Thứ Tư, 26 tháng 7, 2023

 

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN “ĐƯỢC CHO LÀ LỖI THỜI” KHI KHÔNG NHẬN THỨC ĐƯỢC TÍNH KHOA HỌC TRONG TỪNG LUẬN ĐIỂM VÀ QUÁ TRÌNH VẬN DỤNG

 Với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, từ đó đặt chủ nghĩa Mác - Lênin trước sự thử thách khắc nghiệt của lịch sử. Trong bối cảnh đó, các nhà chính trị và tư tưởng tư sản phản động hí hửng tung ra đủ thứ lý luận nhằm bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và rêu rao về sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản, sự diệt vong của chủ nghĩa cộng sản, về "chiến thắng không cần chiến tranh" (Nichxơn), về "Sự tận cùng của lịch sử" (Fukuyama).

Không những kẻ thù của chủ nghĩa Mác - Lênin mà cả một số người trước đây một thời được coi là người mácxít, thì giờ đây cũng ra sức xuyên tạc, bác bỏ, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng học thuyết đó đã lỗi thời. Để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, họ thường viện dẫn những sai lầm, thiếu sót ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, nhất là ở Liên Xô và những đặc điểm mới của thời đại. Họ cho rằng "kinh tế tri thức, nền văn minh tin học không dung nạp chủ nghĩa xã hội", "chủ nghĩa Mác là sản phẩm của nền văn minh cơ khí, nó chỉ thích hợp với thế kỷ XIX chứ không dung hợp với thời đại ngày nay "sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở một mảng lớn trên thế giới chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lênin là một sai lầm), v.v và v.v..

Tuy vậy, thực tiễn lịch sử với tất cả những bước đi quanh co, phức tạp của nó vẫn khẳng định tính đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin.

Nói về cái tinh tuý nhất trong học thuyết Mác, Hồ Chí Minh thể hiện trong ba chữ: phép biện chứng - tức linh hồn sống của chủ nghĩa Mác.

V.I.Lênin nói: Học thuyết Mác là học thuyết vạn năng, vì nó là một học thuyết chính xác. Đó là một học thuyết cân đối và hoàn bị, nó cho người ta một thế giới hoàn chỉnh, không thoả hiệp với bất cứ sự mê tín nào, một hành vi phản động nào, một hành vi bảo vệ sự áp bức của tư sản...

Một là, C.Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới.

 C.Mác là người đầu tiên đã áp dụng phép biện chứng duy vật, do chính Ông xây dựng, vào việc nghiên cứu lịch sử, làm cho chủ nghĩa duy vật trở thành hoàn bị triệt để. Ph. Ăngghen nói rằng, giống như Đácuyn, C.Mác đã phát hiện quy luật phát triển của lịch sử loài người.

Hai là, C.Mác đã tìm ra quy luật riêng biệt của sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra,

Ba là, với sự phát hiện khoa học vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã đặt nền móng cho chủ nghĩa xã hội khoa học, học thuyết về sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng loài người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột và tha hoá.

Về học thuyết xã hội chủ nghĩa của C.Mác, chúng tôi muốn nhấn mạnh một điểm, đó là quan hệ biện chứng giữa giải phóng con người và giải phóng giai cấp.

Sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện ở chỗ nó soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín muối của nhân loại, đó là nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, khỏi mọi tha hoá. Có thể khẳng định rằng, cho đến nay, khi nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng được nhiệm vụ lịch sử mà không thể học thuyết nào có thể thay thế được. Đời sống xã hội đương đại mặc dù rất phức tạp, trải qua biết bao thăng trầm, quanh co khúc khuỷu, vẫn không đi ra ngoài những quy luật phổ biến đã được C.Mác tổng kết.

Từ thực tiễn vận động phát triển trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của thế giới đương đại, chúng ta có đủ căn cứ để khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách là lý luận về phương pháp nhận thức thế giới và cải tạo thế giới bằng cách mạng vẫn giữ nguyên giá trị, dù cho một số luận điểm cụ thể riêng biệt của lý luận Mác - Lênin có thể không được thực tiễn xác nhận hoặc cần phải điều chỉnh./.

 

Hiểu về lợi ích quốc gia - dân tộc

 

Hiểu về lợi ích quốc gia - dân tộc

Lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là kim chỉ nam trong việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nó bao hàm trong đó “tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia - dân tộc có chủ quyền, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời, thể hiện sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; cho sự nâng cao không ngừng sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia, dân tộc”.

Lợi ích quốc gia không phải lúc nào cũng đồng nhất với lợi ích dân tộc. “Lợi ích quốc gia thiên về đại diện lợi ích của giai cấp cầm quyền. Lợi ích dân tộc thường được hiểu là lợi ích của mọi người dân của một nước. Khái niệm lợi ích quốc gia - dân tộc có hướng tổng hợp cả hai khái niệm trên”. Đã từng có trường hợp, giới cầm quyền hy sinh lợi ích dân tộc vì lợi ích giai cấp, lợi ích phe nhóm. Năm 1870, khi thủ đô Paris (Pháp) bị quân Phổ bao vây thì Chính phủ vệ quốc của giai cấp tư sản lại đầu hàng, không đứng về phía nhân dân trong cuộc chiến tranh vệ quốc.  

Nội hàm của lợi ích quốc gia - dân tộc cũng có sự khác nhau trong từng thời điểm lịch sử. Ở Việt Nam, dưới chế độ phong kiến, lợi ích cốt lõi của quốc gia - dân tộc là độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ. Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc không chỉ là giành độc lập dân tộc để giữ chủ quyền lãnh thổ mà còn là đi lên CNXH. Nhưng trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mục tiêu độc lập dân tộc, giữ chủ quyền lãnh thổ được đặt lên trên. 

Từ khi thống nhất đất nước đến nay, lợi ích cốt lõi quốc gia - dân tộc Việt Nam là độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và chế độ xã hội XHCN. Hiện nay, nội hàm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam được thống nhất với nội hàm bảo vệ Tổ quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Ngày nay, lợi ích giữa các quốc gia được thể hiện trên cơ sở vừa hợp tác, vừa cạnh tranh quyết liệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo, song bên cạnh đó vẫn có những mâu thuẫn, xung đột diễn ra dưới nhiều hình thức rất phức tạp. Vì vậy, việc bảo đảm được lợi ích quốc gia - dân tộc là vấn đề hệ trọng đối với mỗi quốc gia nhằm bảo vệ đất nước và thực hiện hợp tác quốc tế. 

Trong khi đó, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm đang là một trong những nguy cơ gây tổn hại đến sự phát triển đất nước, lợi ích của nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chỉ có thể giữ vững những thành quả cách mạng mà chúng ta đã đạt được khi “luôn ghi nhớ trong tâm khảm của mình rằng, lợi ích của quốc gia, dân tộc, của nhân dân, của Đảng là tối thượng”.

Những thành tựu, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của Việt Nam đạt được như ngày nay đã chứng minh quan điểm đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt.

 

Giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khắc phục “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay

 

Giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khắc phục “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay

Một là, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến toàn Đảng, toàn quân, toàn dân (nhất là thế hệ trẻ)

Sở dĩ cần phải làm như vậy là do, muốn bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân (nhất là thế hệ trẻ - lực lượng nòng cốt kế thừa sự nghiệp cách mạng của Đảng), nhận thức được ngày càng đầy đủ hơn, rõ ràng hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị thực tiễn to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ khi hoạt động tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng những yêu cầu đó, mới tạo được sự hấp dẫn, thu hút ngày càng nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân (nhất là thế hệ trẻ) tham gia tích cực, tiếp nhận, học tập, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động thực tiễn. Qua đó, họ ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, rõ ràng hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị thực tiễn có ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, tạo được sự thống nhất và thấy rõ hơn trách nhiệm của bản thân, càng tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Để hoạt động tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến toàn Đảng, toàn quân, toàn dân (nhất là thế hệ trẻ) được đẩy mạnh, đạt chất lượng, hiệu quả ngày càng cao, cần phải tạo được bước đột phá trong đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, như Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 của Bộ Chính trị khóa XI “Về tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý” đã chỉ rõ là cần phải “Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm, người học tham gia tích cực vào quá trình đào tạo; giúp người học tiếp tục tự học, bổ sung, mở rộng và nâng cao kiến thức, rèn luyện về phương pháp tư duy, khả năng vận dụng, giải quyết tình huống thực tiễn”. Trước hết là phát triển, hoàn thiện, nâng cao năng lực và chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đơn vị tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, phải đẩy mạnh đào tạo, phát triển về số lượng và không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, tuyên truyền viên,… đủ sức đảm trách ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn, nhiệm vụ truyền đạt, phổ biến, hướng dẫn vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn và tích cực đấu tranh có hiệu quả, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đúng như Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong thời đại ngày nay…”. Quán triệt yêu cầu này trong đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên, tuyên truyền viên cần phải làm cho đội ngũ này tinh thông về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và am tường vận dụng vào thực tiễn trong từng nội dung truyền đạt cho người học, làm cho người học thấm thía lời dạy của Bác Hồ: “Việc học tập lý luận của các đồng chí không phải nhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông, mà nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn, nghĩa là các đồng chí phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta. Như thế, chúng ta học tập lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế” và “Khi học tập, các đồng chí cũng cần liên hệ với những vấn đề thực tế ở trong nước và trên thế giới, những vấn đề và nhiệm vụ cách mạng hiện đang đề ra cho Đảng ta; đem lý luận học được tìm xem đường lối và phương pháp giải quyết các vấn đề đó như thế nào cho đúng; hoặc phân tích các kinh nghiệm công tác đã qua của Đảng và tìm nguyên nhân của những thành công và thất bại của Đảng. Như thế sẽ giúp cho việc củng cố lập trường, nâng cao quan điểm và phương pháp của mình”.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, để làm tốt hơn nữa vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội

Triển khai thực hiện giải pháp này cần gắn kết chặt chẽ, đồng bộ một cách thực chất với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “Về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Quy định số 08-QĐ/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” và Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị “Về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” nhằm làm cho Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng với Dân như cá với nước, đúng như di huấn của Bác Hồ và niềm tin yêu của nhân dân đối với Đảng.

Muốn đạt được những yêu cầu nêu, trên các tỉnh ủy, thành ủy, ban cán sự Đảng các bộ, ngành và các địa phương từ tỉnh đến huyện ủy, cần tiến hành kiểm tra, đánh giá việc triển khai thực hiện trong thời gian qua của các cấp thuộc phạm vi lãnh đạo, chỉ đạo của mình để rút kinh nghiệm và kịp thời uốn nắn, khắc phục trong thời gian tới. Đặc biệt là phải chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt thường kỳ của chi bộ, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình trên tình đồng chí nhằm giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh, đoàn kết và nâng cao sức chiến đấu của Đảng. Tuyệt đối tránh tình trạng làm hình thức, qua loa, đại khái. Đồng thời, phải đề cao kỷ luật, kỷ cương của Đảng, tiến hành kiểm tra sâu sát, thực chất để những Nghị quyết, Chỉ thị và Quy định của Đảng đã nêu trên thực sự có hiệu lực trong lãnh đạo, chỉ đạo, được triển khai thực hiện nghiêm túc, đem lại kết quả có giá trị, góp phần tích cực làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh và là đạo đức, văn minh - nhân tố cơ bản hàng đầu bảo đảm sự tồn tại, phát triển của Đảng, của chế độ và sự phát triển bền vững của đất nước.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả về xây dựng, chỉnh đốn hệ thống chính trị, làm cho hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, vững mạnh, thật sự là “cầu nối” gắn bó máu thịt, sâu rộng giữa Đảng với Dân (nhất là thế hệ trẻ)

Để huy động và phát huy sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng, nước ta có một hệ thống chính trị tập hợp xung quanh Đảng từ Trung ương đến địa phương và cơ sở. Đây là lực lượng hùng hậu bảo vệ Đảng và là “cầu nối” gắn bó máu thịt giữa Đảng với Dân, phát huy ảnh hưởng của Đảng một cách sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân trên khắp mọi miền đất nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Nhằm phát huy vai trò to lớn đó của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, nhất là các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh, tổ chức Công đoàn và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,... trong các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, đấu tranh vạch trần những âm mưu thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khắc phục tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hiện nay. Để làm tốt vai trò đó, cần phải tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả về xây dựng, chỉnh đốn hệ thống chính trị, làm cho hệ thống chính trị của nước ta thật sự tinh gọn, trong sạch, vững mạnh, luôn quan tâm đến dân, biết lắng nghe ý kiến, nguyện vọng chính đáng của dân, có đội ngũ cán bộ đủ năng lực, phẩm chất làm tốt nhiệm vụ được nhân dân tin tưởng giao phó, không cửa quyền, sách nhiễu, ức hiếp dân và làm tốt “cầu nối” giữa Đảng với Dân; kịp thời phát hiện những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và nắm bắt những diễn biến tiêu cực về tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để phản ánh với tổ chức Đảng. Đồng thời, tiến hành những giải pháp thích hợp để đấu tranh, phản bác mạnh mẽ đối với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực chống đối; uốn nắn, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ - lực lượng nòng cốt kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Bốn là, tiến hành mạnh mẽ, sâu rộng, liên tục trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động đấu tranh phản bác, phê phán những luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ âm mưu của các thế lực thù địch để phòng tránh

Nhằm thực hiện giải pháp này một cách hiệu quả, phải nắm rõ âm mưu, thủ đoạn, phương thức tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và lai lịch của những phần tử thù địch cùng mục tiêu hoạt động chống phá của chúng. Đồng thời phải theo sát tình hình diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận xã hội trước những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để xây dựng lực lượng, tiếp tục thực hiện đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng và tuyên truyền, giáo dục lý luận bảo đảm tính khoa học, sát thực tiễn, có tính thiết thực và hiệu quả. Đặc biệt là trên đài truyền hình, đài phát thanh, báo, tạp chí,... phải thường xuyên có các bài viết, bài thuyết trình của những chuyên gia am tường sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trình bày những nội dung cơ bản, trọng yếu một cách thiết thực, dễ hiểu, làm rõ ý nghĩa thời đại của mỗi nội dung trình bày, liên hệ chặt chẽ và làm rõ giá trị thực tiễn của những nội dung đó. Nói cách khác, những bài thuyết trình, bài viết đó phải có tính chiến đấu sắc bén và tính thuyết phục cao, hấp dẫn thu hút được nhiều người đọc, người nghe nhằm nâng cao năng lực tự bảo vệ của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Làm được như vậy sẽ góp phần tích cực vào việc đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã đề ra là: “Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

 

Nhận diện một số luận điệu sai trái, xuyên tạc về lợi ích quốc gia - dân tộc

 

 Nhận diện một số luận điệu sai trái, xuyên tạc về lợi ích quốc gia - dân tộc 

Thứ nhất, luận điệu cho rằng bảo vệ chế độ XHCN không phải là nội hàm của bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc

Các thế lực thù địch, phản động cho rằng: “Bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, chứ không phải là bảo vệ một chế độ chính trị hay một đảng phái nào”. Thậm chí, những người này còn tuyên truyền rằng phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ CNXH thì đất nước mới có điều kiện để bảo đảm và giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. Họ còn đưa ra luận điệu đòi “Đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc” để giữ gìn độc lập, chủ quyền đất nước, lợi ích quốc gia dân tộc. Bản chất của luận điệu này chính là muốn tách rời mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. 

Thực tiễn lịch sử của Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho thấy, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đi theo con đường phong kiến hay tư sản đều thất bại. Trên hành trình tìm đường cứu nước, từ việc tìm hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã chứng minh sự lựa chọn đó là đúng đắn. 

Nhưng CNXH không chỉ là mục tiêu để giành độc lập dân tộc, mà việc thực hiện các mục tiêu của CNXH còn là cơ sở để củng cố vững chắc độc lập dân tộc và các giá trị của độc lập dân tộc mới được thực hiện đầy đủ. Đối với Việt Nam, từ khi có Đảng Cộng sản, độc lập dân tộc là một nền độc lập thật sự chứ không phải là thứ “độc lập giả hiệu”, “độc lập nửa vời”, “độc lập hình thức”. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, nền độc lập đó phải gắn với dân chủ, tự do, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân lao động, nghĩa là độc lập dân tộc phải gắn với CNXH. Bởi vì: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. 

Thực tiễn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Thu nhập bình quân đầu người từ 200 USD năm 1990 lên 2.779 USD năm 2020. Quy mô nền kinh tế nước ta đạt khoảng 271,2 tỷ USD năm 2020. Năm 2019, tăng trưởng GDP cả nước đạt 7,02%. Năm 2020, dưới tác động của đại dịch Covid-19, nhiều nước trên thế giới đã rơi vào suy thoái. Tuy nhiên, Việt Nam là quốc gia hiếm hoi duy trì tăng trưởng dương (+2,91%), dịch bệnh được kiểm soát, bảo đảm an sinh xã hội. Kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hiệp định song phương với hơn 100 nước. Văn hóa, xã hội và đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Thành tựu về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm từ 53% năm 1993 xuống còn dưới 4% năm 2019. 

Những thành tựu đó của chúng ta đã được thế giới ghi nhận. Bằng chứng là, Việt Nam được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng kinh tế - xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018. Năm 2020, Việt Nam cùng lúc đảm nhiệm ba trọng trách: Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA…

Những thành tựu trên là minh chứng cho sự gắn kết giữa độc lập dân tộc và CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã viết: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể giải quyết căn cơ vấn đề độc lập cho dân tộc và cuộc sống tự do, hạnh phúc cho số đông nhân dân. Thực tiễn Việt Nam, từ khi có Đảng Cộng sản, có Nhà nước XHCN, nhất là 35 năm đổi mới, đã chứng minh điều này. Trong đại dịch Covid-19, những thành công đạt được trong hỗ trợ người dân chăm lo sức khỏe, phát triển kinh tế, ổn định đời sống đã minh chứng ở Việt Nam “không ai bị bỏ lại phía sau”. Chúng ta không chỉ tăng trưởng kinh tế mà còn giải quyết được nhiều vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế”.  

Những thành tựu đó một lần nữa chứng minh, để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam phải bảo vệ cả độc lập chủ quyền, bảo vệ nhân dân thống nhất với bảo vệ chế độ XHCN. 

Thứ hai: luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam không đại diện cho lợi ích quốc gia - dân tộc và bất cứ lực lượng nào đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết đều có thể trở thành lực lượng lãnh đạo.

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã tung nhiều thông tin xuyên tạc, như: “Cộng sản khinh dân, Đảng Cộng sản đã mạo nhận là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Trong lịch sử, không có khi nào Đảng Cộng sản phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà cộng sản chỉ lợi dụng công nhân và nhân dân lao động để phục vụ quyền lợi của Đảng Cộng sản”... Lợi dụng một số hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhiều kẻ đã rêu rao: “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”. Trong khi Đảng nhận rõ những hạn chế, tăng cường chỉnh đốn Đảng, chúng lại cố tình phủ nhận những nỗ lực của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho rằng những hành động đó không phải vì lợi ích dân tộc mà chỉ nhằm “che mắt thế gian”,... Do đó, họ cho rằng, lực lượng nào lãnh đạo không quan trọng, miễn là đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Đây là quan điểm sai trái, muốn tách rời Đảng với dân tộc, muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội. 

Trước hết, cần khẳng định, ở Việt Nam, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ trí tuệ, bản lĩnh để lãnh đạo đất nước, mà cũng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới thực sự vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong lịch sử, đã xuất hiện những lực lượng muốn vươn lên vị trí lãnh đạo nhưng hoặc không đủ khả năng hoặc là những kẻ cơ hội. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản xuất hiện thêm hai đảng là Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt cách) và nhiều tổ chức, đảng phái chính trị khác. Thực chất, lãnh đạo cách mạng Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản, các đảng phái khác không đại diện cho lợi ích của nhân dân và dân tộc. Khi quân Trung Hoa Dân quốc rời khỏi Việt Nam, hai đảng cũng rút theo. Như vậy, những đảng phái không đứng về phía nhân dân, không thực sự mang lại lợi ích chính đáng cho nhân dân đã bị chính lịch sử và nhân dân loại bỏ. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là sự lựa chọn của lịch sử, của nhân dân.

Sự lựa chọn đó là đúng đắn. Kể từ khi thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong hơn 93 năm qua, thành công của Đảng có được vì lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của dân tộc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đồng thời, lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp được bảo đảm khi đặt đưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này hoàn toàn khác với đảng chính trị trong thể chế đa đảng, khi đảng đó chỉ đại biểu cho một nhóm lợi ích nhất định, mà trong rất nhiều trường hợp lợi ích cục bộ của đảng phái mâu thuẫn, xung đột với lợi ích chung của xã hội.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, bất cứ người nào, không phân biệt thành phần xuất thân, khi được giác ngộ lý tưởng cách mạng, tự nguyện đứng trên lập trường giai cấp công nhân để phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, thực hiện theo Cương lĩnh và Điều lệ Đảng, đều được bồi dưỡng và kết nạp vào Đảng. Điều lệ Đảng ghi rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam là “đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp, của dân tộc, của nhân dân; Đảng đấu tranh kiên quyết với mọi biểu hiện chủ nghĩa biệt phái, “lợi ích nhóm”, không chỉ có nguy cơ gây chia rẽ nội bộ mà còn làm suy giảm năng lực đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đã chứng minh, Đảng luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa, khi phát xít Nhật vào Đông Dương, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”, lợi ích của giai cấp, của bộ phận phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Trở thành Ðảng cầm quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc vẫn được Ðảng đặt lên hàng đầu, tất cả vì đoàn kết dân tộc, giữ vững nền độc lập vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. 

Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt phải chống thù trong, giặc ngoài, Ðảng Cộng sản phải rút vào hoạt động bí mật, “Ðể tỏ rằng: những đảng viên cộng sản là những chiến sĩ tiền phong của dân tộc, bao giờ cũng hy sinh tận tụy vì sự nghiệp giải phóng của toàn dân, sẵn sàng đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của giai cấp, hy sinh quyền lợi riêng của đảng phái cho quyền lợi chung của dân tộc”. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, những người cộng sản luôn đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh và chấp nhận hy sinh vì Tổ quốc. 

Cũng vì luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, Đảng sẵn sàng thẳng thắn nhìn nhận sai lầm, khuyết điểm để sửa sai. Năm 1939, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ với bút danh Trí Cường đã viết tác phẩm Tự chỉ trích, một mẫu mực về đấu tranh tự phê bình và phê bình, làm rõ những khuyết điểm của Đảng khi không đoàn kết, không nhận được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân trong cuộc bầu cử vào Viện Dân biểu, Hội đồng Quản hạt ở Nam Kỳ... Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Sửa đổi lối làm việc với tinh thần tự phê bình nghiêm túc. Đến Đại hội VI, Đảng đã tự phê bình và chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm, từ đó đưa ra đường lối đổi mới. Tinh thần thẳng thắn này tiếp tục được thể hiện trong các kỳ Đại hội, trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng.

Sau khi đất nước thống nhất, bước sang giai đoạn xây dựng CNXH, lợi ích quốc gia - dân tộc vẫn luôn là nhiệm vụ trọng tâm được Đảng nhận thức sâu sắc qua các kỳ Đại hội, nhất là thời kỳ đổi mới. Hội nghị Trung ương 8 khóa IX (tháng 7-2003) chỉ rõ: “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của Tổ quốc”. Đại hội XI của Đảng (năm 2011) xác định, mục tiêu của đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ mới là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc”. Như vậy, vấn đề lợi ích quốc gia - dân tộc luôn được Đảng khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi”. 

Cuộc chiến chống tham nhũng với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” đã khẳng định, tất cả những cán bộ đảng viên chỉ vì lợi ích cá nhân, vì lợi ích nhóm mà bỏ quên và làm tổn hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước, đều bị nghiêm trị. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đạt được kết quả tích cực.

Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn hành động vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt, chung sức, đồng lòng, khoanh vùng, kiểm soát, đón người Việt từ vùng dịch về, hỗ trợ doanh nghiệp, những đối tượng yếu thế trong xã hội... Tổ chức Y tế thế giới, nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia, báo chí các nước ghi nhận và đánh giá cao kết quả phòng, chống dịch của Việt Nam. Nhờ những thành tựu đó, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng đã tăng lên rất nhiều, cho thấy sự ghi nhận của nhân dân đối với sự nỗ lực, tinh thần vì dân, vì nước của đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Thứ ba, luận điệu xuyên tạc cho rằng Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam không bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền, biển đảo.

Trước một số sự việc liên quan đến vấn đề về biên giới lãnh thổ, nhất là vấn đề ở Biển Đông, có luận điệu cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam vì vấn đề hệ tư tưởng mà “bỏ quên” lợi ích quốc gia - dân tộc. Thậm tệ hơn, họ xuyên tạc trắng trợn khi cho rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam “nhu nhược” trong đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; những đối sách của Đảng, Nhà nước né tránh vấn đề Biển Đông. Và rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam đã “thỏa thuận” với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, “Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”, Việt Nam và Trung Quốc “ngầm thỏa thuận” để không làm căng thẳng tình hình Biển Đông. Thậm chí có ý kiến cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đã bán nước cho Trung Quốc vì lợi ích của Đảng, vì cùng chung ý thức hệ.

Lợi dụng, dựa dẫm vào những luận điệu xuyên tạc trên và “nhân danh”  “vì lợi ích quốc gia - dân tộc”, vì “lòng yêu nước”, một số kẻ gây rối, kích động nhân dân chống phá Đảng, Nhà nước; gây ra một số vụ bạo loạn, làm phức tạp tình hình xã hội, tạo hận thù dân tộc, chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam. 

Phải khẳng định lại lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Tất cả phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Việt Nam sẽ không bao giờ nhân nhượng trước những gì thuộc về chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”. Bên cạnh đó, cũng phải bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, Việt Nam cần giải quyết các tranh chấp, bất đồng một cách “khôn khéo, kiên quyết” bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Hoàn toàn không phải là “nhu nhược” hay vì “cùng ý thức hệ” như những kẻ chống phá xuyên tạc. 

Nhìn lại lịch sử dân tộc, chúng ta luôn nhớ những bài học của ông cha trong ứng xử với triều đình phong kiến phương Bắc. Chẳng hạn như chính sách “Trong xưng đế, ngoài xưng vương”, bề ngoài trên danh nghĩa chịu “thần phục”, chấp nhận cống nạp để được phong chức tước, công nhận chủ quyền, hoãn binh, ngăn chặn chiến tranh, giữ yên bờ cõi... bên trong thì xưng “Hoàng Đế” để cai quản, trị vì đất nước. Hay bài học trong sự kiện năm 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định ký Hiệp định Sơ bộ (ngày 6-3-1946) với Pháp theo “hòa để tiến”. Những hành động như vậy không phải là “nhu nhược” mà chính là để bảo vệ cái cốt lõi nhất của lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ hòa bình. Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; trong đó, lợi ích “bất biến” là độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và chế độ xã hội XHCN làm kim chỉ nam để ứng xử một cách có nguyên tắc nhưng rất linh hoạt với mọi tình thế.

Không phải là một nước lớn nên Việt Nam cần có cách ứng xử mềm dẻo, linh hoạt để bảo đảm hòa bình, ổn định cho sự phát triển đất nước. Việt Nam đã và đang áp dụng triệt để các nguyên tắc trong Hiến chương Liên hợp quốc, thể hiện sự nhất quán trong quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước: Việt Nam luôn nỗ lực trong giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; tôn trọng, ưu tiên áp dụng quy định của điều ước quốc tế, tích cực thực hiện các cam kết quốc tế; nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Thực hiện điều này giúp Việt Nam tránh được xung đột về quân sự, tránh bị cô lập về kinh tế, cô lập về ngoại giao, tránh bị lệ thuộc về chính trị. Chủ trương đúng đắn và các nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền quốc gia đã tạo được sự đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp, lập trường chính nghĩa của Việt Nam. 

Tại Đại hội XII, Đảng ta khẳng định lợi ích quốc gia là “tối cao”, nghĩa là bất di bất dịch. Đến Đại hội XIII, trước tình hình chủ nghĩa dân tộc cực đoan trỗi dậy, Đảng đã có sự điều chỉnh phù hợp khi nhấn mạnh “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc”, cùng với những yếu tố hài hòa lợi ích riêng và lợi ích chung. Đó là tôn trọng và bảo đảm lợi ích chính đáng của các quốc gia khác trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đó cũng chính là vì lợi ích quốc gia - dân tộc mình.

“Đất nước ta chưa bao giờ có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay", có được điều đó là vì, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, cũng như đã xác định được con đường phát triển cho toàn thể dân tộc: con đường độc lập dân tộc gắn liền CNXH. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất có đủ bản lĩnh và trí tuệ lãnh đạo đất nước cũng luôn bảo vệ lợi ích của Tổ quốc. Những thành tựu đó là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định sự lựa chọn lực lượng dẫn dắt dân tộc và con đường phát triển của nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn, là sự thật mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc được.

 

 KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN
TÍNH KHOA HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN 


Những người bài bác chủ nghĩa Mác - Lênin cố chứng minh rằng C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin không phải là các nhà khoa học. Họ cố tình xuyên tạc rằng, "Chủ nghĩa Mác chỉ là một thứ ý thức hệ hư ảo", "một thứ nói dối có ý thức", "những vở kịch trá hình", "chứ đầy tính chất huyễn tưởng"; còn V.I.Lênin thì làm tăng sự huyễn tưởng ấy của C.Mác "lên hơn một lần"; rằng "C.Mác và V.I.Lênin là những nhà xã hội duy tâm, siêu hình và không tưởng", chủ nghĩa Mác - Lênin là ảo tưởng", "giả tưởng"...

Bất chấp những luận điệu xuyên tạc nói trên, thực tiễn đã chứng minh chủ nghĩa Mác - Lênin là một khoa học, hơn nữa là một khoa học biện chứng, hiện đại, khoa học về những quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội, về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bóc lột, về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin chính là ở sự chân xác về khoa học, ở tính toàn diện, tính hệ thống, tính biện chứng của nó nhằm mục đích giải phóng người lao động, giải phóng xã hội khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, mọi sự tha hoá, thực hiện một xã hội công bằng, nhân đạo…và thực tiễn lịch sử vận động, phát triển của xã hội loài người trong từng lĩnh vực đang từng bước đưa ra những bằng chứng thực tiễn để minh chứng cho những lý luận đó.

Với linh hồn sống là phép biện chứng duy vật, với hòn đá tảng kinh tế là học thuyết giá trị thặng dư, với những phát kiến vĩ đại về chủ nghĩa duy vật lịch sử mà nội dung cơ bản là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, vai trò lịch sử của giai cấp công nhân,... chủ nghĩa Mác - Lênin cho đến nay vẫn là đỉnh cao của trí tuệ loài người, là khoa học chính xác và hoàn bị, chưa có gì thay thế được. Cho dù có phải bổ sung, phát triển hoàn thiện thêm (đây là điều tất yếu) thì những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện ngày nay vẫn đúng. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng mình. Cho dù có những kẻ có tình bóp méo, xuyên tạc thì chủ nghĩa Mác-Lênin, vẫn có sức sống dẻo dai và giá trị bền vững, xanh tươi của nó.

Việc chủ nghĩa Mác - Lênin bị tấn công, bị xuyên tạc không có gì là khó hiểu cả. Người ta thâm thù, xuyên tạc từ lâu rồi, từ 160 năm nay đối với chủ nghĩa Mác và hơn 100 năm đối với chủ nghĩa Lênin. Chẳng những thế, người ta còn tìm mọi cách hòng bóp chết chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ năm 1913, V.I.Lênin đã nói về chủ nghĩa Mác rằng: Trong toàn thế giới văn minh, học thuyết của Mác đã gây ra cừu địch mạnh nhất và lòng căm thù toàn thế giới khoa học tư sản... Không thể trông mong có một thái độ nào khác thế được, vì trong một xã hội xây dựng trên đấu tranh giai cấp thì không thể có một khoa học xã hội "vô tư"... Mong đợi một khoa học vô tư trong một xã hội xây dựng trên chế độ nô lệ làm thuê là một sự ngây thơ khờ khạo.

Việc các thế lực thù địch bài bác chủ nghĩa Mác- Lênin chỉ càng chứng tỏ tính đúng đắn, tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, điều mà các nhà tư tưởng chống cộng rất lo sợ. Và cứ mỗi lần phải đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng đối lập thì chủ nghĩa Mác - Lênin lại một lần nữa tỏ rõ sức sống mãnh liệt của mình. Chủ nghĩa Mác - Lênin chẳng những phải đấu tranh chống lại những quan điểm tư tưởng tư sản phản động mà còn phải đương đầu với những khuynh hướng sai lầm trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế như: “chủ nghĩa xã hội Vương quốc Phổ” của phái Latxan ở Đức, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản của phái Prudông ở Pháp và ở Bỉ chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh của các thủ lĩnh công đoàn Anh; chủ nghĩa phiêu lưu "tả" khuynh của những người cộng sản Đức; chủ nghĩa vô chính phủ của phái Bacunin ở Nga, chủ nghĩa dân tộc tư sản trên các vấn để chiến tranh và thuộc địa... ;và ngày nay, là đủ các thứ "trào lưu", mà các thế lực thù địch cố tính nặn ra như chúng ta đã biết.

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn đang có sức hấp dẫn, chinh phục hàng tỷ con người trên hành tinh này bởi tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân đạo sâu sắc của nó đã đang và sẽ được thực tiễn minh chứng để làm sáng tỏ.

TẤM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ

 


Bác Hồ kính yêu luôn dành sự quan tâm đặc biệt với thương binh, liệt sĩ - những người hy sinh tính mạng hay một phần thân thể cho công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc. Tình cảm của Người biểu hiện sâu sắc truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” cao đẹp của dân tộc Việt Nam.


Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đưa nhân dân ta thoát khỏi xích xiềng nô lệ của thực dân, đế quốc, phong kiến. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội, Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Nhưng niềm vui được hưởng độc lập, tự do của nhân dân ta chưa trọn vẹn vì chỉ 21 ngày sau Ngày Quốc khánh, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp với âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa, đã gây hấn ở Sài Gòn. Nhân dân Nam Bộ lại phải tiếp tục cầm súng, đứng lên cứu nước. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, rất nhiều người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống trên chiến trường hoặc khi trở về đã mang thương tật.


Nhằm động viên các gia đình có người đã hy sinh, ngày 2/10/1945, Bác Hồ đến Nhà thờ Lớn (Hà Nội) làm lễ cầu hồn cho các chiến sĩ hy sinh ở miền Nam và trong phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 20/11/1945, Người đề nghị Chính phủ ra Sắc lệnh truy tặng 5 liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc tại quận Cái Răng, Cần Thơ vào ngày 12/11/1945 (1).


Chia sẻ nỗi đau với thân nhân liệt sĩ, ngày 7/11/1946, Bác Hồ ra “Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi” (2)...


Sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ dành cho thương binh, gia đình liệt sĩ thể hiện ở chỗ Người cho rằng cần phải có Ngày Thương binh - Liệt sĩ để  “tưởng nhớ những người con đã để lại một phần thân thể hoặc bỏ mình trong khi làm nhiệm vụ vinh quang, đem xương máu đắp thành bức tường đồng, thành con đê vững chắc để ngăn chặn giặc ngoại xâm...”.


Với ý nghĩa ấy, tháng 6/1947, Bác đã chỉ thị chọn 1 ngày trong năm làm ngày “Ngày Thương binh”. Thực hiện chỉ thị của Người, Hội nghị trù bị gồm đại biểu các cơ quan, các ngành ở Trung ương, khu và tỉnh họp ở Phú Minh, Đại Từ, Thái Nguyên nhất trí lấy ngày 27/7/1947 là “Ngày Thương binh, Liệt sĩ”.


Bác Hồ nêu rõ sự đền ơn, đáp nghĩa thương binh, gia đình liệt sĩ cần phải được thể hiện bằng những việc làm cụ thể, bằng sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần do Nhà nước và nhân dân cùng thực hiện. Khi giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ thì “nên coi đó là nghĩa vụ của nhân dân. Không nên coi đó là việc làm phúc”.


Trong Ngày Thương binh - Liệt sĩ tổ chức lần đầu tiên ở Việt Bắc (27/7/1947), tại cuộc mít tinh kỉ niệm có mặt 2.000 người tham dự, Ban Tổ chức đã đọc bức thư của Bác Hồ gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức Ngày “Thương binh toàn quốc”, nói rõ ý nghĩa của ngày kỷ niệm và kêu gọi mọi người có hành động thiết thực giúp đỡ thương binh: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm đau, què quặt. Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy" (3).


Nhân ngày này, Bác Hồ gửi tặng Ban Thường trực 1 chiếc áo lụa, 1 tháng lương của Người, tiền 1 bữa ăn của Người và của nhân viên làm việc trong Phủ Chủ tịch, tổng cộng 1.127 đồng.


Xuất phát từ thực tế đất nước còn nghèo lại đang tiến hành kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ cho rằng công tác thương binh, liệt sĩ là việc làm “lâu dài chứ không phải chỉ trong một thời gian”. Do đó, phải chú trọng những biện pháp để đồng bào nhiệt tình đền ơn, đáp nghĩa, còn những người được giúp đỡ thì “yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần và có dịp tham gia hoạt động lợi ích cho xã hội”.


Với các thương binh, Người ân cần căn dặn: “Hòa mình với nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân, không công thần, không coi thường lao động, không coi thường kỷ luật, không bi quan chán nản” và “thương binh tàn nhưng không phế”...


Hằng năm, cứ đến ngày 27/7, Bác đều gửi thư và tặng quà cho các thương binh, gia đình liệt sĩ. Trước lúc đi xa, Bác Hồ vẫn luôn canh cánh trong lòng việc đền ơn đáp nghĩa với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ.


Tháng 5/1968, mặc dù đang ốm mệt, Người vẫn đọc lại bản thảo Di chúc và viết bổ sung một số nội dung, trong đó có đoạn về thương binh, liệt sĩ: "Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong..,), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.


Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.


Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét" (4).


Thực hiện tâm nguyện của Người, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã thể hiện trách nhiệm đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ bằng những chính sách ngày càng hoàn thiện.


Trong cả nước, những chương trình xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa; chăm sóc và nuôi dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng; quy tập hài cốt liệt sĩ vào nghĩa trang; xây dựng nhà tình nghĩa cho thương binh, gia đình liệt sĩ cùng với chương trình hỗ trợ vốn giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, miễn viện phí, học phí cho những gia đình chính sách đã được thực hiện.


Điều đó cho thấy dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn coi trọng công tác thương binh, liệt sĩ, thể hiện truyền thống, đạo lý tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” ngàn đời của dân tộc Việt Nam.

TRƯỜNG SƠN NGÀY ẤY TÌM EM

 


Trường Sơn ngày ấy tìm em

Cái gương cái lược anh đem làm quà

Mang theo hương lúa quê nhà

Lá thư tình mẹ theo ra chiến trường.


Trường Sơn sống chết coi thường

Chỉ buồn sốt rét chán chường màu da

Tóc dài bên suối thướt tha

Cái gương cái lược như là của nhau.


Cơm rừng lạt muối thiếu rau

Mái đầu con gái chuyển màu thật nhanh

Trường Sơn là của tuổi xanh

Cũng thầm mong đợi tình anh nơi này.


Phá bom nổ chậm đêm ngày

Em là cô gái chia tay sân trường

Nhìn da sạm nắng có thương

Những cô thiếu nữ mở đường xe qua.


Dẫn đường bộ đội vào ra

Đèo cao dốc đứng xông pha bám đường

Cho dù bon đạn gió sương

Chúng em vẫn phải soi gương chải đầu.


Những bông hoa của rừng sâu

Thương em phận gái sống lâu trong rừng

Chút quà anh cõng trên lưng

Gương soi cùng với lược sừng tặng em.

ĐỘI VIỆT NAM HÁT QUỐC CA VỚI TẤT CẢ SỰ TỰ HÀO



Trang New York Post so sánh về màn chào cờ của tuyển Việt Nam và tuyển Mỹ ở trận ra quân World Cup nữ 2023: 


"So sánh, các thành viên của đội tuyển Việt Nam lần đầu tiên tham dự World Cup đã ngân nga bài hát Quốc gia “Tiến quân ca” một cách dõng dạc.


Tất cả 11 người chơi đã đồng thanh hát Quốc ca một cách say mê, với cánh tay phải đặt lên trái tim của họ.


Các HLV và người hâm mộ say mê hát Quốc gia khi lần đầu tiên tham dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới". 


Trong khi đó, chỉ có 5/11 cầu thủ Mỹ hát Quốc ca, 6 đồng đội của họ chắp tay sau lưng. Đây là cách mà các cầu thủ Mỹ biểu tình, thể hiện sự ủng hộ phong trào bảo vệ người da màu.


NỮ TIẾN SĨ BÁM BẢN DẠY HỌC ĐỂ "TRẢ NỢ"

 


Giáo viên muốn về vùng biên giới dạy học đã ít, giáo viên giỏi muốn ở lại còn ít hơn. Vậy mà gạt đi những cơ hội hấp dẫn, Tiến sĩ Lã Thị Thanh Huyền tình nguyện bám trường, bám bản với khát khao cống hiến để “trả nợ” mảnh đất đã nuôi dưỡng mình.


Khi tiếng Mông bước vào đề tài luận án tiến sĩ


Đến Trường Phổ thông THCS dân tộc bán trú Tây Sơn (huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An)-nơi chị Huyền đang làm Phó hiệu trưởng-vào một buổi chiều muộn, chúng tôi có dịp quan sát chị họp chuyên môn với đồng nghiệp. Nhìn cách chị Huyền triển khai công việc, chúng tôi thêm hiểu vì sao cô gái quê gốc TP Vinh, tỉnh Nghệ An lại có thể gắn bó 20 năm cuộc đời mình ở mảnh đất miền Tây xứ Nghệ đầy nắng gió.


Về công tác tại Kỳ Sơn đầu năm 2003, cô nữ sinh Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) Lã Thị Thanh Huyền được phân công dạy học tại Trường THCS Mường Lống ở xã vùng cao của huyện Kỳ Sơn. Tiếng Mông đến với chị Huyền từ mong muốn hiểu ngôn ngữ, văn hóa, tập quán của người Mông để có thể truyền đạt kiến thức cho học sinh. Đến khi chị Huyền làm dâu của người Mông thì Mường Lống trở thành quê hương thứ hai của chị và các con.


Là dâu người Mông nên chị Huyền càng có cơ hội nhận ra học sinh người Mông không hề kém mà chỉ chưa thành thạo tiếng Việt để tiếp nhận kiến thức. Ngôn ngữ là vật chất của tư duy. Không có vốn tiếng Việt thì không thể viết tư duy của mình, nói ý nghĩ của mình bằng tiếng Việt. Làm thế nào để học sinh người Mông nâng cao chất lượng học tập? Với trăn trở đó, năm 2011, chị Huyền xuống núi thi cao học ở Khoa Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học Vinh. Đề tài “Rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh dân tộc Mông ở trường trung học cơ sở” đã được chị đưa vào luận văn bảo vệ thạc sĩ thành công năm 2013. Chưa dừng lại ở đây, năm 2019, chị Huyền bảo vệ thành công đề tài luận án tiến sĩ “Dạy học đọc hiểu văn bản thông tin trong môn Ngữ văn cho học sinh dân tộc thiểu số Mông ở trường trung học cơ sở”.


Nhận tấm bằng tiến sĩ trở về, chị Huyền được nhiều trường đại học lớn chiêu mộ bởi chuyên ngành chị theo đuổi là một trong những chuyên ngành mà hệ thống đại học đang rất thiếu. Trở về Trường THCS Na Ngoi làm một giáo viên dạy Ngữ văn bình thường, chị nhận ra mục tiêu đi học của mình hóa ra không phải để có cơ hội thay đổi môi trường tốt hơn mà là muốn làm những điều có giá trị cho Kỳ Sơn. “Ngày xưa cứ nghĩ học xong để đi về xuôi nhưng tôi mang ơn Kỳ Sơn. Mảnh đất này đã đón nhận tôi những ngày mới ra trường và nuôi tôi đi học, tôi quay lại để cống hiến, để trả ơn. Bạn ở đâu không quan trọng, mà ở đó bạn làm gì, có thoải mái không, có hứng thú không. Thế là tôi ở lại”, chị Huyền tâm sự.


Mong biến “đá thành ngọc”


Trong suốt 20 năm công tác ở Kỳ Sơn, chị Huyền chia sẻ: “Ba năm ở Trường Phổ thông THCS dân tộc bán trú Tây Sơn là thời gian đặc biệt nhất trong nghề của tôi. Những trăn trở, hoài bão, ý tưởng đến việc triển khai thực hiện được đồng bộ. Nhiều giải pháp thành công hơn cả mong đợi”. Đặc biệt, ý tưởng thành lập Câu lạc bộ Bảo tồn nghệ thuật dân gian dân tộc Mông của chị Huyền đã trở thành hiện thực. Cùng với sự đồng hành của thầy Vi Văn Hùng, Tổng phụ trách Đội của nhà trường, câu lạc bộ thu hút sự quan tâm của học sinh, nhen lên tình yêu, niềm tự hào về giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc Mông, để các em có trách nhiệm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc... Mới thành lập được ít năm nhưng đến giờ, câu lạc bộ đi thi ở đâu đều gặt hái thành công ở đó. 


Song song với các hoạt động ngoại khóa, những nghiên cứu khoa học của TS Lã Thị Thanh Huyền đều được áp dụng vào hoạt động giảng dạy, khai thác những mặt mạnh của giáo viên và học sinh. Hành trình đầy nỗ lực, đam mê và trách nhiệm của chị Huyền lại có thêm "trái ngọt" khi lần đầu Trường Phổ thông THCS dân tộc bán trú Tây Sơn đi thi có giải-năm học 2021-2022, học sinh của chị đoạt giải ba cấp huyện và cấp tỉnh cuộc thi khoa học kỹ thuật. Chất lượng học sinh được nâng dần lên, chỉ sau 3 năm từ vị trí cuối, trường đã vươn lên đứng thứ 13/19 trường toàn huyện. Trước đây, học sinh ở Tây Sơn chỉ có 1 đến 2 học sinh giỏi cấp huyện thì nay con số đã là hơn 10 em.


Ở vùng đất lần đầu tiên có giáo viên trình độ tiến sĩ thì việc một số người không hiểu công việc của họ đặc thù thế nào cũng không có gì lạ. Vượt qua những khó khăn ngoại cảnh, nói như giới nghiên cứu khoa học thì lĩnh vực dân tộc thiểu số như một vùng đất hoang, có rất nhiều đề tài để khai phá, để thay đổi. Chị Huyền mong mình có nhiều “đất” để triển khai các ý tưởng, từ định hướng nghề nghiệp cấp THCS đến tiếp cận tốt Chương trình giáo dục phổ thông 2018.


Nhìn lại hai thập niên đồng hành với học trò nơi vùng cao, chị Huyền trải lòng: “Thực tế, kiến thức hiện nay nhiều và nặng, không phân biệt đối tượng, dân tộc nào, học sinh lên lớp nghe cô giảng bằng tiếng Việt như “vịt nghe sấm”. Làm thế nào để cân bằng chủ trương bảo tồn tiếng nói của người dân tộc, để họ có tri thức phát triển kinh tế đặc thù vùng miền? Muốn vậy, chương trình học phải khác. Học sinh phải được tiếp cận tri thức bằng chính ngôn ngữ của họ, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai". Vì lẽ đó, đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh về “Nghiên cứu biên soạn tài liệu bổ trợ song ngữ Việt-Mông theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Nghệ An” vừa được phê duyệt đã giúp chị Huyền có thêm cơ hội cống hiến cho mảnh đất Kỳ Sơn nhiều duyên nợ với mình.


Thay đổi giáo dục Kỳ Sơn không chỉ cần những người sẵn sàng hy sinh mà còn rất cần những con người tiên phong thực hiện nhiệm vụ lớn, vì cộng đồng. Chia sẻ về điều này, ông Phạm Viết Phúc, Quyền Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Kỳ Sơn cho biết: “Những mô hình, sáng kiến của cô Huyền đã phát huy hiệu quả. Thông qua những dự án, tỷ lệ học sinh bỏ học thuyên giảm bởi những hoạt động học tập thú vị đã cuốn hút các em tới trường hơn. Chúng tôi muốn lan tỏa mô hình học tập của cô Huyền sang các trường trong vùng khác để nâng cao chất lượng dạy học, đưa học sinh đến trường nhiều hơn". Đồng quan điểm, bà Vi Thị Quyên, Phó chủ tịch huyện Kỳ Sơn cho hay: “Không riêng gì cô Huyền, những ai có chuyên môn giỏi, quản lý tốt đều được lãnh đạo huyện tạo điều kiện để phát triển. Nếu có cơ hội, huyện sẽ bố trí một vị trí, môi trường phù hợp hơn để cô Huyền phát huy tài năng, trí tuệ của mình”

TUỔI THANH XUÂN GỬI CHIẾN TRƯỜNG 🇻🇳

 


Tuổi thanh xuân gửi chiến trường

Vì Tổ quốc chẳng vấn vương trong lòng

Máu xương họ chẳng cân đong

Hy sinh báo tử mấy dòng giản đơn.

Vĩ đại hơn dãy Trường Sơn

Lính Cụ Hồ chiếc áo sờn bạc vai

Dép cao su vượt dặm dài

Chút lương khô, cố gắng nhai vẫn cười.

Đẹp thay cái tuổi đôi mươi

Giản đơn - Họ chỉ là người quân nhân

Cả cuộc đời chẳng công thần

Vì Tổ quốc quyết hiến dâng thân mình.

Những người lính Hồ Chí Minh

Tấm thân họ khắc vào hình nước non

Như tượng đài mãi mãi còn

Ngàn năm họ vẫn là con Cụ Hồ./


Tác giả: Phan Trung Can

TRƯỚC GIỜ G

 


Mùa khô năm 1971-1972, lực lượng cách mạng Việt Nam-Lào mở chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum (Xiangkhouang, Lào) mang mật danh là Chiến dịch Z, với nhiệm vụ: Tiêu diệt lớn quân địch để làm thay đổi sự so sánh lực lượng ở Lào; giải phóng Cánh Đồng Chum-Mường Sủi, tiếp tục mở rộng vùng giải phóng để tạo thế vững chắc liên hoàn.


Sở chỉ huy chiến dịch của ta khi đó đóng ở Phu Nhu-một hang động đá vôi rộng lớn mà từ bên trong có thể nghe rõ tiếng súng của địch dội về. Tại đây, các cán bộ chủ chốt của Bộ tư lệnh Mặt trận 959 gồm: Đại tá Vũ Lập, Tư lệnh; tôi-Đại tá Huỳnh Đắc Hương, Chính ủy; Đại tá Nguyễn Hữu An, Phó tư lệnh (được Bộ tăng cường sang), thường xuyên tổ chức các cuộc họp bàn phương án tác chiến. Khi Chiến dịch Z sắp mở màn, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng là đặc phái viên của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam sang sát cánh cùng chỉ huy Quân Giải phóng nhân dân Lào tham gia chỉ đạo chiến dịch.


Một ngày tháng 2-1972, ở hang chỉ huy Phu Nhu, không khí cực kỳ căng thẳng. Bộ chỉ huy chiến dịch, cán bộ các cục, các trưởng phòng của Mặt trận 959 và phái viên của Bộ đều có mặt. Dự kiến ngày N, giờ G, ta sẽ nổ súng trên toàn tuyến đánh vào trận địa phòng ngự của địch. Thiếu tướng Lê Trọng Tấn mặt đỏ phừng phừng, đi quanh bàn, khi thì chăm chú nhìn vào tấm bản đồ treo trên vách đá, lúc lại quay qua ngó sa bàn, rồi nhìn xung quanh như chờ đợi ai đó nêu ý kiến.


Theo kế hoạch hiệp đồng, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312 đã tiếp cận vị trí xung phong, chỉ đợi đơn vị xe tăng đến là nhất tề tiến công. Thế nhưng do địa hình rừng núi phức tạp, sắp đến giờ nổ súng mà xe tăng ta vẫn chưa vào được vị trí xuất phát tiến công. Trong sở chỉ huy mặt trận, không khí hết sức căng thẳng nếu không nói là có phần lo lắng. Giờ G sắp điểm, Bộ chỉ huy chiến dịch lại nhận được tin trinh sát báo về: Địch cho máy bay thả pháo sáng tập trung về phía Tây Nam cứ điểm phòng ngự của chúng.


Nhiều câu hỏi được đặt ra cùng lúc: Kế hoạch tiến công địch của ta lộ rồi chăng? Sao địch lại thả pháo sáng lúc này? Chúng định tăng cường phòng ngự hay sẽ đánh trước nhằm phá vỡ cuộc tiến công của ta?... Tất cả cán bộ trong Bộ chỉ huy đều căng đầu ra phán đoán. Đồng chí Lê Trọng Tấn đi đi lại lại trong “phòng lớn”, nét mặt căng thẳng. Thế rồi, đồng chí bỏ vào “phòng nhỏ”. Khoảng 3 phút sau trở lại “phòng lớn”, đồng chí dứt khoát khẳng định với các cán bộ đang quây quần bên sa bàn: “Địch đang rút chạy!”, rồi quay sang hỏi chỉ huy trưởng mặt trận: “Sao vẫn chưa thấy 165 nổ súng? Anh lệnh cho 165 nổ súng ngay đi!”.


Đồng chí Vũ Lập trả lời, sở dĩ Trung đoàn 165 chưa nổ súng là vì xe tăng của ta chưa có mặt ở vị trí xuất phát tiến công. Đồng chí Lê Trọng Tấn đỏ mặt giục: “Anh hãy cho 165 nổ súng ngay, không có xe tăng cũng tiến công. Địch mà chạy thoát là chúng ta có tội!”.


Thực hiện mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, quân ta lập tức nổ súng tiến công vào trận địa phòng ngự của địch trước thời gian đã định khoảng một giờ. Quả như phán đoán của đồng chí Lê Trọng Tấn, chỉ có một bộ phận nhỏ quân địch chống cự, còn đại bộ phận đang rút chạy. Lệnh phải lập tức truy kích địch được truyền xuống các đơn vị. Và cũng không may cho quân địch, trên đường rút chạy, chúng lại “đâm sầm” vào trận địa phòng không của ta. Các xạ thủ được dịp hạ nòng pháo diệt mục tiêu trên mặt đất. Toàn bộ quân địch rút chạy bị tiêu diệt gọn, số thoát thân không đáng kể.


Sau chiến thắng, chúng tôi hỏi Thiếu tướng Lê Trọng Tấn vì sao lại phán đoán đúng ý đồ của địch và ra lệnh kịp thời như vậy. Anh Tấn cười, giải thích: Địch thả pháo sáng dày đặc và ngay trước trận địa của chúng mới là để tăng cường phòng ngự. Đằng này, chúng thả pháo sáng với mức độ vừa phải và chếch về hướng Tây Nam, hướng có căn cứ Long Chẹng, tức là chúng muốn tìm đường rút chạy.


Kỷ niệm trên khiến tôi nhớ mãi và càng khâm phục tài năng quân sự của đồng chí Lê Trọng Tấn-một vị tướng dày dạn trận mạc. Chính từ sự quyết đoán và trực cảm của người chỉ huy trong những phút gay cấn ở chiến trường đã góp phần quyết định thắng bại của một chiến dịch.

HÃY SỐNG THẬT VỚI CHÍNH MÌNH

 

Sâu thẳm bên trong mỗi người ẩn chứa một sự thật: một thực tế mà nhiều người thường bỏ qua và trốn tránh, nhằm mục đích khiến bản thân cảm thấy tốt hơn. Chúng ta biết mình cần phải làm gì, nhưng lại ngần ngại việc đối mặt với những điểm yếu của bản thân, trốn tránh trách nhiệm hoặc từ bỏ việc theo đuổi một dự án mang tính thử thách do sợ thất bại.


Có rất nhiều lý do khiến bạn không muốn thành thật với chính mình, tuy nhiên, hãy cố gắng nhận ra rằng sự dễ dàng trong việc tự lừa dối bản thân sẽ mang lại nhiều vấn đề nguy hiểm. Cần can đảm để tự nhìn nhận bản thân một cách trung thực, chấp nhận sự thật đối với những suy nghĩ, cảm xúc và hành động của mình. Đừng bị khuất phục bởi sự tự lừa dối và ảo tưởng của chính mình, thông qua các việc:


-Né tránh cuộc trò chuyện về vấn đề hiện tại


-Nghi ngờ về độ tin cậy của thông tin được trình bày


-Cố gắng trốn tránh thực tế và bảo vệ quan điểm đã có của bạn về xung quanh và thế giới


Do đó, hãy xem xét các khía cạnh khác của cuộc sống mà nhiều người không trung thực với chính mình. Hãy tưởng tượng một tình huống, bạn đang tham gia vào một buổi tập thể dục nghiêm ngặt và cần thực hiện 50 lần hít đất. Có vẻ đã đến lúc cơ bắp của bạn trở nên mệt mỏi và cảm thấy hoàn toàn kiệt sức. Với mỗi lần hít đất càng cảm thấy nặng nề hơn. Bạn thuyết phục bản thân rằng mình chỉ có thể làm thêm vài lần nữa trước khi quá đuối sức.


Nhưng câu hỏi đặt ra là, những lần chống đẩy cuối cùng đó có đúng là giới hạn thực sự của bạn, hay bạn đã bỏ cuộc về mặt tinh thần? Tâm trí bạn đã coi những lần chống đẩy cuối cùng này là một hành động cực kỳ thách thức, khiến bạn phải bỏ cuộc. Mặc dù lắng nghe cơ thể của bạn và không ép bản thân đến mức bị thương hoặc căng thẳng quá mức cũng là một điều quan trọng.


Nhận thức được vai trò mạnh mẽ của tâm trí trong việc vượt qua giới hạn thể chất là vô cùng cần thiết. Xác định những thời điểm mà bạn đã vượt qua giới hạn của mình dù chỉ một chút trước khi bạn bỏ cuộc. Đây là những lời nhắc nhở quan trọng rằng bạn có thể đạt được nhiều hơn những gì mà mình nghĩ. Bằng cách thúc đẩy bản thân tiến xa hơn một chút, bạn mở ra những cánh cửa để giải phóng tiềm năng thực sự của mình.


Phân bổ thời gian cho một nhiệm vụ. Nhiều người thường giao cho mình một nhiệm vụ cụ thể, ví dụ như dành hai tiếng để dọn dẹp nhà cửa, hay năm tiếng để viết một bản báo cáo. Tuy nhiên, nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng mình đã lãng phí thời gian quá nhiều như thế nào.


Nhiều người trở nên mất tập trung khi lãng phí thời gian, trì hoãn, lười biếng hoặc lo ăn uống lặt vặt. Hãy tự kiểm soát thời gian cho một hoạt động cụ thể để làm sáng tỏ thực tế về năng suất của mình. Điều này khuyến khích bạn không tập trung vào số giờ mà bạn định dành để thực hiện một nhiệm vụ (số lượng) mà là bạn dành bao nhiêu thời gian để thực hiện nhiệm vụ (chất lượng).


Hãy lấy ví dụ này: Tưởng tượng rằng bạn dành sáu tiếng để viết một bài blog, trong đó: Hai tiếng để viết và bốn tiếng cho những việc xao nhãng khác như tán dóc, ăn vặt. Tuy nhiên, nếu bạn tập trung vào công việc, bạn chỉ mất hai tiếng để viết blog xong, thay vì sáu tiếng. Khi làm như vậy, bạn sẽ có bốn tiếng còn lại để làm những việc khác có ích hơn, chẳng hạn như chăm sóc bản thân, dành thời gian cho gia đình hoặc học các kỹ năng mới.


Điều quan trọng là bạn nên thừa nhận rằng việc đánh lừa bản thân bằng quan niệm rằng dành một lượng thời gian đáng kể cho một nhiệm vụ tương đương với năng suất là sai lầm. Sử dụng tối đa thời gian mà bạn có để tập trung thực hiện nhiệm vụ với năng suất cao.


Xác định những điểm yếu của mình: Hãy tưởng tượng bạn đang ở trên một chiếc thuyền mà bạn không có khả năng thay đổi hướng đi của nó để sang bờ bên kia. Nếu bạn không thể quản lý vấn đề, bạn sẽ chỉ làm tổn thương chính mình.


Đây là khái niệm tương tự như khi chúng ta nhìn vào các kỹ năng và khả năng của bản thân. Hãy bỏ qua những điểm yếu của mình trong sự phạm trù tự tin, kỹ năng giao tiếp trong xã hội hay tính cách. Chỉ nên xác định những yếu tố nào là chưa phù hợp và định hình lại bản thân trước khi chúng trở nên bất lợi cho sự phát triển và thành công chung của mình sau này.


Sự trung thực với chính mình là chìa khóa để mở ra những cơ hội mở rộng sự phát triển cá nhân, đạt được những trải nghiệm mới và khai thác mọi khả năng của chúng ta để phát huy hết tiềm năng của mình. Tự đối thoại là cách hiệu quả để xem bạn là ai của hiện tại, đồng thời suy ngẫm, điều chỉnh và thay đổi để trở thành con người mà mình mong muốn được trở thành.

ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ, THƯƠNG BỆNH BINH, MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG !

 


Ngày 27/7 cả nước lại lặng mình tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, tri ân những người trở về sau bom đạn, khói lửa chiến tranh đã gửi lại một phần máu xương nơi chiến trường để bảo vệ bình yên cho Tổ Quốc, cho nhân dân. Chiến tranh đã lùi xa nhưng hình ảnh các anh vẫn sống mãi trong lòng đất mẹ, sống mãi trong các thế hệ chúng tôi hôm nay và mai sau. Xin kính cẩn nghiêng mình ngưỡng mộ và biết ơn !

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG DỰ VÀ PHÁT BIỂU TẠI "LỄ THẮP NẾN TRI ÂN CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ".

 


Thực hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của tuổi trẻ với thế hệ cha anh đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, tối 26-7, nhân Kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2023), tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hà Nội, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thành phố Hà Nội tổ chức "Lễ thắp nến tri ân các Anh hùng liệt sĩ” cấp Trung ương.


Tham dự và phát biểu chỉ đạo buổi lễ có Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương; Ban Bí thư Trung ương Đoàn, lãnh đạo các ban, đơn vị Trung ương Đoàn; lãnh đạo Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội; các ban, ngành, đoàn thể chính trị, xã hội; các huyện, thị, thành phố Hà Nội. Đặc biệt là sự hiện diện các bậc lão thành cách mạng, thương binh, bệnh binh, cựu thanh niên xung phong; người có công với cách mạng; đông đảo các tầng lớp nhân dân và thanh thiếu nhi thành phố Hà Nội.


"Lễ thắp nến tri ân các Anh hùng liệt sĩ" cấp Trung ương được tổ chức tại Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố Hà Nội - nơi yên nghỉ của 2.188 người con ưu tú của Thủ đô, của dân tộc đã anh dũng hy sinh trong các cuộc kháng chiến của đất nước và cả trong thời bình. "Lễ thắp nến tri ân các Anh hùng liệt sĩ" cấp Trung ương đồng thời được tổ chức ở 9 điểm cầu tại nghĩa trang liệt sĩ các tỉnh: Hòa Bình, Quảng Ngãi, Tây Ninh, Hà Giang, Quảng Ninh, Quảng Trị, Đắk Lắk, Trà Vinh và thành phố Cần Thơ; cùng hơn 3.200 nghĩa trang liệt sĩ và hơn 3.000 công trình ghi công liệt sĩ trên cả nước được tổ chức đồng loạt tại 63 tỉnh, thành phố.


Phát biểu tại buổi lễ, Đại tướng Phan Văn Giang bày tỏ lòng thành kính, biết ơn vô hạn và kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, các bậc cách mạng tiền bối, các Anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đại tướng Phan Văn Giang trân trọng gửi tới các đồng chí lão thành cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các đồng chí thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, người có công với cách mạng những tình cảm sâu nặng và lời thăm hỏi thân thiết nhất.


Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân; dưới sự lãnh đạo của Đảng, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã dũng cảm chiến đấu, anh dũng hy sinh, hiến dâng máu xương của mình cho Tổ quốc. Máu đào và sự hy sinh của các Anh hùng liệt sĩ đã tô thắm lá cờ cách mạng vẻ vang của Đảng, để đất nước ta nở hoa độc lập, kết trái tự do.


Thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc Việt Nam và ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 76 năm qua, Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, người có công với cách mạng.


Ghi nhận và biểu dương các cấp bộ đoàn và tuổi trẻ cả nước, Đại tướng Phan Văn Giang mong muốn tiếp tục có nhiều công trình, phần việc thiết thực, góp phần cùng các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương đẩy mạnh công tác đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ các gia đình chính sách, người có công. Thường xuyên coi trọng giáo dục truyền thống để thế hệ trẻ nhận thức sâu sắc, trân trọng công lao to lớn của các Anh hùng liệt sĩ và những người có công với cách mạng; xung kích sáng tạo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân và sự trường tồn của dân tộc.


Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị cấp ủy, chính quyền các địa phương, các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội tiếp tục quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi, phối hợp chặt chẽ với tổ chức ₫oàn các cấp triển khai có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công với cách mạng.


Đại tướng Phan Văn Giang tin tưởng tuổi trẻ cả nước sẽ tiếp nối những giá trị tốt đẹp của dân tộc ta mà các thế hệ cha anh đi trước đã tạo dựng, xây đắp, tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng cách mạng, kiên quyết, kiên trì bảo vệ thành quả đã giành được, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới; đoàn kết một lòng nỗ lực phấn đấu, học tập, rèn luyện nêu cao khát vọng cống hiến, quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn.

NHỮNG ĐIỀU KHUYÊN BẠN ĐỪNG”

 

Đừng xây nhà quá to, ai cũng muốn có nhà cửa khang trang để nở mày nở mày với anh em bè bạn nhưng đừng quá sức. Nhà cửa gọn gàng ấm cúng là được, tuỳ theo hoàn cảnh liệu cơm gắp mắm …


Đừng có bao nhiêu tiền cũng cho con cái hết, gặp đứa không biết lo toan, không biết làm ăn thì tiền núi cũng hết. Quan trọng cho khả năng tự lập, cho nó cái cần câu để nó câu cá. Cần để dành một khoản để khi về già không phải lệ thuộc con cái..


Đừng sống với cái Tôi quá lớn sẽ tự mình làm mình đau khổ, những đau khổ bất an đều xuất phát từ cái tôi quá lớn cho nên chỉ nên tôn trọng chớ nên tôn sùng. Bông lúa chín là bông lúa cúi đầu, khiêm tốn mới là đỉnh cao của sự hiểu biết. 


Đừng quá tính toán sẽ trở thành người ích kỷ nhỏ nhen, đôi khi mất đi cơ hội. Sống đơn giản cho đời thanh thản, toan tính quá nhiều, lợi đâu chẳng thấy chỉ chuốc âu lo buồn phiền. 


Đừng tin yêu thần tượng một cách mù quáng để rồi họ nói Gà thành Vịt cũng cho là đúng, cũng đừng ác cảm kỳ thị, ngành nào nghề nào cũng có người này người kia, con người không có ai hoàn hảo hãy sống bao dung thấu hiểu. 


Đừng yêu quá nhiều đừng si mê mù quáng dễ đánh mất bản thân mình, yêu và được yêu mới có được hạnh phúc lâu dài. Yêu thì phải tin tưởng đừng ghen tuông mù quáng, cũng đừng hời hợt quá ! Yêu cũng như khi ta nấu ăn nêm nếm gia vị đừng quá mặn đừng quá nhạt và phải có bí quyết món ăn mới ngon. 


Đừng nói quá nhiều..”Rượu nhạt uống lắm cũng say. Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm.” Biết thưa thớt, không biết dựa cột để nghe. Ếch chết tại miệng”. Phúc hay họa đôi khi cũng từ cái miệng mà ra.


Tóm lại : Ở đời điều gì quá cũng đều không tốt, biết đủ biết bằng lòng với những gì mình có là hạnh phúc. Biết rõ khả của bản thân yếu thì đừng ra gió, đừng làm những việc vượt quá khả năng. 

KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH

 Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn cách mạng mới, dân tộc đang đứng trước những thời cơ, vận hội to lớn để phát triển. Để hiện thực hóa được “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng.

Không thể có một hình thức, phương thức tối ưu, duy nhất để giáo dục đạo đức, cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đó phải là một quá trình, là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn hết là sự “tự nhận thức”, “thẩm thấu chủ động”, thường xuyên “tự răn, tự rèn” để đạo đức cách mạng trở thành “cốt cách”, là “lẽ sống” của mỗi cán bộ, đảng viên.
Thứ nhất, luôn xác định rõ công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, quan trọng hàng đầu; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là trọng yếu.
Các cấp ủy đảng phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng mạnh trên tất cả các mặt: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, sát thực tiễn; chủ động đi sâu, đi sát cơ sở để nắm bắt tình hình địa phương, đơn vị, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.
Nhiệm vụ hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng là việc tổ chức nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng. Nội dung này phải được tiến hành nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện; chú trọng sơ kết, tổng kết thực tiễn, phải gắn việc học tập với hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.
Chú trọng việc thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Triển khai các giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chú trọng xây dựng, giữ gìn mối đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong toàn xã hội; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình... Coi trọng công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên cả về số lượng và chất lượng.
Cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để bố trí phù hợp. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; không quan liêu, tham nhũng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm.
Trong công tác bố trí, sử dụng cán bộ, phải cân nhắc kỹ việc lựa chọn, sắp xếp bố trí; căn cứ vào năng lực, sở trường công tác của cán bộ để giao việc phù hợp; giao việc, bổ nhiệm những cán bộ trẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực công tác, khả năng phát triển vào các chức danh lãnh đạo, quản lý; đảm bảo tính liên tục, kế thừa, dân chủ, khách quan trong công tác cán bộ.
Công tâm, khách quan trong đánh giá cán bộ. Coi trọng đánh giá về đức và tài, trong đó đạo đức là nền tảng, là “cái gốc”; đánh giá đúng trình độ, năng lực, sở trường; lấy tiêu chuẩn hiệu quả, chất lượng công việc làm thước đo quan trọng để đánh giá cán bộ.
Thứ hai, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “sửa đổi lối làm việc”, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định muốn sửa đổi lối làm việc thì phải thực hiện tốt nhất việc “phê bình và sửa chữa”. “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đứng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng” để mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm “đúng”, làm “khéo”, có như vậy “thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa”. Người lưu ý: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu.
Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”; “...các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý “...trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư” cho nên mới mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.
Theo Người, những căn bệnh nguy hại sinh ra từ “chủ nghĩa cá nhân” là: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, kéo bè kéo cánh, hẹp hòi... Để chữa trị những căn bệnh này cần phải: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”.
Thứ ba, cán bộ, đảng viên phải luôn tự ý thức về vai trò tiên phong, gương mẫu.
Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Để làm tốt điều đó, Người yêu cầu, cán bộ, đảng viên “phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập”; “phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”.
Cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu bởi đây là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì thế “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, dẫn dắt quần chúng trong mọi phong trào cách mạng.
Không chỉ trong công việc, mà trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên không những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, mà cũng phải là tấm gương để gia đình, người thân và quần chúng noi theo./.
ST

LỜI KHAI G.HÊ RỢN CỦA “NỮ MA ĐẦU” TRONG VỤ ÁN KHỦNG BỐ TẠI HUYỆN CƯ KUIN

 Vụ khủng bố ngày 11/6/2023 tại huyện Cư Kuin đến nay đã qua hơn một tháng, cuộc sống của người dân cũng đã ổn định, bình thường trở lại. Tuy nhiên, nỗi đau của những gia đình cán bộ, chiến sỹ và người dân vẫn còn đó. Không còn từ ngữ nào để có thể miêu tả được sự liều lĩnh, tàn ác và man rợ của bọn chúng, những kẻ ảo tưởng đến mất nhân tính.

H Wuên Êban (Amí Sân) kẻ từng tham gia biểu tình chống Nhà nước ngày 10/4/2004, bị cơ quan Công an mời làm việc, răn đe, giáo dục đưa ra kiểm điểm trước dân. Nhưng ả vẫn ngựa quen đường cũ, không chịu khó làm ăn, chăm lo cho cuộc sống chồng con và gia đình, luôn mang tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai tự trị của kẻ mơ hồ, ảo tưởng. Nghe theo những lời dụ dỗ, chỉ đạo của những đối tượng FULRO lưu vong tại Mỹ (Y Mút Mlô), mong không phải làm gì mà vẫn có cuộc sống giàu sang,… ả đã ngầm nuôi âm mưu từ năm 2019 đứng lên thành lập “Nhà nước Đề Ga”. Lời khai ghê rợn của ả lột tả kẻ mang nặng sự hoang tưởng chính trị:
“Tôi đã liên hệ với Y Mút Mlô ở Mỹ và Y Mút chỉ đạo tôi quyên góp tiền mua súng, mua gạo, cho mấy anh em học võ nên tôi mới đồng ý, Y Mút nói nếu không đứng lên sẽ làm nô lệ suốt đời nên tôi phải động viên các anh em phải đứng lên đấu tranh vì đất nước đề ga, nhận chỉ đạo của Y Mút tôi kêu gọi anh em các huyện ở tỉnh Đắk Lắk đứng lên để tự do, từ năm 2019 đến tháng 3-2023 tôi quyên góp được số tiền là 84 triệu đi mua tất cả là 11 khẩu súng R15, CKC, Ak súng kíp,... ngày 7/6 tôi đã qua buôn Jung bàn bạc với các anh em đánh trụ sở đặc công nên đã hẹn tất cả các anh em các huyện tập trung hết tuy nhiên do xa quá, đến nơi đã 7h sáng nên không đánh được nên quay về, ngày mùng 8/6 cũng tới đó thấy không đánh được nên lại quay về, xong thì nghỉ ngày mùng 9, bắt đầu ngày mùng 10 nằm nghĩ lại đánh chỗ nào ủy ban xã hoặc là huyện nên quyết định đánh 2 xã, nếu không bị bắt thì đánh cả huyện Cư Kuin rồi đến huyện Krông Bông nhưng ngày 11 Công an đã phát hiện đã bắt hết nên Mí Sân không biết đi đâu nên là đi trốn, sợ Công an bắt nên gửi hết hình cả hình cầm lá cờ sang bên Mỹ, Y Mút kêu sang Campuchia vượt sang Thái Lan, Mí Sân không đi để ra đầu thú mong nhận được sự khoan hồng của Nhà nước.
Tôi thấy tổ chức của mình là rất t.à.n á.c, g.iết nhiều người, rất hối hận việc của tôi đã làm….”
Những lời cuối cùng cũng là những lời hối hận quá muộn màng cho tội ác trời đất không dung của ả và đồng bọn đã gây ra đối với những cán bộ, chiến sỹ và chính đồng bào của mình. Rồi đây, chính ả và đồng bọn sẽ phải trả giá trước pháp luật, trước nhân dân với những tội á.c mà ngay chính ả phải thừa nhận là rất t.à.n á.c./.
ST

TÔ VẺ HÀO QUANG CHO NHỮNG KẺ TRỤC LỢI TRÊN NỖI ĐAU CỦA ĐỒNG BÀO LÀ XÚC PHẠM CUỘC CHIẾN CHỐNG THAM NHŨNG:

 Giữa tâm dịch, những kẻ trục lợi từ chính sách nhân đạo của Nhà nước qua "chuyến bay giải cứu", lại đang trở thành “hiện tượng mạng” được đánh bóng, ca ngợi.

Viện Kiểm sát đã trình chiếu và đối đáp gì về Hoàng Văn Hưng tại phiên tòa chuyến bay giải cứu?Đại án "Chuyến bay giải cứu": Các bị cáo nhóm tội “Đưa hối lộ” xin giảm nhẹ hình phạt
Những ngày qua, rất nhiều ý kiến trên mạng xã hội đang “ca ngợi” thần thái, hình ảnh cũng như khả năng trả lời chất vấn rất điềm tĩnh, chuyên nghiệp của một số bị cáo trong đại án “chuyến bay giải cứu” ngay chốn công đường. Thậm chí, một số bị cáo vô tình trở thành “thần tượng”, “ngôi sao trên mạng xã hội” bằng những phát ngôn gây sốc, coi thường pháp luật trước Hội đồng xét xử. Điều đáng lo ngại, vì mục đích và những toan tính cá nhân nhiều người lên mạng xã hội để ra sức cổ súy cho những hành vi sai trái vi phạm pháp luật.
Thực tế, trong những ngày xét xử sơ thẩm vụ án “chuyến bay giải cứu”, ngoài sự “nổi sóng” khi có 54 bị cáo phải hầu tòa, trong đó 21 bị cáo là cựu cán bộ, lãnh đạo bị cáo buộc lợi dụng chức vụ quyền hạn để 515 lần nhận hối lộ 165 tỷ đồng. Trong đó, bị cáo Phạm Trung Kiên, cựu thư ký Thứ trưởng Bộ Y tế nhận hối lộ nhiều nhất với 253 lần nhận, tổng cộng 42,6 tỷ đồng trong 11 tháng. Số tiền đưa nhận hối lộ đặc biệt lớn khiến một số ý kiến cho rằng đây là “phiên tòa thế kỷ”. Song nhiều tài khoản trên mạng xã hội lại “phong thánh” cho Kiên bằng những “mỹ từ” như “ông vua nhận hối lộ”, “thánh nhận phong bì”.
Tô vẽ hào quang cho những kẻ trục lợi trên nỗi đau đồng bào là xúc phạm cuộc chiến chống tham nhũng
Nội dung clip cổ súy, tung hô bị cáo Hoàng Văn Hưng trở thành idol.
Không chỉ phong bị cáo thành “thánh”, trên mạng xã hội còn coi một số bị cáo trong vụ án như một idol (người được đông đảo người hâm mộ tôn sùng và ngưỡng mộ). Theo đó, trên nền tảng mạng xã hội tiktok xuất hiện những hình ảnh, clip nói về bị cáo Hoàng Văn Hưng – cựu Trưởng phòng 5 (Cục An ninh điều tra Bộ Công an), cựu điều tra viên chính thụ lý vụ án tự bào chữa trong phiên tòa “chuyến bay giải cứu”.
Clip này được đăng tải trên tiktok với tựa đề “Hoàng Văn Hưng trở thành idol vì bào chữa quá khét”. Xuyên suốt nội dung clip thể hiện, nhân vật chính là Hoàng Văn Hưng với lời dẫn những câu trả lời “khét” của anh ta trước Hội đồng xét xử. Nội dung đoạn clip có những câu từ thể hiện Hưng như một idol, dù anh ta đang là bị cáo trong một vụ “đại án”.
Tương tự với lời tự bào chữa hồn nhiên đến mức vô cảm của một vị cựu phó cục trưởng nói mình "vô tình nhận hối lộ" thì nay "trả tiền cho Nhà nước", nói vợ chuẩn bị 3 tỷ để đi tù "anh đi nghỉ dưỡng rồi anh về", không ít người còn ca ngợi "bản lĩnh", "thần thái" của vị này!
Trong một diễn biến khác, nhiều ý kiến lại tán dương những lời tự bào chữa của vị cựu phó giám đốc công an TP Hà Nội nói về "tình người", "thương người mà vướng tội" rồi tỏ ra tán dương về những câu nói "đạo lý" của vị này dù chưa có kết luận liệu vị này có "vô can"?. Sự việc rồi đây chắc chắn sẽ được làm rõ nhưng nên nhớ rằng, không nên tán dương cổ xuý cho cái xấu, cái sai và vô hình chung phủ nhận nỗ lực của các cơ quan pháp luật, của cả hệ thống chính trị chống tham nhũng mà nay đã thành xu thế "không thể đảo ngược".
Đáng nói hơn nữa, đây là vụ án mà các đối tượng liên quan bị điều tra về hành vi phạm tội, khi thực hiện các “chuyến bay giải cứu” công dân Việt Nam ở thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát toàn thế giới.
Có thể thấy, những bình luận, lời phát ngôn, clip “nâng bi” các bị cáo trong vụ đại án “chuyến bay giải cứu” mặc dù câu được view, thu hút lượng lớn người xem lớn, nhưng họ đâu biết được rằng mình đang quên đi trách nhiệm xã hội trong cuộc chiến chống tham nhũng. Và phải chăng, đó cũng là sự tiếp tay cho cái xấu, thói a dua, chỉ vì muốn giật tít câu view mà không tiếc lời ca ngợi những đối tượng đã bị điều tra hành vi phạm tội và đang đưa ra xét xử.
Tô vẽ hào quang cho những kẻ trục lợi trên nỗi đau đồng bào là xúc phạm cuộc chiến chống tham nhũng
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Hưng từ 19 - 20 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (số tiền 800.000 USD)
Trong khi, chính sự quyết liệt của các cơ quan pháp luật trong đó có ngành Công an, đã đấu tranh không có vùng cấm, kiên quyết đưa những kẻ phạm tội ra trước ánh sáng của pháp luật. Cho dù đó là ai, đang công tác ở vị trí nào, những sai phạm của họ đều bị xử lý. Trên thực tế, không phải đến phiên tòa xét xử “chuyến bay giải cứu” mà nhiều vụ án khác, nhiều dàn cựu lãnh đạo từng là cán bộ Nhà nước đã phải đứng trước vành móng ngựa và cúi đầu thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đó là kết quả của công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà Đảng ta thực hiện trong thời gian qua.
Trước đó, phát biểu tại cuộc cuộc tiếp xúc cử tri tại các quận Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng (Hà Nội), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có nhắc lại việc xử lý kỷ luật hai Ủy viên Trung ương gồm ông Chu Ngọc Anh – cựu Chủ tịch UBND TP. Hà Nội và cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long liên quan vụ án Việt Á, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng ta tiến hành kiên trì, nhân văn, có lý có tình, làm bài bản, hết sức thuyết phục.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng cho biết: “Không thích thú gì việc kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, thậm chí rất đau xót, nhưng buộc phải làm. Như Bác Hồ đã nói, phải cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cây”.
Có thể thấy, công cuộc phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng, tiêu cực chính là để bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức và của công dân, góp phần giữ ổn định và phát triển của toàn xã hội. Chính vì thế, việc các lực lượng chức năng xác định “không có vùng cấm”, quyết tâm đưa những đối tượng vi phạm pháp luật ra chịu tội dù có phải “đau xót”, nhưng “buộc phải làm”, đó là những hành động rất cần và đáng được biểu dương.
Thế nhưng, những lối suy nghĩ lệch lạc, chỉ thích lên mạng xã hội để cổ súy cho những hành vi phạm tội, ca ngợi các bị cáo như những “thần tượng”, “anh hùng”, idol... cần phải được triệt tiêu, thậm chí phải bị xử lý theo các quy định pháp luật. Đồng thời, mỗi cá nhân cần xác định rõ trách nhiệm xã hội trong cuộc chiến chống tham nhũng và lên án hay tố giác những hành vi vi phạm pháp luật./.
ST