Thứ Ba, 25 tháng 7, 2023

BÁC HỒ VỚI THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ

 Kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2023)

Cuộc Hội thảo khoa học quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh với chủ đề “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italy” diễn ra gần đây nhất vào ngày 18-4-2023 tại Roma, Italy. Trước đó, ngày 14-5-2022, tại Ấn Độ có Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” tổ chức ở thành phố Kolkata. Tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” được tổ chức tại thành phố New York, Mỹ. Các hội thảo đều khẳng định ở Hồ Chí Minh tỏa sáng một giá trị nhân văn mới mẻ, tất cả vì con người nên rất đề cao và coi trọng tính người.
Trong “Thư gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc” (17-7-1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù... Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh”.
Tiếp đó, Người nhắn nhủ đồng bào: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”. Trên tinh thần tương thân tương ái, Người vận động đồng bào giúp đỡ thương binh và “xung phong” trước, góp chiếc áo lụa, một tháng lương, tiền ăn một bữa của Người và của nhân viên Phủ Chủ tịch, tổng cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127 đồng).
Ngày 15-7-1948, Bác ra “Lời kêu gọi nhân ngày 27-7-1948” ghi nhận công ơn của thương binh, liệt sĩ với Tổ quốc: “Khi nạn ngoại xâm ào ạt đến, nó đến như một trận lụt to. Nó đe dọa tràn ngập cả non sông Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh tài sản, chìm đắm cả bố, mẹ, vợ, con, dân ta. Trước cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta dũng cảm xông ra mặt trận. Họ quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững, để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào”.
Nỗi đau của Bác hòa cùng nỗi đau của những người thân các liệt sĩ: “... Bố mẹ họ đã mất một người con yêu quý. Vợ trẻ thơ trở nên bà hóa. Con dại trở nên bồ côi. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ”. Nỗi xót xa của Bác cũng là nỗi xót xa chung của tất cả: “...Tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được. Và những tử sĩ sẽ không thể tái sinh”. Đó không còn là ngôn ngữ thông thường mà là ngôn từ của tình thương và nỗi đau. Mà tình thương của Bác bao giờ cũng vậy, luôn đi cùng hành động, gắn với hành động.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, trước tình hình thiếu thuốc men, Người nói với ngành quân y: “Tôi thay mặt Chính phủ mà hứa rằng: Người nào hoặc bộ phận nào tìm được, chế tạo được một thứ thuốc mới có hiệu quả hoặc nghĩ ra cách gì mới làm cho việc y tế tiến bộ mau chóng hơn thì sẽ được trọng thưởng”. Ngoài vấn đề thuốc men, Bác cũng rất chú ý đến vấn đề ăn uống. Thăm cơ sở điều trị nào, Bác cũng kiểm tra nhà bếp, theo dõi anh em ăn có ngon miệng không.
Năm 1955, Quân y viện 108 (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) mới về Hà Nội, nhiều thương binh, bệnh binh vốn đã ốm yếu lại ăn uống thiếu chất, Bác nhắc đồng chí chính ủy phải chú ý công tác dinh dưỡng. Người nhắc nhở các bác sĩ phải chú ý hơn đến tinh thần người bệnh: “Vì sự kích thích trong chiến trận, vì sự sinh hoạt khắc khổ trong Quân đội, vì sự tu dưỡng chưa đầy đủ, hoặc vì những điều kiện khổ sở, một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, đối với thầy thuốc không được nhã nhặn. Gặp những ca như vậy, chúng ta nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động cảm hóa họ”. Chỉ có sự rất mực thấu hiểu, thấu cảm và thông cảm để đồng cảm với thương binh, bệnh binh mới có sự quan tâm như vậy. Thế nên không ai ngạc nhiên khi Bác yêu cầu chuyển chiếc điều hòa nhiệt độ trong phòng mình để gắn cho một trại điều dưỡng thương binh nặng...
Vượt lên sự thương yêu, Bác còn rất trân trọng, tin tưởng anh em thương binh, bệnh binh!
Ngày 13-12-2006, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Công ước quốc tế về các quyền của người khuyết tật với nội dung cơ bản là nhìn nhận lại vị thế của người khuyết tật như là một vấn đề về quyền con người, coi tình trạng khuyết tật là vấn đề xã hội chứ không phải là vấn đề y tế. Nghĩa là, chuyển cái nhìn từ coi vấn đề về người khuyết tật là vấn đề nhân đạo sang vấn đề nhân quyền, từ cái nhìn yêu thương, ngậm ngùi sang cái nhìn chia sẻ, kính trọng, tôn trọng phẩm giá nhân cách, coi người khuyết tật như một công dân bình thường với đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ.
Tất cả những điều ấy đã được Bác Hồ nói một cách ngắn gọn nhất, cô đọng, giản dị mà dễ hiểu nhất về anh em thương binh trong 4 chữ: “Tàn nhưng không phế”. Có thể là tàn tật, khiếm khuyết về thân thể nhưng không khiếm khuyết, tàn tật về tâm hồn, họ vẫn là người bình thường với đủ các yếu tố sinh hoạt cơ bản: Ăn, ở, đi lại, học tập, có nghĩa vụ, quyền hạn... Như vậy, tư tưởng của Người đi trước thời đại hơn nửa thế kỷ!
Với quan niệm thương binh, bệnh binh vẫn là những công dân có ích cho xã hội, Người thường khuyên họ phải năng lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất, cũng là để nâng cao sức khỏe: “Anh em thương binh sẽ tùy sức mà làm những công việc nhẹ, như học may vá, đan lát, hớt tóc hoặc giúp việc phòng giấy, giúp việc bình dân học vụ trong làng, v.v..”. Người nhắc anh em thương binh, bệnh binh nên thường xuyên luyện tập thể dục-thể thao, bởi tay chân tuy bị thương, nếu chịu khó luyện tập thì sẽ không mang tật, hoặc nếu mang tật thì cũng nhẹ.
Đặc biệt, Người căn dặn về cách ứng xử: “Phải hòa mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân; phải tránh tâm lý “công thần”, coi thường lao động, coi thường kỷ luật. Chớ bi quan chán nản. Phải luôn cố gắng”. Như vậy, Bác đã coi thương binh, bệnh binh bình đẳng như mọi công dân khác. Sống, lao động như dân, không làm phiền dân. Hai chữ “công thần” được dùng đúng nghĩa, đúng đối tượng, đúng bối cảnh, văn cảnh đã phát huy cao nhất giá trị biểu cảm, có tác dụng giáo dục sâu sắc: Không được ỷ thế này nọ để đòi hỏi quyền lợi riêng... Bác nhắc: Chớ bi quan chán nản. Bởi nếu bi quan là tự mình hạ thấp mình. Và phải luôn cố gắng. Ai cũng cố gắng lao động nhưng với thương binh, bệnh binh phải cố gắng gấp nhiều lần.
Sau này, trong bản thảo “Di chúc” Bác viết tháng 5-1968, Người căn dặn Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách chăm lo nơi ăn chốn ở, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp để “những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu” có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đúng với đạo lý “ăn quả nhớ người trồng cây”, Bác dặn mỗi địa phương cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, cũng là cách để giáo dục tinh thần yêu nước. Chính quyền các cấp phải giúp đỡ thân nhân các gia đình liệt sĩ, thương binh một cách thiết thực nhất.
Đúng là một tấm lòng “chỉ lo muôn mối như lòng mẹ” (“Bác ơi”-Tố Hữu). Lời Bác trở thành lời nước non là vì vậy! Đáp lại tấm lòng của một người Cha, các thương binh, bệnh binh luôn nghe lời Bác, hướng về Bác, làm theo lời Bác dặn. Một trong những người tiêu biểu là Anh hùng LLVT nhân dân Lê Duy Ứng, ông bị hỏng mắt mà vẫn sáng tác hơn 3.000 bức tranh, tượng điêu khắc về Bác. Bức tranh “Bác Hồ” được vẽ bằng máu từ đôi mắt bị thương của họa sĩ được xem là biểu tượng của niềm tin chiến thắng, sức sống mãnh liệt của cách mạng Việt Nam, dân tộc Việt Nam và tình cảm của người Việt Nam với lãnh tụ kính yêu.
PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ - Báo QĐND
Ảnh 1: Bác Hồ viếng các anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Mai Dịch - Hà Nội, ngày 2-9-1955. Ảnh tư liệu
Ảnh 2: Họa sĩ thương binh Lê Duy Ứng bên bức tranh khắc họa hình ảnh Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: PHÚ SƠN

