Thứ Ba, 25 tháng 7, 2023

 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về học lý luận chính trị vào các trường chính trị

(LLCT) - Quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập lý luận chính trị có vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục lý luận chính trị. Thông qua đào tạo lý luận chính trị, Đảng ta tiếp tụcđượcxây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng, xây dựng con người mới - con người Việt Nam XHCN. Bài viết phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về học lý luận chính trị; thực tiễn việc dạy và học lý luận chính trị tại Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa; từ đó nêunhững điểm cần lưu ý để nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị hiện nay.



1.Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm ý thức được vai trò quan trọng của lý luận đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.  Lý luận - theo Hồ Chí Minh “là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”(1). Vì vậy, “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi.”(2).

Sau khi tìm ra con đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá tư tưởng, lý luận chủ nghĩa Mác -  Lênin về nước, bởi theo Người đây là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”(3). Người đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Thông qua việc huấn luyện, đào tạo đã giúp đội ngũ cán bộ thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, nắm bắt được những bài học của cách mạng thế giới, hiểu rõ được mâu thuẫn xã hội, tính chất và mục đích, động lực của cách mạng, giai cấp lãnh đạo, phương pháp, bước đi của cách mạng Việt Nam. Từ đó, biến lý luận cách mạng thành cách mạng vận động.

 Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về thực hành kiên trì, bền bỉ việc giáo dục lý luận chính trị. Người đã để lại cho cách mạng Việt Nam di sản to lớn về giáo dục lý luận chính trị. Đó là hệ thống quan điểm của Người về khái niệm, vai trò, nội dung, phương châm, phương pháp dạy và học lý luận chính trị.

Theo Hồ Chí Minh, để học tốt lý luận chính trị, trước hết, học viên cần phải xác định đúng đắn mục đích học lý luận. Giải thích “vì sao phải học lý luận”, Người chỉ rõ: “Trước hết, Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình”(4). Người đã chỉ dẫn một cách cặn kẽ: “Khi học tập lý luận thì nhằm mục đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc vì tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng. Tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch”(5).

Theo người, mục đích của học lý luận là  “Học để làm việc; làm người; làm cán bộ; Học để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Và muốn đạt được mục đích này thì phải cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư”(6). Những dòng chữ bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành phương châm chỉ đạo việc học tập, đào tạo cán bộ của Đảng. Lời dạy của Người thể hiện sự nhất quán giữa mục đích và phương châm, phương pháp học tập, giữa việc trau dồi, nâng cao kiến thức với rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Đây chính là nội dung xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Không có sự học nào hơn sự học để làm người, giúp đời, phụng sự Tổ quốc và nhân dân, là cái học của người cách mạng, của đạo đức XHCN, của những con người thấm đẫm trong mình lý tưởng cộng sản. Chỉ khi xác định được mục tiêu, lý tưởng thì người học mới có động lực, mới tự giác, tích cực, chủ động tìm mọi giải pháp để việc học đạt hiệu quả nhất.

Thứ hai, phải có thái độ học tập đúng. Từ việc xác định đúng mục đích học tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn học viên cần có thái độ học tập đúng: “Phải khiêm tốn, thật thà. Trong Đảng ta trình độ lý luận còn thấp kém, không ai có thể tự xưng mình là giỏi lý luận. Do đó phải nêu cao tinh thần khiêm tốn, thật thà… Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập(7).

Người cũng nhắc nhở, trong quá trình học tập, cần nâng cao tinh thần trách nhiệm: phải tự nguyện, tự giác xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào. Thêm vào đó, người học còn phải có tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau, mạnh dạn phê bình và thật thà tự phê bình và khi phê bình, tự phê bình thì phải xuất phát từ ý muốn đoàn kết để đạt đến đoàn kết mới. Giúp bạn cũng chính là giúp mình, có thế việc học tập mới nhanh tiến bộ.

Thứ ba, học tập lý luận phải quán triệt nguyên tắc lý luận gắn với thực tiễn. Người khẳng định: “ Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông… lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng; và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”(8).

Người chỉ rõ, học tập thì theo nguyên tắc: kinh ngiệm và thực tế phải đi cùng nhau. Thí dụ khoa học chính trị dùng sách vở, bài báo bàn về chiến lược, chiến thuật làm tài liệu lý luận; lấy lịch sử và kinh nghiệm tranh đấu của Đảng làm tài liệu thực tế. Người yêu cầu học viên, “không phải học để thuộc lòng từng câu, từng chữ, đem kinh nghiệm của các nước anh em áp dụng một cách máy móc. Nhưng chúng ta phải học chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta, cho hợp với điều kiện đặc biệt của nước ta”(9). Rằng, chúng ta “phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng… giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta. Như thế chúng ta học tập lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế”(10).

Những tư tưởng của Người về học tập lý luận chính trị là những bài học vô giá. Tư tưởng đó không chỉ là cơ sở lý luận cho việc xác định chiến lược đào tạo con người, chủ trương, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục lý luận cách mạng của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng, mà còn là những bài học, những kinh nghiệm thực tiễn giáo dục hết sức sinh động, thiết thực và hiệu quả đối với công tác giáo dục lý luận chính trị hiện nay.

2. Công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên là một bộ phận cơ bản quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng nhằm thực hiện việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên. Trong tác phẩm Đường Kách Mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động… Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, Đảng mới làm nổi cách mệnh tiên phong”(11). Vì thế, trong mỗi giai đoạn cách mạng, việc học tập, nghiên cứu lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên đều có vai trò rất quan trọng. Qua đó, giúp cán bộ, đảng viên trang bị đầy đủ, toàn diện hơn, có sự hiểu biết sâu sắc hơn tri thức lý luận chính trị; giữ vững bản lĩnh chính trị; củng cố, tăng cường niềm tin vào tương lai của dân tộc, của cách mạng và lý tưởng cộng sản; làm cho cán bộ, đảng viên tự tin hơn trong công tác; là cơ sở để cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Thấm nhuần những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học tập lý luận chính trị, Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa đã và đang tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng học tập lý luận chính trị của Trường. Hằng năm, Nhà trường tổ chức cho học viên đi nghiên cứu thực tế cuối đợt học; đồng thời, duy trì thường xuyên và tích cực đổi mới các hình thức sinh hoạt chuyên môn, lồng ghép sinh hoạt chi bộ với sinh hoạt chuyên đề; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc dạy và học, sau mỗi buổi lên lớp đều có phiếu đánh giá kết quả học viên; đặc biệt, từ năm 2018, Nhà trường đã tổ chức Hội thi Học viên học giỏi lý luận,… Nhờ đó, chất lượng dạy và học lý luận của Trường không ngừng được tăng lên.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở các trường chính trị nói chung và Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa nói riêng, học viên học lý luận chính trị còn mang nặng tính hình thức. Không ít cán bộ, đảng viên chưa tích cực học tập lý luận chính trị, thậm chí còn có biểu hiện xem thường và lười học tập lý luận chính trị. Tình trạng nhiều học viên làm bài thi giống nhau, đi học trễ, xin về sớm, học không tập trung,… vẫn tương đối phổ biến. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4khóaXII đã chỉ rõ, cán bộ, đảng viên có biểu hiện: Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục lý luận chính trịhiện nay.

Mộttrong những nguyênnhân chủ yếu dẫn đến tình trạngtrênlà domột số học viên vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của học tập lý luận chính trị,chưa coi học lý luận chính trị là nhiệm vụ chính để nâng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ, phục vụ công tác. Tínhthụ động trong việc tiếp thu lý luận chính trị của một bộ phận không nhỏ học viên vẫn còn. Để góp phần khắc phục tình trạng trên, cần phải vận dụng và quán triệt sâu sắctư tưởng Hồ Chí Minh về học tập lý luận chính trị đến toàn thể học viên.

Thứ nhất, xác định mục đích học tập đúng đắn cho học viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh là: Học để làm việc; làm người; làm cán bộ; Học để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự tổ quốc và nhân loại. Đây là yếu tố quyết định để nâng cao chất lượng học tập lý luận chính trị của học viên. Bởi chỉ khi có tâm thế và mục đích học tập đúng đắn thì học viên mới nghiêm túc tham gia học tập, nghiêm túc nghiên cứu để đạt kết quả học tập tốt nhất. Thực tế cho thấy, dù giảng viên có đổi mới và sử dụng nhiều phương pháp nhưng nếu người học không muốn học, không thích học thì những giải pháp đó cũng không phát huy hiệu quả. Chỉ khi nào người học nhận thức rõ vai trò của lý luận, thấy cần phải học để nâng cao trình độ lý luận, năng lực công tác thì họ mới tự giác, tích cực học tập lý luận chính trị. Vì thế, cần phải xác định động cơ học tập đúng đắn cho học viên. Phải làm cho họ hiểu, học lý luận chính trị không phải là để được quy hoạch, để “thăng quan, phát tài”. Từ đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về tầm quan trọng của lý luận chính trị bằng nhiều hình thức phong phú khác nhau, có thể qua các buổi giảng, sinh hoạt lớp, giao lưu, tiếp xúc với học viên, với những việc làm cụ thể để cho học viên thấy, không có “lý luận cách mạng thì không thể có cách mạng vận động”. Để từ đó, không ngừng nâng cao nhận thức,tính tự nguyện, tự giác học tập lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, yếu tố người thầy đóng vai trò rất quan trọng.Người giảng viên bằng khả năng sư phạm, đem tâm huyết của mình truyền lửa cho học viên. Muốn vậy, giảng viên phải là những người có đủ phẩm chất, năng lực, có niềm tin vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào CNXH và con đường đi lên CNXH của Đảng ta, từ đó truyền cảm hứng, niềm tin cho người học. Phải nắm vững và hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng thì tuyên truyền mới thuyết phục.

