nguyên tắc TTDC, đồng thời kiên quyết bảo vệ nguyên tắc TTDC, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mọi mưu toan xa rời, phủ nhận nguyên tắc TTDC trong Đảng phải kịch liệt phê phán, kịp thời ngăn chặn. Kiên quyết bảo vệ, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng Bảo vệ, giữ vững nguyên tắc TTDC là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta và sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực hiện nay, trước sự điên cuồng chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, để bảo vệ, giữ vững nguyên tắc TTDC trong tổ chức và hoạt động của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp sau: Một là, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về những vấn đề “cốt lõi” trong nguyên tắc TTDC, làm cơ sở đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nguyên tắc TTDC; tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới. Hai là, thực hành dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng và xã hội. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần nhận thức đầy đủ về thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là quan điểm nhất quán của Đảng ta; thực hành dân chủ trong Đảng phải gắn với kỷ cương, kỷ luật. Giải quyết hài hòa mối quan hệ biện chứng giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy dân chủ, gương mẫu, tự giác chấp hành nghiêm minh kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật và các quy định của cơ quan, đơn vị để góp phần xây dựng Đảng ta thực sự là biểu tượng về dân chủ và kỷ cương, kỷ luật; xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh và cơ quan, đơn vị vững mạnh, toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu. Một buổi sinh hoạt chi bộ định kỳ tại thôn Lũng Pâu, xã Tung Chung Phố, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai _Ảnh: TTXVN Ba là, thực hiện nghiêm “nguyên tắc” tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần quán triệt và thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, các quy chế, quy định. Tập trung thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cấp ủy, các quy chế, quy định trong công tác tư tưởng, cán bộ, tổ chức, lãnh đạo; xây dựng và thực hiện tốt cơ chế kiểm soát quyền lực, cụ thể hóa, lượng hóa trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu, cán bộ phụ trách; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với người đứng đầu; chế độ bảo lưu ý kiến thiểu số, từng bước xác định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể và cá nhân, bảo đảm sự lãnh đạo của tập thể và đề cao trách nhiệm cá nhân, hạn chế các sai phạm. Bốn là, cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; tự giác thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ chủ chốt và người đứng đầu các cấp. Coi trọng tự phê bình và phê bình, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ, chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, kỷ luật và quy định của cơ quan, đơn vị. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức việc thực hiện “nguyên tắc” tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách vừa là trách nhiệm, vừa là biện pháp tốt nhất để bảo vệ mình không sai phạm trong quá trình làm việc, công tác. Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; xử lý nghiêm minh, kịp thời tổ chức đảng, đảng viên vi phạm nguyên tắc TTDC; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp và người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng phải nắm vững quan điểm, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác xây dựng Đảng và công tác kiểm tra, giám sát của Đảng(8). Thực hiện và tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu quả chương trình hành động, phương hướng, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát trong nhiệm