LÒNG NHÂN ÁI GIỮA THỜI ĐẠN LẠC


Năm 1965, Đội nữ du kích Củ Chi được thành lập. Bảy Mô trở thành Chỉ huy trưởng đầu tiên của Trung đội này.
Ngày 8-1-1966, quân Mỹ mở cuộc hành quân đại quy mô mang tên Crimp đánh vào Củ Chi. Bảy Mô được giao nhiệm vụ chỉ huy đội nữ du kích giữ trận địa Nhuận Đức.
Một buổi sáng sớm trong chuỗi ngày căng thẳng này, một tiểu đoàn Mỹ đánh thẳng vào trận địa giăng sẵn của Bảy Mô. Phục kích đến 2 giờ 30 phút chiều, bỗng từ mũi thước ngắm khẩu s*ng, Bảy Mô trông thấy lần lượt 4 người lính Mỹ bò ra từ bụi rậm. Họ trải một tấm vải dù ngay vị trí quả mìn gài của Bảy Mô. 4 người ngồi 4 góc khui đồ hộp đặt giữa tấm khăn rồi lấy thư, hình ảnh vợ con ra xem. 4 người lính Mỹ ôm nhau khóc ròng rồi đốt các lá thư và hình ảnh vợ con.
Lúc đó chiến sỹ liên lạc của Bảy Mô rất nôn nóng lấy danh hiệu "Dũng sỹ diệt Mỹ" nên đòi bắn. Bảy Mô kiên quyết không cho.
Nhớ lại chi tiết này, bà Bảy Mô kể: "Tôi đoán 4 anh lính Mỹ đó lấy hình ảnh vợ con và thư từ của những người vừa chết trong trận đánh buổi sáng. Có thể những người chết là bạn thân của họ. Tôi nghĩ, họ cũng có lương tâm như mình nhưng do bị ép buộc cầm súng đi xâm lược. Lúc đó, họ không cầm súnng bắn vào mình. Vì vậy, tôi không thể bắn".
4 người lính Mỹ khóc chán chê rồi rút đi, để lại đống đồ hộp. Một trong số đó là Trung úy John Penycate. Ám ảnh chiến tranh và cái chết, John Penycate đã ghi chép vào sổ tay cá nhân mẩu chuyện đó như ghi nhận một ân nghĩa đối với người nữ du kích phía bên kia chiến tuyến. Từ câu chuyện này, John Penycate nung nấu tư tưởng chống đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của quân đội Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Câu chuyện John Penycate và 3 anh lính Mỹ được quân du kích tha mạng lan khắp các doanh trại Sư đoàn 1 Mỹ đã góp phần tác động tâm lý bãi chiến trong sư đoàn.
John Penycate đã nhờ người gửi vào căn cứ một thùng quà cho Bảy Mô xem như đó là nghĩa cử tri ân
Sau này, 1 trong 4 lính Mỹ ấy lặn lội sang Việt Nam để tìm bà Mô và hỏi: “Bà thích món quà gì tôi sẵn sàng tặng”. Lúc đó, bà Mô đang bệnh nặng nên cũng cần nhiều thứ nhưng nghĩ đời làm du kích, bà chỉ mong nhất là hòa bình thì nay đã có. Vì vậy, bà trả lời:“Mong đừng ai xâm chiếm đất nước tôi. Nếu đất nước tôi bị xâm chiếm lần nữa, tôi quyết đánh”.
(Sưu tầm)
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'BÀ VÕ THỊ MÃ BẮT GẶP NHÓM 4 LÍNH MỸ LÂY THƯ, HÌNH ẢNH Vợ CON RA XEM, SAU ĐÓ ԔM NHAU KHäC RỒI ĐỐT HẾT MỌI THỨ VÌ NGH MÌNH KHÓ LÒNG QUAY VỀ. DÙ ĐỒNG ĐỘI HÃI THÚC: "BẮ.N ĐI" NHƯNG BÀ VẪN KIÊN QUYẾT: "KHÔNG THẤY CHÚNG ĐANG KHÓC À? TAO THA".'