Người giảng viên phải nắm chắc lý luận, đồng thời phải gắn lý luận với thực tiễn trong giảng dạy. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Việc học tập lý luận chính trị không phải nhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông mà nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí được tốt hơn, nghĩa là các đồng chí phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong cách mạng của chúng ta. Như thế học tập lý luận cốt để áp dụng vào thực tế”(12). Người cán bộ giảng dạy lý luận chính trị đòi hỏi phải có một nền tảng lý luận và vốn thực tiễn phong phú, để kiểm nghiệm lý luận và nâng nhận thức lý luận lên tầm cao mới. Có như thế người giảng viên mới có thể thực hiện mục tiêu giáo dục lý luận: “Mục đích học để vận dụng chứ không phải học vì lý luận”(13). Muốn gắn lý luận và thực tiễn trong bài giảng, người giảng viên phải không ngừng cập nhật tình hình địa phương, trong nước, thế giới,… phải tăng cường nghiên cứu, kiểm nghiệmthực tế để nắm bắt thực tiễn, liên hệ vào bài giảng; tránh dạy lý luận suông, “dạy chay” mà phải làm cho người học thấy được vai trò “ngọn đèn pha” của lý luận đối với thực tiễn; gợi mở cho người học áp dụng lý luận vào lĩnh vực công tác và cuộc sống.

Giảng viên cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương pháp dạy học, lồng ghép sử dụng các phương pháp dạy học tích cực kết hợp các phương tiện hỗ trợ hiện đại hợp lý, linh hoạt. Ví dụ,các lớp trung cấp lý luận chính trị - hành chính ở Trường đều có số lượng học viên đông, do đó giảng viêncăn cứ vào số lượng học viên, cách bố trí sơ đồ lớp để vừa sử dụng vấn đáp, kết hợp phỏng vấn nhanh và thảo luận nhóm,… để tất cả học viên có thể tham gia. Tránh cứng nhắc sử dụng một vài phương pháp trong cả quá trình giảng sẽ gây nhàm chán cho học viên.

Khi soạn giáo án, giảng viên cần nắm chắc mục tiêu bài giảng để theo đó xác định trọng tâm của bài, tránh lan man. Bởi một chuyên đề lý luận chính trị có nội dung kiến thức lớn, thời gian ngắn không thể truyền tải hết. Vì thế,muốn học viên không nhàm chán thì bài giảng cần súc tích, ngắn gọn nhưng vẫn đạt mục tiêu bài giảng.

Thứ ba, về phía Nhà trường, ngoài việc tạo điều kiện về nơi ăn, ở và học tập cho những học viên ở xa, cần tăng cường hơn nữa việc thực hiện nghiêm các quy chế liên quan đến dạy và học để kịp thời chỉnh đốn thái độ học tập của học viên như quy chế thi, kiểm tra, quy chế học viên, nội quy...; có biện pháp xử lý nghiêm đối với những trường hợp vi phạm.

Thứ tư, về phía cơ quan, đơn vị cử cán bộ, đảng viên đi học, cần xem xét cử những cán bộ có năng lực công tác, phẩm chất đạo đức tốt, có nhu cầu học tập lý luận chính trị để nâng cao trình độ, rèn luyện đạo đức cách mạng, tâm huyết với nghề nghiệp, chức trách, nhiệm vụ được giao. Đồng thời,tăng cường vai trò kiểm tra,giám sát,thường xuyên liên lạc với Nhà trường để nắm bắt tình hình học tập của cán bộ đơn vị mình, nhắc nhở kịp thời những cán bộ chưa thực hiện nghiêm nội quy, quy chế của Nhà trường. Đi kèm với cơ chế kiểm tra, giám sát, các đơn vị cần có sự bố trí, sắp xếp công việc hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng được bố trí theo học, giúp họ yên tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập lý luận của mình. Hạn chế tối đa tình trạng vừa đi học, vừa phải hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan. 

Nói tóm lại,quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập lý luận chính trị có vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục lý luận chính trị ở Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa nói riêng và hệ thống các trường chính trị nói chung trong giai đoạn hiện nay. Thông qua đào tạo lý luận chính trị, Đảng ta tiếp tụcđượcxây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng, xây dựng con người mới - con người Việt Nam XHCN. Vì thế, để hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục lý luận chính trị đòi hỏi giảng viên và học viên đều phải có sự nỗ lực lớn, thực sự nhận thức sâu sắc ý nghĩa, vai trò quan trọng của giáo dục lý luận chính trịđể thay đổi cách nghĩ, cách làm,sao cho hiệu quả nhất.

__________________

(1), (4), (5), (7), (8), (9), (10), (12), (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.96, 90, 95, 98, 95, 95-96, 95, 95, 95.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, sđd, tr.273-274.

(3), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, sđd, tr.289, 259.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, sđd, tr.208.

Nguồn: PHAN THỊ HỒNG

Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa

 

Công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên thanh niên trong Quân đội hiện nay

(LLCT) - Thanh niên quân đội là một bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam. Các thế hệ thanh niên quân đội đã đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều tấm gương hy sinh quên mình trong bảo vệ chủ quyền đất nước, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, trong phòng chống thiên tai, dịch bệnh,... đã tô thêm truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng:"Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". 

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng (ĐĐCM), đạo đức cộng sản là "đạo đức mới, đạo đức cách mạng" hoàn toàn khác đạo đức trước kia: "Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo đức mới như hai chân đứng vững được xuống đất, đầu ngẩng lên trời"(1). Người giải thích rõ hơn, đạo đức mới là giai đoạn phát triển cao của đạo đức con người, nó phù hợp với tiến hoá lịch sử, phục vụ cho mục đích cải tạo thế giới, cải tạo xã hội và bản thân con người. Nó khơi dậy ở mỗi con người lòng tự hào với Đảng, với giai cấp và dân tộc, lòng tin tưởng vào phẩm chất tinh thần của chính bản thân mình.

Ngày nay, trước yêu cầu đòi hỏi của thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng ta xác định những tiêu chuẩn phẩm chất đạo đức của người cách mạng là: Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tình phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH), phấn đấu thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.

Trong thời kỳ mới, đất nước đứng trước thời cơ và vận hội mới, nhưng cũng phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức không nhỏ. Quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế đã mang lại nhiều lợi ích to lớn về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội cho sự phát triển đất nước. Mặt khác, sự tác động của cơ chế kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch, sự du nhập các loại hình văn hóa, lối sống thực dụng đang từng ngày len lỏi vào đời sống xã hội, tác động và làm ảnh hưởng không nhỏ những chuẩn mực giá trị đạo đức, làm suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nói chung và phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của người đoàn viên thanh niên (ĐVTN) trong Quân đội nói riêng.

Để ĐVTN trong Quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ, phải được giáo dục, đào tạo để phát triển toàn diện cả về trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức, lối sống. Trong đó ĐĐCM là gốc, là nền tảng. Thực hiện tốt công tác giáo dục ĐĐCM là phương pháp quan trọng để ĐVTN trong Quân đội hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng, là động lực thúc đẩy để hoàn thành nhiệm vụ.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy, chỉ huy các cấp, sự tích cực tự giáo dục, tự tu dưỡng rèn luyện của mỗi ĐVTN nên công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN trong Quân đội đạt kết quả tốt. Tuy nhiên, công tác này nói chung còn những khó khăn. Sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta trên nhiều lĩnh vực, trong đó lĩnh vực chính trị, tư tưởng là mũi nhọn tấn công của chúng; các yếu tố tiêu cực củac ơ chế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN. Trong một bộ phận ĐVTN xuất hiện những biểu hiện lệch lạc về nhận thức, đạo đức, lối sống như: thờ ơ với chính trị, ngại học, ngại rèn, thực dụng, suy giảm đạo đức, vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, tham gia tín dụng đen không đủ khả năng chi trả...

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, xây dựng đội ngũ ĐVTN Quân đội "vừa hồng, vừa chuyên" đáp ứng nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy, Đoàn Thanh niên các cấp tăng cường công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN.

ĐĐCM của người ĐVTN trong Quân đội là tổng hợp các quy tắc, quan điểm, quan niệm, những nguyên tắc giá trị, chuẩn mực đạo đức mới được kết hợp giữa truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, Quân đội và tinh hoa đạo đức của nhân loại, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

ĐĐCM của ĐVTN trong Quân đội được biểu hiện thông qua hoạt động học tập, rèn luyện và trong giải quyết các mối quan hệ với chỉ huy, đồng đội trong đơn vị, với nhân dân. ĐĐCM góp phần vào việc định hướng, điều chỉnh nhận thức, hành vi hoạt động của ĐVTN cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của Quân đội, phù hợp với môi trường hoạt động quân sự.

