“Cũng như chim, muốn bay cần phải có hai cánh; một cuộc chiến tranh muốn thẳng lợi, cần phải có hai lực lượng chính: quân sự và chính trị”.
Thứ Ba, 25 tháng 7, 2023
Mục tiêu của đấu tranh quốc phòng hiện nay
Mục
tiêu đấu tranh quốc phòng nhằm phòng ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn,
hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng
trời, vùng biển, đảo của Tổ quốc; ngăn chặn làm thất bại xung đột vũ trang và
xâm nhập tiến công mạng, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh; làm thất bại chiến
lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, đẩy lùi
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn các mối đe dọa an ninh truyền thống
và phi truyền thống, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
Bộ đội Không quân “đua tài” tại Trường bắn Như Xuân
Từ ngày 16 đến 20-7, tại Trường bắn Như Xuân, Quân chủng Phòng không - Không quân đã tổ chức Diễn tập bay bắn, ném bom, đạn thật cho các đơn vị không quân năm 2023. Tại Diễn tập, các đơn vị Không quân trong Quân chủng đã thực hành công kích mục tiêu mặt đất ban ngày, với các nội dung bổ nhào ném bom, phóng rốc két, bắn pháo cơ động giản đơn, cơ động phức tạp theo biên đội và đơn chiếc.
Báo Phòng không - Không quân Điện tử giới thiệu một số hình ảnh tại Diễn tập bay bắn, ném bom, đạn thật các lực lượng không quân của Quân chủng năm 2023.
Đối tượng đấu tranh quốc phòng hiện nay
Đối
tượng đấu tranh quốc phòng rất đa dạng, bao gồm đối tượng cơ bản, nguy hiểm,
lâu dài là các thế lực thù địch hiếu chiến, đồng minh và tay sai có âm mưu,
hành động xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa”
lực lượng vũ trang, chuyển hóa, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đối tượng trực
tiếp, nguy hiểm, lâu dài là các thế lực nước lớn và đồng minh có tham vọng,
hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, xâm hại lợi ích quốc gia - dân tộc. Đối
tượng rất nguy hiểm là các tổ chức phản động trong và ngoài nước, lực lượng cơ
hội, suy thoái chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ, có tư tưởng, hành động chống phá sự nghiệp cách mạng bằng biện
pháp vũ trang, phi vũ trang. Chúng câu kết, tiếp tay cho các thế lực thù địch,
hiếu chiến và thế lực nước lớn có tham vọng chủ quyền lãnh thổ, đe dọa đến sự
tồn vong của chế độ, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt
Nam.
TÁC PHẨM CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG THỂ HIỆN TƯ DUY BIỆN CHỨNG, TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC VỀ QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG
Đấu tranh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam hiện nay
Đấu
tranh quốc phòng là những hoạt động đấu tranh trong công cuộc giữ nước, được
thực hiện bằng tổng thể các hình thức, biện pháp đấu tranh trên các lĩnh vực
chính trị, tư tưởng, kinh tế, khoa học, công nghệ, quân sự, dân tộc, tôn giáo,
văn hóa, ngoại giao, pháp lý,... do toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ
thống chính trị tiến hành, sử dụng phương thức đấu tranh phi vũ trang là chủ
yếu. Hoạt động này đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của
Đảng và sự chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất của Nhà nước, nhằm tạo sức
mạnh tổng hợp, toàn diện của quốc gia, đối phó có hiệu quả với các nguy cơ an
ninh truyền thống, phi truyền thống, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính
trị để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
ĐẤU TRANH QUỐC PHÒNG TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN HIỆN NAY
Đấu
tranh quốc phòng là những hoạt động đấu tranh trong công cuộc giữ nước, được thực
hiện bằng tổng thể các hình thức, biện pháp đấu tranh trên các lĩnh vực chính
trị, tư tưởng, kinh tế, khoa học, công nghệ, quân sự, dân tộc, tôn giáo, văn hóa,
ngoại giao, pháp lý,... do toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính
trị tiến hành, sử dụng phương thức đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu. Đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là một vấn đề lớn, quan trọng trong đấu
tranh quốc phòng bảo vệ vững chắc tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Không ngừng tăng cường và nâng cao chất lượng,
hiệu quả của đấu tranh đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng
hiện nay là yêu cầu cấp bách, lâu dài nhằm làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống
phá của các thế lực thù địch, đấu tranh có hiệu quả với "tự diễn biến",
"tự chuyển hóa" và các thách thức an ninh phi truyền thống góp phần bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà
nước, giữ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Đảng,
Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
“Con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa của các dân tộc là con đường chung của thời đại, của lịch sử, không ai ngăn cản nổi”.
“Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho Nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý.”
NHỮNG
LUẬN ĐIỆU XẢO TRÁ SAU VỤ KHỦNG BỐ Ở ĐẮK LẮK
Thêu dệt, bóp méo sự thật
Với tính chất đặc biệt nghiêm trọng của
vụ án, Người Phát ngôn Bộ Công an cũng như các cơ quan chức năng đã có các
thông tin chính thức với báo chí và tại một số hội nghị, diễn đàn có liên quan.
Việc thông tin đảm bảo tính chính xác, kịp thời, giúp người dân trong nước và
dư luận quốc tế nắm được thông tin, bản chất vụ án, ủng hộ cơ quan chức năng
tích cực điều tra, làm rõ để xử lý trước pháp luật; đồng thời lên án các cá
nhân, tổ chức đứng sau vụ án, các đối tượng chủ mưu, cầm đầu gây bất ổn tại khu
vực Tây Nguyên.
Ngày 23/6/2023, Cơ quan An ninh điều
tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định khởi tố vụ án “Khủng bố nhằm chống
chính quyền nhân dân; che giấu tội phạm; không tố giác tội phạm và tổ chức, môi
giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép”; ra các
quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với 75 bị can.
Tuy nhiên, sau khi vụ án xảy ra, trên
nhiều kênh thông tin báo chí nước ngoài, các trang mạng hải ngoại, trang mạng
cá nhân của các đối tượng chống đối đã tung ra thông tin sai sự thật, các hình ảnh
được dàn dựng, cắt ghép… Một số bài viết cố tình đánh tráo bản chất, hướng vụ
án sang nguyên do khác nhằm kích động tâm lý kỳ thị dân tộc, gây chia rẽ giữa đồng
bào các dân tộc ở Tây Nguyên.
Báo điện tử BBC Tiếng Việt ngày 23/6
đăng bài “Câu chuyện Tây Nguyên và người dân sắc tộc của núi rừng trong lòng
tôi” đã đưa nhiều thông tin sai sự thật, có các bình luận mang tính chụp mũ,
suy diễn. Bài viết cố tình hướng lái sai mục đích, ý nghĩa của vấn đề di dân,
phát triển kinh tế ở Tây Nguyên, từ đó quy chụp “không gian của các sắc tộc bị
tan vỡ”! Người viết đưa ra những câu từ vừa trái bản chất, vừa mang tính kích động
như “Sau biến cố 30/4/1975, Tây Nguyên bước vào kỷ nguyên bị phá vỡ”.
