Thứ Năm, 27 tháng 7, 2023

Quân đội là lực lượng nòng cốt trong ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống

 

1.  

An ninh phi truyền thống (ANPTT) là một khái niệm mới xuất hiện trong giai đoạn cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI và đã trở thành vấn đề toàn cầu của mọi quốc gia, dân tộc. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Những vấn đề ANPTT ngày càng đa dạng, phức tạp, tác động mạnh mẽ” và đề ra nhiệm vụ “sẵn sàng ứng phó hiệu quả các thách thức ANPTT và an ninh truyền thống”.

ANPTT dùng để chỉ các mối đe dọa, thách thức phi truyền thống đối với an ninh quốc gia, dân tộc, cộng đồng và sự ổn định của mỗi con người, có nguồn gốc phi quân sự từ các tác nhân, chủ thể phi nhà nước. ANPTT có thể khiến một quốc gia, thể chế, chế độ lung lay, bất ổn, sụp đổ, tiêu vong mà không cần bất kỳ một hoạt động chiến tranh quân sự nào. Các mối đe dọa ANPTT có đặc điểm là bột phát, đột ngột, không rõ ràng, phi chính thức nhưng lại dễ bùng phát và lan tỏa.

Quán triệt sâu sắc nhận thức và tư duy mới về an ninh quốc gia nói chung, ANPTT nói riêng của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xác định, ứng phó hiệu quả với các thách thức ANPTT là nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình” nhằm bảo vệ chế độ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở khu vực biên giới (KVBG) nói riêng và toàn quốc nói chung. Từ đó, cùng với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, toàn quân đã chủ động đấu tranh quyết liệt với các thế lực thù địch và các đối tượng cơ hội chính trị, giảm thiểu tác động, đe dọa của vấn đề ANPTT trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở KVBG. Đặc biệt là BĐBP, với vai trò chuyên trách của mình trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia đã thực hiện nhiệm vụ này một cách đồng bộ, sáng tạo và hiệu quả.

Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến chuyển phức tạp và khó lường như hiện nay, mặc dù vùng DTTS nói chung và KVBG nói riêng đã được Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt, đầu tư phát triển toàn diện, nhưng khu vực này vẫn tồn tại những bất cập cần tháo gỡ như: Chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn giữa vùng DTTS, biên giới với các vùng kinh tế phát triển của cả nước; hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở còn yếu kém; hệ thống chính sách an sinh xã hội, giáo dục, y tế hoạt động hiệu quả chưa cao; hệ thống chính trị cấp cơ sở và nguồn nhân lực tại chỗ chưa tương xứng với yêu cầu công việc và nhiệm vụ được giao; vấn đề biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan cũng sẽ tác động lên mọi mặt đời sống, xã hội trong vùng đồng bào DTTS ở KVBG.

Mặt khác, địa bàn vùng DTTS nơi biên giới là nơi xa xôi cách trở, đường biên giới kéo dài nên có nhiều điều kiện thuận lợi cho các loại tội phạm về ma túy, mua bán người hoạt động; đối tượng phạm tội nguy hiểm lẩn trốn; các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy và phong tục tập quán lạc hậu chưa được xóa bỏ... làm gia tăng nguy cơ mất an ninh, an toàn cho đồng bào sinh sống ở KVBG. Tất cả những yếu tố trên có ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng vận động và tác động của các yếu tố ANPTT trong vùng DTTS ở KVBG, đáng lưu ý là những xu hướng sau:

Một là, xu hướng vận động của yếu tố an ninh chính trị, thể hiện chính ở yếu tố dân tộc - tôn giáo, tiềm ẩn những nguy cơ làm rạn nứt khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây bất ổn về an ninh chính trị, xã hội ở KVBG và có xu hướng gia tăng cả về tính chất và mức độ của các nguy cơ. Ở vùng DTTS, tính chất đa tộc người và cư trú phân tán, đan xen giữa các dân tộc dễ tạo ra những điều kiện, nguyên nhân có thể dẫn tới những xung đột, mâu thuẫn giữa các dân tộc do chưa hiểu biết về phong tục, tập quán hoặc va chạm nhau về quyền lợi kinh tế, đặc biệt giữa các DTTS với dân tộc Kinh.

Cùng với đó, các thế lực thù địch thường xuyên và gia tăng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, đời sống khó khăn, trình độ kinh tế và dân trí thấp của đồng bào các DTTS, để chống phá, gây mất ổn định chính trị-xã hội, tiến tới thực hiện âm mưu chiến lược là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Sự phát triển của các tôn giáo lớn và sự xuất hiện của các hiện tượng tôn giáo mới trong đồng bào DTTS những năm gần đây làm rạn nứt khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, tiềm ẩn những nguy cơ gây bất ổn an ninh chính trị; tình trạng truyền đạo trái pháp luật, đơn thư khiếu nại vượt cấp, nêu ra các yêu sách không chính đáng, gây mâu thuẫn với chính quyền, gây chia rẽ giữa người theo đạo và người không theo đạo.

