Thứ Ba, 25 tháng 7, 2023

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NHỮNG NỖ LỰC TRONG CHĂM LO NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

 Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ nhưng hậu quả đến nay còn nặng nề. Đã có hơn 3 triệu đồng bào, chiến sĩ ngã xuống, nhiều ngôi mộ liệt sĩ không tên; những vết thương sau chiến tranh vẫn giày vò thân thể, tinh thần thương, bệnh binh; đến nay chất độc da cam/dioxin vẫn còn gieo rắc nỗi đau cho biết bao thế hệ gia đình người Việt Nam.

Để khắc phục hậu quả chiến tranh, hỗ trợ người có công với cách mạng và thân nhân của họ vơi bớt khó khăn, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách quan trọng và động viên, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Tuy nhiên, với âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc.
Vạch trần chiêu trò xảo trá
Cứ vào dịp tháng 7, trong khi cả nước hướng về Ngày Thương binh, Liệt sĩ với biết bao lòng thành kính, nhớ ơn công lao to lớn của các anh hùng, liệt sĩ và đồng bào đã ngã xuống thì cũng là lúc những luận điệu chống phá, lời lẽ ngược dòng lại xuất hiện nhiều hơn. Lợi dụng những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công ở một số địa phương, các thế lực thù địch tỏ rõ thói “đạo đức giả” khi tung ra nhiều bài viết, hình ảnh, video với nội dung vu cáo “chính quyền không quan tâm”, “người có công bị bỏ rơi”, để hạ bệ, phủ nhận vai trò, nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong chăm lo người có công. Một số kẻ vu cáo Đảng, Nhà nước “bỏ mặc các gia đình liệt sĩ, các thương, bệnh binh”, miệt thị rằng trong chiến tranh vì nghe “lời xúi giục, dối lừa của Đảng” mà lao vào trận chiến, nay bỏ thân hay tàn phế thì không ai quan tâm!
Thâm độc hơn, họ đồng nhất nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của lực lượng cách mạng với những kẻ phản cách mạng; đánh đồng sự hy sinh, cống hiến của các anh hùng liệt sĩ, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân cũng giống như những binh lính Việt Nam cộng hòa – tay sai của thực dân, đế quốc, đòi vinh danh chế độ Việt Nam cộng hòa. Số đối tượng xấu còn cố tình “bẻ lái” sự hy sinh, cống hiến của anh hùng, liệt sĩ, thương bệnh binh, xuyên tạc những hy sinh, mất mát là do cảnh “nồi da, nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn”. Từ đó, họ đòi bỏ Ngày Thương binh-Liệt sĩ 27/7, chối bỏ những cống hiến quên mình của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; phủ nhận chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công.
Thực chất đó là những luận điệu hết sức sai trái, thể hiện bản chất phi nhân văn, phản đạo đức của các thế lực thù địch, số tổ chức, cá nhân phản động sống lưu vong ở hải ngoại, các hãng truyền thông hải ngoại định kiến với Việt Nam. Có thể thấy, những thông tin sai trái phát tán trên mạng xã hội trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ đánh lận con đen, đánh tráo giá trị, đổi trắng thay đen, đổi đen thành trắng, nói không thành có, nói có thành không nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi, mất tin tưởng về chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công. Mục đích không chỉ kích động chống phá Đảng, Nhà nước mà còn cố tình làm băng hoại truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, giảm sự chung tay của toàn xã hội trong chăm lo người có công với cách mạng, gia đình chính sách.
Tiếp nối đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc
Sự cống hiến, hy sinh của các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân ta là vô giá; không thể quy đổi, so sánh giá trị vật chất nào, càng không thể phủ nhận, xóa mờ những hiến dâng ấy cho Tổ quốc. Chính vì vậy, việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công là nghĩa vụ, trách nhiệm và niềm vinh dự của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và mai sau. Thực hiện tốt công tác chăm sóc người có công không chỉ phát huy truyền thống, đạo lý của dân tộc ta mà còn củng cố niềm tin vững chắc vào Đảng, Nhà nước, góp phần quan trọng ổn định tình hình an ninh, chính trị, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, ngăn chặn những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”. Những tình cảm sâu nặng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác thương binh, liệt sĩ đã được Đảng, Nhà nước ta vận dụng, kế thừa, phát huy và cụ thể hóa thành nhiều chương trình, chính sách giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ. Quan điểm nhất quán đó được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng. Trong đó, Đại hội XIII khẳng định: “Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công; đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công; bảo đảm chế độ ưu đãi người và gia đình người có công phù hợp với xu hướng tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội”.
Thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư Trung ương Ðảng (khóa XII) “Về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác người có công với cách mạng”, ngày 09/12/2020, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 (Pháp lệnh) về ưu đãi người có công với cách mạng có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2021 với nhiều điểm mới nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về ưu đãi người có công với cách mạng. Pháp lệnh đã mở rộng việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công nhằm nâng cao chất lượng đời sống cho người có công và thân nhân người có công. Pháp lệnh cũng xác định rõ nguyên tắc hưởng trợ cấp hằng tháng với Bà mẹ Việt Nam Anh hùng bằng 3 lần mức chuẩn, đồng thời bỏ quy định trợ cấp tuất theo số con liệt sĩ với Bà mẹ Việt Nam Anh hùng mà cố định rõ mức trợ cấp chung, đảm bảo chăm lo các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng mà không phụ thuộc vào số con liệt sĩ. Chế độ ưu đãi người có công và thân nhân của người có công đã bảo đảm mức sống của người có công bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú.
Các cấp, ngành, địa phương không ngừng hoàn thiện, bổ sung thể chế, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng; xây dựng, ban hành quy hoạch hệ thống cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng thời kì 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050; tổng kết Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin giai đoạn 2013 – 2020 và xây dựng Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ giai đoạn 2021 – 2030 và những năm tiếp theo. Thăm hỏi, tặng quà người có công, gia đình chính sách tại địa phương và tại các trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng. Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng…
Với sự quan tâm, vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, chăm lo người có công với cách mạng và thân nhân của họ được tiến hành với nhiều nội dung như: Xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, nhà tình nghĩa, vườn cây tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa, chăm sóc bố, mẹ liệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; tổ chức dâng hương, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Đài Tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; tổ chức lễ dâng hương và thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ trên toàn quốc…
Đến nay, người có công với cách mạng và thân nhân được hưởng chế độ ưu đãi về bảo hiểm y tế, điều dưỡng phục hồi sức khỏe; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết theo chỉ định của cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng thuộc ngành lao động – thương binh và xã hội hoặc của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên; ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; hỗ trợ để theo học đến trình độ đại học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào công lao, hoàn cảnh của từng người hoặc khi có khó khăn về nhà ở…
Hiện cả nước đã xác nhận được trên 9,2 triệu người có công, trong đó có trên 1,3 triệu người có công được hưởng trợ cấp hằng tháng. Mỗi năm giải quyết chế độ trợ cấp một lần cho 6 đến 8 nghìn trường hợp, đưa trên 580 nghìn lượt người có công đi điều dưỡng định kỳ và hỗ trợ giáo dục cho khoảng 40 nghìn lượt người. Mạng lưới các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng được quy hoạch tổng thể, rộng khắp trong cả nước với 65 cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và bố trí nhân sự đủ để đáp ứng cơ bản yêu cầu chăm sóc, điều dưỡng người có công, nhất là thương binh nặng. Tính đến năm 2022, cả nước đã đầu tư xây dựng, nâng cấp, tu bổ 3.200 nghĩa trang liệt sĩ và trên 3.000 công trình ghi công liệt sĩ trên khắp cả nước. Tất cả Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống luôn được chăm lo đời sống bằng nhiều việc làm cụ thể như tặng quà, hỗ trợ kinh phí sửa chữa, xây mới nhà tình nghĩa; các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp nhận phụng dưỡng mẹ suốt đời…
Những việc làm trên đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cộng đồng xã hội góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với thương bệnh binh, thân nhân liệt sĩ và người có công. Đồng thời, là minh chứng thuyết phục phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của kẻ xấu về chính sách của Đảng, Nhà nước, sự quan tâm của toàn xã hội đối với những người đã cống hiến cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Đất nước ta có được cơ đồ, vị thế như ngày hôm nay đến từ sự hiến dâng quên mình của thế hệ ông cha đi trước. Hiện nay, điều kiện kinh tế – xã hội đã được nâng cao rõ rệt thì việc quan tâm chăm lo người có công với cách mạng càng phải được thể hiện đậm nét hơn, hiệu quả hơn.