ĐĐCM không phải tự nhiên mà có, nó là kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện và tự giáo dục, rèn luyện của ĐVTN hình thành nên. Giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN trong Quân đội được thực hiện qua các phương pháp cơ bản sau:

Tuyên truyền, cổ động, là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong các hoạt động của đơn vị, hoạt động văn hóa văn nghệ và các thiết chế văn hóa, cổng thông tin điện tử, băng rôn, khẩu hiệu, truyền thanh nội bộ,... Phương pháp này đạt hiệu quả rất cao nếu kết hợp với phương pháp thi đua, khen thưởng, biểu dương gương người tốt, việc tốt, động viên ĐVTN tích cực học tập, rèn luyện, thực hiện tốt nhiệm vụ.

Diễn đàn, thi tìm hiểu, tuyên truyền viên, báo cáo viên, là phương pháp giáo dục mang tính quần chúng, nhằm củng cố, nâng cao tri thức, xây dựng tình cảm cách mạng, định hướng hành động chính trị cho mọi ĐVTN.

Tổ chức phong trào thi đua quyết thắng là phương pháp giáo dục thông qua phong trào hành động cách mạng, trong xây dựng đơn vị, thực hiện nhiệm vụ. Thông qua thi đua, động viên mọi ĐVTN phát huy tinh thần yêu nước, tinh thần xung kích của tuổi trẻ, tinh thần cách mạng tiến công trong xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ; nhằm tạo dựng phong trào hành động cách mạng trong đơn vị, phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng điển hình tiên tiến.

Khen thưởng, kỷ luật là phương pháp sử dụng các hình thức khen thưởng, kỷ luật để nâng cao ý thức chính trị - xã hội, động viên ĐVTN tu dưỡng, phấn đấu để trở thành người ĐVTN tốt. Tuy nhiên, nếu khen thưởng và kỷ luật không đúng, nghiêm minh sẽ làm hạn chế đến kết quả giáo dục, thậm chí phản giáo dục.

Bên cạnh đó là tăng cường các hoạt động ngoại khóa, tham quan thực tế, tạo ra các diễn đàn trao đổi trên mạng; nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học cho đội ngũ cán bộ đoàn, báo cáo viên để họ chủ động hướng dẫn ĐVTN trong việc tự tin hội nhập quốc tế trong bối cảnh hiện nay.

Quá trình thực hiện các hình thức, ph­ương pháp trên đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò và nỗ lực chủ quan của cả chủ thể và đối t­ượng giáo dục, thực hiện dân chủ hoá giáo dục, khắc phục đ­ường mòn lối cũ theo kiểu giáo dục áp đặt một chiều, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục cho ĐVTN.

Bên cạnh những ưu điểm, công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN trong Quân đội còn một số hạn chế cần được khắc phục là:

Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp uỷ, chỉ huy với công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN chưa thường xuyên thành nề nếp, còn biểu hiện giao khoán cho tổ chức đoàn các cấp.

Việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, hướng dẫn về công tác thanh niên, công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN còn có nội dung thiếu đồng bộ. Công tác giáo dục ĐĐCM ở một số tổ chức đoàn ch­ưa đ­ược đầu tư­ đúng mức, thiếu chiều sâu, thiếu cách làm mới, nên chưa cuốn hút ĐVTN tham gia.

Nội dung giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN còn bị xơ cứng chưa thực sự bám sát thực tiễn cách mạng và ước mơ hoài bão của thanh niên; hình thức, phương pháp giáo dục chưa đồng bộ, toàn diện

Những hạn chế, bất cập trong việc xây dựng ch­­ương trình, kế hoạch, xác định nội dung, hình thức giáo dục còn biểu hiện khá rõ. Việc đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục ĐĐCM vẫn là khâu khó khăn phức tạp nhất trong nâng cao chất lượng công tác này. Hình thức và phương pháp giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN chưa được đổi mới mạnh mẽ.

Từ thực tế công tác này cho thấy, một số kinh nghiệm để tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN trong Quân đội là:

Một là, thường xuyên coi trọng nâng cao nhận thức, phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng tham gia công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN

Trách nhiệm giáo dục, rèn luyện ĐĐCM cho ĐVTN trước hết thuộc về cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp, đồng thời còn là trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng có liên quan. Thực tiễn những năm qua cho thấy, để công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN có chất lượng, hiệu quả, trước hết cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp phải luôn nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vai trò và sự cần thiết phải giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN, xác định đó là trách nhiệm, là một nội dung lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp. Từ đó, chủ động xác định chính xác những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN nghiêm túc, chặt chẽ, hiệu quả.

Hai là, thực hiện đồng bộ các nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN

Giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN là tổng thể các hoạt động có tổ chức chặt chẽ, khoa học của các tổ chức, các lực lượng và sự tích cực, tự giác rèn luyện kiên trì, thường xuyên, bền bỉ của mỗi ĐVTN. Do đó, để đạt được hiệu quả cao cần phải tiến hành công phu, tỉ mỉ, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục; kết hợp chặt chẽ hoạt động giáo dục của các cơ quan, đơn vị với của gia đình, địa phương và xã hội. Bởi vì, nội dung và hình thức, phương pháp giáo dục ĐĐCM có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau tạo nên chất lượng giáo dục ĐĐCM của ĐVTN.

Ba là, kết hợp chặt chẽ việc giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN với xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng, đơn vị TSVM

Chất lượng của đội ngũ ĐVTN, nhất là phẩm chất ĐĐCM luôn có sự gắn bó hữu cơ với chất lượng chính trị, chất lượng, hiệu quả hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng, của đơn vị. Mặt khác, cấp uỷ, tổ chức đảng, đơn vị trong sạch vững mạnh (TSVM) là môi trường quan trọng để giáo dục, rèn luyện ĐVTN trưởng thành, nhất là trưởng thành về phẩm chất đạo đức, lối sống. Để hoạt động giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN đạt chất lượng cao, cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp phải nắm chắc thực trạng ĐĐCM, nắm chắc tiêu chuẩn, yêu cầu về phẩm chất đạo đức, nội dung, nhiệm vụ trong giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN Quân đội hiện nay để lựa chọn những nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục một cách phù hợp nhất.

Bốn là, phát huy tính năng động sáng tạo của tổchức Đoàn các cấp trong công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN

Ban Chấp hành đoàn các cấp là một chủ thể, có vai trò quan trọng trong công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN. Do đó, phải thường xuyên kiện toàn, bổ sung đủ về cơ cấu, đảm bảo có số lượng hợp lý, chất lượng cao; đồng thời xây dựng ban chấp hành đoàn các cấp vững mạnh, hoạt động năng động, sáng tạo, chủ động trong hoạt động công tác đoàn nói chung và trong công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN nói riêng.

Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với tự giáo dục, tự tu dư­­ỡng rèn luyện của ĐVTN

Đạo đức cách mạng của người ĐVTN không phải là sản phẩm tự phát mà là kết quả của công tác giáo dục và tự giáo dục. Đó là kết quả của sự quan tâm giáo dục của các tổ chức; sự giám sát giúp đỡ của tập thể kết hợp chặt chẽ với quá trình tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ, công phu của ĐVTN.Thực tiễn chỉ ra, nếu làm tốt công tác giáo dục vàphát huy ý thức tự giáo dục,người ĐVTN sẽ có tri thức, hiểu biết một cách toàn diện, tự ý thức sâu sắc trách nhiệm trong tự rèn luyện phẩm chất ĐĐCM, xây dựng niềm tin cách mạng.

Sáu là, kết hợp giáo dục ĐĐCM với đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn ngừa "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong ĐVTN

"Xây" đi đôi với "chống" là nguyên tắc trong xây dựng phẩm chất đạo đức, nhân cách của người cán bộ, đảng viên nói chung, giáo dục rèn luyện ĐĐCM cho ĐVTN trong Quân đội nói riêng, nhằm đạt được kết quả cao nhất.

Những kinh nghiệm trên đây là sự tổng kết của thực tiễn. Quá trình vận động phát triển của công tác giáo dục ĐĐCM sẽ còn đặt ra nhiều vấn đề mới, do vậy phải kết hợp chặt chẽ việc kế thừa những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn giáo dục ĐĐCM với việc tìm tòi, sáng tạo những chủ trương và giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục ĐĐCM cho ĐVTN trong Quân đội từng giai đoạn, từng thời kỳ.

__________________

(1) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,tr.320.

                                                                           Nguồn:  ĐỖ DUY CHINH

                                                             Học viện Kỹ thuật quân sự

Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc thuộc địa

 

Bằng hoạt động thực tiễn và tư duy lý luận, Hồ Chí Minh đã giải quyết một cách cơ bản vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.

Về vấn đề dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa đầu thế kỷ XX là xác định đúng con đường phát triển của dân tộc. Độc lập dân tộc là nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa. Quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. 

Với tinh thần đó, Người khẳng định quyết tâm: “Dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được  độc lập” và “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

M Lời dạy của Bác Ngày 31/7/1952

 

“Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần kiệm liêm chính, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc”.