Ngay như khái niệm “đồng bào” vốn là
câu chữ thân thuộc, thiêng liêng với cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam thì bài
viết cũng cố tình bẻ lệch ý nghĩa, cho rằng “việc gọi các sắc tộc Tây Nguyên bằng
từ “đồng bào” không che giấu được toan tính chính trị”, đả kích thành “đây là
cách áp đặt văn hóa và mị dân”! Bằng thủ đoạn vờ “đặt vào miệng” của một người
không rõ thực hư ở đâu, bài viết này vu cáo “Người Kinh đang đối xử với các sắc
tộc Tây Nguyên hơn cả thực dân, bởi thực dân không muốn chiếm đoạt và đồng hóa
như thế”; “có quá nhiều người sắc tộc ở Tây Nguyên nói họ không được phép thực
hành niềm tin tôn giáo họ chọn”…
Bằng những thủ đoạn đánh tráo bản chất
dưới dạng hồi ức, kể lại, nhớ lại, tự bịa ra lời nói của những cá nhân không có
thật, bài viết cố tình vẽ ra bức tranh với gam màu xám xịt ở Tây Nguyên rồi quy
kết rằng “việc tấn công vào trụ sở Công an tại hai xã vừa qua rất có thể là phản
ứng của sự phẫn nộ, phản kháng khi người sắc tộc bị dồn vào đường cùng”! Đây là
thủ đoạn vu cáo hết sức nguy hiểm nhằm kích động chống phá từ bên trong và gây
sự hiểu lầm, tạo sức ép từ bên ngoài.
Đài Á châu tự do (RFA) đưa bài mang rõ
tính kích động, xuyên tạc chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta khi nói rằng,
giải pháp cho các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo ở Tây Nguyên đều
lặp lại điệp khúc cách đây hàng chục năm. Từ đó bôi nhọ: “Không chỉ nguội mà
còn cuội. Cuội là vì trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đi ngược lại
chính sách đại đoàn kết dân tộc và giờ đây lại còn đổ vấy trách nhiệm về biến cố
xả súng ở huyện Cư Kuin”!
Trong một bài viết khác, đài này dùng
những ngôn từ xảo trá để bóp méo bản chất vụ án khủng bố ở Đắk Lắk, “đánh lái”
thành vấn đề xung đột, mâu thuẫn trong các dân tộc ở Tây Nguyên, vu cáo người
dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên “không chịu được sự áp đảo hiện nay bởi sự thống
trị của người Việt đến từ đồng bằng”. Với cách dẫn dắt sai trái này, bài viết
nhắm vào chỉ trích Đảng, Nhà nước: “Chính quyền của Đảng Cộng sản bị cáo buộc
đàn áp các nhóm sắc dân này, những người đã từng chiến đấu với họ trong các cuộc
chiến tranh chống Pháp, Mỹ…”; “đồng bào thiểu số ở Tây Nguyên đã bị truất sở hữu
đất đai của tổ tiên, nơi mà nhà nước áp dụng chính sách thuộc địa”!
Đài này cũng đưa nhiều phỏng vấn những
đối tượng tự xưng là người dân tộc HMong, người Thượng tự nhận là “nạn nhân bị
đàn áp tôn giáo” phải bỏ chạy lưu vong hoặc dẫn lời những trường hợp không rõ địa
chỉ cụ thể để bôi nhọ tình hình thực tế tại Đắk Lắk. Những đối tượng này cho rằng
vụ việc ở Đắk Lắk là “hành động phản kháng của người Tây Nguyên theo đạo Tin
lành bị áp bức về đức tin”, là “mâu thuẫn sắc tộc” âm ỉ từ lâu; xuyên tạc bản
chất vấn đề bằng chiêu bài “người Kinh áp bức người Thượng”, “người Kinh chiếm
đất của người Thượng”…
Cũng với giọng điệu bịa đặt, đả kích,
Đài VOA đưa nhiều bài viết đánh lừa người đọc dưới dạng người Thượng ở Tây
Nguyên kể chuyện. Trong bài viết “Người Thượng tấn công chính quyền vì tức nước
vỡ bờ”, bằng việc dẫn lời của hai trường hợp ở Hoa Kỳ có tên là Y Phíc và Aga -
thành viên của tổ chức phản động “Người Thượng vì công lý”, bài viết trích dẫn
những nội dung sai trái nhắm vào miệt thị chính quyền, quy cho nguyên nhân vụ
khủng bố là “họ đã bị đẩy đuổi đến bước đường cùng”!
Từ việc bịa chuyện mâu thuẫn trong làm
ăn, lao động sản xuất giữa người Kinh với người Thượng, bài viết vu cáo “chính
quyền không bao giờ cho người dân tự do bày tỏ niềm tin tôn giáo mà họ lựa chọn”;
“người Thượng cũng đem những bức xúc của mình đi khiếu nại với chính quyền
nhưng không những không được giải quyết mà còn bị bắt bớ, đánh đập”. Từ đó, bài
viết đánh tráo bản chất, bôi nhọ thành “chính quyền cộng sản Việt Nam gần như
không quan tâm gì đến đồng bào Tây Nguyên”; biện hộ cho hành vi của những kẻ khủng
bố rằng “khi bị đẩy vào bước đường cùng thì người dân không còn cách nào khác
là sẵn sàng đối diện với cái chết để làm liều”; “khi họ không còn con đường để
sống thì họ phải chấp nhận cái chết”…
Thậm chí, VOA còn dẫn lời Y Phic nói rằng,
hơn 70 trường hợp bị bắt giữ trong vụ khủng bố ở Đắk Lắk thì “đa số là người vô
tội”, vu cáo “chính quyền nghi ai, ghét ai thì họ đều bắt hết”! Đài VOA dẫn lời
Nguyễn Đình Thắng, đối tượng cầm đầu Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) - một tổ
chức phản động lưu vong có trụ sở ở bang Virginia (Mỹ) đứng sau vụ tấn công ở Đắk
Lắk, xuyên tạc chính quyền buộc người Thượng ở Tây Nguyên phải bỏ đạo, người
thiểu số không quy thuận người Kinh...