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI HIỆN ĐẠI - QUAN ĐIỂM ĐÚNG ĐẮN, XU THẾ TẤT YẾU KHÔNG THỂ ĐẢO NGƯỢC

 Xây dựng Quân đội hiện đại là quan điểm, chủ trương chiến lược, đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhằm bảo đảm cho Quân đội luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Vậy mà, hiện nay các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc, chống phá hòng làm chậm tiến trình, chệch hướng mục tiêu hiện đại hóa, tiến tới vô hiệu hóa vai trò của Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thủ đoạn này cần phải được nhận diện, đấu tranh, loại bỏ để bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của chủ trương, định hướng trên; đồng thời, đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa Quân đội.

Xuyên suốt các kỳ Đại hội Đảng (từ Đại hội VI đến Đại hội XII), mặc dù câu chữ thể hiện có khác nhau, nhưng Đảng ta đều nhất quán quan điểm: “Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Đặc biệt, trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, quan điểm về “Xây dựng Quân đội hiện đại” tiếp tục được bổ sung, phát triển, thể hiện rõ nét hơn với mục tiêu, lộ trình, bước đi cụ thể: “Xây dựng Quân đội nhân dân,… cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội… tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân… cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Đây là quan điểm, chủ trương, phương hướng hoàn toàn đúng đắn, khoa học, vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài; là đòi hỏi tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế thời đại, khả năng nền kinh tế đất nước, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới - vấn đề đang được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng hết sức quan tâm, Nhân dân vô cùng mong mỏi, nhằm tăng cường chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho Quân đội luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.
Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch
Thực hiện chủ trương đó, những năm gần đây, Quân đội được điều chỉnh, xây dựng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, một số lực lượng được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu không ngừng được nâng lên, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Vậy mà, với dã tâm phá hoại sự nghiệp xây dựng Quân đội, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, công kích chủ trương đúng đắn đó, chúng cho rằng: Thời bình không cần thiết phải xây dựng lực lượng vũ trang, hiện đại hóa Quân đội, đó là sự “lãng phí, tốn kém”, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế đất nước; đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam đang đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, hợp tác toàn diện, sâu rộng với các nước, các đối tác, tổ chức quốc tế,... thì càng không có nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh, nên không cần xây dựng Quân đội hiện đại. Chúng soi mói, chĩa mũi vào hiệu quả tiến trình hiện đại hóa, phủ nhận vai trò của Quân đội, lợi dụng các vấn đề an ninh phức tạp trên Biển Đông để kích động, tuyên truyền Quân đội “vô dụng”, chi phí, tiêu tốn nhiều ngân sách Nhà nước, nhưng khi có tình huống thì “không dám động binh”,… nhằm làm cho tình hình Biển Đông “nóng” lên, Nhân dân hiểu sai lệch đường lối, chủ trương hiện đại hóa Quân đội của Đảng, từ đó làm chậm tiến độ, chệch hướng, tiến tới không thực hiện được mục tiêu hiện đại hóa Quân đội.
Thậm chí, lợi dụng sai phạm của một số cán bộ, sĩ quan cao cấp trong Quân đội thời gian qua, chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc: xây dựng Quân đội hiện đại chính là môi trường, “mảnh đất màu mỡ” cho nạn tham nhũng trong Quân đội “đâm chồi, nảy lộc”. Thâm độc hơn, chúng khuyên nhủ: “Để hiện đại hóa Quân đội, nên liên minh, liên kết với cường quốc có nhiều vũ khí, trang bị hiện đại, đang muốn giúp đỡ Việt Nam xây dựng theo mô hình quân đội kiểu phương Tây - quân đội nhà nghề”. Nguy hiểm hơn, chúng còn rắp tâm quy kết: Việt Nam xây dựng Quân đội hiện đại là “khơi mào cho cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực”, làm cho tình hình an ninh, chính trị, quốc phòng khu vực trở nên phức tạp hơn, v.v.
Những luận điệu trên nghe qua có vẻ là yêu nước, có thái độ phẫn nộ với hành động sai trái, nhưng nghiên cứu kỹ bản chất thì thấy đó vừa là sự ngộ nhận, vừa thâm độc và cực kỳ nham hiểm, phản động; không dựa trên bất cứ cơ sở lý luận, thực tiễn khoa học nào; vừa thiếu khách quan, vừa sai lệch về bản chất; thậm chí xuyên tạc, bóp méo sự thật. Chúng không hiểu mục đích hiện đại hóa Quân đội của Việt Nam là để tự vệ; không hiểu chính sách “bốn không” trong đó có “không liên minh quân sự”; không hiểu nghệ thuật “kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao” của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc và càng không hiểu cặn kẽ, bản chất của quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” - vấn đề quyết định sự tồn tại và phát triển của quốc gia - dân tộc trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc Việt Nam. Động cơ của các thế lực thù địch, phản động lộ rõ bản chất cố tình gây nhiễu, cản trở sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; kích động, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, gây bất lợi cho nước ta trong quan hệ quốc tế và hợp tác quốc phòng, nhất là với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và các nước lớn.
Để khẳng định những luận điệu đó là phản động, thiếu cơ sở lý luận, sai bản chất cách mạng, thực tiễn khoa học, thiếu khách quan, chúng ta cùng nghiên cứu, phân tích, luận giải làm rõ vấn đề này.
Về cơ sở lý luận
Quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại” của Đảng ta được nghiên cứu, kế thừa trên cơ sở những tư tưởng, bài học kinh nghiệm quý về xây dựng quân đội trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, như: “Binh quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, “quân lính thì cốt hòa thuận không cốt đông, cốt tinh nhuệ không cốt nhiều”, “quân hùng, tướng mạnh, thống soái tài ba”, “phụ tử chi binh”, “cả nước là lính, toàn dân đánh giặc”, v.v. Nhờ những tư tưởng, quan điểm nổi bật về xây dựng quân đội đó mà các triều đại phong kiến Việt Nam đã xây dựng và phát huy được sức mạnh của những đội quân thiện chiến, đánh tan mọi thế lực xâm lược ngoại bang, giữ yên bờ cõi, mang lại nền “thái bình, thịnh trị” cho muôn dân.
Không chỉ kế thừa những tư tưởng, bài học kinh nghiệm quý về xây dựng quân đội trong lịch sử dân tộc, Đảng ta còn kế thừa, phát triển lý luận về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản mà V.I. Lênin đã chỉ ra. Trong đó, chú trọng nghiên cứu, vận dụng luận điểm: giai cấp vô sản muốn giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc, thì phải tổ chức ra quân đội của mình và xây dựng lực lượng đó đủ mạnh để chiến thắng chủ nghĩa đế quốc, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, thấy rõ sự cần thiết phải nâng cao khả năng chiến đấu cho quân đội: “Quân đội của chúng ta là một bảo đảm thực sự khiến cho các cường quốc đế quốc chủ nghĩa không dám có chút mưu toan hành động gì, mưu toan xâm phạm gì đối với chúng ta được”. Có thể nói, lý luận về xây dựng quân đội kiểu mới của V.I. Lênin là cơ sở quan trọng, nền tảng để Đảng ta xác định chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời hoạch định kế hoạch, lộ trình, bước đi phù hợp, vững chắc trong quá trình hiện đại hóa Quân đội.