kỳ và hằng năm; coi trọng nhiệm vụ giám sát hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành; chủ động ngăn ngừa, phát hiện, kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Xử lý nghiêm minh tổ chức đảng, đảng viên vi phạm nguyên tắc TTDC và những hành vi dung túng, bao che cho khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên./. ---------------------------- (1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 37, tr. 772 (2) Xem: “Điều lệ Đảng (do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua)”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 24-9-2015, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xi/dieu-le-dang-do-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xi-cua-dang-thong-qua-1472 (3) V.I. Lê-nin, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 36, tr. 185 (4) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 2, tr. 119 (5) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 5 (6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 25 (7) “Những luận điệu sai lệch về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng “, báo Dân tộc và Phát triển, ngày 21-2-2022, https://baodantoc.vn/nhung-luan-dieu-sai-lech-ve-vi-tri-vai-tro-lanh-dao-cua-dang-1645352409400.htm (8) Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, về những điều đảng viên không được làm; Hướng dẫn số 02-HD/TW, ngày 9-12-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, về thực hiện Quy định số 22-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng... (Nguồn: Tạp chí Cộng sản)

Một số xu hướng phát triển của thế giới hiện nay

Thế giới đang trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đa cực hóa về trật tự chính trị; đa dạng hóa về phát triển kinh tế - văn hóa; số hóa và tin học hóa trong đời sống xã hội, gia tăng hóa sự phụ thuộc vào nhau và chuyển hóa lẫn nhau, phức tạp hóa sự hợp tác và đấu tranh vì lợi ích. Bối cảnh đó ẩn chứa nhiều chuyển biến lớn lao, phức tạp, khó lường, vừa mang đến thời cơ, vừa đặt ra không ít thách thức, với sự xuất hiện của một số xu hướng phát triển, nhất là trong khoảng từ một đến hai thập niên tiếp theo. Sự chuyển dịch và thăng trầm quyền lực Xu thế chuyển dịch quyền lực thế giới đang có sự chuyển biến và dần định hình trên ba bình diện: giữa các khu vực, giữa các nước lớn và giữa nhà nước với người dân. Sự chuyển dịch quyền lực này bắt nguồn từ sự thay đổi tương quan lực lượng kinh tế giữa các nước dưới tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quy luật phát triển không đồng đều giữa các quốc gia. Tương quan sức mạnh kinh tế thay đổi dẫn tới những thay đổi về tương quan sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nhất là sự gia tăng sức mạnh tổng hợp của các “quốc gia mới nổi”. Với sự tiếp sức của Mỹ và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đối với U-crai-na, cuộc xung đột Nga - U-crai-na theo nhận định của nhiều chuyên gia, đã thể hiện sự thay đổi quyền lực dẫn tới hình thành thế giới đa cực, đánh dấu sự suy giảm sức mạnh của Mỹ và NATO, làm gia tăng quyền lực và vai trò của Trung Quốc. Tổng thống Mỹ Joe Biden với nguyên thủ các quốc gia thành viên tại Hội nghị thượng đỉnh NATO ở Vilnius, Litva, ngày 11-7-2023 _Ảnh: AFP/TTXVN Sự chuyển dịch quyền lực ngày càng rõ nét từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Trong những thập niên tới, vị thế của châu Á ngày càng gia tăng, đặc biệt là khu vực châu Á - Thái Bình Dương với vai trò đầu tàu là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thế giới. Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực đứng đầu thế giới về quy mô kinh tế và các nguồn lực phát triển kinh tế (như tài nguyên thiên nhiên, dự trữ ngoại hối, nguồn lực con người/thể chế), tốc độ tăng trưởng và tiềm năng phát triển kinh tế (độ lớn thị trường và hội nhập kinh tế khu vực). Đây cũng là khu vực có nhiều cường quốc nhất, tập trung ba(1) trong năm Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; các quốc gia có ảnh hưởng lớn về chính trị khác, như Ấn Độ, Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a - là các quốc gia đi đầu trong Phong trào Không liên kết; là khu vực có tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang đóng vai trò trung tâm trong các thể chế chính trị/an ninh khu vực. Bên cạnh đó, khu vực châu Á - Thái Bình Dương là nơi tập trung nhiều cường quốc quân sự nhất (7/10(2) cường quốc quân sự hàng đầu thế giới). Với những tiềm năng và lợi thế sẵn có, khu vực này đã lôi cuốn sự tham gia của các nước lớn và định hình trục quan hệ, xu hướng quan hệ quốc tế mới giữa các cường quốc, gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ. Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế của châu Á, cùng với những thế mạnh về vốn, dự trữ ngoại tệ, lao động rẻ, tính năng động và sự trỗi dậy mạnh mẽ của các quốc gia, như Trung Quốc, Ấn Độ đã nâng cao vị thế của khu vực châu Á - Thái Bình Dương trên thế giới. Bên cạnh vai trò chủ đạo của các nước lớn trong lĩnh vực kinh tế đang suy giảm, các nước vừa và nhỏ ngày càng vươn lên giành vị trí tương xứng. Sự thay đổi trong quan hệ Bắc - Nam, trong đó vai trò của các nước vừa và nhỏ đã tăng lên đáng kể. Độ lớn về địa lý, quy mô kinh tế và triển vọng phát triển là những nhân tố quyết định để khu vực châu Á - Thái Bình Dương vươn lên trở thành trung tâm địa - chính trị toàn cầu. Khả năng xuất hiện một cuộc “chiến tranh lạnh mới”? Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự tùy thuộc và lệ thuộc lẫn nhau đang tăng lên, với tư duy mới về an ninh và phát triển, cùng sự phổ biến của các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt và những bài học sau chiến tranh, khả năng xảy ra đụng độ lớn về quân sự giữa các cường quốc trong những thập niên tới là rất thấp. Tuy nhiên, cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn nhằm định hình lại trật tự thế giới diễn ra ngày càng phức tạp và căng thẳng dưới nhiều hình thức, như cuộc xung đột Nga - U-crai-na hiện nay làm cho nguy cơ diễn biến trở thành cuộc chiến tranh lạnh kiểu mới ngày càng rõ nét. Điều này thể hiện thông qua những chính sách chạy đua vũ trang chưa từng có giữa Mỹ, NATO với Trung Quốc, Nga và các quốc gia khác. Bên cạnh đó, chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc vẫn diễn ra gay gắt, khó có điểm dừng. Một số nước lớn vẫn coi chiến tranh là biện pháp và vũ lực là công cụ quan trọng trong chính sách đối ngoại nên không ngừng tăng cường vũ trang, cạnh tranh ảnh hưởng ở khu vực “ngoại vi” và tại các điểm nóng trên thế giới. Điều này không nằm ngoài quy luật trong quan hệ quốc tế là các nước lớn chi phối quan hệ quốc tế và cạnh tranh chiến lược với nhau dựa trên sự thay đổi trong tương quan lực lượng như đã nêu trên... Do đó, xu hướng cạnh tranh quyền lực giữa các cường quốc tại vị, đại diện là Mỹ và các cường quốc mới nổi, đại diện là Trung Quốc và Nga ngày càng thể hiện rõ nét, nhất là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Mỹ tìm cách đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc nhằm duy trì vị trí dẫn dắt trật tự thế giới và bảo vệ các lợi ích toàn cầu của Mỹ. Cạnh tranh trong quan hệ Mỹ - Trung Quốc và Mỹ - Nga tăng lên là do: 1- Các bên đều không cho phép bên nào đứng trên mình và đứng đầu để chi phối thế giới; 2- Tương tác giữa hai nước bị chi phối bởi vòng xoáy “hành động - phản ứng” theo hướng leo thang do tình trạng mất lòng tin và nghi kỵ lẫn nhau ngày càng trầm trọng; 3- Mỹ, Trung Quốc và Nga đều theo đuổi lập trường “cứng rắn”; chủ nghĩa dân tộc cực đoan và dân túy làm nổi rõ hơn các khác biệt và vì