PHẢI BIẾT TRỌNG DANH DỰ


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần lưu ý, muốn làm người đảng viên, người cán bộ, trước hết phải là một con người chân chính, một con người biết trọng liêm sỉ, trọng danh dự.
1. Dư luận nhân dân đánh giá rất cao quyết tâm chính trị và kết quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước được khởi xướng bởi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Những vụ đại án được đưa ra xét xử những năm qua và gần đây càng củng cố thêm quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ của Đảng ta.
Điều đáng bàn ở đây là mỗi khi một vụ án được đưa ra xét xử, chúng ta lại có dịp suy ngẫm và đúc rút những bài học trong công tác cán bộ và cả trong cuộc sống nhân sinh. Đứng trước hội đồng xét xử, những người vi phạm mới thực sự thức tỉnh, mới thực sự thấu hiểu được những giá trị lớn lao của danh dự, của đạo đức và nhân phẩm con người. Sau khi tuyên án, có thể sẽ phải chịu cảnh những năm tháng trong nhà tù, mất quyền công dân, con người ta mới thực sự thấm thía một sự thật: Bao nhiêu tiền bạc, nhà nọ, xe kia... cũng đều trở nên vô nghĩa. Và cái mất lớn nhất chính là danh dự, như bát nước đã đổ đi không bao giờ lấy lại được nữa.
Đó cũng chính là lúc những người từng là cán bộ, đảng viên và tất cả chúng ta mới thực sự thấm thía lời nhắc nhở của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, rằng: "Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất!".
Hiểu cặn kẽ hơn, danh dự là một thành tố thuộc phạm trù đạo đức; có ý nghĩa nền tảng định hướng con người lựa chọn làm điều tốt, điều thiện; ngăn ngừa làm điều xấu, điều ác. Trong văn hóa lịch sử nhân loại, có không ít cộng đồng và những cá nhân đã trở thành minh chứng sống động, khẳng định giá trị của danh dự, khi sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để bảo vệ danh dự, làm tất cả không tiếc điều gì chỉ để giữ gìn danh dự bản thân, danh dự gia đình, dòng họ, danh dự quốc gia... Danh dự là biểu hiện cao nhất của liêm sỉ. Cán bộ dù giữ chức vụ to hay nhỏ, dù ở cấp trung ương hay cấp cơ sở, trước hết phải là người có danh dự.
2. Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cấp bách là phải triển khai mạnh mẽ hơn nữa, hiệu quả hơn nữa công tác xây dựng Đảng về đạo đức; trong đó, lấy con người làm trung tâm, coi xây dựng văn hóa trọng danh dự làm nòng cốt.
Để làm được điều đó, các cấp ủy tổ chức Đảng, nhất là người đứng đầu các cấp phải thực sự quan tâm, tâm huyết, gương mẫu, đi đầu, trở thành “nhạc trưởng” huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và nhân dân. Xây dựng Đảng về đạo đức phải gắn với xây dựng một xã hội văn hóa, văn minh, nơi đa số con người biết trân quý những giá trị cốt lõi chân - thiện - mỹ, tự giác điều chỉnh hành vi, tự soi, tự sửa hằng ngày để tốt hơn lên mỗi ngày. Ở đó, con người có văn hóa xấu hổ, vì nhờ biết xấu hổ mà có danh dự, từ có danh dự mà trong tiềm thức đã tự giác ý thức không dám nói và làm những điều sai trái.
Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Lời dạy của Bác vừa nhắc nhở chúng ta rằng rèn luyện để trở thành người có danh dự, trọng danh dự không dễ, thậm chí rất khó khăn, gian khổ; nhưng thành quả thì có giá trị và ý nghĩa to lớn, ít nhất là không phải hối tiếc, ân hận.
Để có đủ năng lực, phẩm chất đương đầu và vượt lên được những cám dỗ của đồng tiền, xét cho cùng con người phải có cái gốc đạo đức vững chãi và một tâm thế không màng những thứ không thuộc về mình. Khả năng đó chỉ có được khi ngay từ đầu người đảng viên, người cán bộ làm việc phải nhằm giữ gìn danh dự cho bản thân và tổ chức; phải thực hiện đúng tinh thần “Dĩ công vi thượng”, nghĩa là đặt việc công lên trên hết, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, lợi ích của nhân dân, lên trên hết, trước hết. Đây là một trong những nội dung cốt lõi của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và cũng chính là "tấm áo giáp" rắn chắc bảo vệ thanh danh cán bộ, đảng viên trước những “viên đạn bọc đường”.
Dân gian có câu: “Gieo nhân nào thì gặt quả nấy”. Cách ngôn minh triết này đã được chiêm nghiệm, kiểm chứng ngàn đời, rất đáng để vận dụng. Lại có câu: Kẻ trí thì sợ “nhân”, người ngu thì sợ “quả” để dạy rằng, đừng đến khi nhận “quả” rồi mới biết sợ, mà phải biết sợ từ lúc gieo “nhân”, trên cơ sở đó mà lựa chọn đúng việc cần làm: Làm việc tốt, thực sự chí công, vô tư, quang minh, chính đại.
Xây dựng Đảng về đạo đức để có đội ngũ cán bộ thực sự trọng danh dự cần xuất phát từ mỗi cá nhân, nhưng phải đặt trong nỗ lực chung của cộng đồng, xã hội; phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, "chống" là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách./.
ST
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết '2 SAA C1 ሽEU XÂY DỰNG ĐẢNG TA THẬT SỰ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH "LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH"'