Đặc biệt, chủ trương “Xây dựng Quân đội hiện đại” còn được Đảng ta kế thừa, phát triển, vận dụng sáng tạo, hiệu quả tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về tổ chức xây dựng Quân đội hiện đại. Ngay từ năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”.
Đây là cơ sở, định hướng cơ bản để Đảng ta nhận thức, phát triển tư duy lý luận về xây dựng, hiện đại hóa Quân đội trong điều kiện cách mạng mới. Những cơ sở lý luận quan trọng đó khẳng định: xây dựng và hiện đại hóa Quân đội là nguyên tắc tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng, mang tính tất yếu, khách quan, phù hợp với xu thế thời đại và thực tiễn tình hình đất nước.
Cơ sở thực tiễn
Đối với thế giới, lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, mọi quốc gia, dân tộc đều chú trọng xây dựng quân đội lớn mạnh, nhằm nâng cao năng lực quốc phòng để bảo vệ đất nước, bảo vệ nền hòa bình. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, chủ nghĩa phát xít trỗi dậy, tăng cường chạy đua vũ trang để tiến hành chiến tranh xâm lược. Trong vòng 02 năm (1940 - 1941), nền công nghiệp chiến tranh Đức đã ưu tiên sản xuất, cung cấp cho thị trường khoảng 10.000 đến 20.000 máy bay, xe tăng mỗi năm. Trước nguy cơ bị đe dọa tấn công bởi chủ nghĩa phát xít, Liên Xô đã chủ động xây dựng lực lượng quân đội (Hồng quân) hùng mạnh, trang bị hiện đại, đủ sức đánh bại phát xít Đức, bảo vệ vững chắc tổ quốc, giữ vững nền độc lập. Không chỉ trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, mà trong thời kỳ Chiến tranh lạnh và những năm gần đây, việc xây dựng, phát triển, hiện đại hóa quân đội, tăng ngân sách chi tiêu cho quốc phòng trở thành xu thế phổ biến trên thế giới. Chỉ tính riêng năm 2022, chi tiêu quốc phòng toàn cầu tăng cao nhất trong lịch sử, điển hình là Mỹ gần 900 tỉ USD (lớn hơn tổng ngân sách quốc phòng của 10 nước có chi tiêu quốc phòng lớn của thế giới cộng lại), tăng hơn 5% so với năm 2021; Nhật Bản hơn 5.000 tỉ Yên (hơn 47,2 tỉ USD), con số lớn hơn nhiều lần so với năm 2021, v.v.
Đối với Việt Nam, thời nhà Trần đã xây dựng lực lượng quân thường trực bao gồm: quân Cấm vệ, quân các Lộ, quân Vương hầu; ngoài bộ binh, kỵ binh còn tổ chức lực lượng thủy binh hùng hậu, cùng với sức mạnh toàn dân tộc ba lần đánh tan quân Mông -Nguyên , bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Nhà Tây Sơn tổ chức xây dựng quân đội theo hướng: thủy bộ hóa, nâng cao khả năng tác chiến trên sông, trên biển và trên bộ; trang bị cho quân đội nhiều vũ khí hiện đại thời bấy giờ, như: đại bác, hỏa mai, hỏa cần, hỏa hổ,... trở thành một quân đội mạnh, hiện đại trong khu vực - quân đội “bách chiến, bách thắng”.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, từ 34 cán bộ, chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, trang bị giáo mác nhiều hơn súng đạn đã phát triển thành một tổ chức vũ trang hùng mạnh, từng bước chuyển từ đánh nhỏ lẻ lên đánh lớn, từ đánh du kích lên đánh chính quy; từ tác chiến ở cấp chiến thuật lên tác chiến ở quy mô chiến dịch, chiến lược, càng đánh càng mạnh, làm nên kỳ tích Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội ta từng bước phát triển thành quân đội chính quy, hùng mạnh, có đủ các trung đoàn, sư đoàn bộ binh và các đơn vị quân chủng, binh chủng; phát huy sức mạnh tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng đánh địch cả trên bộ, trên không, trên biển. Bằng sự phối hợp, hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng Phòng không rộng khắp với các sư đoàn phòng không chủ lực biên chế vũ khí, trang bị hiện đại cùng lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam, quân và dân Hà Nội cùng với quân và dân cả nước đã làm nên trận “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, đánh bại hoàn toàn sức mạnh của không lực Hoa Kỳ. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, bằng sức mạnh hiệp đồng quân, binh chủng, ta tổ chức 05 cách quân tiến vào tiêu diệt sào huyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà còn được khẳng định trong chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, phía Bắc của Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Như vậy, trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, mặc dù chúng ta luôn phải đương đầu với các thế lực ngoại xâm có tiềm lực, sức mạnh kinh tế, quân sự hơn ta gấp nhiều lần, song nhờ có đường lối chính trị đúng đắn, có Quân đội hùng mạnh cùng quyết tâm chiến đấu dũng cảm và nghệ thuật quân sự đặc sắc, chúng ta đã giành thắng lợi.
Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là những năm gần đây, Quân đội tiếp tục được xây dựng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, bước đầu đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hiện nay, Quân đội đang đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa một số lực lượng: Hải quân, Phòng không - Không quân, Tác chiến điện tử,… một số lực lượng đang tiếp tục được đầu tư tiến lên hiện đại, tăng cường sức mạnh quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Thực tiễn trên khẳng định, chủ trương: Xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, chính là sự kế thừa và phát triển những giá trị lịch sử to lớn của dân tộc, trở thành tất yếu, khách quan trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là chìa khóa, nhân tố đặc biệt quan trọng để chúng ta hoàn thành thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, bảo vệ vững chắc Tổ quốc sẽ tạo điều kiện, môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước nhanh, bền vững; ngược lại, đất nước phát triển, kinh tế vững mạnh sẽ là cơ sở, tiền đề để đầu tư hiện đại hóa Quân đội, gia tăng tiềm lực, sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Vì vậy, để phát huy vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Quân đội phải được xây dựng hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ; ngăn chặn, đẩy lùi, hóa giải các nguy cơ xung đột, chiến tranh, giữ vững hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Cùng với đó, chúng ta có thể khẳng định, Việt Nam có đủ điều kiện và khả năng để xây dựng Quân đội hiện đại vào năm 2030. Chủ trương đó hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế đất nước và có tính khả thi cao, do kinh tế - xã hội phát triển, công cuộc đổi mới đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực và còn sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa. Quy mô nền kinh tế nước ta hiện nay đạt hơn 400 tỷ USD, đứng thứ 04 khu vực ASEAN, thứ 11 Châu Á, cho phép chúng ta đầu tư xây dựng, phát triển, hiện đại hóa Quân đội, củng cố quốc phòng. Bên cạnh đó, nền công nghiệp quốc phòng của chúng ta đã làm chủ được một số công nghệ lõi, nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sản xuất được nhiều chủng loại vũ khí công nghệ cao,... góp phần tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đó là những bằng chứng khoa học, thuyết phục, đập tan luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch khi chúng rêu rao rằng: “Hiện đại hóa quân đội quá tốn kém và Việt Nam không đủ điều kiện để thực hiện, có chăng chỉ hiện đại hóa được một số lực lượng nhỏ”. Thực tiễn, qua hơn 10 năm thực hiện chủ trương “ưu tiên hiện đại hóa một số quân, binh chủng, lực lượng”, chúng ta cũng đạt được những kết quả quan trọng và thu được nhiều kinh nghiệm quý. Đây là cơ sở vững chắc để Quân đội tiếp tục điều chỉnh theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng hiện đại.