Lợi dụng vụ án để công kích, miệt thị Đảng,
Nhà nước
Còn với “người Thượng ở hải ngoại” thì
các bài viết dẫn ra tên người thật, thậm chí cả ảnh thật nhưng là lời của những
kẻ chống đối, tham gia các tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, như hai
trường hợp của tổ chức “người Thượng vì công lý” kể trên. Lời của những đối tượng
luôn rắp tâm chống phá đất nước thì lấy gì để nói khách quan ở đây khi cứ hễ
nói đến đất nước thì luôn kèm theo những câu từ đầy tính kích động, hằn học kiểu
như “chính quyền đàn áp”, “bỏ rơi người Thượng”, “bị trói, bịt miệng”, “đẩy vào
đường cùng”, “cùng quẫn nên liều mạng”…
Nội dung trong các bài viết, lời nói dù
bằng cách này hay cách khác thì số này đều nhắm vào xuyên tạc, bôi nhọ chính
sách của Đảng, Nhà nước với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, cho rằng đồng
bào bị bỏ rơi, bị chèn ép, đẩy vào khốn cùng. Cùng với đó là xuyên tạc tình cảm,
đời sống của đồng bào Tây Nguyên, đưa ra những nội dung sai trái để gây chia rẽ
giữa người Kinh với người Thượng, giữa các đồng bào dân tộc thiểu số. Một số
bài viết còn xuyên tạc việc chính quyền “lợi dụng vụ việc để đàn áp, truy bức
người Thượng”, từ đó đưa ra cái nhìn sai lệch, nhất là gây hiểu lầm đối với dư
luận ở nước ngoài, cố tình tạo ra những mâu thuẫn, bất ổn từ bên trong để kêu gọi
sự can thiệp của các tổ chức quốc tế vào công việc nội bộ của Việt Nam…
Theo Đăng Minh - Văn Thành
Bước tiến lớn về tư duy phát triển và hội nhập của Việt Nam
Thứ
nhất, quá trình
10 năm hội nhập từ 2001 – 2011, nhưng đó là quá trình đi từng bước từ hội nhập
kinh tế quốc tế đến hội nhập ở những lĩnh vực khác. Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc
tế đã chỉ rõ hội nhập quốc tế chủ động và tích cực, lấy kinh tế làm
trọng tâm nhưng mở ra tất cả những lĩnh vực khác. Các lĩnh vực này (kinh tế,
quốc phòng, an ninh hay khoa học-công nghệ, giáo dục…) có tác dụng hỗ trợ cho
nhau, phục vụ cho nhau.
Thứ hai, mục tiêu quan trọng nhất của
hội nhập quốc tế là phải tranh thủ cho được sự kết hợp giữa nội lực và ngoại
lực phục vụ phát triển đất nước. Trong quá trình này, nếu không có nội lực sẽ
không thể hội nhập, có nội lực mới tranh thủ được ngoại lực và tạo sức mạnh đề
kháng cho đất nước.
Thứ ba, hội nhập toàn diện một cách
chủ động và tích cực để tranh thủ đối đa cho lợi ích quốc gia dân tộc. Bởi Việt
Nam đã nhìn ra đó chính là xu thế của thế giới, điều mà nước nào cũng cần phải
tranh thủ. Thông qua hội nhập không chỉ tranh thủ được nguồn lực bên ngoài, mà
còn tạo vị thế quốc gia, tạo thế đan xen về lợi ích cả trên bình diện song
phương với các nước và với các tổ chức đa phương. Từ đó, tạo môi trường bên
ngoài hòa bình, ổn định và hợp tác, phục vụ cho công cuộc an ninh và phát triển
của Việt Nam.
Thứ tư, Việt Nam thấy được hai mặt của
hội nhập là vừa hợp tác vừa đấu tranh, nhưng hợp tác là chủ yếu. Đó còn là đánh
giá về tình hình quốc tế và khả năng tranh thủ được của Việt Nam.
Một điều rất lớn từ Nghị quyết 22 là
Việt Nam đã tham gia xây dựng các chuẩn mực, quy tắc quốc tế, để từ đó tạo
thuận lợi hơn cho đất nước, đồng thời đóng góp cho sự phát triển của luật pháp
quốc tế, tăng cường khuôn khổ hợp tác bình đẳng, cùng có lợi dựa trên Hiến
chương Liên hiệp quốc và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện sự nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt
động thực tiễn của Hồ Chí Minh, thể hiện một cách tập trung những luận điểm
sáng tạo lớn về lý luận của Hồ Chí Minh, là sự phản ánh mục đích, lý tưởng,
khát vọng và ham muốn tột bậc của danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh: nước ta được
hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn,
áo mặc, ai cũng được học hành.
Độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội phản ánh tính triệt để cách mạng của tư tưởng Hồ Chí
Minh. Tư tưởng đó đặt vấn đề giải phóng con người, hạnh phúc của con người ở
mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách mạng.
Độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, trước hết, là cơ sở, tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Theo Hồ Chí Minh, con đường cách mạng Việt Nam có hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ở giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ thì độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, trước mắt, cấp bách, nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam. Tính chất tạo tiền đề của cách mạng dân tộc dân chủ được thể hiện: Về chính trị, xác định và xây dựng các yếu tố của hệ thống chính trị do giai cấp công nhân lãnh đạo; Về kinh tế, bước đầu xây dựng được các cơ sở kinh tế mang tính chất xã hội chủ nghĩa, từng bước cải thiện đời sống Nhân dân; Về văn hóa xã hội, đời sống tinh thần, trong cách mạng dân tộc dân chủ, khối quần chúng công - nông - trí thức và các giai tầng xã hội khác đã có ý thức giác ngộ, đoàn kết trong một mặt trận dân tộc thống nhất; những nhân tố mới của văn hóa, giáo dục đã được hình thành dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Độc
lập dân tộc tạo tiền đề, điều kiện để nhân dân lao động tự quyết định con đường
đi tới chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Theo
tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời đại mới, chủ nghĩa xã hội là xu hướng phát
triển tất yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Điều này làm cho con
đường cứu nước giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh khác biệt về chất so với con
đường cứu nước những năm đầu thế kỷ XX ở nước ta và của nhiều nhân vật nổi
tiếng trên thế giới.
Cách mạng Việt Nam
thuộc phạm trù cách mạng vô sản. Điều đó quyết định vai trò lãnh đạo cách mạng
tất yếu thuộc về giai cấp công nhân mà đội tiên phong của nó là Đảng Cộng
sản Việt Nam. Lực lượng tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc là toàn dân Việt
Nam yêu nước mà nòng cốt là khối liên minh công - nông - trí thức. Những nhân
tố này lại quy định tính tất yếu dẫn đến phương hướng phát triển lên chủ nghĩa
xã hội của cách mạng giải phóng dân tộc. Rõ ràng định hướng đi lên chủ nghĩa xã
hội của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam được chi phối và chế định
bởi các nhân tố bên trong của cuộc cách mạng đó.
Chủ nghĩa xã hội là
con đường củng cố vững chắc độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc một cách hoàn
toàn triệt để. Về lý luận, độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội thể hiện
mối quan hệ giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu cuối cùng; mối quan hệ giữa hai
giai đoạn của một quá trình cách mạng. Cách mạng dân tộc dân chủ xác lập cơ sở,
tiền đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa, cách mạng xã hội chủ nghĩa khẳng định
và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.