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Chống quan liêu, tham ô, lãng phí”, đăng trên Báo Nhân dân, số 68, ngày 31 tháng 7 năm 1952. Đây là thời kỳ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta bước sang giai đoạn gay go, ác liệt, đòi hỏi phải đoàn kết chặt chẽ, thống nhất cao về ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Tuy nhiên, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên xuất hiện biểu hiện tham ô, lãng phí, quan liêu, đã được nhân dân phê bình nhưng còn có dấu diếm, chưa kiên quyết kiểm thảo và sửa chữa không những làm thiệt hại về kinh tế mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với chế độ; rối loạn kỷ cương pháp luật, hư hỏng cán bộ. Ngày nay, tham nhũng, lãng phí được Đảng ta coi là giặc nội xâm, là đồng minh của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, cần phải kiên quyết đấu tranh để bài trừ khỏi đời sống xã hội.

Những tư tưởng về chống tham ô, lãng phí của Bác Hồ mang tầm chiến lược và có giá trị thực tiễn vô cùng sâu sắc. Thấu triệt tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành đồng bộ các nghị quyết, chỉ thị, qui định và các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; mở rộng dân chủ rộng rãi ở cơ sở; tăng cường công tác thanh tra, giám sát của các cơ quan chức năng, gắn với phát động và động viên sự giám sát của nhân dân theo đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát” thể hiện quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân kiên quyết, kiên trì đấu tranh không khoan nhượng, không có vùng cấm để loại bỏ thứ giặc nội xâm ra khỏi đời sống xã hội đã trực tiếp củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, với chế độ góp phần vào thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thành công trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai quyết liệt, đồng bộ các biện pháp thông qua việc tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, qui định của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Qui định trách nhiệm của người cán bộ chủ trì và tổ chức cho cán bộ, đảng viên đăng ký cam kết chấp hành nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, qui định của Đảng, Nhà nước; thực hiện nghiêm, có chất lượng qui định về kê khai tài sản với các đối tượng theo qui định; phát huy dân chủ rộng rãi thông qua sinh hoạt Đảng, sinh hoạt đơn vị, thực hiện tài chính công khai ngày, tuần, tháng; tổ chức có nền nếp, chất lượng Ngày Chính trị, văn hóa tinh thần; Ngày Pháp luật ở đơn vị. Đồng thời, tích cực triển khai nhiều biện pháp đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành hành tiết kiệm, chống lãng phí trên mọi lĩnh vực học tập, công tác, sinh hoạt ở đơn vị tạo bầu không khí dân chủ, tin cậy, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.

M Lời dạy của Bác Ngày 30/7/1950


“Xin chỉ thị trước khi làm, gửi báo cáo khi làm xong - là một điều rất cần thiết, để làm cho chính sách của Chính phủ và Đoàn thể thấu suốt từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên”.

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Xin chỉ thị, gửi báo cáo”, đăng trên Báo Sự thật, số 137, ngày 30 tháng 7 năm 1950. Đây là lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bước vào giai đoạn ác liệt, rất cần sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Tuy nhiên, một số địa phương, cán bộ, đảng viên chấp hành chưa nghiêm chế độ báo cáo, xin chỉ thị hoặc có làm nhưng chất lượng thấp ảnh hưởng chung đến sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của cả nước. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Xin chỉ thị, gửi báo cáo” để kịp thời trấn chỉnh tình hình đó.

Lời dạy của Hồ Chí Minh có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc về tính tổ chức, tính kỷ luật của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền ở mỗi địa phương; khắc phục tình trạng biệt lập, cục bộ, qua đó tạo sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc thành công và giành thắng lợi trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải luôn nhận thức đúng và thường xuyên rèn luyện phương pháp, tác phong công tác khoa học, thực hiện nghiêm chế độ, nền nếp báo cáo, xin chỉ thị của cấp trên và các cơ quan chức năng; đặc biệt, trước những nhiệm vụ lớn, những nội dung mới liên quan đến nhiều lực lượng và có phạm vi ảnh hưởng rộng cần phải có sự phối hợp để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Trong thực hiện nhiệm vụ được giao, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn đề cao trách nhiệm, tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng, chính xác các mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên và báo cáo kết quả thực hiện phải trung thực, kịp thời, không che dấu khuyết điểm, hạn chế. Kiên quyết đấu tranh phê phán phương pháp, tác phong làm việc tùy tiện, chủ nghĩa kinh nghiệm; báo cáo thiếu trung thực, làm thì kém, báo cáo thì hay… ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.

M Lời dạy của Bác Ngày 29/7/1964

 

 “Muốn hoàn thành tốt mọi việc, thì toàn thể đảng viên và cán bộ phải chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và chính sách của Đảng. Và muốn như vậy, thì các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra”.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Bài nói tại Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra của Đảng, ngày 29 tháng 7 năm 1964. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta đang diễn ra rất ác liệt, đòi hỏi phải tập trung mọi mặt để thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gương mẫu chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng; giữ gìn tốt kỷ luật; các cấp ủy, tổ chức đảng phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, bảo đảm cho mọi chủ trương, đường lối, chính sách được thực thi nghiêm túc, nhất quán, đạt hiệu quả cao.

Quán triệt và thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Bác, cấp ủy, tổ chức đảng, Ủy ban kiểm tra Đảng các cấp trong toàn Đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nghiêm thông qua việc ban hành đồng bộ, kịp thời các nghị quyết, chỉ thị, quy định về trách nhiệm nêu gương; quy định các điều đảng viên không được làm, về quy trình tiến hành công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, Ủy ban kiểm tra Đảng các cấp… đã trực tiếp góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng “vừa hồng, vừa chuyên”, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vẻ vang trong công cuộc kháng chiến kiến quốc và thành công trong sự nghiệp đổi mới, như Bác hằng mong muốn “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm lãnh đạo không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng. Duy trì nghiêm túc nền nếp, chế độ sinh hoạt đảng, thực hiện tốt nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; rà soát, bổ sung và thực hiện nghiêm quy chế làm việc, quy chế lãnh đạo trên các mặt công tác trọng yếu; xác định rõ mối quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách. Phát huy dân chủ, trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị; phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân tham gia xây dựng Đảng. Đổi mới phương pháp, phong cách lãnh đạo theo chủ trương hướng về cơ sở, sâu sát bộ đội, cụ thể, tỉ mỉ. Gắn xây dựng cấp uỷ trong sạch vững mạnh với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Thực hiện nghiêm việc đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ hằng năm gắn với sinh hoạt tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng.

Cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng; thực hiện đồng bộ giữa công tác kiểm tra và công tác giám sát, “giám sát phải mở rộng”, “kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm” để chủ động phòng ngừa xẩy ra khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp từ khi còn manh nha, ngay tại cơ sở, ở trong chi bộ, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và xử lý các vấn đề phát sinh, không để trở thành điểm nóng, bức xúc, nổi cộm trong cơ quan, đơn vị đã thiết thực góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơnvị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

M Lời dạy của Bác Ngày 28/7/1954

 

 “Hòa bình cũng như kháng chiến, chúng ta quyết không nên vì thắng mà kiêu. Toàn thể nhân dân, quân đội và cán bộ ta cần phải ghi nhớ mà thực hành”.

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Hội nghị Giơnevơ thắng lợi lớn”, viết ngày 28 tháng 7 năm 1954 được Báo Nhân dân đăng trên số 209, từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 7 năm 1954. Đây là lúc nhân dân ta vui mừng, phấn khởi với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Điều đó là hoàn toàn xứng đáng, nhưng cảm giác đó cũng dễ dẫn đến tâm lý tự kiêu, say xưa chiến thắng mà thỏa mãn dừng lại. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã phân tích và làm sâu sắc hơn thắng lợi của nhân dân ta trong Hội nghị Giơnevơ nói riêng, trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung. Người không quên nhắc nhở nhân dân và quân đội ta cần nhận rõ, thắng lợi đó rất quan trọng nhưng chỉ là bước đầu trên con đường đi tới độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc thực sự. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải tiếp tục đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng thống nhất, hành động nhất trí, ra sức đấu tranh để: Củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, xây dựng dân chủ thật sự. Chúng ta đã giành thắng lợi trong kháng chiến, nhất định sẽ thành công trong hòa bình.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lịch sử và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, là phương châm hành động để cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân quán triệt và thực hiện có hiệu quả trong lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, xây dựng tinh thần đoàn kết toàn quân một ý chí, tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước và hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa. Dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thấu triệt lời thề: Không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản, rèn luyện ý chí chiến đấu kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, giữ vững và phát huy tốt truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

M Lời dạy của Bác Ngày 27/7/1950


 “Càng tưởng nhớ đến những người con dũng cảm của Tổ quốc, thì mọi người càng phải thêm hăng hái thi đua làm trọn nhiệm vụ tổng động viên, để chuẩn bị đầy đủ, để chuyển mạnh sang tổng phản công, để tranh lại độc lập và thống nhất cho Tổ quốc”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi Ban Tổ chức Trung ương ngày thương binh liệt sĩ” viết ngày 27 tháng 7 năm 1950. Đây là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng và có bước phát triển mạnh. Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch trên hướng biên giới Đông Bắc thuộc hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn nhằm mục đích tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới mở đường giao thông với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Mặc dù bận bộn bề nhiều công việc, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giành thời gian viết thư thăm hỏi anh em thương binh, gia đình các tử sĩ và Người gửi tặng 01 tháng lương của mình góp vào quỹ, thể hiện sự tri ân đối với các thương binh, liệt sĩ. Qua đó, Người cũng động viên, khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hăng hái thi đua, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ của cách mạng để giành độc lập, thống nhất Tổ quốc và cũng để trả thù cho các thương binh, tử sĩ đã anh dũng hi sinh, hiến dâng máu đào tô thắm lá cờ cách mạng vẻ vang, để Tổ quốc được độc lập, tự do, thống nhất và dân tộc ta mãi mãi trường tồn. Tinh thần bất diệt, tấm gương sáng ngời của các liệt sĩ, thương binh sẽ sống mãi với non sông Việt Nam.