Hai là, xu hướng vận động của yếu tố an ninh, trật tự, an toàn xã hội thể hiện ở hiện tượng kích động, đòi ly khai dân tộc trong vùng DTTS ở KVBG đã và đang nổi lên như là một thách thức lớn đối với an ninh quốc gia nói chung và an ninh biên giới quốc gia nói riêng. Xu hướng này được chuyển hóa thành nhiều cách tiếp cận để đạt được mục đích như chuyển khẩu hiệu từ thành lập, phục hồi “vương quốc”, “xứ tự trị” sang “nhà nước” (quốc gia - dân tộc) cho đồng bào DTTS theo tiêu chí mà Liên hợp quốc công nhận để tìm kiếm sự đồng tình, ủng hộ của các tổ chức quốc tế, các nước trên thế giới, trên các diễn đàn quốc tế để gây áp lực với Nhà nước ta.

Các tổ chức phản động sẽ tiếp tục tuyên truyền, kích động tư tưởng ly khai dân tộc, lôi kéo, tập hợp quần chúng gây ra các vụ phá rối an ninh, bạo loạn; tiến hành các hoạt động phục hồi, thành lập cái gọi là “nhà nước”, như: “Nhà nước Đề Ga độc lập” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khmer Krom” ở Tây Nam Bộ, “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc với yêu sách có quyền sở hữu, kiểm soát đất đai, lãnh thổ và tài nguyên trên lãnh thổ, bao gồm một số nơi ở KVBG.

Hoạt động của các tổ chức phản động này núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, kêu gọi “quyền tự quyết” của các DTTS, tuyên truyền rằng, các DTTS ở Việt Nam có quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị của mình, có quyền thành lập nhà nước riêng. Các tổ chức này có xu hướng liên kết với nhau và liên kết các tổ chức phản động người Việt lưu vong nhằm tạo ra một lực lượng thống nhất để quốc tế hóa vấn đề dân tộc nói chung và hoạt động ly khai trong DTTS ở Việt Nam nói riêng.

Ba là, xu hướng liên quan đến tập quán du canh, du cư, di cư tự do sẽ có chiều hướng gia tăng, phức tạp cả về số lượng người di cư, hướng di cư... trong thời gian tới, cũng gây áp lực và tạo nguy cơ tác động lớn đến ANPTT trong vùng DTTS ở KVBG, gây khó khăn trong công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, nảy sinh mâu thuẫn giữa các cộng đồng DTTS tại chỗ với dân di cư tự do, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội và sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng DTTS.

Các đối tượng xấu tiếp tục lợi dụng hoạt động di dân tự do tại KVBG Việt - Lào và các vùng khác dọc biên giới để truyền đạo trái pháp luật; mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy; tàng trữ chất nổ, vũ khí quân dụng; mua bán người; xuất, nhập cảnh trái phép; phá rừng... làm cho tình hình tội phạm phức tạp, gây tâm lý bất an, lo lắng trong đồng bào vùng DTTS ở KVBG.

Xác định được rõ những xu hướng này, trong thời gian tới, Quân đội nói chung và BĐBP nói riêng cần chủ động, tích cực hơn nữa trong ngăn ngừa, ứng phó với các thách thức ANPTT, đặc biệt chú trọng đến những vấn đề nổi cộm ở vùng DTTS và KVBG. Theo đó, cần tập trung làm tốt những nội dung sau:

Trước hết, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trên cơ sở đó, chủ động và phối hợp để chuẩn bị tốt các phương án ứng phó với các mối đe dọa ANPTT ở KVBG. Qua việc nắm vững quy luật, tính tất yếu của sự vận động chính trị, kinh tế toàn cầu, những vấn đề ANPTT; phát huy đầy đủ năng lực nội sinh; từ đó, xác định từng nhóm giải pháp đúng đắn, phù hợp nhằm ứng phó với các mối đe dọa ANPTT trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội trong vùng đồng bào DTTS ở KVBG.

Mặt khác, cần tích cực phối hợp với các cấp, các ban, ngành, lực lượng tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương tiếp tục thực hiện tốt công tác tư tưởng, giáo dục, tuyên truyền nhằm tạo nên sự thống nhất rộng rãi trong nhận thức xã hội về những nội dung, những biểu hiện mới của các yếu tố ANPPT. Trên cơ sở đó, chỉ rõ những tác động chung, cũng như những tác động mang tính đặc thù đối với từng lĩnh vực của vùng DTTS ở KVBG.