vậy xuất hiện những va chạm quyền lợi về kinh tế (thâm hụt thương mại), chiến lược (vấn đề Biển Đông, biển Hoa Đông), trật tự khu vực (các thể chế, kiến trúc khu vực) và giá trị (dân chủ, quyền con người, tự do tôn giáo); 4- “Mô hình quan hệ nước lớn kiểu mới” do Trung Quốc đề xướng không trở thành hiện thực do nhiều yếu tố từ cả hai phía. Trong thời gian tới, dự báo Mỹ và Trung Quốc đều mở rộng cạnh tranh chiến lược và tranh giành ảnh hưởng. Cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc chủ yếu xoay quanh hai chủ đề: Một là, cạnh tranh vùng ảnh hưởng, nhất là can dự vào các “điểm nóng” tranh chấp trên Biển Đông và biển Hoa Đông; hai là, cạnh tranh quyền “tạo dựng luật chơi” về kinh tế, chính trị - an ninh trong các hiệp định, cơ chế, tổ chức thương mại do Mỹ và Trung Quốc dẫn dắt, như Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Ngân hàng Đầu tư kết cấu hạ tầng châu Á (AIIB), Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI) do Trung Quốc khởi xướng; Luật chơi về chính trị - an ninh (giữa cơ chế hợp tác an ninh “trục - nan hoa” do Mỹ ở vị trí trung tâm với các cơ chế hợp tác, như Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO), Hội nghị về phối hợp hành động và các biện pháp xây dựng lòng tin ở châu Á (CICA) do Trung Quốc đóng vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc dù diễn ra rất quyết liệt trên nhiều phương diện, nhưng sẽ không dẫn đến xung đột trực tiếp và không gây đổ vỡ quan hệ bởi Mỹ vẫn có lợi ích và nhu cầu hợp tác với Trung Quốc, vì: thứ nhất, Mỹ cần duy trì hòa bình và ổn định khu vực để tập trung theo đuổi các mục tiêu đối nội; thứ hai, tình trạng lệ thuộc lẫn nhau giữa hai quốc gia là khá lớn, nhất là trong lĩnh vực kinh tế; thứ ba, Mỹ vẫn cần sự hỗ trợ của Trung Quốc để giải quyết các vấn đề toàn cầu và khu vực. Một số chuyên gia phân tích dự báo đến năm 2030 và tiếp nữa là năm 2045, ít có khả năng xuất hiện một cường quốc có thể thay thế vai trò của Mỹ, mặc dù thế và lực của Mỹ đã bị suy giảm đáng kể. Mỹ vẫn sẽ là tác nhân quan trọng nhất trong số các cường quốc trên thế giới dựa vào ưu thế vượt trội về tiềm lực sức mạnh của Mỹ, bởi: Một là, Mỹ vẫn đang dẫn trước các nước khác một khoảng cách lớn về kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ; hai là, những điều chỉnh của Mỹ về cơ cấu kinh tế và quân sự trên cơ sở cách mạng khoa học - công nghệ tạo nên một nền tảng khá vững chắc để Mỹ duy trì vị trí dẫn đầu về tiềm lực kinh tế và quân sự - hai nhân tố cơ bản để tạo nên sức mạnh Mỹ trong quan hệ quốc tế. Có thể nói, cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc diễn ra không có sự đối đầu trực tiếp như cuộc chiến giữa Mỹ và Liên Xô trong thế kỷ XX, nhưng cũng không kém phần quyết liệt. Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc cũng kéo theo cuộc chạy đua vũ trang vô cùng mạnh mẽ, tốn kém, gây ra những hệ lụy đối với trật tự thế giới, tác động tiêu cực đến quá trình hội nhập quốc tế của nhiều quốc gia. Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken và Ngoại trưởng Trung Quốc Tần Cương trước cuộc hội đàm tại Bắc Kinh, ngày 18-6-2023 _Ảnh: AFP Xu hướng dân túy gia tăng Trào lưu dân túy ở các nước phát triển có nguyên nhân trực tiếp từ khủng hoảng kinh tế - tài chính. Đại dịch COVID-19 cùng với cuộc xung đột Nga - U-crai-na đã dẫn đến suy thoái, lạm phát nghiêm trọng ở nhiều nước phát triển, làm dấy lên tâm lý bất mãn, thất vọng, mất niềm tin của người dân với chính quyền. Đặc biệt, xu hướng dân túy diễn ra gần đây bắt nguồn sâu xa từ các hệ lụy tiêu cực của tiến trình toàn cầu hóa đã và đang tác động mạnh mẽ đến các nước phát triển khiến sự phân tầng trong xã hội ngày càng sâu sắc, bất bình đẳng xã hội tăng cao và nỗi lo lắng về mất bản sắc văn hóa, dân tộc nổi lên ngày một rõ nét. Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa dân túy có xu hướng hữu khuynh hoặc cực hữu, tập trung phê phán các chính sách ủng hộ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, mở cửa biên giới, mở cửa xã hội, được cho là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kinh tế trong nước suy giảm, mất việc làm (do hàng xuất khẩu và cạnh tranh từ nước ngoài), mất bản sắc văn hóa dân tộc và mất an ninh (do người nhập cư). Hiện nay, chủ nghĩa dân túy đang gây ra một số tác động khá tiêu cực. Ở trong nước, dân túy ở phương Tây cổ vũ việc xây dựng một xã hội đồng nhất, một nhà nước mạnh mẽ và chuyên chế, đủ năng lực kiểm soát chặt chẽ lãnh thổ biên giới quốc gia và bảo vệ được lợi ích của người dân trước mối đe dọa từ bên ngoài. Nhưng kết quả lại làm gia tăng các mâu thuẫn nội bộ, đẩy tình trạng bất mãn lên cao, từ đó dẫn đến môi trường chính sách đối nội và đối ngoại trở nên bất định. Đối với bên ngoài, xu hướng dân túy thúc đẩy chống liên kết, hội nhập quốc tế và khu vực, giảm sự ưu tiên, thậm chí là rời khỏi các thể chế đa phương (như trường hợp Anh rút khỏi Liên minh châu Âu, Mỹ và nhiều đảng cánh hữu ở Pháp muốn giảm thiểu vai trò của NATO), hạn chế và kiểm soát chặt dòng người nhập cư bằng các biện pháp cực đoan, thắt chặt viện trợ quốc tế, thiên về áp dụng các biện pháp bảo hộ cứng rắn để bảo vệ nền sản xuất và việc làm trong nước. Điều này đã làm suy giảm mức độ hợp tác, gia tăng cạnh tranh, xung đột, dẫn đến những căng thẳng mới trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, xu hướng dân túy thường không bền lâu do các nguyên nhân chủ yếu sau: 1- Với lập trường cực đoan, xu hướng dân túy khó tạo ra đồng thuận xã hội đối với chính sách mà dân túy đề xuất. Mâu thuẫn chính trị - xã hội thường tăng lên sau khi phái dân túy thắng cử và lên nắm quyền; 2- Các nhà lãnh đạo dân túy thường chạy theo đám đông, thậm chí đưa ra những tiêu chí “mị dân” (hứa hẹn những điều khó thực hiện, chủ yếu phục vụ mục tiêu thắng cử). Do đó, khi không giữ được lời hứa, các nhà lãnh đạo dân túy sẽ đánh mất niềm tin của người dân; 3- Với lập trường chống lại chính trị dòng chính, phái dân túy rất khó tập hợp được sự ủng hộ và tận dụng kinh nghiệm lãnh đạo của tầng lớp tinh hoa chính trị truyền thống. Không ít trường hợp sau khi nắm quyền, các nhà lãnh đạo dân túy dần từ bỏ cam kết đã hứa, quay lại đường lối chính trị truyền thống, từ đó mất đi cơ sở xã hội - chính trị của mình; 4- Một số ý kiến cho rằng, dân túy về cơ bản là “phái sinh” của các trường phái chính trị truyền thống, chỉ đại diện cho các “hệ tư tưởng mỏng”, cực đoan và không chính thống, do đó khó có sức hấp dẫn lâu bền. Xu hướng bảo hộ ngày càng trỗi dậy Bảo hộ là một trong những xu thế luôn tồn tại trong lịch sử kinh tế thế giới, thường gia tăng sau những chu kỳ khủng hoảng kinh tế. Trong những năm qua, chủ nghĩa bảo hộ đã trỗi dậy mạnh mẽ với các biểu hiện mới như: Một là, bảo hộ có xu hướng phát triển mạnh ở các nước phát triển - vốn cổ vũ cho tự do hóa và toàn cầu hóa; hai là, số lượng biện pháp bảo hộ tăng mạnh, lĩnh vực bảo hộ mở rộng với nhiều biện pháp phức tạp, tinh vi hơn, trong đó việc sử dụng các biện pháp bảo hộ “phía sau biên giới” tăng nhanh. Bảo hộ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ, mà còn bao gồm cả tài chính, bảo hộ đầu tư, sở hữu trí tuệ, dịch chuyển tự do lao động...; ba là, chính sách bảo hộ mang nặng tính dân túy. Các chính sách, biện pháp hạn chế thương mại gần đây được dựng lên ở một số nước thường dựa trên những đánh giá, nhận định phiến diện, thiếu cân bằng, thậm chí cực đoan của các lực lượng chính trị dân túy về thương mại, đầu tư, di chuyển lao động quốc tế. Xu hướng bảo hộ quay trở lại là do: Thứ nhất, kinh tế toàn cầu và kinh tế ở nhiều nước, nhất là ở các nước phát