Đảng, Nhà nước, quân và dân ta đời đời ghi nhớ, vinh danh sự hi sinh và những cống hiến to lớn của các Anh hùng liệt sĩ, thương binh và luôn quan tâm làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng, tổ chức toàn dân tích cực tham gia các phòng trào: “Đền ơn đáp nghĩa”, “Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng” với nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực, như: Xây nhà tình nghĩa, lập Quỹ đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng các Mẹ Việt Nam Anh hùng, ổn định đời sống thương binh, bệnh binh nặng, chăm sóc bố mẹ liệt sĩ già yếu, cô đơn, con liệt sĩ… đã trở thành hoạt động thường xuyên trong mọi mặt đời sống xã hội.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng bằng những việc làm cụ thể, thiết thực. Toàn quân đã xây và trao tặng hàng chục nghìn ngôi nhà tình nghĩa, nhà đồng đội cho thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng; đăng ký phụng dưỡng suốt đời hàng nghìn Mẹ Việt Nam Anh hùng; tích cực triển khai thực hiện hiệu quả Đề án 1237 về “Tiếp tục tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ đến năm 2020 và những năm tiếp theo”; Đề án 150 về “Xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin” và các chương trình, đề án của Chính phủ, nhằm huy động mọi nguồn lực của toàn xã hội cùng nhân dân cả nước thực hiện tốt công tác chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng, góp phần tạo sự ổn định chính trị xã hội, củng cố niềm tin của nhân đối với Đảng, Nhà nước và cũng là thiết thực học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy.

Lời dạy của Bác Ngày 26/7/1962

 

 “Mọi người công dân - già trẻ gái trai - đều phải thấm nhuần tinh thần làm chủ nước nhà. Mọi người phải nâng cao tinh thần trách nhiệm cần kiệm xây dựng Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện với nhân dân và cán bộ tỉnh Hải Dương khi Người về thăm và làm việc tại địa phương, ngày 26 tháng 7 năm 1962. Đây là thời kỳ miền Bắc đang đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam chiến đấu anh dũng chống đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất nước nhà.

Theo Hồ Chí Minh, dưới chế độ mới - chế độ Dân chủ nhân dân, mọi công dân phải có tinh thần làm chủ đất nước, phải khắc phục tư tưởng làm thuê, làm mướn dưới chế độ thuộc địa, nửa phong kiến và phải chống chủ nghĩa cá nhân. Phải không ngừng phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, nhất là cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần mình vì mọi người, mọi người vì mình, đề cao trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, học tập, công tác và thực hành tiết kiệm, thật sự là người chủ xây dựng đất nước.

Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, dân tộc ngày càng gay gắt; sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, lời dạy trên của Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa thực tiễn to lớn; bởi, chỉ có đề cao tinh thần tự lực, tự cường, làm chủ mới có sự sáng tạo và chỉ có sáng tạo mới tạo ra những giá trị mới đáp ứng cho sự phát triển bền vững và bảo đảm cho thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lời Bác dạy, có ý nghĩa quan trọng, thiết thực đối với sự nghiệp xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; bảo đảm cho quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong bất luận mọi điều kiện, hoàn cảnh phải tuyệt đối trung thành và sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; ra sức học tập nâng cao trình độ mọi mặt; tích cực phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, bảo quản, giữ gìn, khai thác và phát huy tốt nhất sức mạnh của vũ khí, trang bị; thực hành cần, kiệm, liêm, chính; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thờ ơ, ngại rèn luyện, kém phấn đấu; nêu cao tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Lời dạy của Bác Ngày 25/7/1949


“Cũng như chim muốn bay cần phải có hai cánh; một cuộc chiến tranh muốn thắng lợi, cần phải có hai lực lượng chính: quân sự và chính trị”.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Báo cáo “Tình hình thế giới và trong nước tháng 6 và tháng 7 năm 1949” tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 25 tháng 7 năm 1949. Đây là lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã vượt qua giai đoạn cầm cự và chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn phòng ngự và mở rộng tuyên truyền đối ngoại; qua đó, làm cho nhân dân thế giới biết đến cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta chống lại đế quốc, thực dân xâm lược, giải phóng đất nước.

Với nhãn quan chính trị sắc sảo, Hồ Chí Minh thấy rất rõ mối quan hệ chặt chẽ về cuộc chiến tranh khi đề cập đến tình hình trong nước, lực lượng chính trị và lực lượng quân sự như hai cái cánh của một con chim và con chim muốn bay thì hai cái cánh đó phải mạnh. Cùng với những nhận định của các nhà chính trị, quân sự và báo chí nước ngoài, Hồ Chí Minh đã kết luận về quân sự thì lực lượng Pháp từ mạnh lui xuống yếu và sẽ lui nữa. Lực lượng ta từ yếu tiến lên mạnh và sẽ tiến mãi. Còn về chính trị thì chính trị của Pháp đã cũ rích, lỗi thời, lạc hậu, ngoài thủ đoạn chia để trị và sử dụng việt gian, bù nhìn, chúng không có gì khác. Trong khi đó, chính trị của ta thì rất rõ ràng, nhất quán, trước sau như một là toàn dân đoàn kết, kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Thêm nữa, tình hình dân chủ thế giới rất có lợi cho ta. Do đó, cánh ta đã vững, gió lại thuận chiều, cho nên ta nhất định thắng lợi.

Thấu triệt tinh thần chỉ đạo của Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục lãnh đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chính nghĩa của cuộc kháng chiến nhằm phát triển lực lượng chính trị, lực lượng quân sự, khích lệ, động viên kịp thời quân và dân ta anh dũng chiến đấu, đã tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, thống nhất đất nước và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước thu được những thành tựu quan trọng.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị to lớn trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam; từ Quân ủy Trung ương đến cấp cơ sở đã luôn quán triệt và thực hiện nhất quán quan điểm nhiệm vụ quân sự phải quán triệt và tuyệt đối phục tùng nhiệm vụ chính trị của Đảng, của cách mạng. Quan tâm giải quyết căn bản mối quan hệ chính trị và quân sự, tinh thần và vật chất, chất lượng và số lượng, bên trong và bên ngoài, con người và vũ khí… có mối quan hệ hữu cơ, làm điều kiện cho nhau và thúc đẩy lẫn nhau phát triển. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, phẩm chất, đạo đức lối sống “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, kỷ luật tự giác, nghiêm minh, ra sức học tập, rèn luyện về mọi mặt, làm chủ vũ khí trang bị, khoa học công nghệ… đã tạo và nhân lên sức mạnh tổng hợp để Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, xứng đáng với niềm tin yêu và là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước, Nhân dân.

Lời dạy của Bác Ngày 24/7/1962

 

“Tệ tham ô, lãng phí, quan liêu là cái xấu xa do xã hội cũ để lại, như cái ung nhọt còn sót lại trên thân thể của người khổng lồ. Công khai và mạnh dạn gạt bỏ cho thật sạch những ung nhọt ấy thì thân thể càng mạnh khỏe thêm”.

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước ngày 24 tháng 7 năm 1962. Đây là giai đoạn nước ta đang đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược ở miền Nam.

Trong bài nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tệ tham ô, lãng phí, quan liêu là điều xấu xa và có nguyên nhân trong xã hội cũ; đi ngược lại mục tiêu của xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng; nó là cái ung nhọt còn sót lại mà chúng ta cần phải gạt bỏ bằng sự quyết tâm chính trị và công khai, dân chủ để tạo sự đồng thuận cao làm cho xã hội ngày càng phát triển tốt hơn. Đồng thời, thể hiện quyết tâm của Người đứng đầu Đảng, Chính phủ trong đấu tranh loại bỏ tệ xấu đó; qua đó, đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của việc đấu tranh phòng chống tham ô, lãng phí, quan liêu trong kháng chiến, kiến quốc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Quán triệt và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta lãnh đạo toàn dân, toàn quân giành được thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành sự nghiệp đổi mới giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên quyết, kiên trì với quyết tâm chính trị cao trong đấu tranh đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, coi đây là giặc nội xâm cần phải loại trừ để làm trong sạch Đảng, trong sạch bộ máy, để “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, đơn vị. Thường xuyên đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục; triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các phòng trào thi đua, các cuộc vận động; tiêu biểu: “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, “Đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”, “Yêu xe như con, quý xăng như máu”… tổ chức cho cán bộ, đảng viên cam kết chấp hành nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, qui định của Đảng, của quân đội về thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; hằng năm triển khai tốt việc kê khai tài sản cá nhân, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, chi bộ, các tổ chức quần chúng trong đơn vị; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; duy trì nền nếp, chất lượng Ngày chính trị, văn hóa, tinh thần và chế độ công khai tài chính ở đơn vị; xử lý nghiêm đối với các tập thể, cá nhân vi phạm… góp phần thiết thực xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Lời dạy của Bác Ngày 23/7/1955


“Chúng ta phải học tinh thần tự lập tự cường, tinh thần hăng hái thi đua sản xuất và tiết kiệm của nhân dân các nước bạn… Chúng ta phải bồi dưỡng lòng nồng nàn yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính.”