Từ đó, làm rõ những thuận lợi cơ bản, những khó khăn chủ yếu và các giải pháp trước mắt, cũng như lâu dài để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia và sự ổn định, phát triển của từng địa phương trước các mối đe dọa ANPTT trong thời kỳ mới hiện nay. Tập trung bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho đồng bào DTTS thường xuyên, liên tục; tăng cường trang bị phương tiện hiện đại, đáp ứng yêu cầu ứng phó với những thách thức ANPTT trong thời gian tới.

Đồng thời, chủ động xây dựng các kế hoạch, chương trình, đề án mang tính chiến lược để ngăn chặn, đối phó với các thách thức từ ANPTT; trọng tâm là xây dựng và cụ thể hóa các chiến lược, như: Chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu; Chiến lược bảo đảm an ninh mạng; Chiến lược phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia; Chiến lược bảo vệ môi trường; Chiến lược phòng, chống và kiểm soát ma túy, mua bán người... Việc chuẩn bị tốt các phương án ứng phó được biểu hiện cụ thể trong hành động thực tiễn, cũng như trong việc thực hiện nghị quyết, chủ trương của Đảng và trong các đề án, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, việc chủ động ứng phó trước các mối đe dọa ANPTT phản ánh qua sự cố gắng của Đảng bộ, chính quyền, các lực lượng vũ trang và nhân dân; cùng sự tích cực hợp tác quốc tế và phối hợp hành động tại các diễn đàn quốc tế, khu vực và với láng giềng... nhằm tiếp thu kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước; hợp tác xây dựng các đề án, phương án ứng phó với những thách thức ANPTT vùng DTTS ở KVBG...

Giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới bằng thế trận lòng dân

1.     

Trong những năm qua, cấp ủy, Ban Chỉ huy Đồn Biên phòng Bình Thạnh, BĐBP Long An luôn tập trung triển khai đồng bộ và toàn diện các biện pháp công tác Biên phòng, gần dân, bám địa bàn, thực hiện phương châm “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”. Qua đó, góp phần củng cố “thế trận lòng dân” nơi biên cương, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Chúng tôi có mặt tại Đồn Biên phòng Bình Thạnh trong một buổi tuần tra, bảo vệ biên giới. Đây là một trong những hoạt động góp phần giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia được đơn vị duy trì thực hiện. Trong 6 tháng đầu năm 2023, đơn vị đã chức được trên 300 tổ với hơn 1.000 lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia tuần tra, bảo vệ biên giới; phối hợp với công an, quân sự xã Bình Thạnh tổ chức 64 tổ với 320 lượt cán bộ, chiến sĩ tuần tra, kiểm soát, kiểm tra lưu trú ban đêm trên địa bàn. Qua đó, kịp thời phát hiện, bắt giữ 1 vụ/2 đối tượng có hành vi xuất nhập cảnh trái phép, bắt giữ 1 đối tượng nghi vấn có hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn.

Đồn Biên phòng Bình Thạnh đứng chân trên địa bàn xã Bình Thạnh, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, quản lý đoạn biên giới dài trên 9km đường bộ. Trong những năm qua, đoạn biên giới do đồn quản lý, phụ trách luôn được giữ vững, cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức quần chúng địa phương luôn phát huy tốt vai trò lãnh đạo, điều hành địa phương.

Xác định rõ việc củng cố vững chắc “thế trận lòng dân” trên địa bàn biên giới có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định đến thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, thời gian qua, cấp ủy, Ban Chỉ huy Đồn Biên phòng Bình Thạnh tiếp tục nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, tích cực vận động nhân dân chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định về biên giới, lãnh thổ, quy định của địa phương.

Với nhiều hình thức, phương pháp tuyên truyền, vận động phong phú, đa dạng, phù hợp với tình hình thực tế địa bàn, Đồn Biên phòng Bình Thạnh đã góp phần nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân trên địa bàn đóng quân, từ đó, nhân dân nhận biết và hiểu rõ những vấn đề cơ bản trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vai trò, sức mạnh của nhân dân, về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Qua đó, tạo sự tin tưởng vững chắc của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, của cấp ủy, chính quyền địa phương, phát huy tốt sức mạnh tổng hợp, vai trò của quần chúng nhân dân trong tham gia bảo vệ biên giới, xây dựng thế trận biên phòng toàn dân ngày càng vững chắc.

Ông Nguyễn Ngọc Minh (ấp Sậy Giăng, xã Bình Thạnh) chia sẻ: "Được cán bộ đồn Biên phòng thường xuyên tuyên truyền về các quy định của Nhà nước và của địa phương, bản thân và gia đình tôi đã biết và hiểu rõ về trách nhiệm của công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ biên giới, từ đó, chúng tôi luôn tích cực, tự giác phối hợp cùng với BĐBP trong tham gia giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn".