triển đang gặp khó khăn. Trong bối cảnh đó, nhiều quốc gia đã lựa chọn chính sách kích thích kinh tế, tăng cường hỗ trợ sản xuất trong nước với tâm lý hướng nội nhiều hơn để tập trung khắc phục khó khăn trong nước, từ đó làm giảm động lực tự do hóa và mở cửa kinh tế; thứ hai, tác động “nghịch” ngày càng lớn của toàn cầu hóa kinh tế đã thúc đẩy trào lưu chống toàn cầu hóa phát triển mạnh ở nhiều nước phát triển; thứ ba, sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, bất ổn chính trị - xã hội và an ninh đã góp phần thổi bùng chủ nghĩa bảo hộ. Chủ nghĩa bảo hộ cùng với xu hướng dân túy đang và sẽ ảnh hưởng mạnh đến tiến trình phục hồi kinh tế khu vực và thế giới; đồng thời, tác động tiêu cực đến liên kết kinh tế toàn cầu và khu vực, ảnh hưởng trực tiếp, nhiều mặt đến quá trình hội nhập quốc tế. Việc quay trở lại chủ nghĩa bảo hộ, đóng cửa thị trường, hạn chế liên kết kinh tế, giảm thiểu sự ủng hộ đối với tự do thương mại đa phương, dẫn đến cản trở thương mại và đầu tư quốc tế đã và đang tạo ra hệ lụy tiêu cực, tác động đến tiến trình tăng trưởng kinh tế thế giới và làm chậm lại quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng. Bên cạnh đó, xu hướng bảo hộ quay trở lại ở một số nền kinh tế lớn có thể làm tăng thêm mâu thuẫn, bất đồng vốn tích tụ trong một số vấn đề kinh tế - thương mại, do đó làm gia tăng các va chạm về lợi ích, tất yếu dẫn đến chiến tranh thương mại. Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc hiện nay là một minh chứng rõ nét nhất. Công nhân kiểm tra chip tại một nhà máy ở Hợp Phì, tỉnh An Huy (Trung Quốc) _Nguồn: global.chinadaily.com.cn Suy giảm vai trò của các cơ chế đa phương Sự nổi lên của làn sóng dân túy và chủ nghĩa bảo hộ kết hợp với việc đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc đã và đang tác động lớn đến các cơ chế hợp tác đa phương. Nhiều quốc gia đã giảm cam kết với các thể chế đa phương, tăng cường tiếp cận với các thể chế song phương, thậm chí đơn phương. Sự điều chỉnh chính sách của Mỹ tác động rất lớn đến trật tự quốc tế và các cơ chế hợp tác đa phương. Khuôn khổ chính sách đối ngoại được xây dựng với phương châm “Nước Mỹ trên hết” dựa trên hai thành tố cơ bản là “hòa bình dựa trên sức mạnh” và “giao dịch” đã cho thấy sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Đó là: 1- Ưu tiên các cơ chế hợp tác song phương, giảm can dự vào các thể chế đa phương về kinh tế và ngoại giao; 2- Ưu tiên cách tiếp cận “hòa bình dựa trên sức mạnh” thông qua việc gia tăng chi phí quân sự, tăng sự hiện diện quân sự ở khu vực, kể cả “quân sự hóa” bộ máy hoạch định chính sách an ninh, coi việc sử dụng vũ lực là một công cụ quan trọng của chính sách đối ngoại; 3- Cách tiếp cận là ưu tiên đối nội, giảm nhẹ đối ngoại theo chủ trương “quay vào bên trong” (tập trung xử lý các vấn đề trong nước, nhất là liên quan đến tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, xử lý các mâu thuẫn nội bộ). Sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ kéo theo sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn khác, nhất là Trung Quốc, Nga, Nhật Bản..., đã làm phức tạp và gia tăng biến động trong quan hệ quốc tế. Quan hệ giữa các nước ngày càng có xu hướng “cá nhân hóa” dựa trên những ưu tiên lựa chọn trong chính sách đối ngoại của từng nước; xu hướng mặc cả, thỏa hiệp ngầm giữa các nước, nhất là các nước lớn tăng lên. Các nước, nhất là các nước nhỏ, một mặt, vẫn tiếp tục dựa vào các cơ chế đa phương và luật pháp quốc tế để bảo vệ lợi ích quốc gia của mình; mặt khác, vẫn phải chuẩn bị các biện pháp ứng phó trước những biến động khó lường trong cuộc cạnh tranh và thỏa hiệp của các nước lớn. Xu hướng suy giảm quyền lực của nhà nước Chuyển dịch, phân tán và thăng trầm quyền lực trong quan hệ giữa nhà nước và người dân đang diễn