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Người nói trong Báo cáo về việc đoàn đại biểu của Chính phủ ta đi thăm Liên Xô và Trung Quốc, ngày 23 tháng 7 năm 1955 ở Quảng trường Thụy Khuê (Hà Nội). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là kết quả của sự đoàn kết, anh dũng chiến đấu của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, trong đó có Liên Xô và Trung Quốc. Qua đó, Người đã khích lệ, động viên toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cần phải khắc phục tâm lý trông chờ, ỉ lại, dựa dẫm vào sự giúp đỡ của các nước bạn; mà cần phải nêu cao tính độc lập, tự chủ, tự cường, lòng yêu nước và tinh thần quốc tế trong sáng để tiếp tục phấn đấu giành nhiều thắng lợi hơn nữa cho cách mạng nước nhà.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo ra thế và lực để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị to lớn đối với quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta; ngày đầu thành lập, chỉ với 34 cán bộ, chiến sĩ, vũ khí thô sơ, nhưng với tinh thần tự lực, tự cường, với lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm; thi đua giết giặc lập công; sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân và đặc biệt, là sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Bác Hồ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, cùng với toàn Đảng, toàn dân đánh thắng đế quốc, thực dân xâm lược, giải phóng đất nước, lập nên truyền thống vẻ vang “quyết chiến, quyết thắng”, luôn là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Hiện nay, toàn quân tiếp tục nỗ lực phấn đấu xây dựng theo hướng cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.  

Lời dạy của Bác Ngày 22/7/1954

 

“Cả nước đồng lòng, muôn người như một, chúng ta nhất định thắng lợi”.

Là khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Lời kêu gọi sau Hội nghị Giơnevơ thành công” được Người viết ngày 22 tháng 7 năm 1954, Báo Nhân dân đăng trên số 208, từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 7 năm 1954.

Trước đó, ngày 26 tháng 4 năm 1954 khi Quân đội ta kết thúc chiến dịch tấn công đợt 2 ở Điện Biên Phủ thì Hội nghị Giơnevơ (Thụy Sỹ) bắt đầu khai mạc. Tham dự Hội nghị có đại diện của: Việt Nam, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ, Lào, Campuchia và chính quyền Bảo Đại. Trải qua 08 phiên họp toàn thể, 23 phiên họp hẹp căng thẳng, với thiện chí của phái đoàn Việt Nam, ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến tranh ở Đông Dương được ký kết; theo đó, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành 2 miền qua vĩ tuyến 17 và tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước trước tháng 7 năm 1956. Để kịp thời thông báo kết quả Hội nghị và tiếp tục khẳng định vai trò to lớn, sức mạnh vô địch của sự đoàn kết, nhất trí, sự đồng tâm, hiệp lực trong đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết lời kêu gọi trên.

Thực hiện lời kêu gọi của Người, quân và dân ta đã đoàn kết, nhất trí dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh anh dũng chiến đấu và chiến thắng trong công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và giành nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.

Khắc ghi lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn nhận thức sâu sắc sức mạnh quân đội nằm trong kỷ luật và sự đoàn kết, thống nhất; đây là nhân tố hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Thực tiễn đã chỉ rõ, thành công trong xây dựng và chiến thắng trong chiến đấu được bắt nguồn tự sự đoàn kết, thống nhất trong tổ chức, giữa lãnh đạo, chỉ huy với quần chúng, giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa quân với dân, tiền tuyến và hậu phương. Quân đội ta là một quân đội cách mạng; cán bộ, chiến sĩ là những người cùng chung lý tưởng, bình đẳng về chính trị, thống nhất về mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ. Mối quan hệ giữa cán bộ, chiến sĩ được xây dựng trên cơ sở tình cảm cách mạng, tình thương yêu giai cấp, đồng chí, đồng đội. Đoàn kết, thống nhất là truyền thống, là lời thề danh dự, nét đẹp văn hóa trong phẩm cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, là động lực, nhân tố tích cực để xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

THÀNH TÍCH VÔ TIỀN KHOÁNG HẬU TRONG LỊCH SỬ KHÔNG CHIẾN THẾ GIỚI: TOP GUN CŨNG PHẢI CHÀO THUA



Bên phải là phi công James H. Kasler - một trong những phi công lừng lẫy nhất lịch sử không quân Hoa Kỳ, được gọi là "kẻ hủy diệt MiG" hoặc "vua không chiến" trong Chiến tranh Triều Tiên bởi thành tích bắn hạ 6 máy bay MiG trong giai đoạn 1950 - 1953. James H. Kasler được công nhận là phi công đạt đẳng cấp ACE - một thành tích huy hoàng dành cho những phi công bắn hạ từ 5 máy bay địch trở lên. Ông cũng nhận được tổng cộng 76 huân, huy chương các loại - nhiều nhất lịch sử không quân Hoa Kỳ. James H. Kasler cũng là phi công hấp dẫn nhất, đẹp trai nhất trong số các phi công Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam. Trên phim ảnh, James H. Kasler cũng chính là một trong số các hình tượng để xây dựng lên nhân vật phi công Pete "Maverick" Mitchell do Tom Cruise thủ vai trong loạt phim huyền thoại Top Gun.


James H. Kasler tham chiến tại Chiến tranh Việt Nam với nhiệm vụ hủy diệt các phi công Việt Nam, chấm dứt "huyền thoại" về các máy bay MiG, đánh gục ý chí chiến đấu của không quân Việt Nam, dạy cho một nền không quân non trẻ như Việt Nam biết thế nào là "không chiến đích thực".


Nhưng huyền thoại James H. Kasler với hơn 3000 giờ bay lại bị một chàng trai phi công Việt Nam mới ở độ tuổi 30, chỉ có chưa đầy 200 giờ bay thực tế, hạ gục trong một trận không chiến vào tháng 6/1966. Điều bất ngờ là chàng trai này chỉ lái MiG-17, một phương tiện bay lạc hậu hơn rất nhiều so với một chiếc F-4 Phantom II hoặc F-105 Thunderchief mà phi công James H. Kasler lái. 


Chàng trai 30 tuổi này tên là Nguyễn Văn Bảy (A) trước đó là bắn hạ 2 máy bay khác, đến chiếc máy bay của James H. Kasler là chiếc thứ 3. Tổng thành tích hạ gục của chàng trai Nguyễn Văn Bảy (A) trong cuộc đời chiến đấu là 7 chiếc và đạt đẳng cấp ACE. 


Có thể nói James H. Kasler có một cuộc đời chiến binh đầy hào hùng cho đến khi gặp phi công Nguyễn Văn Bảy (A). Sau khi bị bắn hạ, James H. Kasler phải ngồi tù tại Hỏa Lò cho đến tận năm 1973, được trả về sau khi Hiệp định Paris được kí.


Thành tích mà chàng trai Nguyễn Văn Bảy (A) khi bắn hạ James H. Kasler được gọi là “ACE bắn hạ ACE” - thành tích vô tiền khoáng hậu trên thế giới, chưa được bất cứ phi công nào trên thế giới lặp lại từ Thế chiến II cho đến tận thời điểm hiện tại…. 


Và thành tích này sẽ tồn tại rất lâu nữa và thậm chí sẽ không bao giờ tái hiện được. 

NỮ TIẾN SĨ BÁM BẢN DẠY HỌC ĐỂ "TRẢ NỢ"

Giáo viên muốn về vùng biên giới dạy học đã ít, giáo viên giỏi muốn ở lại còn ít hơn. Vậy mà gạt đi những cơ hội hấp dẫn, Tiến sĩ Lã Thị Thanh Huyền tình nguyện bám trường, bám bản với khát khao cống hiến để “trả nợ” mảnh đất đã nuôi dưỡng mình.

Khi tiếng Mông bước vào đề tài luận án tiến sĩ


Đến Trường Phổ thông THCS dân tộc bán trú Tây Sơn (huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An)-nơi chị Huyền đang làm Phó hiệu trưởng-vào một buổi chiều muộn, chúng tôi có dịp quan sát chị họp chuyên môn với đồng nghiệp. Nhìn cách chị Huyền triển khai công việc, chúng tôi thêm hiểu vì sao cô gái quê gốc TP Vinh, tỉnh Nghệ An lại có thể gắn bó 20 năm cuộc đời mình ở mảnh đất miền Tây xứ Nghệ đầy nắng gió.


Về công tác tại Kỳ Sơn đầu năm 2003, cô nữ sinh Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) Lã Thị Thanh Huyền được phân công dạy học tại Trường THCS Mường Lống ở xã vùng cao của huyện Kỳ Sơn. Tiếng Mông đến với chị Huyền từ mong muốn hiểu ngôn ngữ, văn hóa, tập quán của người Mông để có thể truyền đạt kiến thức cho học sinh. Đến khi chị Huyền làm dâu của người Mông thì Mường Lống trở thành quê hương thứ hai của chị và các con.