Trong 6 tháng đầu năm 2023, Đồn Biên phòng Bình Thạnh đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương, Hiệp định về quy chế biên giới giữa Việt Nam - Campuchia, các văn bản có liên quan đến công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia được 63 cuộc/896 người nghe, tuyên truyền nhỏ lẻ được 372 lượt người nghe. Phối hợp với Đài Phát thanh huyện Mộc Hóa và xã Bình Thạnh tuyên truyền thông tin đại chúng được 28 buổi, mỗi buổi 30 phút về các văn bản liên quan đến công tác phân giới cắm mốc, Luật Biên phòng Việt Nam... Đơn vị cũng tham mưu cho UBND huyện Mộc Hóa tổ chức gặp gỡ, đối thoại, giải quyết tốt những vấn đề phát sinh vướng mắc, khó khăn với các hộ dân trên địa bàn đóng quân.

Bên cạnh đó, đơn vị đã tham mưu cho UBND xã Bình Thạnh thực hiện tốt Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 9/1/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới. Trong 6 tháng đầu năm, đơn vị đã phối hợp tổ chức tuyên truyền cho 316 lượt người về thực hiện phong trào; phát trên 300 tờ rơi tuyên truyền về Luật Biên phòng Việt Nam, các quy định về quy chế biên giới, lãnh thổ.

Trung tá Phạm Khắc Thụ, Chính trị viên Đồn Biên phòng Bình Thạnh cho biết: "Cấp ủy, Ban Chỉ huy đồn luôn xác định rõ tầm quan trọng trong xây dựng, củng cố và phát huy “thế trận lòng dân” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Vì vậy, thời gian qua, đơn vị đã triển khai thực hiện đồng bộ nhiều nội dung, giải pháp cơ bản, trong đó, tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đến mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định về biên giới, lãnh thổ, quy định của địa phương. Từ đó, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao từ quần chúng nhân dân, nhận thức của người dân được nâng lên, là yếu tố quan trọng giúp đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao". 

Thực thi quyền bình đẳng giữa các dân tộc, nghiêm trị âm mưu chia rẽ

 

1.     

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn ưu tiên đầu tư toàn diện đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc.

 

Đại đoàn kết toàn dân tộc là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác dân tộc. Bình đẳng để đoàn kết là vấn đề cốt lõi trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam.

Bác Hồ đã khẳng định: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau."

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (hơn 14 triệu người, chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước). Quy mô dân số của các dân tộc không đồng đều, có 6 dân tộc trên 1 triệu người, 14 dân tộc dưới 10.000 người, 5 dân tộc dưới 1.000 người.

Hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số sống tại miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa, tập trung ở 463 huyện thuộc 51 tỉnh tại Đông và Tây Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.

Hiến pháp năm 2013 quy định: "Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc."

Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIII nêu rõ mục tiêu "bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển," đồng thời "chống kỳ thị dân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc."

Đảng và Nhà nước ta thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc theo hướng:

Về chính trị, việc đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm cán bộ người dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số được chú trọng. Quốc hội khóa XV có 17,84% tổng số đại biểu là người dân tộc thiểu số, cao nhất từ trước đến nay. Đây cũng là lần đầu tiên Quốc hội nước ta có thêm đại diện của hai dân tộc thiểu số rất ít người là Lự và Brâu. Như vậy, trong tổng số 54 dân tộc, hiện chỉ còn hai dân tộc là Ơ Đu và Ngái là chưa có đại diện tham gia Quốc hội.

Về kinh tế, Nhà nước tăng cường ưu tiên các nguồn lực để phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Ủy ban Dân tộc, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2022 được đầu tư 626.229 tỷ đồng từ ngân sách.

Về văn hóa-xã hội, Nhà nước có chính sách bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc thiểu số, bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.

Ngày 14/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn 1 từ 2021-2025. Trong chương trình có Dự án "Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch."

Dự án có mục tiêu khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ văn hóa; hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị văn hóa cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để nâng cao mức thụ hưởng về văn hóa cho đồng bào các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Về quyền tiếp cận giáo dục, Nhà nước ta ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. Báo cáo của Ủy ban Dân tộc cho biết, nhiều địa phương thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thực hiện hiệu quả Đề án 522 của Thủ tướng Chính phủ về "Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025"; Đề án xây dựng xã hội học tập; quan tâm công tác dạy học tiếng dân tộc thiểu số.

Về việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Nhà nước quan tâm phát triển mạng lưới y tế, hệ thống bệnh viện tỉnh-huyện và trạm y tế xã. Nhờ đó, đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kết quả Chương trình xây dựng nông thôn mới tại vùng đặc biệt khó khăn, cho biết hơn 50% số xã trong vùng có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, 100% đồng bào dân tộc thiểu số có bảo hiểm y tế miễn phí.

Đảng và Nhà nước ta luôn ưu tiên đầu tư toàn diện đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc.