Theo Hồ Chí Minh, độc
lập dân tộc bao giờ cũng gắn liền với đời sống ấm no, hạnh phúc của quần chúng
nhân dân, những người đã trực tiếp làm nên thắng lợi của cách mạng dân tộc dân
chủ. Để bảo đảm vững chắc độc lập dân tộc, để không rơi vào lệ thuộc, đói
nghèo, lạc hậu, chặng đường tiếp theo chỉ có thể là đi lên chủ nghĩa xã hội. Do
những đặc trưng nội tại của mình, chủ nghĩa xã hội sẽ củng cố những thành quả
đã giành được trong cách mạng dân tộc dân chủ, tạo điều kiện để bảo đảm cho độc
lập và phát triển dân tộc. Hồ Chí Minh khẳng định: chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa cộng sản mới giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức khỏi ách nô lệ;
chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa mới bảo đảm cho một nền độc lập thật sự, chân
chính.
Về cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Mục
tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc trước hết là phải giành lại nền độc lập
cho Tổ quốc. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc
muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Cách mạng giải phóng
dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cách mạng giải phóng
dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc phải được tiến hành chủ động, sáng
tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Lực
lượng của cách mạng giải phóng dân tộc là sức mạnh của toàn dân tộc. Cách mạng
là sự nghiệp của dân chúng bị áp bức, bao gồm lực lượng của cả dân tộc. Trong
lực lượng toàn dân tộc, Hồ Chí Minh hết sức nhấn mạnh vai trò động lực cách
mạng của công nhân và nông dân, lực lượng nòng cốt trong khối đại đoàn kết toàn
dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh
về giải phóng dân tộc và con người được khẳng định trước toàn thế giới
qua Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do
Người khởi thảo. Thừa nhận những “lời bất hủ” trong Tuyên ngôn độc lập của
Mỹ (1776) và “những lẽ phải không thể chối cãi được” của “Tuyên ngôn
nhân quyền và dân quyền của Pháp” (1789), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc
nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Nâng quyền tự nhiên
của con người lên thành quyền dân tộc và gắn chặt quyền con người với quyền dân
tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng cho một trật tự và pháp lý quốc tế
mới về quyền con người, quyền dân tộc và sự bình đẳng giữa các quốc gia - dân
tộc.
Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong phong trào giải phóng dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Về mối quan hệ giữa
vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong phong trào giải phóng dân tộc,
Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau. Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết. Độc lập dân tộc mà chưa giành được thì vấn đề giai cấp cũng không giải quyết được. Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp.
Hoạt động thao giảng và Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc hướng tới xây dựng trường chính trị chuẩn
(LLCT) - Tổ chức thao giảng và Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là một hoạt động chuyên môn, nhiệm vụ hết sức quan trọng. Thông qua thao giảng và Hội thi, giảng viên có điều kiện trao đổi kinh nghiệm, học tập lẫn nhau, làm sâu sắc, phong phú nội dung chuyên môn, đổi mới phương pháp, rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm. Bài viết phân tích vai trò của hoạt động thao giảng và tổ chức Hội thi toàn quốc, kết quả của những kỳ Hội thi; xác định những nội dung trọng tâm của hoạt động này trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chính trị chuẩn.
1. Từ thao giảng các cấp đến Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc: hoạt động chuyên môn cần thiết đối với công tác trường chính trị
Đội ngũ giảng viên là lực lượng nòng cốt của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trực tiếp thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ sở, cán bộ, công chức, viên chức ở địa phương về lý luận chính trị - hành chính; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; kiến thức về một số lĩnh vực khác. Đồng thời, giảng viên cũng là lực lượng chủ yếu của các trường chính trị tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương.
Nhằm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, bên cạnh cử giảng viên học tập nâng cao trình độ, tham gia các khóa bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn ngắn ngày, cử đi thực tế ngắn hạn và dài hạn... việc tổ chức cho giảng viên thao giảng là một hoạt động chuyên môn, nhiệm vụ hết sức quan trọng của quá trình giảng dạy. Thông qua thao giảng, giảng viên có điều kiện thuận lợi tăng cường trao đổi kinh nghiệm, học tập, giúp đỡ lẫn nhau, làm sâu sắc, phong phú thêm nội dung giảng dạy, đổi mới phương pháp, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy, nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm chuyên môn, tình cảm và trách nhiệm nghề nghiệp. Đồng thời, thao giảng góp phần tăng cường và làm tốt hơn nữa việc quản lý dạy và học, thúc đẩy phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng ở các trường chính trị.
Trên cơ sở kết quả hoạt động thao giảng ở cấp khoa, cấp trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm tăng cường trao đổi, rút kinh nghiệm, học tập lẫn nhau giữa giảng viên lý luận chính trị trên cả nước. Đồng thời, tạo điều kiện để lãnh đạo các trường chính trị tăng cường giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tạo động lực cho các giảng viên tham gia hoạt động khoa học.
Tổ chức Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc giúp Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có thêm điều kiện nắm bắt hoạt động giảng dạy của giảng viên, công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng của các trường chính trị. Trên cơ sở đó, hoàn thiện nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng do Học viện phụ trách; sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh các quy định, hướng dẫn chuyên môn đối với các trường chính trị.
Kết quả của hoạt động thao giảng các cấp và Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc là cơ sở để động viên, biểu dương phong trào dạy tốt, từ đó tập trung bồi dưỡng, phát triển chuyên môn, những giảng viên giỏi từng bước trở thành những “cánh chim đầu đàn” trong công tác giảng dạy và nghiên cứu của mỗi trường.
2. Kết quả tổ chức Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong những năm qua
Năm 2004, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chính thức xác định nhiệm vụ thao giảng của giảng viên và ban hành Quy định về tổ chức thao giảng ở các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Năm 2005, lần đầu tiên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc các trường chính trị. Đối tượng tham gia là những giảng viên có kết quả đứng đầu trong thao giảng cấp khoa, cấp trường, đang giảng dạy “Chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở” (hệ Trung cấp lý luận chính trị). Kết quả thi của từng giảng viên được đánh giá trên hai nội dung: kết quả chuẩn bị giáo án và kết quả giảng bài trên lớp. Hội thi đầu tiên có 121 giảng viên của 61/64 trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham gia, trong đó có 23 giảng viên được Giám đốc Học viện tặng Bằng khen “Giảng viên dạy giỏi xuất sắc”.
Các Hội thi lần thứ II (năm 2007), lần thứ III (năm 2009) tiếp tục thực hiện các cách thức lựa chọn giảng viên dự thi, nội dung thi, nhưng có bổ sung thêm đối tượng dự thi là giảng viên trường cán bộ của bộ, ngành, đoàn thể Trung ương đang giảng dạy “Chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở” (hệ Trung cấp lý luận chính trị).
Hội thi lần thứ II có 124 giảng viên của 63/64 trường chính trị tham gia, với 28 giảng viên dạy giỏi xuất sắc được tặng Bằng khen của Giám đốc Học viện.
Hội thi lần thứ III có 30 giảng viên được tặng Bằng khen “Giảng viên dạy giỏi xuất sắc” trong tổng số 120 giảng viên của 62/63 trường chính trị tham gia. Hội thi lần thứ IV được tổ chức vào năm 2011 đã bổ sung nội dung thi hiểu biết về quy chế, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy... thông qua hình thức thi vấn đáp. Kỳ Hội thi này có 30 giảng viên đạt danh hiệu “Giảng viên dạy giỏi xuất sắc” trong tổng số 119 giảng viên của 61/63 trường chính trị, 01 trường bộ, ngành tham gia.