Là dâu người Mông nên chị Huyền càng có cơ hội nhận ra học sinh người Mông không hề kém mà chỉ chưa thành thạo tiếng Việt để tiếp nhận kiến thức. Ngôn ngữ là vật chất của tư duy. Không có vốn tiếng Việt thì không thể viết tư duy của mình, nói ý nghĩ của mình bằng tiếng Việt. Làm thế nào để học sinh người Mông nâng cao chất lượng học tập? Với trăn trở đó, năm 2011, chị Huyền xuống núi thi cao học ở Khoa Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học Vinh. Đề tài “Rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh dân tộc Mông ở trường trung học cơ sở” đã được chị đưa vào luận văn bảo vệ thạc sĩ thành công năm 2013. Chưa dừng lại ở đây, năm 2019, chị Huyền bảo vệ thành công đề tài luận án tiến sĩ “Dạy học đọc hiểu văn bản thông tin trong môn Ngữ văn cho học sinh dân tộc thiểu số Mông ở trường trung học cơ sở”.


Nhận tấm bằng tiến sĩ trở về, chị Huyền được nhiều trường đại học lớn chiêu mộ bởi chuyên ngành chị theo đuổi là một trong những chuyên ngành mà hệ thống đại học đang rất thiếu. Trở về Trường THCS Na Ngoi làm một giáo viên dạy Ngữ văn bình thường, chị nhận ra mục tiêu đi học của mình hóa ra không phải để có cơ hội thay đổi môi trường tốt hơn mà là muốn làm những điều có giá trị cho Kỳ Sơn. “Ngày xưa cứ nghĩ học xong để đi về xuôi nhưng tôi mang ơn Kỳ Sơn. Mảnh đất này đã đón nhận tôi những ngày mới ra trường và nuôi tôi đi học, tôi quay lại để cống hiến, để trả ơn. Bạn ở đâu không quan trọng, mà ở đó bạn làm gì, có thoải mái không, có hứng thú không. Thế là tôi ở lại”, chị Huyền tâm sự.


Mong biến “đá thành ngọc”


Trong suốt 20 năm công tác ở Kỳ Sơn, chị Huyền chia sẻ: “Ba năm ở Trường Phổ thông THCS dân tộc bán trú Tây Sơn là thời gian đặc biệt nhất trong nghề của tôi. Những trăn trở, hoài bão, ý tưởng đến việc triển khai thực hiện được đồng bộ. Nhiều giải pháp thành công hơn cả mong đợi”. Đặc biệt, ý tưởng thành lập Câu lạc bộ Bảo tồn nghệ thuật dân gian dân tộc Mông của chị Huyền đã trở thành hiện thực. Cùng với sự đồng hành của thầy Vi Văn Hùng, Tổng phụ trách Đội của nhà trường, câu lạc bộ thu hút sự quan tâm của học sinh, nhen lên tình yêu, niềm tự hào về giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc Mông, để các em có trách nhiệm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc... Mới thành lập được ít năm nhưng đến giờ, câu lạc bộ đi thi ở đâu đều gặt hái thành công ở đó. 


Song song với các hoạt động ngoại khóa, những nghiên cứu khoa học của TS Lã Thị Thanh Huyền đều được áp dụng vào hoạt động giảng dạy, khai thác những mặt mạnh của giáo viên và học sinh. Hành trình đầy nỗ lực, đam mê và trách nhiệm của chị Huyền lại có thêm "trái ngọt" khi lần đầu Trường Phổ thông THCS dân tộc bán trú Tây Sơn đi thi có giải-năm học 2021-2022, học sinh của chị đoạt giải ba cấp huyện và cấp tỉnh cuộc thi khoa học kỹ thuật. Chất lượng học sinh được nâng dần lên, chỉ sau 3 năm từ vị trí cuối, trường đã vươn lên đứng thứ 13/19 trường toàn huyện. Trước đây, học sinh ở Tây Sơn chỉ có 1 đến 2 học sinh giỏi cấp huyện thì nay con số đã là hơn 10 em.


Ở vùng đất lần đầu tiên có giáo viên trình độ tiến sĩ thì việc một số người không hiểu công việc của họ đặc thù thế nào cũng không có gì lạ. Vượt qua những khó khăn ngoại cảnh, nói như giới nghiên cứu khoa học thì lĩnh vực dân tộc thiểu số như một vùng đất hoang, có rất nhiều đề tài để khai phá, để thay đổi. Chị Huyền mong mình có nhiều “đất” để triển khai các ý tưởng, từ định hướng nghề nghiệp cấp THCS đến tiếp cận tốt Chương trình giáo dục phổ thông 2018.


Nhìn lại hai thập niên đồng hành với học trò nơi vùng cao, chị Huyền trải lòng: “Thực tế, kiến thức hiện nay nhiều và nặng, không phân biệt đối tượng, dân tộc nào, học sinh lên lớp nghe cô giảng bằng tiếng Việt như “vịt nghe sấm”. Làm thế nào để cân bằng chủ trương bảo tồn tiếng nói của người dân tộc, để họ có tri thức phát triển kinh tế đặc thù vùng miền? Muốn vậy, chương trình học phải khác. Học sinh phải được tiếp cận tri thức bằng chính ngôn ngữ của họ, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai". Vì lẽ đó, đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh về “Nghiên cứu biên soạn tài liệu bổ trợ song ngữ Việt-Mông theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Nghệ An” vừa được phê duyệt đã giúp chị Huyền có thêm cơ hội cống hiến cho mảnh đất Kỳ Sơn nhiều duyên nợ với mình.


Thay đổi giáo dục Kỳ Sơn không chỉ cần những người sẵn sàng hy sinh mà còn rất cần những con người tiên phong thực hiện nhiệm vụ lớn, vì cộng đồng. Chia sẻ về điều này, ông Phạm Viết Phúc, Quyền Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Kỳ Sơn cho biết: “Những mô hình, sáng kiến của cô Huyền đã phát huy hiệu quả. Thông qua những dự án, tỷ lệ học sinh bỏ học thuyên giảm bởi những hoạt động học tập thú vị đã cuốn hút các em tới trường hơn. Chúng tôi muốn lan tỏa mô hình học tập của cô Huyền sang các trường trong vùng khác để nâng cao chất lượng dạy học, đưa học sinh đến trường nhiều hơn". Đồng quan điểm, bà Vi Thị Quyên, Phó chủ tịch huyện Kỳ Sơn cho hay: “Không riêng gì cô Huyền, những ai có chuyên môn giỏi, quản lý tốt đều được lãnh đạo huyện tạo điều kiện để phát triển. Nếu có cơ hội, huyện sẽ bố trí một vị trí, môi trường phù hợp hơn để cô Huyền phát huy tài năng, trí tuệ của mình”.



Ảnh: Tiến sĩ Lã Thị Thanh Huyền góp phần đưa tri thức đến gần hơn với học sinh người dân tộc Mông

TRUNG TƯỚNG TRỊNH VĂN QUYẾT THĂM, TẶNG QUÀ TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG THƯƠNG BINH THUẬN THÀNH

Ngày 24-7, đoàn công tác của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng do Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam làm trưởng đoàn đến thăm, tặng quà Trung tâm Điều dưỡng thương binh Thuận Thành (Thuận Thành, Bắc Ninh).

Phát biểu tại buổi thăm, tặng quà, Trung tướng Trịnh Văn Quyết cho biết: Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng. Cùng với sự phát triển của đất nước, chế độ đãi ngộ đối với người có công với cách mạng ngày càng được hoàn thiện, nhằm chăm sóc tốt hơn đối với các đối tượng chính sách. Với trách nhiệm chính trị và tình cảm sâu sắc, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã đề xuất với Đảng, Nhà nước ban hành và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách lớn về quân đội và hậu phương quân đội; tập trung giải quyết khối lượng lớn chính sách tồn đọng sau chiến tranh, chính sách đối với người có công với cách mạng, người tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế; đẩy mạng các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.

Trung tâm Điều dưỡng thương binh Thuận Thành là đơn vị có nhiều thành tích trong quản lý, nuôi dưỡng, điều trị, phục hồi chức năng đối với thương binh, bệnh binh nặng. Hiện nay, Trung tâm đang nuôi dưỡng 95 thương binh, bệnh binh có tỷ lệ thương tật trên 81%. Tuy thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện biên chế ít, cơ sở vật chất còn hạn chế nhất định, nhưng tập thể lãnh đạo, cán bộ, nhân viên của Trung tâm luôn đoàn kết, thống nhất, đề cao trách nhiệm, khắc phục khó khăn, tâm huyết, tận tụy với công việc, tận tình, chu đáo hoàn thành tốt nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng.

Tại Trung tâm, Trung tướng Trịnh Văn Quyết bày tỏ sự xúc động, trân trọng, tri ân sâu sắc đối với những cống hiến, hy sinh to lớn của các thương binh, bệnh binh. Trung tướng Trịnh Văn Quyết khẳng định: Các thương binh, bệnh binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh Thuận Thành đều là các đồng chí mang thương tật, bệnh tật nặng, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. Nhưng với ý chí, nghị lực của Bộ đội Cụ Hồ, các đồng chí luôn giữ được niềm tin trong cuộc sống, kiên trì, bền bỉ khắc phục mọi khó khăn, chiến thắng bệnh tật, làm nhiều công việc phù hợp với sức khỏe để ổn định cuộc sống gia đình và bản thân, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thương binh tàn nhưng không phế”.


Bên cạnh đó, Trung tướng Trịnh Văn Quyết biểu dương Trung tâm Điều dưỡng thương binh Thuận Thành đã luôn tận tụy, chu đáo, hết lòng vì thương binh, bệnh binh; các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn thường xuyên quan tâm, kịp thời động viên, thăm hỏi các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Đồng thời bày tỏ sự mong muốn các thương binh, bệnh binh tiếp tục phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, giữ gìn sức khỏe, luôn là tấm gương vươn lên chiến thắng bệnh tật và động viên gia đình, dòng họ tiếp tục phát huy truyền thống, đóng góp xứng đáng trong công cuộc xây dựng và phát triển quê hương.



Tin, ảnh: TRẦN ANH MINH - Báo QĐND

Ảnh: Trung tướng Trịnh Văn Quyết thăm hỏi, động viên các thương binh, bệnh binh.

 GẦN 1.000 NGỌN NẾN LUNG LINH TRONG ĐÊM TRI ÂN ANH HÙNG LIỆT SỸ


Gần 1.000 ngọn nến đã được thắp sáng trên các phần mộ liệt sĩ, Bà Mẹ Việt Nam anh hùng cũng là lời hứa, lời tri ân của thế hệ trẻ hôm nay đời đời nhớ ơn những tấm gương đã hy sinh dành độc lập cho dân tộc, nguyện tiếp bước cha anh vì một đất nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Huyện đoàn Đông Anh vừa tổi chức lễ Thắp nến tri ân kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2023) tại khuôn viên nghĩa trang liệt sỹ huyện Đông Anh (Tiên Dương, Đông Anh, Hà Nội.

Tại buổi lễ, đồng chí Lê Thế Chuyên - Huyện uỷ viên, Bí thư Huyện đoàn Đông Anh đã gửi lời thăm hỏi ân cần nhất và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các gia đình liệt sỹ, các thương binh, bệnh binh và người có công với nước về những hy sinh cao cả và những đóng góp to lớn đối với đất nước.

Đồng chí Bí thư Huyện đoàn Đông Anh cũng đề nghị: “Mỗi cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi cùng ra sức phấn đấu để trở thành những công dân tốt, công dân toàn cầu… góp phần xây dựng quê hương Đông Anh trở thành quận, đô thị thông minh, giàu đẹp, hiện đại và phát triển bền vững”.

Trong không khí trang nghiêm, trước anh linh các anh hùng Liệt sỹ, các đại biểu đã dâng hương, dâng hoa và thắp những ngọn nến tri ân bày tỏ lòng thành kính, biết ơn các Anh hùng Liệt sỹ đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc.

Ông Tô Kim Cường – cựu thương binh xã Uy Nỗ , Đông Anh, Hà Nội bày tỏ niềm xúc động khi tham gia chương trình. Đồng thời, ông cũng gửi thông điệp đến thế hệ trẻ Đông Anh hôm nay: “ Tôi mong tuổi trẻ hôm nay sẽ ra sức học tập và làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp tục giữ gìn và phát huy truyền thông quý báu của cha ông, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trong tình hình mới”.

Dịp này, Huyện đoàn Đông Anh và các đơn vị đồng hành đã trao tặng 24 suất quà tri ân tới các thương, bệnh binh, người có công với cách mạng thể hiện sự biết ơn của thế hệ trẻ với những người đã để lại 1 phần máu xương nơi chiến trường vì độc lập, tự do của dân tộc.

Lễ thắp nến tri ân là hoạt động mang nhiều ý nghĩa, nhằm tưởng nhớ đến công ơn của các Anh hùng Liệt sỹ, qua đó góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” cho thế hệ trẻ. Đây cũng là một trong chuỗi các hoạt động của tuổi trẻ Đông Anh để tri ân các anh hùng liệt sỹ, các thương, bệnh binh, gia đình chính sách, người có công trong dịp kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh, liệt sỹ 27/7.

 KỶ NIỆM CỦA NHỮNG CỰU CHIẾN BINH ĐIỆN BIÊN PHỦ

Trong quá trình công tác, tôi được gặp và nghe những câu chuyện của các cựu chiến binh từng tham gia chiến đấu, góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954.

Quyết định thay đổi phương châm tác chiến

Năm 1977, tôi về nhận công tác tại Khoa Đường lối quân sự, Viện Khoa học quân sự (đã giải thể cuối năm 1978), đồng chí Hoàng Minh Phương làm Trưởng khoa. Thời gian được cùng công tác và hỏi chuyện, tôi biết ông Phương từng là phiên dịch tiếng Trung của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông Phương kể: “Ngày 14-1-1954, Đại tướng triệu tập cán bộ chỉ huy các đơn vị về dự hội nghị triển khai kế hoạch chiến đấu ở hang Thẩm Púa. Mệnh lệnh chiến đấu được phổ biến trên một sa bàn lớn. Tinh thần chung là mọi người muốn đánh nhanh. Kết luận cuộc họp, Đại tướng nói: Hiện nay, địch chưa có biểu hiện thay đổi lớn. Chúng ta cần ra sức nắm vững địch tình, để một khi địch có thay đổi thì kịp thời xử trí...

Sáng sớm 26-1-1954, Đại tướng cho liên lạc gọi tôi lên gặp, cho biết: Nhiều ngày nay tôi trăn trở, suốt đêm qua cũng không ngủ. Chiều nay trận đánh bắt đầu, nhưng những yếu tố thắng lợi không chắc chắn. Đại tướng bảo tôi báo với đồng chí Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc là sẽ sang làm việc sớm. Đại tướng triệu tập cuộc họp Đảng ủy Mặt trận bất thường. Đại tướng nêu lên những khó khăn chưa thể giải quyết được để giành thắng lợi nếu đánh theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Cuộc họp diễn ra tranh luận căng thẳng. Cuối cùng, lấy tư cách là Chỉ huy trưởng Chiến dịch, Bí thư Đảng ủy Mặt trận, căn cứ vào lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi ra mặt trận: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”, Đại tướng kết luận: Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất “đánh chắc thắng”, cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết và kéo pháo ra”...

Kết quả là phải sau 56 ngày đêm chiến đấu, Chiến dịch Điện Biên Phủ mới toàn thắng. Điều đó chứng tỏ quyết định thay đổi phương châm tác chiến đúng đắn, chính xác, quyết đoán và trách nhiệm trước xương máu cán bộ, chiến sĩ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sáng tạo xây dựng hầm cho pháo

Việc bộ đội ta kéo bằng tay hàng chục khẩu pháo, mỗi khẩu nặng hơn 2 tấn, trên chặng đường dài 15km vào tới trận địa đã được xem là kỳ công. Tuy nhiên, do thay đổi phương châm tác chiến, Bộ đội Pháo binh lại nhận được lệnh kéo pháo ra để xây dựng hầm, trận địa cho pháo. Do tính chất công việc liên quan đến lịch sử quân sự, tôi có nhiều dịp được gặp, làm việc với Đại tá Nguyễn Huyên (1931-2019), Thư ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông Huyên nguyên là Chính trị viên phó Đại đội 54, Tiểu đoàn 106, Trung đoàn 151, Đại đoàn Công pháo 351 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Ông Huyên kể: “Để chuẩn bị thực hiện phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, chúng tôi vừa tham gia làm đường kéo pháo, vừa xây dựng trận địa pháo. Giai đoạn làm hầm cho lựu pháo 105mm đối với công binh chúng tôi không ác liệt nhưng cực kỳ vất vả, gian khổ. Hầm lựu pháo 105mm trở thành cấu trúc sáng tạo của bộ đội ta. Chúng tôi bạt sườn núi về phía địch thành vách đứng rồi khoét một hang to đủ để khi xếp càng pháo lại là có thể đẩy lùi cả khẩu pháo vào cất giấu. Phía ngoài hang là hầm pháo khá rộng để triển khai chiến đấu. Hầm có nhiều cột chống, đà đỡ. Miệng hầm phải đủ rộng để pháo có thể lùi vào được. Sau đó dùng sọt đất xếp kín, chỉ còn chừa lỗ châu mai cho nòng pháo nhô ra ngoài đủ để bắn. Bắn xong, pháo lại được xếp càng, lui vào hầm phía trong và dùng sọt đất xếp kín miệng hầm đề phòng địch phản pháo. Mỗi trận địa đều có hầm bắn, hầm lui pháo về phía sau, hầm đạn, hầm trực chiến, hầm chỉ huy. Cứ 4 khẩu đội lại có một hầm làm nơi hội họp, có rãnh thoát nước và hố tránh bom cháy, có đường hào đi lại. Mỗi đại đội đều có trận địa dự bị, trận địa giả để cơ động và phân tán hỏa lực địch. Chúng tôi không được phép chặt cây quanh trận địa để làm hầm pháo mà phải đi xa 4-5km, có khi gần 10km để tìm ngụy trang, mà cũng chỉ được chặt cây tỉa rừng sau đó khuân vác về nơi làm trận địa pháo”.

Như vậy, có thể thấy sự kỳ công của Bộ đội Công binh khi làm trận địa pháo đã góp phần quan trọng bảo vệ an toàn cho người và pháo, bảo đảm pháo phát huy được hiệu suất chiến đấu cao nhất, trở thành cơn ác mộng và nỗi khiếp sợ của quân Pháp ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ./.