XÂY DỰNG, CỦNG CỐ TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN Ở NƯỚC NGOÀI TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

 

Trong công tác xây dựng Đảng, công tác đảng ngoài nước là một bộ phận hữu cơ, gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thông suốt của Trung ương Đảng. Trải qua hơn 60 năm hình thành và phát triển kể từ khi Ban Bí thư ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TW, “Về tổ chức đảng ngoài nước” vào ngày 31-3-1961, công tác đảng ngoài nước đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa(1).
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt”(2), theo đó tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là “sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng”(3) còn đảng viên là nhân tố cơ bản nhất, năng động nhất của tổ chức đảng. Vì thế, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu cao và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) đã xác định “đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng”(4), “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”(5). Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”, tiếp tục nhấn mạnh “cấp ủy cơ sở phải làm tốt công tác quản lý đảng viên”, “tăng cường công tác quản lý đảng viên ở ngoài nước và đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập, lao động”. Đây là biểu hiện sinh động về sự quan tâm của Trung ương đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ ở trong nước, mà cả ở ngoài nước.
Những dấu ấn nổi bật sau hơn ba năm hợp nhất
Triển khai Quyết định số 209-QĐ/TW, ngày 26-11-2019, của Bộ Chính trị, về hợp nhất Đảng bộ ngoài nước với Đảng bộ Bộ Ngoại giao, trong hơn ba năm qua, Đảng ủy Bộ Ngoại giao đã phát huy tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo công tác đảng ngoài nước phục vụ triển khai đường lối đối ngoại, trong đó công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên ở nước ngoài tiếp tục đạt nhiều kết quả quan trọng. Nhờ đó, hệ thống tổ chức đảng ngoài nước được giữ vững, không ngừng hoàn chỉnh và phát triển, đội ngũ đảng viên ở nước ngoài tiếp tục góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ nhất, công tác tham mưu cho Trung ương Đảng về công tác đảng ngoài nước tiếp tục được quan tâm, chú trọng. Qua các thời kỳ, Trung ương Đảng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về công tác đảng ngoài nước, tiêu biểu như Nghị quyết số 38-NQ/TW, ngày 16-5-1981, “Về tổ chức đảng ngoài nước”; Chỉ thị số 51-CT/TW, ngày 13-4-2005, “Về tăng cường công tác đảng ngoài nước trong tình hình mới”; Thông báo số 89-TB/TW, ngày 23-4-2012, “Về tổ chức đảng ngoài nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế”. Trên cơ sở những văn bản chỉ đạo của Trung ương Đảng và để tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong bối cảnh mới, Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao đã phối hợp với Đảng ủy Bộ Ngoại giao trình Ban Bí thư ban hành Quy định số 43-QĐ/TW, ngày 26-11-2021, “Về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở hoạt động ở nước ngoài trực thuộc Đảng ủy Bộ Ngoại giao” thay thế Quy định số 271-QĐ/TW, ngày 27-12-2014, “Về chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ cơ sở hoạt động ở nước ngoài trực thuộc Đảng ủy ngoài nước” và Quy định số 86-QĐ/TW, ngày 28-10-2022, “Về nhiệm vụ của đảng viên và công tác quản lý đảng viên ở nước ngoài” thay thế Quy định số 228-QĐ/TW, ngày 7-2-2014, “Về nhiệm vụ của đảng viên và công tác quản lý đảng viên ở nước ngoài”. Năm 2023, Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao phối hợp với Đảng ủy Bộ Ngoại giao triển khai Đề án trình Ban Bí thư ban hành Quy định về công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng, đảng viên ở nước ngoài. Công tác nghiên cứu tham mưu với những kết quả cụ thể đã và đang góp phần hoàn thiện hệ thống các văn bản về công tác đảng ngoài nước, bảo đảm xây dựng hệ thống tổ chức đảng ngoài nước vững mạnh, thực hiện đúng các nguyên tắc, quy định của Đảng.
Thứ hai, công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng được triển khai thực chất, hiệu quả. Đảng ủy Bộ Ngoại giao đã ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định về chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình đảng bộ, chi bộ trực thuộc nhằm tăng cường, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng; xây dựng hệ thống quy chế, hướng dẫn, biểu mẫu để chuẩn hóa quy trình công tác cấp ủy, công tác đảng viên, chuyển sinh hoạt đảng, phát triển đảng viên, phân công công tác, quản lý hồ sơ đảng viên, đánh giá, xếp loại, khen thưởng tổ chức đảng, đảng viên, tạo thuận lợi cho các tổ chức đảng ngoài nước thực hiện thống nhất nhiệm vụ. Các cấp ủy thường xuyên rà soát, đánh giá chất lượng, chấn chỉnh, củng cố từng loại hình tổ chức cơ sở đảng; chủ động sắp xếp mô hình tổ chức bảo đảm gọn, nhẹ, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị. Công tác xây dựng, củng cố, kiện toàn cấp ủy, ủy ban kiểm tra đảng ủy được thực hiện thường xuyên, kịp thời. Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho các đồng chí đại sứ, bí thư, cấp ủy đảng, cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác đảng ngoài nước được coi trọng. Qua đó, hệ thống tổ chức đảng ở ngoài nước được củng cố và phát triển cùng với sự phát triển của hệ thống các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.
Thời gian qua, Trung ương Đảng tiếp tục quan tâm tháo gỡ những vấn đề đặt ra trong triển khai công tác đảng ở ngoài nước. Ngày 27-12-2022, Ban Bí thư đã ban hành hướng dẫn về thí điểm sinh hoạt đảng trực tuyến ở đảng bộ cơ sở, chi bộ có tính chất đặc thù hoặc trong hoàn cảnh đặc biệt và sinh hoạt đảng theo tổ đảng ở chi bộ đông đảng viên. Đây là vấn đề đã được các tổ chức đảng ngoài nước kiến nghị qua nhiều nhiệm kỳ nhằm tạo thuận lợi và phù hợp với điều kiện hoạt động của các tổ chức đảng ngoài nước. Trên cơ sở hướng dẫn của Trung ương Đảng, tháng 4-2023, Đảng ủy Bộ Ngoại giao đã ban hành Hướng dẫn thí điểm sinh hoạt đảng trực tuyến ở đảng bộ cơ sở, chi bộ có tính chất đặc thù hoặc trong hoàn cảnh đặc biệt và sinh hoạt đảng theo tổ đảng ở chi bộ đông đảng viên, qua đó tạo thuận lợi cho các tổ chức đảng ngoài nước trong triển khai nhiệm vụ.