Năm 2014, Hội thi lần thứ V thay thế nội dung thi hiểu biết về quy chế, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy bằng nội dung thi viết, đồng thời bổ sung điểm khuyến khích thông qua tính điểm kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên dự thi. Hội thi lần này thu hút 125 giảng viên của 63/63 trường chính trị và 02 trường bộ, ngành dự thi. Trong đó, có 18 giảng viên các trường phía Bắc và 12 giảng viên các trường phía Nam được khen thưởng “Giảng viên dạy giỏi xuất sắc”.
Hội thi lần thứ VI được Học viện tổ chức tại Trường Chính trị tỉnh Nghệ An và Trường Chính trị tỉnh Đắk Lắk vào năm 2017 có 134 giảng viên của 63/63 trường chính trị và 04 trường bộ, ngành tham gia. Hội thi đã chính thức sử dụng điểm nghiên cứu khoa học là điều kiện bắt buộc để xét các danh hiệu Giảng viên dạy giỏi, xuất phát từ yêu cầu đối với giảng viên dạy giỏi là phải tích cực tham gia nghiên cứu khoa học để phục vụ việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Kết thúc Hội thi, đã có 24 giảng viên đạt loại xuất sắc trong tổng số 130/134 giảng viên đạt danh hiệu giảng viên dạy giỏi; 01 giảng viên được Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tặng thưởng người có thành tích nghiên cứu khoa học cao nhất. Tuy nhiên, đây cũng là Hội thi đầu tiên có 04 giảng viên không đạt loại giỏi.
Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc các trường chính trị, trường bộ, ngành tổ chức năm 2021 là Hội thi lần thứ VII, lần đầu tiên quy tụ được 74/74 trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trường cán bộ của bộ, ngành, đoàn thể Trung ương với tổng số 140 giảng viên dự thi. Trong đó, có 63 trường chính trị cấp tỉnh, 11 trường cán bộ của các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương. Hội thi khu vực phía Bắc (gồm các trường từ Thừa Thiên Huế trở ra Bắc) có 40 trường. Hội thi khu vực phía Nam (gồm các trường từ Đà Nẵng trở vào Nam) có 34 trường. Giảng viên dự thi thực hiện 03 nội dung thi: thi giáo án, thi viết và thi giảng. Kết quả thi là điểm trung bình của 03 phần thi, trong đó, phần thi giảng được tính điểm hệ số 3. Điểm khoa học là điểm quy đổi công trình khoa học được nghiệm thu hoặc công bố giữa hai kỳ Hội thi của giảng viên dự thi, là điều kiện để Hội đồng giám khảo xếp loại danh hiệu “Giảng viên dạy giỏi”, “Giảng viên dạy giỏi xuất sắc”.
Hội thi lần thứ VII năm 2021 đánh dấu nhiều đổi mới trong công tác tổ chức và đánh giá, xếp loại. Trong đó có những đổi mới đáng chú ý như giảng viên dự thi phải có thời gian trực tiếp giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính từ 02 năm trở lên.
Phần thi giáo án và thi giảng, giảng viên dự thi chọn 01 bài trong chương trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính sẽ tham gia thi giảng để soạn giáo án. Nếu bài dài hơn 04 tiết thì soạn hoàn chỉnh 04 tiết liền nhau để đăng ký dự thi, các tiết còn lại của bài chỉ cần ghi tên mục. Khi thi giảng, giảng viên bắt thăm chọn tiết giảng trong số 04 tiết giảng đã soạn trong giáo án dự thi. Đồng thời, giảng viên phải cập nhật nội dung các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng vào phần thi giảng. Hội đồng Giám khảo chú trọng đánh giá tiêu chí này trong phần thi giảng của giảng viên, bảo đảm khách quan, công tâm, chính xác, thực chất. Cách thức thi giảng như vậy nhằm khắc phục tình trạng một số giảng viên chọn nội dung giảng mà trong chương trình, giáo trình bố trí thời lượng giảng dưới 01 tiết; đòi hỏi người dự thi phải đầu tư trí tuệ, công sức, tâm huyết hơn với bài giảng. Nội dung phần thi viết cũng được đổi mới, mở rộng hơn lần thi trước. Giảng viên dự thi sẽ thể hiện kiến thức, hiểu biết của mình về 03 nội dung: (1) Quan điểm, định hướng của Đảng về đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; công tác nghiên cứu lý luận theo tinh thần Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 09-10-2014 của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030; Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Quy định số 09-QĐi/TW ngày 13-11-2018 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. (2) Những quy định của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng; hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn. (3) Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới theo Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII.
Về điều kiện điểm khoa học để được xếp hạng danh hiệu giỏi, giảng viên dự thi phải đạt điểm khoa học từ 2,5 điểm trở lên, cao hơn so với điều kiện điểm khoa học ở kỳ Hội thi lần thứ VI (đạt từ 1,5 điểm trở lên). Những quy định này được kỳ vọng sẽ khuyến khích giảng viên các trường chính trị chú trọng nghiên cứu đề tài khoa học cấp trường và công bố rộng rãi các kết quả nghiên cứu đó dưới dạng sách, tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy. Mạnh dạn và tăng cường tham gia các hội thảo khoa học các cấp, trong đó, đặc biệt là các hội thảo khoa học cấp quốc gia.
Những thể lệ, nội quy, quy chế Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc các trường chính trị, trường bộ, ngành do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xây dựng trong hơn 15 năm qua vừa nhằm mục tiêu rèn luyện giảng viên theo những tiêu chuẩn ngày càng cao hơn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác trường chính trị, vừa tạo điều kiện để các trường và giảng viên chủ động tham gia nghiên cứu các đề tài, viết bài tham luận tại các hội thảo khoa học các cấp. Qua đó thúc đẩy các trường xây dựng và hoàn thiện hoạt động của trang thông tin điện tử của mỗi trường, tăng cường công tác thông tin - tư liệu, xuất bản đều kỳ theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng bản tin, nội san, các bản tin thông tin lý luận và thực tiễn.
Từ thành công của hoạt động thao giảng các cấp và đặc biệt là Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc các trường chính trị, trường bộ, ngành, đã có hàng trăm giảng viên dạy giỏi, giảng viên dạy giỏi xuất sắc của các trường chính trị, trường bộ, ngành được ghi nhận, tôn vinh; trở thành trụ cột về chuyên môn tại đơn vị, trở thành cán bộ lãnh đạo, quản lý khoa, phòng, được bổ nhiệm vào lãnh đạo trường. Những giảng viên này thật sự trở thành vốn quý của mỗi trường, là điểm tựa để từng trường xây dựng đội ngũ, bồi dưỡng những thế hệ giảng viên lý luận chính trị - giảng viên Trường Đảng kế tiếp.