Tuy nhiên, một thực tế khách quan là do các yếu tố lịch sử, địa lý, nhận thức mà trình độ phát triển kinh tế-xã hội của các dân tộc ở nước ta chưa đồng đều.

Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2022 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 trên phạm vi toàn quốc do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội công bố, cho thấy khu vực Trung du và miền núi phía Bắc có số hộ nghèo đa chiều cao nhất cả nước, chiếm 21,92% với 701.461 hộ; khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là 10,04% với 571.251 hộ; Tây Nguyên là 15,39% với 236.766 hộ; trong khi con số này tại khu vực Đông Nam Bộ là 0,34% với 15.787 hộ; Đồng bằng sông Hồng là 2,45% với 169.566 hộ; Đồng bằng sông Cửu Long là 5,73% với 277.936 hộ.

Để thu hẹp, tiến tới xóa nhòa khoảng cách giàu-nghèo, trình độ phát triển giữa các dân tộc và các vùng miền, Việt Nam cần nhiều thời gian cùng với những chính sách thiết thực của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực vươn lên của bản thân đồng bào dân tộc thiểu số.

Song các thế lực thù địch đã và đang ra sức lợi dụng sự chênh lệch về sự phát triển giữa các vùng miền, về trình độ sản xuất-kinh doanh giữa các dân tộc để chống phá, gây chia rẽ, hận thù. Chúng phủ nhận toàn bộ những thành tựu giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong nhiều chục năm qua ở nước ta.

Nhà nước ta đã từng thực hiện chính sách vận động di dân có kế hoạch (sau năm 1954 và năm 1975) từ vùng đồng bằng lên khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên để xây dựng vùng kinh tế mới. Tiếp đó là hiện tượng di dân ngoài kế hoạch của đồng bào các dân tộc từ miền núi phía Bắc, Trung Bộ vào các tỉnh Tây Nguyên (trong giai đoạn 1980-1990). Việc di dân này làm thay đổi sự phân bố dân cư, cơ cấu dân số và làm gia tăng mật độ dân số. Kinh tế phát triển, song lại nảy sinh vấn đề đất đai, rừng và các nguồn tài nguyên khác bị chia sẻ, môi trường thiên nhiên bị ảnh hưởng.

Lợi dụng những mặt phát sinh từ việc di dân, các thế lực thù địch cố tình phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc ở Việt Nam, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đòi để một số dân tộc thiểu số lập ra "vương quốc" riêng mà không dựa trên bất cứ cơ sở lịch sử-địa chính trị nào. Chúng đòi xét lại lịch sử, thậm chí là bóp méo lịch sử để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chính vì vậy, cần tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, giúp đồng bào các dân tộc hiểu rõ và cùng thực thi các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, không mơ hồ nghe theo kẻ xấu xúi giục, kích động; đồng thời kiên quyết đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Vụ việc xảy ra tại xã Ea Tiêu và xã Ea Ktur, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk vừa qua là một ví dụ đau lòng, các đối tượng đã dùng súng tấn công trụ sở Ủy ban Nhân dân hai xã làm 9 người chết, 2 người bị thương.

Các lực lượng chức năng đã nhanh chóng vào cuộc, truy bắt các đối tượng phạm tội, ổn định đời sống nhân dân. Đáng chú ý, lực lượng chức năng đã xử lý hơn 100 trường hợp đăng tải các thông tin xấu, độc liên quan đến vụ việc.

Các đối tượng vi phạm chủ yếu là với mục đích "câu like" đã chia sẻ lại thông tin chưa được kiểm chứng từ các trang Facebook, TikTok… của các cá nhân. Họ không ý thức được hậu quả của việc lan truyền những thông tin không đúng sự thật trên các trang mạng xã hội. Khi được giải thích, các trường hợp này đều đã nhận ra hành vi sai phạm, tự gỡ bỏ bài đăng và cam kết không tái phạm.

Công an tỉnh Đắk Lắk khuyến cáo mỗi người dân khi sử dụng mạng xã hội cần kiểm tra nguồn tin, tính chính xác, tránh "sập bẫy" các đối tượng xấu, đặc biệt là trước các luồng thông tin, hình ảnh từ các trang cá nhân hoặc tổ chức chống Nhà nước. Việc đăng tải thông tin chưa được kiểm chứng, thông tin bịa đặt, sai sự thật sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về ưu tiên phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số đi vào hiện thực cuộc sống, đồng bào các dân tộc chính là chủ thể thực thi và đối tượng thụ hưởng. Khơi dậy và phát huy tinh thần đại đoàn kết, lấy chủ nghĩa yêu nước là hạt nhân, chính là động lực để triển khai hiệu quả các chính sách tốt đẹp đó, để cộng đồng các dân tộc Việt Nam ngày càng đoàn kết, gắn bó, không thể tách rời.

Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ chính trị đồn Biên phòng trong đấu tranh chống âm mưu “Phi chính trị hóa” quân đội

 

1.  

“Phi chính trị hóa” (PCTH) quân đội (QĐ) là âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh. Thực chất đây là âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐ; làm cho QĐ suy yếu về chính trị, từ bỏ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, tiến tới bị vô hiệu hóa, không còn là công cụ bạo lực vũ trang bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN.

Thời gian qua, lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với số chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức như Việt Tân, Việt Nam phục quốc, Triều đại Việt... Cùng với đó, một số cán bộ, đảng viên (có những đảng viên đã từng giữ chức vụ trung, cao cấp trong bộ máy, hệ thống chính trị của nước ta) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Lực lượng này len lỏi, phức tạp, không khó để nhận ra nhưng lại rất khó để đấu tranh. Đây là những người phản bội lại quá khứ, phản bội lại lý tưởng và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi lại bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác.

Nhằm thực hiện PCTH QĐ, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội... để tuyên truyền những quan điểm sai trái, thù địch, phản khoa học về nguồn gốc, bản chất QĐ. Chúng rêu rao rằng: QĐ là lực lượng “siêu giai cấp”, “trung lập về chính trị”..., hòng tạo sự mơ hồ trong cán bộ, chiến sĩ (CBCS) và nhân dân ta về bản chất giai cấp của QĐ, đánh đồng bản chất QĐ ta với QĐ tư sản.

Với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐ, chúng phủ nhận Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành của nước ta xác định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; tuyên truyền, bóp méo, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót cả về đường lối, sự chỉ đạo thực tiễn trong quá khứ, những vấp váp trong công cuộc đổi mới hiện nay; đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.

Chúng xuyên tạc bản chất, truyền thống của QĐ ta, xuyên tạc tính chất chính nghĩa của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta; kích động, chia rẽ nội bộ QĐ và Công an, chia rẽ QĐ với các cơ quan của Đảng, Nhà nước; chia rẽ QĐ với nhân dân, nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với QĐ, làm phai nhạt hình ảnh cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

Trong bối cảnh hiện nay ở nước ta, đấu tranh chống PCTH QĐ phải kết hợp chặt chẽ đấu tranh chống chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Đó cũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của lực lượng BĐBP, trong đó, đội ngũ cán bộ chính trị (CBCT) đồn Biên phòng là lực lượng quan trọng, trực tiếp tham gia xây dựng đồn Biên phòng vững mạnh về chính trị, đồng thời đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn PCTH QĐ của kẻ thù. Theo đó, cần nhận thức đúng và phát huy tốt vai trò của CBCT đồn Biên phòng trong đấu tranh chống PCTH QĐ của các thế lực thù địch.

Là những người chủ trì về chính trị hoặc đảm nhiệm hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị ở đồn Biên phòng, CBCT giữ vai trò chủ chốt trong việc xây dựng QĐ vững mạnh về chính trị. Trong tình hình mới, đòi hỏi CBCT không những phải kiên định, vững vàng, nhạy bén về chính trị, mà còn phải tích cực tham gia đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn PCTH QĐ, giữ vững trận địa tư tưởng, xây dựng đồn Biên phòng vững mạnh về chính trị, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Vai trò của CBCT trong đấu tranh chống PCTH QĐ là chức năng, tác dụng của họ trong phát hiện, ngăn chặn các hoạt động chống phá QĐ về chính trị nhằm giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với QĐ. Vai trò của CBCT đồn Biên phòng trong đấu tranh chống PCTH QĐ được biểu hiện ở những nội dung sau:

Một là, góp phần giữ vững, tăng cường trận địa tư tưởng, chính trị của đồn Biên phòng, nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị về chính trị. Sự nghiệp xây dựng lực lượng BĐBP hiện nay phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng vững mạnh về chính trị. Giữ vững, tăng cường trận địa tư tưởng, chính trị, nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị về chính trị là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của lực lượng nòng cốt bảo vệ biên cương của Tổ quốc.

Là lực lượng cơ bản trong hệ thống CBCT của lực lượng BĐBP, đội ngũ CBCT đồn Biên phòng có nhiệm vụ trực tiếp tham gia giữ vững, tăng cường trận địa tư tưởng, chính trị ở đơn vị. Do vậy, họ giữ vai trò cốt cán, quan trọng hàng đầu trong xây dựng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực cho CBCS ở đồn Biên phòng, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng. Mặt khác, đội ngũ CBCT cũng trực tiếp tham gia tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, đóng góp cho Đảng và QĐ những ý kiến quý báu về hoạch định đường lối, chính sách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Hai là, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Để đấu tranh chống PCTH QĐ, đòi hỏi đội ngũ CBCT phải hiểu rất sâu sắc, toàn diện hệ thống lý luận Mác xít, biết phân tích, luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn một cách khoa học; nghiên cứu, bổ sung và vận dụng sáng tạo lý luận đó trong thực tiễn; kiên quyết chống lại những luận điệu xuyên tạc, chống phá của kẻ thù.