Mặt khác, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, quan hệ, hợp tác quân sự, quốc phòng ngày càng mở rộng, phát triển; xu hướng hiện đại hóa quân đội của các nước ngày càng trở nên phổ biến, tạo ra môi trường, thời cơ, điều kiện thuận lợi để chúng ta thực hiện chủ trương hiện đại hóa Quân đội. Nếu không có nhận thức đúng, không nắm bắt được thời cơ và xu thế của thời đại, không có tư duy chiến lược, thực hiện “đi tắt, đón đầu” thì Quân đội sẽ tụt hậu và không đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn khách quan của tình hình thế giới, khu vực. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật, nhất là sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại, đã, đang và sẽ làm thay đổi cơ bản tổ chức quân đội, hình thái và phương thức tiến hành chiến tranh. Cùng với môi trường tác chiến trên bộ, trên không, trên biển, trên vũ trụ; không gian mạng đã trở thành môi trường tác chiến thứ năm, với sự ra đời của chiến tranh mạng, tác động sâu sắc đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh thế giới, khu vực và mỗi quốc gia. Xu hướng chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh ủy nhiệm, phi tiếp xúc, phi đối xứng,… sẽ là phổ biến; không gian và thời gian tác chiến cũng như ranh giới giữa ta và địch khó phân định. Những vấn đề đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về quốc phòng, về xây dựng và hiện đại hóa Quân đội để thích ứng với điều kiện chiến tranh hiện đại, nhằm đánh bại đối phương, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là một tất yếu, khách quan.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh chưa từng có tiền lệ, vượt khả năng kiểm soát, dự báo của các nước, các tổ chức quốc tế; nguy cơ chạy đua vũ trang, kể cả chiến tranh hạt nhân ngày càng lớn. Các nước lớn đẩy mạnh lôi kéo, tập hợp lực lượng, gia tăng đối đầu, cạnh tranh quyết liệt. Xung đột vũ trang, nhất là xung đột quân sự ở Ukraine; chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bố, ly khai,… diễn ra ở nhiều nơi, tác động sâu sắc, toàn diện đến mọi quốc gia. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó, Đông Nam Á với vị trí ngày càng quan trọng, trở thành tâm điểm cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên,… diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Trước tình hình đó, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đột phá, thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại, nhằm gia tăng tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng, sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đi đôi với đẩy mạnh các giải pháp đấu tranh bảo vệ quan điểm “xây dựng Quân đội hiện đại” của Đảng.
Trước hết, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại”. Sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc nói chung, nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại” nói riêng đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước. Vì vậy, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ quan trọng này, đòi hỏi các cấp, ngành, lực lượng vũ trang và cả hệ thống chính trị, trực tiếp là Quân đội nhân dân phải quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, Nhà nước về xây dựng, điều chỉnh lực lượng, hiện đại hóa Quân đội, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức xây dựng Quân đội hiện đại với các biện pháp đấu tranh bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của quan điểm, chủ trương này. Chú trọng tăng cường hiệu quả cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nói chung, nhiệm vụ hiện đại hóa Quân đội nói riêng; tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp, nghệ thuật đấu tranh bảo vệ quan điểm; lấy hiệu quả xây dựng và hiệu quả đấu tranh bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại” của các lực lượng được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại làm tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, chỉ huy các cấp.
Cùng với đó, Quân đội cần tiếp tục nghiên cứu, tham mưu với Đảng, Nhà nước bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu tranh bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại”; chú trọng kiện toàn, bồi dưỡng lực lượng, điều chỉnh phương pháp đấu tranh; định hướng, quản lý nội dung đấu tranh và đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động đấu tranh. Có cơ chế, chính sách hợp lý để khuyến khích, động viên các lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm tham gia đấu tranh bảo vệ quan điểm, chủ trương “Xây dựng Quân đội hiện đại”.
Mục tiêu, phương thức, biện pháp, công cụ, ý định hoạt động nhằm đạt được mục đích sâu xa, nguy hiểm phía sau của các thế lực thù địch; từ đó, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, tạo khả năng “miễn dịch”, “vô hiệu hóa” thủ đoạn xâm nhập, tấn công, phá hoại của các thế lực thù địch. Đấu tranh phản bác các thông tin xấu độc, bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của chủ trương “Xây dựng Quân đội hiện đại” - xu thế tất yếu, khách quan “không thể đảo ngược”.
Như vậy, “xây” và “chống” là hai mặt của một vấn đề. Xây dựng Quân đội hiện đại xét về bản chất chính là làm cho tiềm lực quân sự đất nước mạnh lên, các thế lực thù địch suy yếu, dè chừng, không dám tấn công, chống phá dẫn đến thất bại; ngược lại, sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa các đòn tấn công, phá hoại của các thế lực thù địch chính là bảo vệ và tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại. Tiếp tục khẳng định: “Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” là chủ trương nhất quán, phù hợp với xu thế thời đại; là tất yếu, khách quan “không thể chối cãi”; hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Hai mặt này cần được kết hợp khoa học, bài bản, hài hòa, chặt chẽ, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng về “Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, gia tăng sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