3. Nâng cao chất lượng hoạt động thao giảng và công tác tổ chức Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chính trị chuẩn
Hiện nay, thực hiện nhiệm vụ được Ban Bí thư giao, Học viện đã đề xuất và Ban Bí thư đang xem xét ban hành Quy định tiêu chí trường chính trị chuẩn và quy trình công nhận trường chính trị chuẩn. Quy định của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn nhằm xây dựng các trường chính trị đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn mới, thực sự tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ về chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, giảng viên, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học và các mặt công tác khác có liên quan ở các trường chính trị cấp tỉnh. Trong các tiêu chí xây dựng trường chính trị chuẩn như: chuẩn về tên gọi, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy; chuẩn về số lượng, chuẩn về cơ sở vật chất - kỹ thuật, tài chính... thì tiêu chí chuẩn về chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức, về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn về hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn được coi là những tiêu chí trọng yếu, quyết định đến chất lượng hoạt động của các trường. Xây dựng trường chính trị đạt chuẩn về những tiêu chí này sẽ tạo bước đột phá nhằm mục tiêu xây dựng trường chính trị cấp tỉnh xứng tầm là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ duy nhất ở cấp tỉnh; thực sự là cơ quan nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn ở địa phương.
Để hoạt động thao giảng các cấp và Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng tới mục tiêu đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chính trị chuẩn, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
Thứ nhất, thống nhất nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác giáo dục lý luận chính trị; mục tiêu của hoạt động thao giảng các cấp và Hội thi giảng viên dạy giỏi toàn quốc là góp phần nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên trường chính trị, tạo diễn đàn để các giảng viên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, nâng cao chất lượng các bài giảng, góp phần quan trọng vào việc khắc phục bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị.
Thứ hai, hoạt động thao giảng và Hội thi phải được tổ chức nghiêm túc, đúng quy định của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, bảo đảm mục tiêu của hoạt động này. Trong đó, đặc biệt quan tâm thực hiện các khâu: từ xây dựng kế hoạch thao giảng, kế hoạch Hội thi toàn quốc; chuẩn bị và thông qua giáo án, chấm giáo án, tổ chức thao giảng, thi giảng; chấm thao giảng, thi giảng; việc đánh giá, rút kinh nghiệm thao giảng, tổ chức Hội thi toàn quốc; chế độ, chính sách cho giảng viên đạt kết quả tốt trong thao giảng và Hội thi toàn quốc.
Thứ ba, thao giảng các cấp và Hội thi toàn quốc phải là cơ hội để các giảng viên cập nhật nội dung các văn kiện mới nhất của Đảng, tình hình trong nước và quốc tế, những vấn đề lý luận và thực tiễn mới vào bài giảng. Muốn vậy, công tác chuẩn bị về nội dung cho thao giảng và Hội thi toàn quốc phải được đặc biệt quan tâm. Trong chấm điểm thao giảng và Hội thi toàn quốc, chú trọng đánh giá tiêu chí chuẩn bị nội dung.
Thứ tư, trên cơ sở những giảng viên dạy giỏi được lựa chọn qua thao giảng và Hội thi toàn quốc, các trường cần tiếp tục quan tâm, bồi dưỡng để giảng viên giỏi có điều kiện thuận lợi tiếp tục phấn đấu, trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ, ngày càng hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao, trở thành những chuyên gia giỏi, những người thầy Trường Đảng mẫu mực, có uy tín và trách nhiệm, được đồng nghiệp, học viên tiếp tục tôn vinh trên mọi cương vị công tác.
Thứ năm, kết quả thi giảng của các giảng viên tại Hội thi toàn quốc cần được thông báo tới thường trực tỉnh ủy, thành ủy và đề nghị cấp ủy, chính quyền địa phương ghi nhận, quan tâm, tạo điều kiện và có chính sách cụ thể cho việc đào tạo, bồi dưỡng giảng viên; có chế độ động viên kịp thời các giảng viên đạt danh hiệu giảng viên dạy giỏi và dạy giỏi xuất sắc. Ban Giám hiệu các trường chính trị cần động viên kịp thời những giảng viên đạt giảng viên dạy giỏi tại Hội thi.
Thứ sáu, phát huy những kết quả đã đạt được qua thao giảng các cấp và Hội thi toàn quốc, các trường cần tiếp tục duy trì và thúc đẩy phong trào “dạy tốt, học tốt”, với phương châm thi đua là “Đoàn kết - Kỷ cương - Gương mẫu - Sáng tạo - Hiệu quả” để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn.
Các trường cần có kế hoạch cụ thể và duy trì nền nếp tổ chức hoạt động thao giảng, dự giờ, tạo điều kiện cho giảng viên nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp, nghiệp vụ sư phạm. Qua thao giảng đánh giá, phân loại chất lượng giảng viên, từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trước mắt và lâu dài để có được đội ngũ giảng viên đạt chuẩn, xây dựng trường chính trị chuẩn phục vụ cho công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của các địa phương và cả nước, nâng cao vị trí, vai trò của các trường chính trị.
__________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2021
Nguồn: PGS, TS Nguyễn Duy Bắc
Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Bồi dưỡng ý thức kỷ luật cho hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam
(LLCT) - Bồi dưỡng ý thức tự giác chấp hành kỷ luật cho hạ sĩ quan, binh sĩ (HSQ, BS) Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam là một nội dung quan trọng trong công tác lãnh đạo, quản lý, công tác đảng, công tác chính trị của cấp ủy, người chỉ huy các cơ quan, đơn vị, nhằm bảo đảm cho mỗi quân nhân là HSQ, BS chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội và quy định của từng cơ quan, đơn vị; thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”.
Theo Từ điển tiếng Việt, kỷ luật là tổng thể những quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để bảo đảm tính chặt chẽ của tổ chức. Kỷ luật là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, được nảy sinh từ nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội. Trong mọi hoạt động xã hội, mỗi cá nhân bao giờ cũng gắn với một tổ chức nhất định. Không có hoạt động xã hội nào mang tính đơn lẻ, thuần túy của một cá nhân; trong hoạt động quân sự, kỷ luật là một nhân tố đặc biệt quan trọng.
Kỷ luật quân đội là tổng thể những điều quy định buộc mọi quân nhân phải triệt để chấp hành, nhằm tạo sự thống nhất cao trong ý chí và hành động, đảm bảo cho Quân đội phát huy được sức mạnh, hoàn thành chức năng và nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh, tình huống. Với đặc trưng của quân đội kiểu mới, kỷ luật của QĐND Việt Nam vừa phản ánh nét chung của kỷ luật quân sự, vừa mang đậm tính đặc thù của một quân đội cách mạng của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đó là sự tuân thủ nghiêm ngặt, chính xác mọi quy định của pháp luật nhà nước; điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của Quân đội; mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, đảm bảo cho hoạt động của Quân đội trên mọi lĩnh vực đều được chỉ huy, quản lý thống nhất, phát huy được trí tuệ, sức mạnh và tính hiệu quả. Sinh thời, khi bàn về công tác bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật quân nhân trong Quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy, kỷ luật phải nghiêm minh”(1). Xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, vấn đề bồi dưỡng ý thức tự giác chấp hành kỷ luật cho mỗi quân nhân nói chung, HSQ, BS nói riêng luôn được người chỉ huy các cấp quan tâm coi trọng, trực tiếp góp phần nâng cao năng lực và phát triển nhân cách của người quân nhân cách mạng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giúp các HSQ, BS luôn giữ vững hình ảnh tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.
Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam định nghĩa: Hạ sĩ quan là quân nhân có quân hàm hạ sĩ, trung sĩ, thượng sĩ phục vụ trong QĐND Việt Nam theo Luật Nghĩa vụ quân sự; binh sĩ là quân nhân có quân hàm binh nhất, binh nhì phục vụ trong QĐND Việt Nam theo Luật Nghĩa vụ quân sự.
HSQ, BS trong Quân đội có tuổi đời còn trẻ, mang đầy đủ những đặc điểm về tâm, sinh lý của tuổi trẻ; có cơ cấu đa dạng; xuất thân từ nhiều giai tầng xã hội, thành phần kinh tế, đại bộ phận xuất thân từ nông thôn. Đây là lực lượng đông đảo, chủ yếu trong tổ chức biên chế ở các đơn vị cơ sở của Quân đội, là những người trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong xây dựng đơn vị, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu cũng như các nhiệm vụ khác (công tác, lao động sản xuất,...) ở đơn vị. Việc xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ này phụ thuộc trực tiếp và gắn liền với quá trình bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật cho họ. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, trực tiếp tăng cường bản chất giai cấp công nhân, nâng cao tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh và tăng cường sức mạnh chiến đấu của QĐND Việt Nam.
Những năm qua, trên cơ sở nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của kỷ luật đối với sức mạnh chiến đấu của Quân đội, các đơn vị trong toàn quân đã thường xuyên quan tâm bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật mỗi quân nhân nói chung, các HSQ, BS trong đơn vị nói riêng. Trong đó, các đơn vị đã bám sát những nội dung mới trong Hiến pháp, pháp luật; các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về xây dựng Quân đội chính quy, giữ nghiêm kỷ luật trong Quân đội; các quy định của đơn vị, địa phương nơi đóng quân... và cụ thể hóa thành những nội dung sát thực, kết hợp tốt giữa hoạt động bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật với giáo dục đạo đức, lối sống và thực hiện chức trách, nhiệm vụ của các HSQ, BS. Chính vì vậy, cùng với quá trình trưởng thành của Quân đội, ý thức chấp hành kỷ luật của các quân nhân nói chung, của HSQ, BS nói riêng được giữ vững, trở thành bản chất tốt đẹp và là truyền thống quý báu của QĐND Việt Nam. Hầu hết HSQ, BS trong Quân đội luôn vững vàng, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; tích cực đấu tranh với những âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, góp phần làm cho công tác quản lý, duy trì kỷ luật ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân những năm qua có sự chuyển biến rõ nét; tình hình vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật nhà nước có xu hướng giảm rõ rệt.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật cho HSQ, BS còn một số hạn chế nhất định, dẫn đến tình trạng vi phạm kỷ luật quân đội của HSQ, BS còn diễn ra, cá biệt có trường hợp vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, vi phạm pháp luật. Những hạn chế này có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Vai trò của lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong công tác giáo dục, tổ chức thực hiện chấp hành kỷ luật chưa thường xuyên, liên tục và thiếu kiên quyết, nhất là việc nâng cao hiểu biết về pháp luật và kỷ luật quân đội cho HSQ, BS. Mặt khác, năng lực tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, trình độ quản lý của một số cán bộ quản lý, chỉ huy còn hạn chế; một số cán bộ chưa thật sự gương mẫu khi thực hiện nhiệm vụ; điều kiện, vật chất còn khó khăn ảnh hưởng đến việc giáo dục ý thức chấp hành kỷ luật cho HSQ, BS.
Trong giai đoạn hiện nay, Đại hội XIII của Đảng chủ trương xây dựng QĐND Việt Nam theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”; có tổ chức hợp lý, cân đối, gọn và mạnh; có kỷ luật chặt chẽ, trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiến đấu cao nhằm bảo đảm cho Quân đội luôn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi tình huống; phấn đấu đến năm 2030 xây dựng QĐND Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Để hiện thực hóa chủ trương và mục tiêu này, một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là phải bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật cho đội ngũ HSQ, BS, coi đây là vấn đề có tính cơ bản và cấp thiết. Theo đó, cần thực hiện đầy đủ các biện pháp tác động tổng thể đến nhận thức, tình cảm, niềm tin và ý thức chấp hành kỷ luật của mỗi quân nhân, biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục, tự ý thức:
Một là, nâng cao nhận thức và phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng trong bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật cho HSQ, BS
Đây là giải pháp cơ bản, chỉ đạo xuyên suốt và giữ vai trò quyết định đến quá trình bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật cho HSQ, BS trong Quân đội ta hiện nay. Theo đó, trước hết, cần làm cho mọi tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức đoàn và tổ chức Hội đồng quân nhân, mọi lực lượng ở từng đơn vị trong toàn quân có nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; nâng cao nhận thức của các lực lượng về Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật quân đội, các quy định như: Chỉ thị 37/CT-ĐUQSTW của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương); Chỉ thị số 85/CT của Tổng Tham mưu trưởng về xây dựng chính quy Quân đội; Điều lệnh quản lý bộ đội; Điều lệnh đội ngũ; Chỉ thị số 04/CT-BQP về việc tăng cường quản lý, giáo dục chấp hành kỷ luật, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm pháp luật nhà nước và kỷ luật quân đội; Chỉ thị số 91/CT-BQP ngày 08-10-2015 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về tăng cường quản lý, giáo dục, chấp hành kỷ luật trong QĐND Việt Nam; Thông tư số 192/2016/TT-BQP ngày 26-11-2016 về việc quy định áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục, thời hiệu, thời hạn và thẩm quyền xử lý kỷ luật trong Bộ Quốc phòng; v.v.. Cần làm cho các lực lượng trong đơn vị hiểu rõ bản chất của pháp luật; bản chất nghiêm minh, nội dung, yêu cầu kỷ luật quân đội và các quy định của đơn vị; vai trò và ý nghĩa quan trọng của việc chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật, các quy chế, quy định đối với nhiệm vụ giáo dục và bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật cho HSQ, BS.
Cũng cần làm cho các tổ chức, các lực lượng trong đơn vị thấy rõ: ý thức chấp hành kỷ luật của HSQ, BS không thể là một quá trình hoàn toàn “tự nhiên”, tự bản thân mỗi người có được; hoạt động bồi dưỡng ý thức kỷ luật cho HSQ, BS không thể bằng phương pháp áp đặt, mà phải tuân thủ những quy luật hình thành và phát triển của nó. Trên cơ sở đó, mọi lực lượng nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của ý thức chấp hành kỷ luật, cũng như phát huy tốt trách nhiệm trong bồi dưỡng ý thức kỷ luật cho HSQ, BS.