ra. Dưới tác động của phát triển kinh tế, nhất là ảnh hưởng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phân tầng xã hội đã và đang diễn ra mạnh mẽ, làm cho xu thế dân chủ hóa, đặc trưng bởi sự phân tán quyền lực và phi tập trung hóa quyền lực ngày càng mạnh mẽ hơn. Sự gia tăng tầng lớp trung lưu tại các nước đang phát triển thúc đẩy xu hướng phân tán quyền lực. Cùng với sự thành công trong phát triển kinh tế và các chương trình xóa đói, giảm nghèo của các nước đang phát triển, tỷ lệ người nghèo và cực nghèo trên toàn cầu sẽ tiếp tục giảm. Chương trình nghị sự của Liên hợp quốc về phát triển bền vững đã đặt mục tiêu đến năm 2030 xóa bỏ tình trạng nghèo đói trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu với chất lượng cuộc sống (giáo dục, y tế, văn hóa...) ngày càng được cải thiện; công nghệ mới trong lĩnh vực chế tạo và viễn thông được ứng dụng rộng rãi, góp phần gia tăng vai trò và quyền lực của người dân. Theo một số dự báo, trong thời gian tới, số dân thuộc tầng lớp trung lưu sẽ tăng từ mức 1 tỷ người hiện nay lên 2 - 3 tỷ người, chủ yếu ở khu vực châu Á, nhất là Trung Quốc và Ấn Độ. Những tiến bộ xã hội và dân chủ hóa cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm đa dạng hóa chủ thể (doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cá nhân) và hình thức tham gia xã hội (tham gia trực tuyến, mạng xã hội, công dân toàn cầu, cư dân mạng...), tạo nên sự kết hợp giữa thế giới thực và thế giới ảo. Sự phát triển của các phương tiện thông tin, như mạng xã hội(3), điện thoại thông minh... tạo điều kiện để người dân bày tỏ quan điểm cá nhân, qua đó nâng cao vai trò và ảnh hưởng của mình đối với xã hội. Cách mạng khoa học - công nghệ cũng làm gia tăng tính bình đẳng và dân chủ trong quan hệ giữa đối tượng quản lý và đối tượng chịu quản lý dưới tác động của sự phân tán quyền lực và phi tập trung hóa quyền lực. Sự thay đổi vai trò của người dân dẫn đến những thay đổi trong quan hệ giữa người dân với chính phủ, nhà nước. Mối quan hệ này không còn đơn thuần một chiều, có tính mệnh lệnh, mà trở thành quan hệ tương tác giữa các chủ thể tương đối bình đẳng. Trong một số trường hợp, mỗi cá nhân hoặc một nhóm các cá nhân có thể dẫn dắt, định hướng chủ đề và buộc chính phủ phải hành động. Nói cách khác, sức ép cải cách thể chế đã gia tăng khi công nghệ thông tin làm thay đổi phương thức liên hệ, giao tiếp của tất cả các quan hệ trong xã hội, đặc biệt là giữa chính phủ với người dân, hoặc giữa người dân với nhau. Tuy nhiên, phần lớn chính phủ vẫn chưa thay đổi cách tương tác với người dân và quản lý xã hội để thích ứng với các thay đổi trên. Một số học giả cho rằng: Chúng ta phải ứng xử với thế giới trong thế kỷ XXI, nhưng hệ thống chính trị vẫn dừng ở thế kỷ XVIII và XIX. Đây là xu hướng còn tiếp tục trong thời gian tới, mặc dù thực tế cho thấy là ngày càng có nhiều nền chính trị tăng cường thích nghi với hoàn cảnh mới để hướng tới mối quan hệ hài hòa hơn với người dân. Mô hình chính phủ điện tử, chính phủ kiến tạo và liêm chính đang là hướng đi của nhiều nước nhằm thích ứng với tình hình. Có thể nói, những xu hướng phát triển trên thế giới đang diễn ra sẽ tác động không nhỏ đến các quốc gia và khu vực, tạo ra cơ hội để phát triển, nhưng cũng mang đến không ít thách thức, đòi hỏi mỗi quốc gia lựa chọn phương thức ứng phó phù hợp trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi khó lường./. ------------------- (1) Gồm: Trung Quốc, Nga, Mỹ (2) Gồm: Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Hàn Quốc (3) Hiện nay, trung bình mỗi người sử dụng internet trên thế giới có đến 5,54 tài khoản mạng xã hội; cứ mỗi 12 giây lại có một tài khoản mạng xã hội mới được kích hoạt, trong đó đứng đầu là Facebook với 1,55 tỷ lượt người sử dụng. (Nguồn: Tạp chí Cộng sản)