Thứ ba, việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở nước ngoài được quan tâm, chú trọng. Công tác xây dựng và quản lý đảng viên ở ngoài nước được xác định là nhiệm vụ trọng tâm với phương châm không để đảng viên nào khi ra nước ngoài không được tổ chức bố trí sinh hoạt đảng, quản lý và giao nhiệm vụ. Đảng ủy Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các cấp ủy trong nước tăng cường giáo dục, trang bị kiến thức cho đảng viên trước khi ra nước ngoài; thực hiện thủ tục chuyển sinh hoạt đảng ra ngoài nước; quản lý đảng viên đi đôi với quản lý nội dung, chất lượng đảng viên. Hầu hết đảng viên ra nước ngoài được bố trí sinh hoạt đảng trong các chi bộ, một số ít được bố trí sinh hoạt lẻ. Cấp ủy giao nhiệm vụ cụ thể cho đảng viên để phát huy vai trò nòng cốt tại cơ sở, gương mẫu chấp hành các quy định, quy chế, kỷ luật làm việc, học tập, lao động; chống các biểu hiện tiêu cực, vi phạm pháp luật của nước sở tại và giữ quan hệ với nhân dân nước sở tại và bạn bè quốc tế. Công tác bồi dưỡng, tạo nguồn, kết nạp đảng viên được các cấp ủy quan tâm chỉ đạo chặt chẽ, đúng quy trình, tiêu chuẩn. Các cấp ủy tập trung phát triển đảng viên là trí thức trẻ, lưu học sinh đạt thành tích học tập xuất sắc, tích cực tham gia các phong trào đoàn, hội, cộng đồng. Trung bình hằng năm kết nạp trên 400 quần chúng ưu tú vào Đảng. Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 31 (tháng 12-2021), Đảng bộ Bộ Ngoại giao đã thông qua Nghị quyết số 02/NQ-ĐUB, “Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên”, trong đó xác định nâng cao chất lượng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở ngoài nước là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, góp phần xây dựng ngành ngoại giao tiên phong, toàn diện, hiện đại. Theo kế hoạch, trong năm 2023, Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Ngoại giao sẽ ban hành Nghị quyết nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong Đảng bộ Bộ Ngoại giao, qua đó tiếp tục góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng trong toàn Đảng bộ.
Nhìn chung, đến nay, hệ thống tổ chức đảng ở ngoài nước phát huy tốt vai trò, phù hợp với điều kiện ở ngoài nước, giữ vững vai trò là hạt nhân chính trị, lãnh đạo cán bộ, đảng viên, quần chúng và tuyên truyền, vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, tôn trọng luật pháp và phong tục, tập quán nước sở tại, tham gia xây dựng và thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị của cơ quan đại diện, xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh. Cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong tại các cơ quan đại diện, đơn vị, trường học, trung tâm thương mại của người Việt Nam và các khu vực cư trú, góp phần xây dựng hình ảnh người Việt Nam ở nước sở tại, trong các phong trào vận động, tập hợp quần chúng, cộng đồng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau và phong trào hướng về quê hương, đất nước.
Những vấn đề đặt ra đối với công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở ngoài nước hiện nay
Cùng với quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, công tác xây dựng tổ chức đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở ngoài nước đứng trước những vấn đề mới, đòi hỏi phải xử lý thỏa đáng.
Một là, số lượng đảng viên, người Việt Nam ra nước ngoài ngày càng đông và đa dạng, với nhiều mục đích khác nhau, như công tác, học tập, lao động, đầu tư, kinh doanh, kết hôn, định cư, thăm thân, du lịch, chữa bệnh... Cán bộ, đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập, lao động góp phần làm cầu nối thúc đẩy và làm sâu sắc mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nếu như năm 1961, số lượng cán bộ, đảng viên của Việt Nam đi công tác, học tập mới ở 21 quốc gia thì đến nay, số lượng cán bộ, đảng viên của Việt Nam đi công tác, học tập ở nước ngoài đã trải rộng trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tuy nhiên, cán bộ, đảng viên Việt Nam ra nước ngoài không chỉ phát triển mạnh mẽ về quy mô và phạm vi lan tỏa, mà tỷ lệ biến động hằng năm lớn (gần 30%), trong khi hình thức ra nước ngoài đã thay đổi theo hướng chủ yếu đi đơn lẻ, không tổ chức thành đoàn, đội chặt chẽ như trước.
Hai là, vấn đề đảng viên có thêm quốc tịch nước ngoài. Một số đảng viên trẻ sau khi kết thúc học tập, làm việc, lao động ở nước ngoài xin ở lại hoặc kết hôn với người nước ngoài và định cư lâu dài ở nước ngoài. Một số lượng thế hệ thứ hai, thứ ba trong cộng đồng có quốc tịch nước ngoài có nguyện vọng phấn đấu vào Đảng. Một số đảng viên nhiều tuổi mang hai quốc tịch, có vai trò, vị trí trong cộng đồng, là nòng cốt trong công tác vận động, tập hợp quần chúng vẫn tha thiết gắn bó với Đảng, quê hương, đất nước, mong muốn được tiếp tục giữ danh hiệu đảng viên để tiếp tục tham gia đóng góp xây dựng quê hương, đất nước.
Ba là, một số vấn đề nảy sinh trong công tác đảng ngoài nước, như mô hình tổ chức đảng ở những đảng bộ lớn, địa bàn quan trọng, đông đảng viên, phạm vi rộng, đặt ra yêu cầu giao quyền cấp trên cơ sở; việc theo dõi, quản lý, đánh giá chất lượng và nắm bắt diễn biến tư tưởng khối đảng viên ngoài cơ quan đại diện, đảng viên sinh hoạt lẻ... cần tiếp tục được nghiên cứu, tham mưu có hướng dẫn, quy định cụ thể để vừa bảo đảm công tác quản lý, bảo vệ chính trị nội bộ, vừa tạo thuận lợi cho tổ chức đảng và đảng viên hoạt động phù hợp với điều kiện ở ngoài nước và xu thế hội nhập quốc tế.
Bốn là, đại dịch COVID-19 và cuộc xung đột Nga - U-crai-na đã bộc lộ rõ hơn những trở ngại, đặt ra yêu cầu mới phải triển khai linh hoạt và chủ động thích ứng hơn nữa với tình hình biến chuyển hết sức nhanh chóng của thế giới. Quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang đến cả những cơ hội, thuận lợi, song cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đối với công tác xây dựng Đảng ở trong nước nói chung và công tác xây dựng tổ chức đảng và đảng viên ở nước ngoài nói riêng. Những điều này tác động mạnh mẽ và đặt ra những yêu cầu mới không chỉ đối với các tổ chức đảng, mà còn đối với đội ngũ cán bộ làm công tác đảng của Bộ Ngoại giao, nhất là đội ngũ cấp ủy viên cơ sở và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ngoài.
Một số giải pháp xây dựng, củng cố tổ chức đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở ngoài nước trong bối cảnh mới
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, kể cả trên lĩnh vực tư tưởng, ý thức hệ, xung đột cục bộ, nguy cơ an ninh dự kiến sẽ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức với tính chất phức tạp, gay gắt hơn trước. Các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, như dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh mạng... tiếp tục gia tăng. Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn và khát vọng nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Phát huy tinh thần ngoại giao phụng sự đất nước, ngành ngoại giao sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy và hành động với quyết tâm xây dựng ngành ngoại giao thực sự trong sạch, vững mạnh, toàn diện, hiện đại và chuyên nghiệp, quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại được đề ra tại Đại hội XIII của Đảng. Với mục tiêu để công tác đảng ngoài nước tiếp tục góp phần quan trọng thúc đẩy đường lối đối ngoại, xây dựng, củng cố tổ chức đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở nước ngoài là nhiệm vụ hàng đầu, vừa cấp bách, vừa thường xuyên, lâu dài, vừa đặc thù, đồng thời coi trọng phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và các cấp ủy địa phương có đảng viên, quần chúng đang công tác, lao động, học tập ở nước ngoài, trong thời gian tới, Đảng ủy Bộ Ngoại giao sẽ tập trung vào một số giải pháp chính sau:
Thứ nhất, tiếp tục tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cơ quan liên quan hoàn thiện mô hình tổ chức của các loại hình tổ chức cơ sở đảng. Cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn những cơ chế đặc thù, tạo điều kiện thuận lợi lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức đảng, đảng viên ở ngoài nước. Đổi mới phương thức lãnh đạo, hoàn thiện và chuẩn hóa lề lối, quy trình công tác, quy trình quản lý tổ chức đảng và đảng viên. Kiện toàn, sắp xếp hệ thống tổ chức đảng ngoài nước bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở và phù hợp với xu thế phát triển và tiến trình hội nhập quốc tế. Tập trung nghiên cứu mô hình tổ chức đảng đối với những đảng bộ có nhiệm vụ chính trị quan trọng, quy mô lớn, số lượng đảng viên đông, nhiều tổ chức đảng trực thuộc, hoạt động trên phạm vi rộng.
Thứ hai, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở nước ngoài, tạo sự chuyển biến về chất lượng hoạt động của từng loại hình tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, bảo đảm giữ vững vai trò là hạt nhân chính trị, lãnh đạo cán bộ, đảng viên, quần chúng thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng và nhiệm vụ chính trị, triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đảng ở ngoài nước trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc xây dựng Đảng, quy định của Điều lệ Đảng, nhưng phải linh hoạt, sáng tạo, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, cách thức quản lý đảng viên phù hợp điều kiện hoạt động ở ngoài nước. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cấp trên đối với cơ sở, tập trung củng cố những đơn vị trọng điểm, những cơ sở đảng yếu, kém. Nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng bộ, chi bộ, sinh hoạt cấp ủy theo hướng đơn giản về hình thức, sâu sắc, thiết thực về nội dung, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, tính đặc thù. Nghiên cứu vận dụng hình thức sinh hoạt trực tuyến phù hợp, bảo đảm theo quy định và hướng dẫn của Trung ương. Nâng cao chất lượng công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại, khen thưởng tổ chức đảng và đảng viên hằng năm bảo đảm khách quan, toàn diện, thực chất trên cơ sở thực hiện đánh giá đa chiều, chặt chẽ, công khai gắn với việc thực hiện nhiệm vụ của cá nhân, tập thể.
Thứ ba, tăng cường đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục, nghiên cứu phát triển, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng và công tác đối ngoại. Tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt các nghị quyết của Trung ương, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Kịp thời cung cấp thông tin chính thống cho đảng viên bằng các biện pháp, cách thức phù hợp với địa bàn qua đó, tạo thêm đồng thuận, nhất trí, giữ vững bản lĩnh, niềm tin của cán bộ, đảng viên và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Chủ động định hướng tư tưởng cho quần chúng, cộng đồng trước những luận điệu tuyên truyền sai lệch của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật nội bộ của Đảng. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ động ngăn chặn, phòng ngừa, đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gắn với triển khai Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy. Đối với cán bộ, đảng viên hoạt động ở nước ngoài, xa Tổ quốc, hoạt động độc lập, càng cần phải nhận thức đúng, kiên định lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng “tự miễn dịch”, “tự đề kháng” cao, tránh để các thế lực thù địch, phản động lôi kéo, tác động.
Thứ tư, chú trọng nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng. Các cấp ủy ngoài nước xác định phát triển đảng viên là một nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng, củng cố tổ chức đảng ngoài nước. Tiến hành rà soát, đối khớp danh sách đảng viên giữa các tổ chức đảng ở ngoài nước với các cơ quan, địa phương trong nước. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý đảng viên trong cùng hệ thống Đảng, từng bước số hóa bảo đảm thuận tiện cho việc chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên và quản lý hồ sơ đảng viên.
Thứ năm, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”. Các tổ chức đảng và đảng viên ngành ngoại giao đóng vai trò nòng cốt, là hạt nhân lãnh đạo bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ đối ngoại của các cấp ủy và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Trong môi trường hoạt động đa dạng và phức tạp, thì ý thức “tự kiểm tra”, “tự giám sát”, “tự tu dưỡng”, “tự soi”, “tự sửa” của các cán bộ, đảng viên là hết sức quan trọng. Chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, với lợi ích của dân tộc, có trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị vững vàng, uy tín, hội đủ tố chất “vừa hồng, vừa chuyên”, thể hiện được bản lĩnh, đạo đức, cốt cách ngoại giao Hồ Chí Minh như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Một nhà ngoại giao, một nhà hoạt động đối ngoại giỏi trước hết phải là một nhà chính trị giỏi, luôn lấy lợi ích của quốc gia - dân tộc, của chế độ làm kim chỉ nam trong hành động. Các nhà ngoại giao, các nhà hoạt động đối ngoại cần luôn ghi nhớ rằng, phía sau mình là Đảng, là Đất nước, là Nhân dân, phải tự tin, vững vàng, kiên định và khôn khéo, mưu lược”(5).
Chăm lo xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, nâng cao năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng; chú ý lựa chọn những đảng viên có tâm huyết, tinh thần trách nhiệm cao, có khả năng đoàn kết, tập hợp quần chúng, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để lãnh đạo xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Thực hiện thống nhất mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là người đứng đầu cơ quan đại diện tạo điều kiện gắn kết công tác xây dựng Đảng và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị đối ngoại.
Thứ sáu, phải nhận thức đúng công tác xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở ngoài nước là một bộ phận hữu cơ, gắn bó với hệ thống tổ chức và công tác xây dựng Đảng trong toàn Đảng. Tại Hội nghị tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao chất lượng công tác đảng ngoài nước diễn ra vào ngày 16-12-2021 trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 31, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư nhấn mạnh: “Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng và quản lý đảng viên ở ngoài nước không chỉ là trách nhiệm của Đảng bộ Bộ Ngoại giao và các cấp ủy, tổ chức đảng ở ngoài nước, mà còn là trách nhiệm của các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các cấp ủy địa phương có đảng viên đang công tác, lao động, học tập ở nước ngoài”(6). Do đó, cần tăng cường và phát huy hơn nữa sự phối hợp, tham gia hiệu quả của các cơ quan, ban, ngành, địa phương để nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở ngoài nước thời gian tới.
Với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương, sự nỗ lực phấn đấu của đội ngũ cấp ủy, cán bộ, đảng viên ở ngoài nước, công tác xây dựng, củng cố tổ chức Đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở ngoài nước chắc chắn sẽ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác xây dựng Đảng và công tác đối ngoại góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, vì khát vọng, mục tiêu, tầm nhìn phát triển và nâng cao vị thế đất nước, đóng góp xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Tạp chí Cộng sản
Có thể là hình ảnh về 5 người và văn bản

Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu thời kỳ phát triển mới

Lấy phiếu tín nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, đây là một trong những nội dung đổi mới rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng ta, bắt đầu được tiến hành từ nhiệm kỳ khóa XI đến nay. Mục đích là để thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn các chủ trương, đường lối, nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng có đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ; giúp các đồng chí được lấy phiếu tín nhiệm "tự soi", "tự sửa", tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống và không ngừng nâng cao trách nhiệm nêu gương, trình độ, năng lực công tác, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, bảo đảm sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung, dân chủ, tự phê bình và phê bình; nêu cao trách nhiệm, tinh thần xây dựng của các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng trong việc xem xét, thể hiện sự tín nhiệm của mình; tôn trọng quyền báo cáo, giải trình của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII. Đánh giá đúng phẩm chất, năng lực, kết quả cụ thể thực hiện chức trách được giao và uy tín của người được lấy phiếu tín nhiệm. Bảo đảm tính dân chủ, khách quan, công tâm, công khai, minh bạch trong việc lấy phiếu tín nhiệm và sử dụng kết quả lấy phiếu tín nhiệm. Kiên quyết không để xảy ra vi phạm hoặc lợi dụng việc lấy phiếu tín nhiệm để gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ.

NXV.


Giải pháp phòng, ngừa, đấu tranh ngăn chặn “cách mạng màu” ở Việt Nam

 Để ngăn chặn nguy cơ “cách mạng màu” ở Việt Nam, cần thiết tăng cường nguồn sức mạnh nội sinh - những yếu tố chủ quan làm thành trì vững chắc để đấu tranh với các yếu tố tác động bên ngoài.