Hai là, xác định đúng nội dung, sử dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp bồi dưỡng ý thức kỷ luật cho HSQ, BS
Trong chương trình, nội dung giáo dục cần tập trung bồi dưỡng cho HSQ, BS những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng của giai cấp công nhân; đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; yêu cầu xây dựng đơn vị chính quy, tiên tiến, mẫu mực. Bồi dưỡng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, quyền hạn và nghĩa vụ của HSQ, BS; các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, của Quân đội và đơn vị; trách nhiệm của HSQ, BS trong thực hiện nhiệm vụ, trong chấp hành kỷ luật và các quy định của đơn vị, quy định của các tổ chức đảng, đoàn, hội đồng quân nhân; âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, tình hình kinh tế, chính trị của đất nước, tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường đối với duy trì và chấp hành kỷ luật; con đường, biện pháp tự rèn luyện, tự bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật; v.v..
Kế thừa và phát huy hiệu quả những hình thức bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật đang tiến hành, đồng thời tiếp tục đổi mới, cải tiến hình thức cho phù hợp với đặc điểm của HSQ, BS ở từng loại hình đơn vị. Trong đó, cần tập trung vào một số hình thức cụ thể như: kết hợp trang bị kiến thức với định hướng tư tưởng, hành động, nêu gương “người tốt, việc tốt”; cổ vũ và nhân rộng những điển hình tiên tiến trong huấn luyện, chấp hành kỷ luật giảng đường, thao trường; bản thân mỗi cán bộ quản lý là tấm gương trong chấp hành quy chế huấn luyện để định hướng, nêu gương cho HSQ, BS trong chấp hành kỷ luật. Bên cạnh đó, trong quá trình quản lý HSQ, BS, cần đi sâu, tập trung quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng, các mối quan hệ, mức độ tu dưỡng của từng cá nhân, thực trạng chấp hành kỷ luật của đơn vị để xác định những nội dung cần tập trung quản lý và các hình thức, biện pháp duy trì nền nếp trong những thời điểm cụ thể. Chủ động phối hợp với địa phương, gia đình HSQ, BS để nắm chắc diễn biến tư tưởng, tâm tư, tình cảm, có biện pháp động viên, giáo dục kịp thời, phù hợp.
Ba là, thường xuyên chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần cho HSQ, BS
Kinh nghiệm thực tiễn ở các đơn vị cho thấy, nếu duy trì nghiêm kỷ luật, đồng thời quan tâm chăm lo chu đáo đời sống vật chất, tinh thần cho HSQ, BS, sẽ làm cho ý thức tự giác, thói quen chấp hành kỷ luật của họ nhanh chóng hình thành và phát triển vững chắc. Ngược lại, nếu duy trì kỷ luật lỏng lẻo, thiếu quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần hoặc chỉ nhấn mạnh một mặt đều làm cho chất lượng bồi dưỡng ý thức kỷ luật thấp, ý thức tự giác chấp hành kỷ luật không cao, có thể xảy ra vi phạm kỷ luật. Do vậy, người lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị cần thường xuyên bảo đảm đầy đủ các chế độ, tiêu chuẩn quy định và những điều kiện phục vụ cho nhiệm vụ học tập, rèn luyện, sinh hoạt hằng ngày của HSQ, BS. Các chế độ, tiêu chuẩn về ăn, mặc, ở, khám chữa bệnh... phải được quản lý, tổ chức đảm bảo đầy đủ. Đồng thời, thực hiện tốt chế độ dân chủ công khai về kinh tế, tài chính và các quyền lợi được hưởng, giải đáp kịp thời những thắc mắc của HSQ, BS.
Tổ chức chu đáo phong trào tăng gia sản xuất, không ngừng cải thiện nâng cao đời sống, sử dụng hợp lý quỹ vốn do bộ đội làm ra, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Quản lý chặt chẽ mọi cơ sở vật chất của đơn vị, đồng thời chủ động khắc phục khó khăn, củng cố và xây dựng các công trình cũng như mua sắm thêm trang thiết bị mới phục vụ ngày càng tốt hơn cho nhiệm vụ học tập, rèn luyện và sinh hoạt của HSQ, BS. Bên cạnh đó, cần chú trọng xây dựng, củng cố các mối quan hệ đoàn kết thống nhất cao trong đơn vị; tổ chức duy trì đầy đủ, chu đáo, có chất lượng các hoạt động văn hóa tinh thần; xây dựng đơn vị luôn có bầu không khí chan hòa, tình cảm, dân chủ, cởi mở, mọi người sống chân thực, quan tâm chăm lo giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, chấp hành nghiêm kỷ luật. Tổ chức chu đáo các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí lành mạnh phù hợp với lứa tuổi, lôi cuốn đông đảo HSQ, BS tham gia, nhất là trong những ngày nghỉ, giờ nghỉ.
Bốn là, tăng cường giáo dục, phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác cho HSQ, BS trong tự bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật
Thực tiễn bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật cho HSQ, BS đã khẳng định, hiệu quả của hoạt động này chỉ có thể đạt được nếu đối tượng bồi dưỡng thực sự có ý chí, quyết tâm phấn đấu, tích cực, tự giác trong bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật cho bản thân. HSQ, BS phải hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của kỷ luật, các kiến thức về kỷ luật, trên cở sở đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mình trong tự bồi dưỡng, hoàn thiện lối sống chấp hành pháp luật, kỷ luật. Thực chất của hoạt động này là tác động vào ý thức, tình cảm cho HSQ, BS, để xây dựng lòng tin vào kỷ luật và khả năng tự bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật của mỗi người; trang bị những kiến thức kỷ năng, kỹ xảo cần thiết để họ có thể thực hiện được tất cả các yêu cầu của kỷ luật.
Cần kết hợp chặt chẽ chương trình, nội dung giáo dục chính trị cơ bản của kế hoạch huấn luyện với bồi dưỡng kỷ luật. Thông qua sinh hoạt của các tổ chức đảng, đơn vị, đặc biệt là cấp ủy đảng, tổ chức chỉ huy, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ chí Minh, hội đồng quân nhân ở từng đơn vị để giáo dục, quán triệt, động viên HSQ, BS, xây dựng động cơ, tinh thần trách nhiệm trong tự bồi dưỡng, học tập, rèn luyện đúng đắn và thường xuyên nâng cao trách nhiệm tự bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật. Trên cơ sở đó, mỗi HSQ, BS tự xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho mình, hướng vào xây dựng phẩm chất, nhân cách người chiến sĩ cách mạng. Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị cần thực hiện tốt vai trò hướng dẫn, giúp đỡ HSQ, BS xây dựng nội dung, kế hoạch, biện pháp cụ thể tự bồi dưỡng ý thức chấp hành kỷ luật; đồng thời, thường xuyên bám sát việc thực hiện kế hoạch của các HSQ, BS để biểu dương, uốn nắn, rút kinh nghiệm kịp thời.
__________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2021
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.483.
Nguồn: ThS NGUYỄN VĂN NĂM
NCS Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh