Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết, đơn vị vừa thu hồi được 4.576 loại vũ khí. Đây là kết quả sau 40 ngày triển khai kế hoạch đợt cao điểm vận động toàn dân giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và đấu tranh với tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật.
Thứ Tư, 26 tháng 7, 2023
40 NGÀY, CÔNG AN ĐẮK LẮK THU HỒI HƠN 4.500 VŨ KHÍ CÁC LOẠI
CHIẾN TRANH - CÓ NHỮNG VẾT THƯƠNG KHÔNG BAO GIỜ CHỮA LÀNH.
“Xung phong!....”; "A.....hòa bình... hòa bình rồi tụi bây ơi!"...
HÀNH TRÌNH TRẢI NGHIỆM "EM YÊU BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG"
Thực hiện Chương trình Công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2022; nhằm tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích giúp các em thiếu nhi có những ngày hè vui tươi, ý nghĩa; nâng cao nhận thức của các em thiếu nhi về biển, đảo quê hương, đồng thời giáo dục về tinh thần trách nhiệm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước, Thành Đoàn - Hội đồng Đội - Cung thiếu nhi thành phố phối hợp với Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân tổ chức Hành trình trải nghiệm “Em yêu biển đảo quê hương” năm 2023 tại Vùng 3 Hải Quân vào ngày 25/7/2023.
TIẾP TỤC LÀM CHO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LAN TỎA, THẤM SÂU TRONG ĐẢNG VÀ TRONG XÃ HỘI
TIẾP TỤC LÀM CHO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH LAN TỎA, THẤM SÂU TRONG ĐẢNG VÀ TRONG XÃ HỘI
Hồ Chí Minh đã đi xa hơn nửa thế
kỷ, song tư tưởng và cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian truân song rất đỗi
vĩ đại của Người đã là một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc yêu chuộng hòa
bình, tự do, công lý trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc,
hòa bình và tiến bộ xã hội. Thực tiễn những thành tựu đạt được trong sự nghiệp
đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 35
năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam đã chứng minh sự kiên định,
nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt
Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam
là hoàn toàn đúng đắn.
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng
con đường phát triển của dân tộc Việt Nam, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế. Ý nghĩa lịch sử và giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng
đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia và trở thành một phần giá trị của văn hóa
nhân loại. Việt Nam đang đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc
tế trong bối cảnh thuận lợi và thách thức đan xen, nhất là khi tình hình thế giới,
khu vực và trong nước đang diễn biến khó lường cùng những khó khăn, phức tạp
trong đời sống xã hội. Thực tế, hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục
tiêu, con đường, phương pháp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng
chế độ xã hội mới ở Việt Nam là cơ sở cho đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong hơn 90 năm xây dựng và phát triển; đồng thời, những thành tựu đã
đạt được về mọi mặt ở Việt Nam là không thể phủ nhận; không chỉ phản ánh quy luật
khách quan của sự nghiệp đấu tranh giải phóng trong thời đại cách mạng vô sản
mà còn phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với giải
phóng giai cấp và giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi trường tồn
cùng dân tộc và thời đại vì đã thấm sâu vào quần chúng nhân dân, được minh chứng
qua thực tiễn cách mạng Việt Nam và ngày càng tỏa sáng, in sâu trong trái tim,
khối óc của hàng triệu triệu con người. Vì thế, việc tiếp tục giương cao ngọn cờ
tư tưởng Hồ Chí Minh; việc kiên định mục tiêu, con đường phát triển độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam không
chỉ là yêu cầu tất yếu khách quan của Đảng, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của
nhân dân Việt Nam giành thắng lợi mà còn góp phần giữ vững bản chất của một Đảng
chân chính, cách mạng.
Để kiên định và bảo vệ tư tưởng
Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tập trung thực hiện một số
giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện Chỉ
thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới,
nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới gắn với “Đẩy mạnh học
tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Trung
ương 4 khóa XII, XIII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, một cách thiết thực, hiệu
quả. Trong đó, cấp ủy các cấp, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị
phải chú trọng nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng
nhân dân để kịp thời nhận diện và kiên quyết phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của
các thế lực thù địch, ngăn chặn những diễn biến xấu về tư tưởng, chính trị,
phòng và chống những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển
hóa" trong Đảng, trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ hai, chú trọng xây dựng, đào
tạo và phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy về Hồ Chí Minh học từ đại
học đến sau đại học, để đội ngũ cán bộ đó có trình độ chuyên môn chuyên sâu, có
năng lực nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn tốt, góp phần
bổ sung và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Xây dựng các lực lượng chuyên
trách, thường trực, tác chiến nhanh, chính xác, làm xoay chuyển tương quan so
sánh lực lượng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận để thực hiện hiệu quả
Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
trong tình hình mới” gắn với việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý
luận chính trị nói chung, nâng cao tính hấp dẫn trong dạy và học môn tư tưởng Hồ
Chí Minh nói riêng trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần làm cho tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc
trong Đảng và trong xã hội.
Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp
của các cơ quan báo chí, truyền thông, kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng,
các kênh thông tin khác, xây dựng chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp
thực tế để chủ động đấu tranh, phòng, chống và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trên
báo chí, xuất bản, internet và mạng xã hội gắn với nhân rộng các gương điển
hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh. Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức đấu tranh, phê phán những quan điểm
sai trái, phản động của các thế lực thù địch về cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh
nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng kết hợp với đổi mới công tác tuyên
truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên
và nhân dân, gắn với công tác kiểm tra, đánh giá, tự phê bình và phê bình để
không chỉ bảo vệ mà còn góp phần củng cố niềm tin vào tư tưởng Hồ Chí Minh - cội
nguồn sức mạnh, tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân
ta trong hành trình hướng đến tương lai.
Thứ tư, đẩy mạnh học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó, cụ thể từng nội dung
của chuyên đề hằng năm trong sinh hoạt của chi bộ, đoàn thể, trong các cuộc họp
của cơ quan, đơn vị, trong các phong trào thi đua gắn với việc chủ động phòng,
chống, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những
biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; coi đó là nhu cầu tự
thân, nền nếp của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và cá nhân, là một giải pháp
căn cốt để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng
cao tính tự giác trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục nỗ lực học tập và nghiên cứu toàn diện,
sâu sắc, có hệ thống di sản tư tưởng tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng trong thực
tiễn và chủ động tuyên truyền, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng của
Người lan tỏa, thấm sâu trong Đảng và trong xã hội, xây dựng văn hóa, con người
Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng hệ thống
chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo công
tác xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng với tư
cách là ba thành tố trụ cột của hệ thống chính trị nước ta.
Trước hết, Hồ Chí Minh khẳng định vai trò
to lớn của Đảng: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái
có vững thuyền mới chạy”; muốn cách mạng thắng lợi, Đảng phải giác ngộ, tổ chức
và giáo dục nhân dân thành một đội quân thống nhất ý chí và hành động, phấn đấu
cho sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, sau
khi cách mạng thắng lợi, Đảng trở thành Đảng cầm quyền “quần chúng vẫn cần có Đảng
lãnh đạo” để xây dựng xã hội mới, đồng thời xây dựng Đảng
trong sạch, vững mạnh là vấn đề hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi
của cách mạng Việt Nam. Đảng thật sự vững mạnh phải thường xuyên chú
ý xây dựng Đảng về tư tưởng lý luận, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Thứ hai, Hồ Chí Minh khẳng định vị trí quan trọng
của việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; nhà nước hoạt động theo
nguyên tắc phục vụ nhân dân một cách vô tư, các cơ quan của Chính phủ là đầy
tớ của nhân dân. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Nước ta là nước dân
chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”. Nhà nước của dân và do dân lập
nên, vì vậy phải làm cho dân hiểu biết về địa vị của mình để nhân dân đề cao
trách nhiệm làm chủ trong xây dựng Nhà nước. Nhà nước vì dân là nhà nước mà mọi
hoạt động đều vì lợi ích chính đáng của nhân dân, là nhà nước mà việc gì lợi
cho dân, phải hết sức làm; việc gì hại cho dân, phải hết sức tránh. Mọi chủ
trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đều hướng tới làm cho dân có ăn, làm
cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành.
Để có Nhà nước trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phải
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài, vì muôn việc thành công hay
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; phải phòng, chống những khuyết điểm trong tổ
chức và hoạt động của Nhà nước, đặc biệt là nạn đặc quyền, đặc lợi và bệnh
“quan cách mạng”; phải tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ,
công chức.
Thứ ba, Hồ Chí Minh yêu cầu xây dựng Mặt trận
dân tộc thống nhất vững chắc, rất rộng rãi và thiết thực; chính sách Mặt trận
phải phù hợp với nguyện vọng thiết tha của toàn thể đồng bào. Trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là quan điểm xuyên suốt, là vấn đề có ý nghĩa
chiến lược, nhất quán, quyết định thành công tiến trình cách mạng và xây dựng
xã hội mới vì hạnh phúc của nhân dân. Để Mặt trận có thể đoàn kết rộng rãi và
thiết thực phải tin tưởng, tôn trọng nhân dân, phải yêu dân, tin dân, dựa vào
dân.
Vận dụng những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng hệ thống
chính trị, bài viết đề xuất một số giải pháp sau:
Một là, trong xây dựng hệ thống chính trị phải đặc
biệt coi trọng xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân
Cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần quan điểm: “rời xa dân
chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”; sự lãnh đạo của Đảng và quản
lý của Nhà nước là lấy tài dân, sức dân để làm những công việc có lợi cho
dân. Hồ Chí Minh cho rằng: “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu
không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác” và “dân
chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những
người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Do đó, việc xây
dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý
nghĩa quan trọng đặc biệt đối với xây dựng hệ thống chính trị.
Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Mọi hoạt động của hệ
thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục
vụ lợi ích của nhân dân”(15). Để phục vụ tốt nhân dân, các
thành viên của hệ thống chính trị phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Đại
hội XIII chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan
đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị; xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trọng
dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với
dân; tăng cường phối hợp, thực hiện quy chế công tác dân vận của hệ thống chính
trị; nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân;
cụ thể hóa phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát,
dân thụ hưởng(16). Theo đó, phương hướng là cần tăng cường mối quan
hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng;
khắc phục triệt để bệnh quan liêu, mệnh lệnh cửa quyền trong đội ngũ cán bộ, đảng
viên.
Mặt khác, để tăng cường mối quan hệ giữa hệ thống chính trị
với nhân dân, phải bồi dưỡng nhận thức cho nhân dân về Đảng cầm quyền, về Nhà
nước, về vai trò, vị trí, chức năng và nguyên tắc hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, Đảng phải giúp nhân dân nhận thức rõ quyền
lợi và nghĩa vụ đối với đất nước, hiểu rõ đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, chính sách của Mặt trận; phải định hướng nhân dân xác lập niềm tin vào sự
lãnh đạo của Đảng, đồng lòng thực hiện sự nghiệp của Đảng và xây dựng Nhà nước
vững mạnh.
Đại hội XIII đúc kết bài học kinh nghiệm quý báu là:
Trong mọi công việc, Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân
là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân; thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"; thắt chặt mối quan hệ mật thiết
giữa Đảng với nhân dân; tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước,
chế độ xã hội chủ nghĩa.
Hai là, trong xây dựng hệ thống chính trị phải đặc
biệt chú trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng vững mạnh
thì mới lãnh đạo được Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần
chúng một cách hiệu quả. Xây dựng Đảng vững mạnh có ý nghĩa quyết định
đối với xây dựng hệ thống chính trị. Sự vững mạnh của Đảng “là do mỗi một chi bộ
mạnh. Chi bộ mạnh là do mỗi một đảng viên ra sức làm tròn nhiệm vụ”.
Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định nhiệm vụ
“xây dựng Đảng là then chốt” trong chiến lược phát triển tổng
thể của đất nước. Đại hội XIII đề ra yêu cầu: Tăng cường xây dựng
Đảng về chính trị; tập trung xây dựng Đảng về đạo đức; tích cực đấu
tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn tình trạng
suy thoái "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ;
phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức
vụ càng cao càng phải gương mẫu.
Là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị, Đảng phải
đổi mới phương thức lãnh đạo, trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo trong hệ
thống tổ chức của Đảng; đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của
các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở; đổi mới mạnh mẽ phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức chính trị - xã hội.
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội thông qua tổ
chức bộ máy và đội ngũ cán bộ của Đảng, do đó phải đổi mới bộ máy của Đảng và đổi
mới mạnh mẽ công tác cán bộ để đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị
vững mạnh.
Văn kiện Đại hội XIII khẳng định, “Với một đảng cách mạng
chân chính, trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín
lãnh đạo như Đảng ta, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, chúng ta sẽ có một
sức mạnh to lớn, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, không thế lực
nào ngăn cản nổi dân tộc ta đi lên, lập nên những kỳ tích mới trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”.
Ba là, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của
Nhà nước - thành tố trung tâm của hệ thống chính trị
Nhà nước là thành tố trung tâm của hệ thống chính trị. Sự lãnh
đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, thể hiện trực tiếp nhất bằng Nhà nước
và thông qua Nhà nước. Vì vậy, xây dựng Nhà nước mạnh là sự phản ánh
quan trọng nhất hiệu quả lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với hệ thống chính trị.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, việc thường xuyên phải làm là: “Kiện
toàn tổ chức và lề lối làm việc; nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật và đạo đức
cách mạng của toàn thể cán bộ” việc đổi mới tổ chức bộ máy nhà
nước phải gắn với đổi mới phương thức làm việc: “Khi đã có chính sách đúng, thì
sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức công việc, nơi lựa
chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy
cũng vô ích”.
Đại hội XIII của Đảng đề ra quan điểm chỉ đạo là
“xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với
tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp
chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật
thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp
xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; định hướng của Đại
hội XIII là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước trong sạch, vững mạnh,
tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự
phát triển của đất nước; tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải
trình; tăng cường kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong
hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức.
Bốn là, tăng cường vai trò, trách nhiệm của Mặt
trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội
Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức chính trị - xã hội có vai trò hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng,
xây dựng khối đại đoàn kết, đồng thuận xã hội; có chức năng giám sát
và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Đại hội XIII của Đảng chủ trương: tăng cường vai trò
nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính
trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động
nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước; đổi mới tổ chức bộ máy,
nội dung và phương thức hoạt động; nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; hướng mạnh hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội về
cơ sở, địa bàn dân cư. Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội chú trọng
thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội
viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng.
Như vậy, để xây dựng hệ thống chính trị theo mục tiêu của Đại
hội XIII cần quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động của bộ máy nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội.
Củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng
Củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa
vào dân để xây dựng Đảng
Gắn bó mật thiết với nhân dân là bản chất, cội nguồn sức mạnh
của Đảng. Tổng Bí thư khẳng định trong cuốn
sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”: “Một đảng cách mạng chân chính có đường
lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu,
tận tụy, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức
mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi
lên”. Xây dựng CNXH là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó
khăn, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ
trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ
vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Sức mạnh nhân
dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển.
Tổng Bí thư chỉ rõ, từ thực tiễn công cuộc đổi mới, Đảng ta
rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học về tôn trọng
nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, học hỏi nhân dân, hết lòng, hết sức phục
vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; phát huy sức mạnh to lớn của nhân
dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh, trật tự, phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực. Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn luôn quán
triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “dân là gốc”, “phải gần dân,
giúp dân, học dân”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, kiên quyết, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Phải đề cao vai trò chủ thể, vị
trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước. “Nhân dân là
trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ
trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi
ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn
đấu”, là tiêu chí để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng
viên.
Để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, phải kiên quyết,
tích cực làm trong sạch đội ngũ cán bộ của Đảng, khắc phục các hiện tượng sa
sút, suy thoái về phẩm chất, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, củng cố
và xây dựng các tổ chức đảng thật trong sạch, vững mạnh, làm cho Đảng thật sự
là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Phát huy dân chủ,
nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ,
công chức, viên chức. Phải làm tốt hơn vai trò tập hợp, lắng nghe ý kiến nhân
dân để phản ánh với các cơ quan đảng và nhà nước ở Trung ương cũng như các địa
phương. Chủ động phối hợp với chính quyền các cấp giải quyết có hiệu quả những
vấn đề xã hội bức xúc ngay tại cơ sở, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của nhân dân. Luôn đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý
kiến, giải quyết khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân; tin
dân và tôn trọng dân. Đồng thời, phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, quyền
và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội
ngũ đảng viên, cán bộ, công chức; có cơ chế giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh,
khả năng sáng tạo, động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế và quản lý
phát triển xã hội.
Cán bộ, đảng viên phải thắt chặt mối quan hệ mật thiết với
nhân dân, biết lắng nghe ý kiến của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai
trò, sức mạnh đoàn kết, trí tuệ và mọi nguồn lực của nhân dân trong tổ chức thực
hiện thắng lợi mọi chủ trương, đường lối của Đảng. Phải kiên quyết loại bỏ thái
độ bàng quan, vô cảm trước những bức xúc của nhân dân; kiên quyết loại bỏ mọi
hành vi lạm dụng, lợi dụng quyền lực để xâm phạm lợi ích hợp pháp, chính đáng của
nhân dân. Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân ta phải
hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Do
vậy, chúng ta phải luôn luôn gắn bó với nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên
trên hết, trước hết. Phải nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức,
viên chức nhà nước về thực hành phong cách dân vận theo tấm gương, đạo đức của
Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm
với dân”; “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, thực sự vì nhân dân, phục
vụ lợi ích của nhân dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài của người cán bộ, đảng viên
Tư tưởng Hồ Chí Minh
về đức và tài của người cán bộ, đảng viên
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện
đội ngũ cán bộ, đảng viên, đào tạo họ trở thành những cán bộ có nhân cách phát
triển toàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ.
Những phẩm chất nhân cách đó của người cán bộ, đảng viên được
Người khái quát ngắn gọn trong hai chữ “đức” và “tài”. Đây là chuẩn mực để
mỗi cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu, đồng thời là tiêu chuẩn để
xem xét, đánh giá, sử dụng cán bộ của Đảng.
1. Người cán bộ, đảng viên mà Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng
là người có tài, đức, hồng thắm, chuyên sâu. Người chỉ rõ: “Có tài phải có đức,
có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nhà nước. Có đức không có tài,
như ông Bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”. Đức của người cán bộ,
đảng viên là đạo đức cách mạng. Người coi đạo đức cách mạng là “nền tảng”, là
“cái gốc” của người cán bộ. Đức của người cán bộ cách mạng thể hiện ở phẩm chất
chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, là lòng trung thành vô hạn đối với Đảng,
với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ XHCN; là trình độ giác ngộ mục tiêu, lý
tưởng XHCN, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó. Đức
được thể hiện ở sự trong sáng, thành thật, trung thực, không cơ hội, thật sự cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết hy sinh lợi ích cá nhân để phục tùng lợi
ích tập thể, lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Có lối sống trong sạch, lành mạnh,
gần gũi với quần chúng, gương mẫu gắn bó với nhân dân, khiêm tốn học hỏi, thực
sự cầu thị. Có tinh thần đoàn kết, thương yêu, tương thân, tương ái lẫn nhau. Đức là
cái gốc giúp người cán bộ cách mạng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để
hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó. Người nói: “cây phải có
gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức
thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Đạo đức cách mạng tạo
nên uy tín của cán bộ, đảng viên. Đó là cơ sở để giáo dục, thuyết phục và lãnh
đạo quần chúng nhân dân, là tấm gương sáng cho mọi người noi theo.
Tài của người cán bộ là trình độ, năng lực để hoàn thành nhiệm
vụ một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất. Tài được thể hiện ở trình độ, năng lực
chuyên môn nghiệp vụ, khả năng nhận thức đúng các quy luật, sáng tạo trong giải
quyết công việc; luôn làm chủ được tri thức khoa học và có khả năng hiểu biết
sâu rộng về các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực chuyên môn của mình. Bác nói: “Phải
có chính trị trước rồi có chuyên môn; chính trị là đức, chuyên môn là tài”.
“Tài” còn là khả năng hoạt động thực tiễn, kỹ năng và hiệu quả thực hành các
công việc được giao. Người cán bộ cách mạng phải có năng lực trí tuệ và năng lực
hoạt động thực tiễn, có trình độ kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng hoạt động
tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Dù hoạt động trên bất kỳ lĩnh vực
nào thì người có “Tài” phải là người có sự hiểu biết thấu đáo và thực hành
thành thạo các công việc mà mình đảm nhiệm. Người chỉ rõ: “Ngày nay, Đảng yêu cầu
cán bộ và đảng viên chẳng những thành thạo về chính trị mà còn phải giỏi về
chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung”. "Tài” của người cán bộ phải
được nhìn nhận, đánh giá theo từng loại công việc và vì thế phải tìm chọn cán bộ
có tài và bố trí phù hợp với yêu cầu sử dụng của từng nhiệm vụ. Người căn dặn:
“không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng
người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. Thường chúng
ta không biết tuỳ tài mà dùng người”.
2. Đức và tài của người cán bộ, đảng viên trong Tư tưởng Hồ
Chí Minh phải luôn kết hợp chặt chẽ với nhau. Tài và đức của người cán bộ, đảng
viên là hai mặt không tách rời mà hoà quyện với nhau, là cơ sở, điều kiện, tiền
đề của nhau, thúc đẩy lẫn nhau để hoàn thiện hình thành nhân cách người cán bộ
cách mạng. Tài năng của người cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng để họ hoàn
thành mọi nhiệm vụ được giao, đạt chất lượng và hiệu quả cao trong công việc.
Người cán bộ có tài sẽ đem lại kết quả hoạt động tích cực, tự giác, sáng tạo
cho họ trên cơ sở hành động theo quy luật khách quan. Nhưng tài năng đó phải được
hiện diện trong hệ thống phẩm chất, năng lực và trong tính hiệu quả hoạt động
thực tiễn của người cán bộ, đảng viên. Người cán bộ cách mạng phải là người có
năng lực trí tuệ cao, tức là có trình độ hiểu biết toàn diện, sâu sắc với một hệ
thống tri thức tổng hợp bao quát được nhiều lĩnh vực, có phương pháp tư duy
khoa học để nhận thức được bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, có năng lực
thực tiễn tốt để đạt hiệu quả cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.
Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức cách mạng là tiêu chí hàng đầu,
là "gốc" của người cán bộ, nâng cao đạo đức cũng có nghĩa là củng cố
vững chắc hơn cơ sở định hướng cho sự phát triển tài năng của người cán bộ, vì
lợi ích chung của Đảng, của giai cấp và của dân tộc. Đạo đức của người cán bộ,
đảng viên được nâng cao càng tăng thêm động lực tinh thần thôi thúc người
cán bộ vượt lên mọi khó khăn thử thách để nâng cao trình độ trí tuệ của mình. Đạo
đức là sự thể hiện quan hệ ứng xử và hành vi của con người, đem lại lợi ích cho
người khác và cho xã hội. Đạo đức của người cán bộ cách mạng còn là nền tảng và
là cơ sở để người cán bộ, đảng viên phát huy tài năng, trí tuệ và các phẩm chất
khác, hướng năng lực của họ vào hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng.
Vì vậy, theo Người, cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới
hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Đạo đức luôn luôn là động lực của tình cảm
và hành vi của người cán bộ, tài là cơ sở để làm cho đức của người cán bộ cách
mạng càng cao, càng lớn hơn.
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đức - Tài của người cán bộ là di
huấn vô giá Người để lại cho Đảng và nhân dân ta về công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ trong tình hình mới. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Không
bổ nhiệm cán bộ không đủ đức, đủ tài, cơ hội chủ nghĩa”. Đức của người cán
bộ, đảng viên hiện nay phải là kiên trì Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, thực hiện mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đức của người cán bộ, đảng
viên hiện nay là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, giữ nghiêm kỷ cương,
phép nước; không tham nhũng và cương quyết đấu tranh chống tham nhũng; có lối sống
trong sạch, lành mạnh, gần gũi với nhân dân, gương mẫu và gắn bó với quần
chúng. Đặc biệt, người cán bộ cách mạng phải biết trăn trở trước cuộc sống
nghèo khổ của quần chúng nhân dân và nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về kinh tế của
đất nước so với thế giới; phải suy nghĩ và hành động, đem hết tài năng, tâm sức
cống hiến cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện
nay phải là nói đi đôi với làm, nói ít, làm nhiều; phải biết thể hiện bằng hành
động, bằng những việc làm cụ thể, bằng nê gương để thuyết phục, quy tụ mọi
người.
Tài là năng lực chuyên môn, khả năng công tác để bảo đảm
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; tài là tầm tư tưởng, trí tuệ của người
cán bộ, đảng viên trong tiến hành công việc một cách độc lập, sáng tạo, mang lại
hiệu quả tối ưu. Tài phải được thể hiện ở trình độ, năng lực tư duy phát
triển; có tư duy biện chứng, lôgíc, có tầm hiểu biết sâu rộng và phương
pháp làm việc khoa học, hiệu quả, đủ sức cắt nghĩa và tìm được những câu trả lời
thuyết phục trước những biến động phức tạp và mau lẹ của thực tiễn. Phải có
năng lực trí tuệ phát triển cao, có trình độ ngoại ngữ và tin học để làm chủ
công nghệ, nhất là công nghệ thông tin; có năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực
cạnh tranh khoa học và công nghệ, có khả năng tiếp nhận và quản lý được công
nghệ kỹ thuật mới.
Đức và tài là một thể thống nhất, không thể tách rời.
Vì vậy, không thể chỉ có đức mà không cần tài, càng không thể coi trọng tài mà
xem nhẹ đức. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay không chỉ như đạo
đức công dân mà còn bao hàm cả đạo đức của người lãnh đạo, chỉ huy. Trung thành
nhưng phải có bản lĩnh, có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, không thụ động, bảo
thủ trì trệ, né tránh khó khăn, gian khổ. Trung thành nhưng không phải là “gọi
dạ, bảo vâng”, cơ hội, không có chủ kiến, không dám đấu tranh, tuỳ thời vì
mục đích quyền lực và tiền tài. Tài của người cán bộ hiện nay cần phải được
nhìn nhận, đánh giá theo từng loại công việc và vì thế phải tìm chọn cán bộ có
tài phù hợp với yêu cầu sử dụng. Nghĩa là khi chọn người tài phải dựa vào thế mạnh
và sở trường của họ, vào tài năng thực tế của người cán bộ, đảng viên, không
hoàn toàn dựa vào bằng cấp để bố trí công việc, xác định cương vị; có vậy mới
giúp cán bộ, đảng viên phát huy được ưu thế, sở trường, dốc tâm lực vào
sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân.
Hiện nay, vấn đề đào tạo, sử dụng, đánh giá cán bộ phải được gắn với đức
- tài được hiểu một cách khoa học, đầy đủ. Đức và tài của người
cán bộ hiện nay cần phải cụ thể hoá bằng tiêu chuẩn chức danh đối với mỗi chức
vụ, cương vị công tác, nhất là các tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp cách mạng. Đức và tài của người cán bộ đạt đến trình độ nào thì phải lựa
chọn bố trí họ ở cấp và vị trí tương xứng. Nhưng vấn đề có tính nguyên tắc cần
khẳng định là, đã là người cán bộ cách mạng thì phải có đủ đức, đủ tài
tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ, không thể châm chước bất cứ một tiêu chuẩn
nào. Nếu quan điểm đức-tài không rõ ràng, lẫn lộn, chỉ nhìn hình thức bề ngoài
mà không thấy bản chất bên trong của con người thì kết quả là sẽ chọn ra những
kẻ bất tài, vô dụng, làm hại đến sự nghiệp cách mạng. Thấm nhuần Tư tưởng
Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa đức và tài của người cán bộ, đảng viên vào xây
dựng đội ngũ cán bộ cách mạng trong tình hình hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng.
Quyết tâm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay
Quyết tâm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh
hiện nay
Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, chủ nghĩa Mác -Lênin là chủ
nghĩa cộng sản khoa học do C.Mác - Ph.Ăngghen xây dựng trong suốt gần 60 năm, từ
những năm 40 cho đến cuối thập niên 90 thế kỷ XIX và V.I.Lênin bổ sung, phát
triển trong cả thập niên cuối của thế kỷ XIX và hơn hai thập niên đầu thế kỷ
XX, trên cơ sở thực tiễn CNTB đã và đang chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc;
phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên
thế giới đang phát triển mạnh mẽ, giành được những thắng lợi mang tính bước ngoặt
như: Công xã Pari và nhất là cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, đưa tới sự
ra đời Liên bang Cộng hòa XHCN Xôviết, giải phóng hàng trăm triệu nhân dân lao
động khỏi ách áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư bản. Chủ nghĩa Mác
- Lênin là những học thuyết sâu sắc, toàn diện trên nhiều lĩnh vực, mà cơ bản,
trọng yếu, cốt lõi, nhất là: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội
khoa học.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và
sâu sắc của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam kết quả của sự
vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá
của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân
ta giành thắng lợi”.
Nói khái quát, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
là những học thuyết, những tư tưởng được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn
lọc những thành tựu văn minh của tư duy nhân loại, liên tục được bổ sung, phát
triển từ những kết quả nghiên cứu mới nhất của khoa học và tổng kết thực tiễn lịch
sử thế giới, cùng những dự báo về tương lai. Hệ thống tri thức này là những kiến
thức khoa học có tác dụng trực tiếp nâng cao trình độ nhận thức, hình thành thế
giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học và nhân cách của mỗi cán bộ,
đảng viên. Nếu mọi cán bộ, đảng viên đều được học tập và chịu khó học tập không
ngừng để quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo những kiến thức này trong hoạt
động thực tiễn sẽ luôn đứng vững trên lập trường của người cộng sản, không bị
hoang mang, dao động trước những tuyên truyền xấu độc, xuyên tạc của các thế lực
thù địch, vững tin trong mọi hoạt động vì lợi ích chính đáng của nhân dân, bằng
những giải pháp có hiệu quả và gặt hái được nhiều thành công, đóng góp tích cực
cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững.
Tuy vậy, trong bối cảnh CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô
đã sụp đổ, tan rã, hệ thống XHCN thế giới không còn; quá trình toàn cầu hóa và
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra rất nhanh chóng, với sự
phát triển siêu tốc của internet, mạng xã hội,... tạo nên “thế giới phẳng”,
nhưng thông tin không được kiểm soát, gây nhiều khó khăn cho việc tiếp nhận,
phân tích, luận giải để hiểu thấu đáo nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Thêm vào đó là sự tồn tại, phát triển mạnh mẽ của nhiều nước tư bản và những
khó khăn, thách thức cùng sự kéo dài của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta với
mặt trái của cơ chế thị trường tự do tác động mạnh mẽ, sâu rộng trên nhiều phương
diện, dẫn tới tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên, nạn tham nhũng, hối lộ, “lợi ích nhóm”,... diễn ra
rất trầm trọng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm tư, tình cảm, niềm tin của cán bộ,
đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Lợi dụng bối cảnh đó, những năm qua, các thế lực thù địch,
phản động và những phần tử đối lập, bất mãn chính trị,... ở trong và ngoài nước,
ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, vu khống, kích động, chống
phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới của nhân dân ta, nhất là thông qua
internet, mạng xã hội, các đài, báo đối lập,... đăng những tin, bài xấu, độc,
xuyên tạc, phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước; công kích, phủ nhận
vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta. Chúng dùng mọi
âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng gây
hoang mang, dao động về lập trường, tư tưởng và làm phai nhạt lý tưởng XHCN của
cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Cùng với phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng,
chúng dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt xuyên tạc, bịa đặt thông tin sai
trái liên quan đến những vấn đề nhạy cảm về chính trị, xã hội, công tác tổ chức
và đạo đức của cán bộ… để tấn công chia rẽ nội bộ; gây kích động làm cho chủ
nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và những sự đố kỵ, ganh tỵ, bất mãn trỗi dậy, dẫn
tới tình trạng mất đoàn kết ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và trong nhân dân,
gây nên sự “chông chênh” và xa hơn là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Nhằm khắc phục thực trạng đó, Đảng ta xác định phải “Tích cực
đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động
ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII khẳng định
cần “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ”. Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số
35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác
các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.
Từ những căn nguyên và bối cảnh nêu trên, những nội dung cơ
bản, trọng yếu cần phải quán triệt và quyết tâm, kiên trì bảo vệ nền tảng tư tưởng
của Đảng Cộng sản Việt Nam, khắc phục “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một
bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay là:
- Bảo vệ sự đúng đắn và giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh của Đảng Cộng sản Việt
Nam, làm cho Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, gắn bó máu thịt với nhân
dân, Đảng với Dân như cá với nước mà Bác Hồ đã căn dặn.
- Bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh của hệ thống chính trị từ
Trung ương đến địa phương và cơ sở để làm tốt vai trò thực sự là “cầu nối” bảo
đảm gắn bó máu thịt giữa Đảng với Dân, nhất là đối với thế hệ trẻ.
- Bảo vệ cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thanh, thiếu
niên trước sự tấn công tuyên truyền xuyên tạc, kích động nhằm gây mất lòng tin
của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ nội bộ và sự trỗi dậy của chủ
nghĩa cá nhân ích kỷ, chủ nghĩa cơ hội trục lợi của các thế lực thù địch.
Thực chất của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở Việt Nam
Thực chất của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả
về nhân quyền ở Việt Nam
Các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở
Việt Nam hiện nay về cơ bản là những lực lượng cực hữu ở một số nước phương
Tây, chủ yếu tại Mỹ, lực lượng cực hữu người Việt ở nước ngoài và những cá nhân
người Việt trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng để
chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam. Bên cạnh
đó, là những người nghiên cứu lý luận, hoạt động chính trị đảng phái tại một số
nước phương Tây và cả những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng,
chính trị tại Việt Nam.
Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở
Việt Nam hiện nay thường tập trung vào hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận
các giá trị lý luận, thực tiễn về dân chủ, nhân quyền, như lợi dụng các hiệp định,
dự án hợp tác với nước ngoài, nhằm phá hoại và làm chệch hướng XHCN của nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam; kích động vấn đề dân tộc thiểu số và xuyên tạc
Việt Nam có “hai chính sách tôn giáo”: Chính sách bảo đảm trên hình thức và
“chính sách” không bảo vệ, không bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số trong
thực tế thông qua “cơ chế xin - cho” và tạo lập các “tôn giáo quốc
doanh”. Trong các báo báo về tình hình nhân quyền trên thế giới, phần viết về
Việt Nam, họ thường phê phán, xuyên tạc Chính phủ Việt Nam ngăn cản tự do ngôn
luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp; hay xuyên tạc cái gọi là “việc áp
dụng một cách bất công Bộ luật hình sự”. Họ cho rằng, Việt Nam có chính sách
hai mặt trong việc giam giữ tù nhân chính trị: công khai thì khép vào tội “vi
phạm luật pháp” nhưng thực tế là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”; hay
các luận điệu xuyên tạc về sử dụng cách tra tấn, bức cung, nhục hình đối với những
người bị tạm giữ, tạm giam; bắt giữ và xét xử tùy tiện; duy trì án tử hình; cáo
buộc tình trạng đàn áp, ngăn chặn, cản trở hoạt động của luật sư...
Bên cạnh đó, các hoạt động xâm nhập, kích động, nhằm thúc đẩy
“tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” như đòi Nhà nước Việt Nam phải đáp ứng ngay
tiêu chuẩn về các quyền dân sự, chính trị (tự do lập hội, tự do xuất bản báo
chí tư nhân, hoạt động tôn giáo không cần sự quản lý của Nhà nước...) tương tự
các quốc gia phát triển phương Tây. Họ gắn dân chủ, nhân quyền với các vấn đề hợp
tác phát triển, dân chủ, tôn giáo, tiếp cận thông tin và các hoạt động lập
pháp, hành pháp, tư pháp... Đặc biệt, họ đòi dân sự hóa hoạt động trong lĩnh vực
quốc phòng, an ninh, nhằm thúc đẩy phát triển xã hội dân sự. Họ móc nối và tìm
cách mua chuộc bằng tiền, hiện vật có giá trị để làm thay đổi tư tưởng, dẫn đến
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số cán bộ, đảng viên, nhất là ở cấp
chiến lược và cơ quan trọng yếu nhằm thay đổi đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng,
làm chệch hướng XHCN trong bảo đảm dân chủ, nhân quyền và quá trình đổi mới đất
nước nói chung.
Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch thể hiện khá rõ
nhằm kích động các cá nhân, tổ chức trong nước tổ chức bạo động, bạo loạn thông
qua cái gọi là “biểu tình ôn hòa” hay nhờ các tổ chức, chính phủ nước ngoài khiếu
kiện Việt Nam. Về phương thức, cách thức chống phá hiện nay, các thế lực phản động,
thù địch triệt để sử dụng truyền thông đại chúng, đặc biệt là mạng internet, xuất
bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ
cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam (như VOA tiếng
Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để xuyên tạc, kích động về tư tưởng,
chính trị. Họ lợi dụng các sai sót trong công tác quản lý nhà nước để xuyên tạc,
kích động khiếu kiện, biểu tình trái phép. Họ tổ chức các hội thảo để xem xét lại
các vấn đề liên quan đến lịch sử, tuy âm thầm nhưng tác hại lâu dài, rất thâm độc.
Các thế lực thù địch dùng chiêu bài “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để
không chỉ gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, suy thoái về tư tưởng chính trị
trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Trước thực tế đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, công chức,
viên chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội cần nâng cao bản lĩnh, trí tuệ
để nhận diện và vạch trần bản chất của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành
quả về nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.
Lịch sử và ý nghĩa ngày thương binh liệt sĩ 27/7
Lịch sử và ý
nghĩa ngày thương binh liệt sĩ 27/7
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám vừa thành
công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa được bao lâu, thực dân Pháp đã
trở lại xâm lược nước ta. Kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, “không
chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu,
ngăn chặn bọn xâm lược. Trong những tháng năm đầu của cuộc kháng chiến có nhiều
đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống hoặc đổ máu trên các chiến trường.
Theo lời
kêu gọi của Đảng, của Chính phủ và Bác Hồ, kế thừa truyền thống “Nhân
ái, thủy chung” của dân tộc, nhân dân ta đã dành tất cả tình thương
yêu của mình cho các chiến sĩ, đặc biệt là những người bị thương hoặc đã anh
dũng hy sinh.
Đầu năm 1946, “Hội giúp binh sĩ
bị nạn” ra đời ở Thuận Hóa (Huế), rồi đến Hà Nội và một số địa phương
khác... Sau đó ít lâu được đổi thành “Hội giúp binh sĩ bị thương”.
Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự
của Tổng Hội.
Chiều ngày 28/5/1946 tại Nhà hát Lớn Hà
Nội, Tổng Hội tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng để kêu gọi đồng bào gia
nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sĩ bị thương.
Chiều ngày 11/7/1946, tại Nhà hát Lớn Hà
Nội đã có một buổi quyên góp quần áo, giày mũ cho chiến sĩ ngoài mặt trận, mở
đầu cuộc vận động “Mùa đông chiến sĩ”. Tại đây, Bác Hồ đã cởi chiếc
áo rét mà Bác đang mặc để tặng binh sĩ.
Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ,
ngày 19/12/1946, theo lời kêu gọi cứu nước của Bác Hồ, nhân dân cả nước nhất tề
đứng dậy kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Số
người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên.
Các đồng chí thương binh, gia đình nhiều
liệt sĩ gặp nhiều khó khăn thiếu thốn. Trong tình hình ấy, Đảng và Nhà nước ta
đã quyết định nhiều chính sách quan trọng về công tác thương binh liệt sĩ, góp
phần đảm bảo đời sống vật chất tinh thần của các gia đình chính sách trong thời
kỳ đầu của cuộc kháng chiến.
Năm 1946, giữa bộn bề công việc của
những ngày tháng cam go chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, Chủ tịch
Hồ Chí Minh vẫn giành nhiều tình cảm cho các thương binh, liệt sỹ. Người
đã ra thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi với một tấm lòng
thành kính.
“Tôi muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào
và Chính phủ cảm ơn những liệt sỹ đã hy sinh tính mệnh của mình cho nền tự
do, độc lập và thống nhất của nước nhà, hoặc trong thờì kỳ cách mệnh, hoặc
trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sỹ
đó và tôi nhận con các liệt sỹ làm con nuôi của tôi”.
Trước yêu cầu thực tế đó, cùng với việc
tiếp tục kêu gọi giúp đỡ thương binh, gia đình tử sĩ, ngày 16/2/1947, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương
tật và tiền tuất tử sĩ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí
quan trọng của công tác thương binh liệt sĩ đối với công cuộc kháng chiến cứu
nước của dân tộc.
Ngày 27/7 chính thức được chọn là ngày
thương binh liệt sỹ
Để chủ động công tác này trong cả nước,
ngày 26/2/1947, Phòng thương binh (thuộc Chính trị Cục, Quân đội Nhân dân Quốc
gia Việt Nam) được thành lập. Đầu tháng 7/1947 Bác Hồ đã đồng ý cho thành lập
Ban Vận động tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”.
Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt
Minh, Hội Phụ nữ cứu quốc, Cục Chính trị quân đội Quốc gia Việt Nam, Nha thông
tin tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Thái Nguyên). Nội dung
cuộc họp là thực hiện Chỉ thị của Hồ Chủ Tịch chọn ngày kỷ niệm Thương binh
Liệt sĩ và bảo vệ công tác Thương binh liệt sĩ.
Sau khi xem xét, Hội nghị đã nhất trí
lấy ngày 27/7/1947 làm ngày Thương binh toàn quốc. Ngày 27/7/1947, một cuộc mít
tinh quan trọng đã được diễn ra tại Thái Nguyên (có 2000 người tham gia). Tại
đây Ban tổ chức đã trịnh trọng đọc thư của Hồ Chủ Tịch. Trong thư Người viết:
“... Thương binh là những người đã hy sinh gia
đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ
quốc, lợi ích của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu ...”.
“... Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn,
phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.
“... Thương binh và tử sĩ đã hy sinh cho Tổ
quốc, đã hy sinh cho đồng bào".
“... Để báo đáp công ơn đó, Chính phủ phải tìm
mọi cách để giúp đỡ anh em thương binh và gia đình tử sĩ".
“... Tôi cũng rất mong muốn đồng bào sẵn sàng
giúp đỡ họ về mặt vật chất và tinh thần...”.
Từ năm 1947, ngày Thương binh liệt sĩ
được tổ chức thường kỳ hàng năm. Năm nào vào dịp này, Hồ Chủ Tịch cũng có thư
và quà gửi anh chị em thương binh và các gia đình liệt sĩ.
Tháng 7/1954 sau chiến thắng lịch sử
Điện Biên Phủ, Đảng và Nhà nước ta càng đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề
chiến sĩ, gia đình liệt sĩ và công tác thương binh. Từ năm 1955, ngày 27/7 ngày
Thương binh được đổi thành ngày Thương binh liệt sĩ.
Trong suốt 24 năm trên cương vị người
đứng đầu Nhà nước, Bác đã giành sự quan tâm đặc biệt đến các thương binh, liệt
sỹ. Là người lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đã
thấu hiểu và đánh giá cao những hy sinh, mất mát của các thương binh, liệt sỹ
và thân nhân gia đình của họ trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ
quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Trong lời dặn toàn Đảng, toàn quân và toàn
dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“... Đối với những người đã dũng cảm hy sinh
một phần xương máu của mình, Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm
cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp
với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực, cánh sinh”.
“... Đối với các Liệt sỹ, mỗi địa phương cần
phải xây dựng vườn hoa và bia tưởng niệm để ghi công sự hy sinh anh dũng của
các liệt sỹ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta”.
“... Đối với cha mẹ, vợ con của thương binh và
liệt sỹ, mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu
ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có
công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.
Hướng tới kỷ niệm ngày Thương binh liệt
sĩ, trên khắp mọi miền của Tổ quốc, toàn đảng, toàn quân và toàn dân ta đang tiến
hành nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực. Những Việc làm này thể hiện sự biết
ơn, tri ân của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta với những gia đình đã có người hy
sinh vì Tổ Quốc. Làm tốt công tác Thương binh Liệt sĩ và chính sách đối với
những người có công với cách mạng chính là phát huy đạo lý "Uống
nước nhớ nguồn", đền ơn đáp nghĩa của dân tộc; là thể hiện ý
thức, trách nhiệm, lòng biết ơn, khơi dậy tinh thần yêu đất nước, yêu dân tộc
Việt Nam; từ đó khơi dậy niềm tự hào về truyền thống nhân văn sâu sắc của dân
tộc; giữ vững niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa
chọn, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ tổ
quốc./.
Không thể phủ nhận những nỗ lực trong chăm lo người có công với cách mạng
Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ nhưng hậu quả đến nay còn nặng nề. Đã có hơn 3 triệu đồng bào, chiến sĩ ngã xuống, nhiều ngôi mộ liệt sĩ không tên; những vết thương sau chiến tranh vẫn giày vò thân thể, tinh thần thương, bệnh binh; đến nay chất độc da cam/dioxin vẫn còn gieo rắc nỗi đau cho biết bao thế hệ gia đình người Việt Nam.
Soi xem mình được mấy “dám”?
Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội theo tinh thần "7 dám" là quan điểm chỉ đạo được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương nhấn mạnh tại Hội nghị Quân ủy Trung ương 6 tháng đầu năm 2023. Quán triệt, thực hiện tinh thần “7 dám” vừa là giải pháp rất quan trọng xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, vừa góp phần tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ...
Cho sáng mắt ra...
Đêm qua, ông Thanh hậm hực không ngủ được vì đọc trên Facebook của đứa cháu trong họ có ý phản đối việc xã tu sửa Đài tưởng niệm liệt sĩ cho trang trọng hơn, chuẩn bị cho lễ thắp nến tri ân vào dịp 27-7. Đã thế, cậu ta còn dẫn lời của những kẻ phản động, bất mãn, cho rằng việc xây bảo tàng chiến tranh, dựng nhiều đài tưởng niệm là không cần thiết, lãng phí, tổ chức lễ lạt những dịp này gây tốn kém tiền của...
Bóc mẽ chiêu thức bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ nhằm mưu đồ “phi đảng hóa” Quân đội
Thời gian gần đây, lợi dụng một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, các thế lực thù địch, phản động ra sức rêu rao, vu cáo "Quân đội ta đã thoái hóa, biến chất...". Từ đó, chúng ra sức tuyên truyền rằng, “không cần phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vì vô nghĩa”.
Đấu tranh đẩy lùi thái độ bàng quan, dao động về tư tưởng xã hội chủ nghĩa
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Chăm sóc người có công với cách mạng - sự thực không thể xuyên tạc
Thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam, hễ cứ vào dịp tháng 7 hằng năm, trong khi cả nước hướng về Ngày Thương binh, Liệt sĩ 27/7 với biết bao lòng thành kính, nhớ ơn công lao to lớn của các anh hùng, liệt sĩ thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc. Chúng lợi dụng những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công ở một số địa phương để vu cáo: chính quyền không quan tâm “bỏ mặc các gia đình liệt sĩ, các thương, bệnh binh”, nhằm hạ bệ, phủ nhận vai trò, nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong chăm lo người có công.
Cần khẳng định rõ: đây là luận điệu hết sức sai trái, thể hiện bản chất phi nhân văn, phản đạo đức của các thế lực thù địch. Bởi, những thông tin sai trái phát tán trên mạng xã hội trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ đánh lận con đen, đánh tráo giá trị, đổi trắng thay đen, đổi đen thành trắng, nói không thành có, nói có thành không nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi, mất tin tưởng về chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công. Mục đích của chúng không chỉ kích động chống phá Đảng, Nhà nước mà còn cố tình làm băng hoại truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, giảm sự chung tay của toàn xã hội trong chăm lo người có công với cách mạng, gia đình chính sách.
Thực tiễn minh chứng, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng, Nhà nước ta vận dụng, kế thừa, phát huy và cụ thể hóa thành nhiều chương trình, chính sách giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ. Đặc biệt, thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TW, ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư Trung ương Ðảng (khóa XII) “Về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác người có công với cách mạng”, ngày 09/12/2020, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 (Pháp lệnh) về ưu đãi người có công với cách mạng có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2021 với nhiều điểm mới nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về ưu đãi người có công với cách mạng. Theo đó, các cấp, ngành, địa phương không ngừng hoàn thiện, bổ sung thể chế, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng; xây dựng, ban hành quy hoạch hệ thống cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng thời kì 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp nối đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội đã vào cuộc mạnh mẽ để chăm lo người có công với cách mạng và thân nhân của họ với nhiều nội dụng cụ thể, thiết thực, như: xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, nhà tình nghĩa, vườn cây tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa, chăm sóc bố, mẹ liệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng; tổ chức dâng hương, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Đài Tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; tổ chức lễ dâng hương và thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ trên toàn quốc, v.v. Đến nay, người có công với cách mạng và thân nhân được hưởng chế độ ưu đãi về bảo hiểm y tế, điều dưỡng phục hồi sức khỏe; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết theo chỉ định của cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng thuộc ngành lao động – thương binh và xã hội hoặc của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên; ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; hỗ trợ để theo học đến trình độ đại học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Thực hiện việc hỗ trợ người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg, ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ, cả nước có 393.707 hộ người có công cần hỗ trợ về nhà ở đã được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm tra, với tổng kinh phí khoảng 10.654 tỉ đồng.
Hiện cả nước đã xác nhận được trên 9,2 triệu người có công, trong đó có trên 1,3 triệu người có công được hưởng trợ cấp hằng tháng. Mỗi năm giải quyết chế độ trợ cấp một lần cho gần 08 nghìn trường hợp, đưa trên 580 nghìn lượt người có công đi điều dưỡng định kỳ và hỗ trợ giáo dục cho khoảng 40 nghìn lượt người. Đặc biệt, trong giai đoạn dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các địa phương triển khai chi trả hỗ trợ khó khăn kịp thời, đầy đủ cho 994.626 đối tượng người có công với kinh phí khoảng 1.483 tỉ đồng. Mạng lưới các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng được quy hoạch tổng thể, rộng khắp trong cả nước với 65 cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và bố trí nhân sự đủ để đáp ứng cơ bản yêu cầu chăm sóc, điều dưỡng người có công, nhất là thương binh nặng. Tính đến năm 2022, cả nước đã đầu tư xây dựng, nâng cấp, tu bổ 3.200 nghĩa trang liệt sĩ và trên 3.000 công trình ghi công liệt sĩ trên khắp cả nước. Tất cả Mẹ Việt Nam anh hùng còn sống luôn được chăm lo đời sống bằng nhiều việc làm cụ thể như tặng quà, hỗ trợ kinh phí sửa chữa, xây mới nhà tình nghĩa; các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp nhận phụng dưỡng mẹ suốt đời, v.v.
Những việc làm thiết thực, cụ thể, hiệu quả trên đã góp phần ổn định và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với thương bệnh binh, thân nhân liệt sĩ và người có công. Sự thực đó không thể xuyên tạc và là minh chứng phản bác mọi xuyên tạc của kẻ xấu về chính sách của Đảng, Nhà nước, sự quan tâm của toàn xã hội đối với những người đã cống hiến cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc!
NTT st