PHÁT HUY SỨC MẠNH TOÀN DÂN VỚI CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

 


 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Bài viết phân tích vị trí, vai trò của các chủ thể trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chỉ ra những hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai trò của các chủ thể trong hoạt động này.

Là người đầu tiên đặt nền móng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi cây bút là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng. Cũng vì hiểu rõ vai trò quan trọng của báo chí trong việc định hướng, phục vụ công tác tư tưởng nên Người dành sự quan tâm rất lớn đối với nghiệp vụ của người làm báo. Các thế hệ nhà báo Việt Nam; Mỗi khi viết một bài báo thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc”. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác lại nhắc nhở: Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe?

Xuất phát từ vai trò của báo chí, tin tức ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân.

 Báo chí, tin tức có tác dụng tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

Ngược lại báo trí, và thông tin cũng là mảnh đất mầu mỡ đê các thế lực phản động lợi dụng, viết và tuyên truyền sai, bóp méo sự thật. từ những sự việc rất đời thường nhưng chúng đã lợi dụng, tuyên truyền kích động, tạo nên những dư luận xấu lôi kéo đông đảo người xem, gây tâm lí hoang mang, mất lòng tin vào Đảng và con đương đi lên XHCN.

Do vậy để bài viết được đông đảo người đón nhận, tạo hiệu quả tích cực có giá trị xây dựng và đấu tranh thì không chỉ chú trọng đến số lượng mà còn phải chú trọng đến chất lượng, bài viết phải gần gũi và thân thiện với người đọc, để hướng đến nhu cầu của người đọc chứ không phải là người viết.

Vì cách mạng, vì Đảng, vì nhân dân - đó vừa là mục đích, vừa là điều kiện, vừa là tiêu chuẩn đạo đức trong hoạt động; đó cũng là tính đảng của báo chí, là biểu hiện sự trung thành của báo chí đối với Đảng, là cống hiến của báo chí vào sự nghiệp vĩ đại của Đảng. Để bài viết thực hiện đắc lực cho cách mạng, phục vụ tốt nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân tức là Đảng đã làm tốt vai trò lãnh đạo báo chí.

Trả lời cho câu hỏi viết cho ai? Đối tượng của bài viết là đại đa số dân chúng, vì vậy, cách viết bài báo phải đơn giản, dễ hiểu, ngôn ngữ phải trong sáng, tránh dùng từ nước ngoài; viết “phục vụ nhân dân” thì nhất định phải chọn cái gì có lợi cho dân và phục vụ cách mạng. Vì vậy, Người nhắc nhở: “Bác biết các chú văn hay chữ tốt, nhưng dù sao, nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn. Không riêng gì viết sách viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Viết như thế nào? Trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng. Trong suốt quá trình đấu tranh, xây dựng và trưởng thành của Đảng, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt báo chí dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; coi trọng phát tiển toàn diện báo chí, coi báo chí là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí, người viết phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được.

Để viết cho mọi người dễ hiểu, dễ nhớ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và bảo vệ, phát triển tiếng nói của dân tộc. Người căn dặn các nhà báo phải có trách nhiệm đừng để cho tiếng mẹ đẻ của chúng ta mỗi ngày mai một đi. Bác chỉ ra 5 cách tìm tài liệu để viết: “Nghe: lắng tai nghe các cán bộ, nghe các chiến sĩ, nghe đồng bào để lấy tài liệu mà viết; Hỏi: hỏi những người đi xa về, hỏi nhân dân, hỏi bộ đội những việc, những tình hình ở các nơi; Thấy: mình phải đi đến, xem xét mà thấy; Xem: xem báo chí, xem sách vở, xem báo chí trong nước, xem báo chí nước ngoài; Ghi: những gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã đọc được thì chép lấy để dùng mà viết, có khi xem mấy tờ báo mà chỉ được một tài liệu thôi. Tìm tài liệu cũng như những công tác khác, phải chịu khó”.

Bác còn chỉ rõ: “Phải tránh cái lối viết rau muống, nghĩa là lằng nhằng, tràng giang đại hải, làm cho người xem như là chắt chắt vào rừng xanh”. Tuy nhiên, viết gọn gàng, vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi, mà phải có đầu, có đuôi, ngắn gọn dễ nhớ, dễ hiểu, mà lại lôi cuốn người đọc mới là hay, tuy là vậy nhưng không hề dễ đòi hỏi tất cả chúng ta cần phải nỗ lực cố gắng nhiều hơn nữa.

          Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức của các chủ thể về vai trò, tầm quan trọng, vị trí của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục nâng cao nhận thức, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch; đấu tranh chống các luận điệu phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; vạch trần thủ đoạn thổi phồng những sơ hở, yếu kém của Đảng, Nhà nước ta trong công tác xây dựng Đảng, trong quản lý kinh tế - xã hội nhằm kích động tâm lý bất mãn, chống đối, chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Theo tinh thần nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, không dao động trong bất cứ tình huống nào; kiên định đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc cực đoan, chủ quan nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc; kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng.

Hai là, làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; không để xảy ra những thiếu sót, khuyết điểm trong quản lý kinh tế - xã hội để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. 

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng nói chung, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng. Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong công tác tư tưởng, lý luận. Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, khắc phục một số mặt lạc hậu, yếu kém của công tác lý luận. Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc nghiên cứu, tuyên truyền và giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Phải coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là các chuyên gia đầu ngành.

Ba là, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, giữa Trung ương và địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các binh chủng trên mặt trận tư tưởng, lý luận; trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”. Có phương thức phối hợp giữa những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận với đội ngũ văn nghệ sỹ, đội ngũ chuyên gia kỹ thuật mạng, đội ngũ phóng viên v.v.. trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các mặt trận tư tưởng, lý luận; văn học nghệ thuật và trên không gian mạng.      N.T.T

 

 

 

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG Ở VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

 


          Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được quan tâm triển khai thực hiện trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, là trách nhiệm của cấp ủy và cả hệ thống chính trị; trong đó, chú trọng đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống, đảm bảo an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng đồng bào DTTS.

Đáp ứng với tình hình hiện nay, công tác vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch, chương trình phát triển knh tế, văn hóa, xã hội mới của địa phương; đây là vấn đề càn thiết trog giai đoạn hiện nay. Trong những năm qua, sự phát triển của đất nước, những thành tựu về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, của đồng bào các dân tộc tôn giáo, tín đồ tôn giáo

Một là: Bám sát nhiệm vụ chính trị của đơn vị, địa phương, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị tham mưu với cấp ủy, chính quyền, phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương tuyên truyền, nói riêng để mọi người dân Việt Nam dù là đồng bào dân tộc tôn giáo hay người Kinh, có đạo hay không có đạo đều tin tưởng vào chủ trương, đường lối, chính sách  của Đảng và Nhà nước; tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch.

Hai là: Tăng cương công tác tuyên truyền nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước, địa phương đối với đồng bào dân tộc tôn giáo, tôn giáo, vận động đồng bào dân tộc tôn giáo, các tín đồ tôn giáo,  phát huy những giá trị về văn hoá, đạo đức của các dân tộc, tôn giáo.các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân tộc, các chức sắc, chức việc tôn giáo thực hiện tốt các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm công dân về quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc.

Đổi mới phương pháp, cách thức tuyên truyền nghị quyết, kết luận, nghị định của Chính phủ về công tác dân tộc, luật tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước để đồng bào dân tộc tôn giáo, mọi tín đồ, các vị chức sắc, chức việc trong các tôn giáo cũng như mọi người dân Việt Nam hiểu và thực hiện tốtđường lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng về vấn đề dan tộc, tôn giáo. Hy vọng với sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền và cả cộng đồng, công tác dân vận vùng đồng bào DTTS của Đảng trong thời gian tới sẽ đạt được nhiều kết quả mong đợi theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã đề ra.

Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 49-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường đổi mới công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.  hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc gắn với xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc.

                                                                                                N.T.T

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO TRONG QUÂN ĐỘI

 


Tôn giáo, công tác tôn giáo luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và xác định là một trong những nội dung quan trọng, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, cùng với các cấp, ngành, lực lượng, cả hệ thống chính trị và toàn dân, Quân đội cần tiếp tục nghiên cứu, có nhiều giải pháp phù hợp, thiết thực để không ngừng nâng cao hiệu quả thực hiện công tác quan trọng này. Công tác tuyên truyền về vấn đề dân tộc, tôn giáo trong giai đoạn hiện nay đối với quân đội là sự cần thiết hơn bao giờ hết; để Quân đội thực hiện vấn đề dân tôc, tôn giáo được tốt và đúng với đường lối lãnh đạo về vấn đề dân tôc tôn giáo đối cần thực hiện tốt các nội dung, biện pháp cơ bản sau.

Một là: Phải đào tạo, bồi dưỡng nguồn cán bộ dân tộc tôn giáo trong quân đội; kết hợp chặt chẽ việc đào tạo, bồi dưỡng với quy hoạch, quản lý, sắp xếp, sử dụng cán bộ người dân tộc tôn giáo, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc tôn giáo chất lượng tốt đưa vào quy hoạch cán bộ chủ trì các cấp; thường xuyên quan tâm chính sách hậu phương Quân đội, gia đình đội ngũ cán bộ Quân đội là người dân tộc tôn giáo.

Hai là: Tăng cường hơn nữa công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ  về công tác dân tộc, chính sách dân tộc; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mục tiêu phát triển đất nước và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng.

Ba là: Thực hiện có hiệu quả đề án công tác dân tộc của Quân đội trong công tác dân tộc của Chính phủ. Tích cực tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, tập trung ở cơ sở các địa bàn chiến lược, nhất là chất lượng chính trị; làm tốt công tác phát triển đảng, tạo nguồn trong công tác tuyển quân, đào tạo nghệ cho bộ đội xuất ngũ là người dân tộc tôn giáo. Đặc biệt ưu tiên vùng sâu, vùng sa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có nhiều yếu tố mất ổn định chính trị.

Bốn là: Thực hiện tốt công tác văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, thực hiện các chính sách xã hội, các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của Đảng, Nhà nước, để nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Năm là: Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành công tác dân vận ở vùng đồng bào tôn giáo phù hợp với thực tiễn. Nội dung chủ yếu công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta là công tác vận động quần chúng, gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung, tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thực hiện chủ trương này, trong thời gian qua, công tác dân vận của toàn quân nói chung, ở các cơ quan, đơn vị Quân đội ở vùng đồng bào tôn giáo nói riêng được tiến hành với nhiều nội dung, hình thức phong phú, như: “Hành quân dã ngoại làm công tác dân vận”, phong trào “Họ đạo gương mẫu”, “Gắn kết yêu thương giữa lương và giáo”,... đã mang lại hiệu quả thiết thực. Đây là cơ sở để các cơ quan, đơn vị cùng lực lượng chuyên trách thực hiện công tác dân vận trong toàn quân tiếp tục nghiên cứu, phát triển, vận dụng cho phù hợp thực tiễn mới. Trong đó, cần đặc biệt chú trọng đổi mới cả về nội dung, hình thức và cách thức, biện pháp tiến hành. Cái cũ không phù hợp cần mạnh dạn thay đổi bằng nội dung, hình thức, phương pháp mới phù hợp với thực tiễn. Để có được nội dung, hình thức, phương pháp mới, phù hợp, hiệu quả, thì một trong những nguyên tắc cơ bản là phải bám sát đời sống của đồng bào tôn giáo; tăng cường tiếp xúc với chức sắc, chức việc, người có uy tín,... để phát hiện những bất cập, thấy được cái mà đồng bào cần để xác định nội dung, hình thức, phương pháp làm công tác dân vận cho phù hợp, hiệu quả. Quá trình thực hiện, cần lấy mục tiêu quan trọng, trên hết là củng cố mối quan hệ đoàn kết, tin cậy giữa lực lượng vũ trang với đồng bào tôn giáo; xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững chắc; khơi dậy, phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nhân ái, giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp các tôn giáo; vận động đồng bào tôn giáo tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động của Trung ương và địa phương, sống “tốt đời, đẹp đạo”, tạo sự đồng thuận, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, cấp ủy các cấp cần quan tâm xây dựng, củng cố, kiện toàn cơ quan, cán bộ làm công tác dân vận, đảm bảo đủ số lượng, có chất lượng cao; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng mô hình, gương điển hình tiên tiến. Tích cực đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy ở các học viện, nhà trường cũng như hoạt động tập huấn, bồi dưỡng ở các cơ quan, đơn vị, nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng công tác dân vận và kiến thức về tôn giáo cho cán bộ, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nâng cao hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận, công tác tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo.                                                                                               N.T.T

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG NGỪA, ỨNG PHÓ NGUY CƠ ĐE DOẠ AN NINH KINH TẾ

 

          Xác định rõ quan điểm “Bảo vệ an ninh kinh tế là bảo vệ an ninh quốc gia”, dưới sự lãnh đạo thường xuyên của Trung ương Đảng, mà trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, công tác bảo vệ an ninh kinh tế được quan tâm chỉ đạo từ trong đàm phán gia nhập các tổ chức, diễn đàn kinh tế khu vực và thế giới, cũng như quá trình ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nhằm tạo những tiền đề cơ bản để hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa luôn bảo đảm nguyên tắc giữ vững độc lập, tự chủ, vận hành theo quy luật khách quan; từng bước đổi mới, hoàn thiện thể chế phù hợp, không ngừng đa dạng hóa, đa phương hóa với các quan hệ hợp tác quốc tế trong phát triển kinh tế-xã hội, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể

Thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn trong giai đoạn hiên nay là vấn đề cần thiết trong sự nghiệp cách mạng xây dưng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.

Vì vậy, công tác bảo vệ an ninh kinh tế hiện nay cần tập trung đảm bảo vững chắc sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch thông qua kinh tế để chuyển hóa chính trị. Kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thu hẹp dần khoảng cách giầu nghèo; những hạn chế tiêu cực của nền kinh tế thị trường, chống tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, là vấn đề cần thiết, mang tính cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

Hiện nay, các thế lực thù địch thông qua các hoạt động đầu tư, liên doanh, liên kết để đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế tư nhân, làm biến đổi dần cơ sở kinh tế - xã hội của chủ nghĩa xã hội ở nước ta; dùng sức mạnh kinh tế để thực hiện ý đồ chuyển hóa chế độ chính trị. Do đó, hoạt động đối ngoại, thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại nhằm mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế là vấn đề rất cần thiết. Do vây, phải tiến hành đồng bộ các hoạt động, có chiều sâu và hiệu quả một cách bền vững. Tăng cường tham mưu với Đảng, Nhà nước trong quá trình xây dựng, hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách, giải pháp toàn diện về bảo đảm an ninh kinh tế khi đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết và mở rộng hợp tác quốc tế; chủ động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế từ xa, từ ngoài biên giới lãnh thổ; nâng cao hiệu quả công tác thẩm định, đánh giá, giám sát về an ninh, trật tự đối với các chương trình, đề án, dự án đầu tư nước ngoài, có yếu tố nước ngoài; kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vi phạm pháp luật cũng như hoạt động gây phương hại, đe dọa gây phương hại đến an ninh kinh tế, an ninh quốc gia. Vì vậy cần tiến hành một số biện pháp chủ yếu sau:

 Nâng cao nhận thức cho các cấp ngành, lực lượng và toàn xã hội về những biểu hiện mới và các mối đe doạ an ninh phi truyền thống; Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ, nhất là nguyên nhân gây đột biến từ an ninh phi truyền thống; Tăng cường giáo dục tư tưởng, phổ biến giáo dục pháp luật cho đội ngũ người lao động trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Công an tỉnh cần tăng cường tổ chức các biện pháp nghiệp vụ để đảm bảo an ninh công nhân, nhất là công tác nắm tình hình địa bàn, quản lý chặt chẽ các đối tượng, các cơ sở xã hội dễ phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội để chủ động xây dựng kế hoạch, đề ra giải pháp làm trong sạch địa bàn, bảo vệ an ninh, an toàn, tính mạng cho người dân; Tăng cường hợp tác quốc tế, phát hiện, ngăn ngừa và ứng phó với những mối đe doạ an ninh phi truyền thống...

Phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trên địa bàn tỉnh, tăng cường công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề; xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng của thị trường lao động                                      N.T.T

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 

Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch, phản động thực hiện hoạt động tuyên truyền, chống phá Đảng bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt, nhắm đến đa dạng đối tượng, nhưng chủ yếu là trí thức, văn nghệ sĩ; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ hưu trí, cán bộ, đảng viên có biểu hiện bất mãn, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa; thế hệ trẻ, nhất là học sinh, sinh viên; người lao động… Chúng thường xuyên tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an; Tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Vì vậy để làm tốt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về ý nghĩa, tầm quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc cho cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. Đẩy mạnh tuyên truyền về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; phổ biến những thành tựu mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Phát huy hiệu quả đội ngũ cộng tác viên trong tham gia viết bài đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên các báo, tạp chí. Đồng thời, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong việc chia sẻ thông tin tích cực, bài viết chuyên sâu, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.

Hai là, tăng cường xây dựng, chính đốn Đảngnâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp căn cơ trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là tiền đề quan trọng để xây dựng cơ quan, đơn vị “mẫu mực, tiêu biểu”; đồng thời, tạo môi trường trong sạch, lành mạnh để ngăn ngừa sự xâm nhập những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch vào đơn vị. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng nâng cao chất lượng ra nghị quyết, sinh hoạt đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng; tập trung vào giáo dục “đạo đức người cán bộ, đảng viên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Gắn xây dựng Đảng về đạo đức với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, cao đẹp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nêu gương thực hành đạo đức, tạo sự lan tỏa thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Ba là, chủ động, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trước các vấn đề xã hội, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội. Kịp thời cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội trước các sự kiện, vấn đề nảy sinh, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch. Thông tin kịp thời các phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, chỉ rõ mục tiêu, luận điểm sai trái và cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác, làm cơ sở cho các lực lượng viết tin, bài đấu tranh. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn cần bám sát định hướng của trên, chủ động xây dựng các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện, tạo sự thống nhất cao trong hoạt động đấu tranh.

Bốn là, thường xuyên nắm tình hình, tổ chức công tác đối thoại, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường công tác tuyên truyền, vận động cán bộ đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tạo thế trận lòng dân vững chắc đập tan mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

                                                                                          VHT.

 

PHẤN ĐẤU XỨNG DANH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG THỜI KỲ MỚI

 

Thực tiễn gần 80 năm qua, dưới sự chăm lo, rèn luyện, lãnh đạo của Đảng ta, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” luôn tỏa sáng, góp phần quan trọng để Quân đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đây là danh hiệu cao quý và là giá trị cốt lõi để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu, bản lĩnh chính trị, thực sự là công cụ sắc bén, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Giá trị cao quý đó cần được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội hôm nay tiếp tục gìn giữ, bảo vệ, phát huy và phát triển lên tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong  giai đoạn hiện nay và mai sau. Để tiếp tục phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải tiến hành tổng thể nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền những giá trị cốt lõi của “Bộ đội Cụ Hồ”. Những giá trị này đã được hun đúc và xuất phát từ chính nhận thức, tình cảm và trách nhiệm vì Tổ quốc, vì nhân dân của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Đây là Nghị quyết rất quan trọng, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược, cùng sự nhạy bén, kịp thời của Quân ủy Trung ương, với các chủ trương, giải pháp cấp thiết, nhằm tiếp tục phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; đồng thời, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong toàn quân. Qua đó, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở, nền tảng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Vì vậy, thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW là giải pháp nền tảng, xuyên suốt  trong giai đoạn trước mắt để mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhân dân Việt Nam phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.  

Hai là, nêu cao ý thức “tự soi, tự sửa” trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi quân nhân. Để làm được điều này, quân nhân phải tự giác, thật thà, thẳng thắn “tự soi” những tồn tại, hạn chế, khuyết điểm của mình, nhất là hạn chế trong tư tưởng, suy nghĩ, từ đó chủ động “tự sửa” nhằm ngăn chặn, đẩy lùi, loại bỏ những suy nghĩ và hành động trái với đạo đức của “Bộ đội Cụ Hồ”. Hiện nay, đạo đức của người quân nhân cách mạng chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó, “lợi ích cá nhân” là vấn đề cốt yếu dẫn đến nhiều sai phạm. Vì vậy, mỗi quân nhân cần phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng theo nguyên tắc: Luôn phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân, của Quân đội và tập thể cơ quan, đơn vị lên trên hết, trước hết. 

Ba là, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ  theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Quân ủy Trung ương vừa qua, đó là cán bộ "7 dám": "dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung". Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp, vấn đề quan trọng hàng đầu là phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; kiến thức, năng lực toàn diện,… đặc biệt là, bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhân dân; giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Để có được đội ngũ cán bộ như vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng ở tất cả các khâu, các bước trong công tác cán bộ theo phương châm thẳng thắn, khách quan, minh bạch, công khai, tạo động lực mạnh mẽ để mọi cán bộ yên tâm công tác, phát huy hết năng lực, sở trường; có cơ hội và môi trường thuận lợi để cống hiến và phát triển.

Bốn là, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực tế ở nhiều cơ quan, đơn vị quân đội thời gian qua cho thấy, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên nhân cơ bản của nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật quân đội. Những vấn đề trọng yếu, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, như: công tác quân lực, công tác cán bộ; công tác tài chính, mua sắm vật tư, trang bị, tài sản công; xây dựng cơ bản, quy hoạch quản lý, sử dụng đất và công trình quốc phòng; chính sách nhà ở, đất ở của cán bộ,… nhất thiết phải được tập thể cấp ủy, tổ chức đảng thông qua mới thực hiện. Trong sinh hoạt đảng, nhất là ở chi bộ, từng đảng viên phải đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình, bày tỏ chính kiến thẳng thắn, trung thực, khách quan, thấy đúng phải kiên quyết bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh bác bỏ. 

Năm là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Ủy ban kiểm tra các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra định kỳ, đột xuất để kịp thời cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm, kiên quyết không để lọt những người không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, tư duy nhiệm kỳ vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, chủ động nắm chắc tình hình mọi mặt của cơ quan, đơn vị, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa các biểu hiện, hành vi của chủ nghĩa cá nhân, vi phạm đạo đức, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” từ sớm, từ xa. Kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật đảng, kỷ luật Quân đội theo tinh thần không có “vùng cấm”, loại bỏ “cành sâu, mục để giữ cho cây khỏe mạnh” ngay trong từng cơ quan, đơn vị.

Sáu là, tích cực, chủ động và kiên quyết đấu tranh vạch trần âm mưu thâm độc của các đối tượng thù địch, phản động xuyên tạc về hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Thường xuyên giáo dục cảnh giác cho quân nhân có nhận thức đúng đắn về âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và phản động lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh cho mọi quân nhân góp phần làm thất bại âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch. Các đơn vị tổ chức lực lượng đấu tranh chuyên sâu phản bác các quan điểm phản động, sai trái trên mạng internet. Khi có vụ việc, tình hình liên quan đến quân nhân vi phạm các quy định trên mạng xã hội, cần kịp thời chỉ đạo cơ quan nghiệp vụ đơn vị chủ động báo cáo, phối hợp với các cơ quan nghiệp vụ cấp trên và cơ quan chức năng có liên quan tiến hành các biện pháp xử lý, ngăn chặn, bóc gỡ, không để các thông tin, tài liệu, hình ảnh xấu liên quan đến quân nhân tán phát rộng rãi trên mạng xã hội, internet và để các thế lực thù địch, phản động và đối tượng xấu lợi dụng tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta./.

                                                                                        VHT.