Trước hết, tập trung, củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, đảm bảo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tăng cường, củng cố về lập trường, tư tưởng chính trị cho cán bộ, đảng viên, trí thức, nhân dân để kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; không cho bất kỳ thế lực, tổ chức hay quốc gia nào can thiệp vào công việc nội bộ.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, Đảng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân, phải hết lòng hết sức phụ vụ nhân dân. Khi niềm tin của nhân dân với Đảng ngày càng được giữ vững sẽ tạo ra “sức đề kháng xã hội” mạnh mẽ để loại bỏ bất cứ thế lực gây hại nào từ thế lực chống phá bên ngoài cho đến “giặc nội xâm” ở bên trong.

Tăng cường công tác vận động quần chúng nhất là vận động đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Tập trung phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao trình độ dân trí, đảm bảo đời sống cho nhân dân, từ đó người dân yên tâm làm giàu, đời sống khấm khá, con em được học hành

Đặc biệt, quan tâm đến công tác tuyên truyền với sinh viên, thanh niên, trí thức - đây là lực lượng nòng cốt đông đảo trong các cuộc biểu tình của “cách mạng màu” trên thế giới đã diễn ra

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, luôn đề cao cảnh giác và thực hiện các giải pháp nhằm kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn để tiến hành “cách mạng màu ở Việt Nam” như: Đẩy mạnh công tác nắm tình hình, nâng cao năng lực dự báo về diễn biến của nguy cơ, điều kiện có thể diễn ra “cách mạng màu” ở Việt Nam./. 

Thế lực muốn đẩy mạnh “cách mạng màu” ở Việt Nam

 Đứng đằng sau các cuộc tụ tập đông người này liệu tất cả những người xuống đường để bảo vệ chủ quyền, bảo vệ môi trường, bày tỏ quan điểm của mình với Luật Đặc khu… đều là những người muốn đem chính kiến của mình góp ý vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước hay không? Liệu tất cả các hành động đập phá có phải là do bộc phát hay không? Hay tất cả những hành động phạm pháp đó đều có bàn tay sắp đặt kích động giật dây, thậm chí còn tung tiền để lôi kéo tụ tập? Trên thực tế, đã có nhiều vụ án cho thấy có không ít tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đã cấu kết với nhau để đào tạo cái gọi là đấu tranh bất bạo động.

Có thể nhìn thấy lực lượng tài trợ trực tiếp cho các hoạt động phản kháng phi bạo lực - điển hình của “cách mạng màu” là hàng trăm tổ chức phi chính phủ của phương Tây hoạt động trên khắp thế giới như “Ngôi nhà tự do”, “Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ”, “Viện quốc gia nghiên cứu quốc tế của Đảng Cộng hòa”, “Viện quốc gia nghiên cứu quốc tế của Đảng Dân chủ”, Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ…

Ngoài ra, theo cơ quan an ninh, núp bóng dân chủ những tổ chức mang bản chất phản động, khủng bố như Việt Tân, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và một số hội nhóm cực đoan trong nước dưới những ngọn cờ bất chính với dã tâm hình thành cái gọi là “cách mạng màu” ở Việt Nam. Thông qua các cuộc biểu tình, bạo loạn tại các địa phương thì các đối tượng đã móc nối phát triển lực lượng, khuếch trương thanh thế, đánh bóng tên tuổi nhằm tiến tới công khai hoá tổ chức chính trị đối lập trong nước, âm mưu sâu xa của chúng là muốn tập dượt cho một cuộc “cách mạng màu” ở Việt Nam, đe doạ đến an ninh quốc gia và sự tồn vong của chế độ.

Có thể khẳng định, với mục đích nhằm thông qua hoạt động tuyên truyền tác động tư tưởng, kích động, khoét sâu các mâu thuẫn xã hội nhằm tạo tâm lý phản kháng chính quyền, kích động lôi kéo quần chúng hoạt động biểu tình, phá rối an ninh gây bạo loạn, lợi dụng vấn đề khiếu kiện, tranh chấp đất đai cơ sở tôn giáo, tranh chấp biển đảo để kích động biểu tình. Đây là các hoạt động chính của các thế lực thù địch ở ngoài nước móc nối với các đối tượng chống đối trong nước để tiến hành các mục tiêu nhằm thực hiện “cách mạng màu” ở nước ta. Khi các hoạt động này thực hiện, chúng tác động đến các lĩnh vực của đời sống, chính trị, xã hội, tác động trực tiếp và gián tiếp đến chính trị, kinh tế, văn hoá ở nước ta... Từ đó, có thể dẫn đến những nguy cơ nguy hiểm tiềm ẩn mất trật tự xã hội, gây bất ổn, xung đột, tạo điểm nóng ở một số nơi và nguy cơ gây nên mâu thuẫn trong một bộ phận quần chúng nhân dân./. 

Nhận diện nguy cơ tiềm ẩn “cách mạng màu”

 “Cách mạng màu” là một trong những thủ đoạn vô cùng nguy hiểm nằm trong âm mưu diễn biến hoà bình mà các thế lực thù địch đã và đang thực hiện. Một trong những mục tiêu quan trọng được ưu tiên của âm mưu này là nhằm lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa. Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch luôn không ngừng sử dụng chiến lược diễn biến hoà bình nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, những biểu hiện của cái gọi là “cách mạng màu” vì thế cũng đã manh nha xuất hiện ở Việt Nam - đó chính là các cuộc tụ tập đông người dưới nhiều lý do, trong đó có cả những cuộc tụ tập đập phá gây bất ổn cho xã hội.

Có thể thấy rõ, thời gian, địa điểm, lý do viện cớ để kích động có thể khác nhau nhưng rõ ràng kẻ đứng đằng sau những vụ gây rối đều chung một thủ đoạn là nhen nhóm lên những đốm lửa phá hoại, mưa dầm thấm lâu qua những thủ đoạn này để chúng gieo rắc tâm trạng bất mãn, tiêu cực cho một số người dân để đến khi thích hợp sẽ tổ chức kích động, tiến hành bạo loạn./.