Qua đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng liên tục được luận giải, chứng minh, vận dụng vào thực tiễn, được thẩm thấu vào họ và lan tỏa đến mọi CBCS ở các đơn vị. Nhờ đó, đội ngũ CBCT nâng cao hiệu quả đấu tranh chống lại các luận điệu nhằm thực hiện âm mưu PCTH QĐ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới.

Đối tượng tác động trực tiếp của đội ngũ CBCT là CBCS, công nhân viên quốc phòng đang công tác tại các đồn Biên phòng. Họ được tiếp thu kiến thức, tác phong công tác, khả năng tổ chức hoạt động thực tiễn, vận dụng lý luận vào thực tiễn đấu tranh chống PCTH QĐ của đội ngũ CBCT. Vì vậy, hoạt động đấu tranh chống PCTH QĐ của CBCT góp phần trực tiếp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống lại các luận điệu thù địch, để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng cho CBCS ở đơn vị; mở rộng ra các đối tượng khác trong và ngoài QĐ, nhất là cán bộ, nhân dân ở khu vực biên giới.

Ba là, góp phần nâng cao giác ngộ chính trị, xây dựng bản lĩnh vững vàng cho CBCS ở đồn Biên phòng. Bằng năng lực, trách nhiệm của mình, thông qua đấu tranh chống PCTH QĐ, đội ngũ CBCT góp phần nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của CBCS. Họ góp phần củng cố, làm sâu sắc thêm những kiến thức, kỹ năng mà CBCS đã được trang bị trong quá trình huấn luyện. Đây là cơ sở vững chắc để CBCS nâng cao giác ngộ chính trị, xây dựng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu đúng đắn.

Với tinh thần trách nhiệm cao trong đấu tranh chống PCTH QĐ, đội ngũ CBCT có cách thức hiệu quả nhất luận giải cho CBCS hiểu rõ tính tất yếu đi theo con đường XHCN; vạch trần âm mưu PCTH QĐ, xây dựng QĐ “trung lập” về chính trị của các thế lực thù địch; vạch trần các âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của kẻ thù trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Đội ngũ CBCT góp phần làm rõ bản chất tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của BĐBP, là một lực lượng chính trị tự giác đứng vững trên lập trường của Đảng, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Do đó, đội ngũ này càng phải cố gắng phấn đấu học tập và rèn luyện nâng cao nhận thức, giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu.

Bốn là, góp phần tạo môi trường lành mạnh để bồi dưỡng, giáo dục nhân cách cho CBCS ở đồn Biên phòng. Là chủ thể tích cực, hoạt động của đội ngũ CBCT có vai trò to lớn trong xây dựng môi trường ở các đồn Biên phòng. Trong đó, hoạt động đấu tranh chống PCTH QĐ của họ góp phần to lớn làm “sạch” môi trường chính trị tư tưởng, lý luận; giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, tạo khả năng “miễn dịch” với các tư tưởng sai trái, phản động cho CBCS ở đơn vị cơ sở. Đội ngũ CBCT có cả về tri thức, kỹ năng, phương pháp hoạt động... và cả tình cảm, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng nên có tác dụng rất lớn trong giáo dục, rèn luyện CBCS. Họ có năng lực truyền thụ tri thức, kỹ năng hoạt động..., có hành vi gương mẫu, lời nói đi đôi với việc làm, là tấm gương mẫu mực cho CBCS trong đơn vị noi theo.

Hoạt động đấu tranh chống PCTH QĐ của đội ngũ CBCT có tính chiến đấu cao, có giá trị giáo dục sâu sắc, được thể hiện thường xuyên trong quá trình công tác của họ. Chính vì vậy, hoạt động đó góp phần xây dựng, củng cố tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình trong đơn vị, tạo môi trường thuận lợi cho giáo dục, rèn luyện CBCS. Từ đó, góp phần khắc phục các biểu hiện bàng quan, nể nang, né tránh phê bình những khuyết điểm của đồng đội, phê bình kiểu “đao to búa lớn”, vì mục đích vụ lợi; hoặc chỉ biết “phê” mà không chịu “tự phê”; nhằm đạt mục đích vừa khắc phục sai lầm, vừa tạo sự đoàn kết, thống nhất trong đơn vị. Đây là những điều kiện thuận lợi để bồi dưỡng, giáo dục nhân cách cho CBCS ở đồn Biên phòng.

Phát huy vai trò của Bộ đội Biên phòng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

 

1.     

 Biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm; quản lý, bảo vệ biên giới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có vấn đề chủ quyền lãnh thổ (CQLT), an ninh biên giới quốc gia (ANBGQG). Do vậy, phát huy vai trò của BĐBP trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng (KGM) về vấn đề CQLT, ANBGQG là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay.

Trong những năm qua, các đơn vị BĐBP đã tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm túc nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP, chấp hành nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền địa phương. Đồng thời, tích cực, chủ động tham mưu, đề xuất nhiều chủ trương, giải pháp bảo vệ vững chắc CQLT, ANBGQG; làm tốt công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới; thường xuyên duy trì quan hệ tốt với lực lượng bảo vệ biên giới nước láng giềng, góp phần xây dựng biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển; tích cực tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các cấp trong việc xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới.

Tuy nhiên, hiện nay, các thế lực thù địch, phản động cơ hội chính trị triệt để lợi dụng mạng xã hội, internet để đăng tải những thông tin sai sự thật, hòng bẻ lái dư luận và kích động người dân nhằm mục đích xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội. Cụ thể, các đối tượng quy chụp lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta “phản ứng chậm” hoặc “né tránh, không dám đối đầu, đang tâm để CQLT quốc gia bị đe dọa”... Mưu đồ cốt lõi của những luận điệu sai trái này là khiến lòng dân mất yên, dần mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; phủ nhận vai trò, công sức của các lực lượng, trong đó có BĐBP trong bảo vệ, gìn giữ biên cương của Tổ quốc.

Càng nguy hiểm hơn khi nhiều đối tượng phản động lợi dụng vấn đề CQLT, trong đó có chủ quyền biên giới, biển, đảo để kích động, kêu gọi người dân “xuống đường” biểu tình thể hiện lòng yêu nước, từ đó gây mất an ninh, trật tự xã hội và kiếm cớ để tiếp tục chống phá. Một thực tế khác cần nhìn nhận, đó là trong khi đa số người dân nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ CQLT quốc gia, thì vẫn còn khá nhiều người “sập bẫy”, chủ yếu là những người mới hoặc ít tiếp xúc với internet, mạng xã hội, trong đó có giới trẻ. Sự thiếu nhận thức đúng đắn về chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước khiến họ chưa kịp chắt lọc thông tin đúng - sai, dễ bị cuốn vào “ma trận phản động” trên internet, mạng xã hội của các thế lực thù địch. Đây chính là những mầm mống, phương thức để các thế lực thù địch thực hiện âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn trong nước, tạo cớ can thiệp từ bên ngoài.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, thời gian tới, các thế lực thù địch, phản động sẽ tiếp tục đẩy mạnh hành vi lợi dụng internet và mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có vấn đề CQLT, ANBGQG. Đây là cuộc đấu tranh mang tính lâu dài, phức tạp; việc xác định tư tưởng, sự chuẩn bị tâm thế và lực lượng luôn được đề cập tại văn kiện Đại hội Đảng các nhiệm kỳ. Do vậy, phát huy vai trò của BĐBP trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG hiện nay là hết sức cần thiết. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, cần quán triệt và thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là cấp ủy, chỉ huy các cấp về vị trí, vai trò của biên giới quốc gia; đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG. Đây là giải pháp quan trọng để đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG. Bởi, nhận thức có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động thực tiễn của con người và tổ chức. Nhận thức đúng là cơ sở để mỗi người xây dựng tư tưởng và ý chí quyết tâm cao, hạn chế được sai lầm, khuyết điểm trong hành động; đối với tổ chức, nhận thức đúng là cơ sở để thống nhất tư tưởng và chỉ đạo hành động.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG hiện nay chỉ có thể đạt chất lượng hiệu quả cao khi chủ thể và các tổ chức, lực lượng có nhận thức sâu sắc, đầy đủ về vị trí, vai trò cũng như nhận thức sự cần thiết phải đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy của các cơ quan, đơn vị BĐBP cần quán triệt và thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP và của cấp ủy, chính quyền các địa phương về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp; phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG.

Cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp trong BĐBP cần thường xuyên quán triệt và nắm chắc các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và Nhà nước về đấu tranh bảo vệ CQLT, ANBGQG; kịp thời cung cấp thông tin, “chỉ thị mục tiêu” và định hướng để đấu tranh kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm. Chỉ đạo thành lập, kiện toàn nhân sự và đẩy mạnh hoạt động của Ban Chỉ đạo 35, Lực lượng 47; tuyên truyền, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các luận điệu xuyên tạc đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề CQLT, ANBGQG trên KGM.

Ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 BĐBP tỉnh, nòng cốt, đi đầu trong đấu tranh, phản bác với những quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG.

Thực tiễn trong những năm qua cho thấy, hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 của BĐBP từng bước được củng cố, kiện toàn, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm. Công tác nắm bắt, đánh giá tình hình tư tưởng, dư luận xã hội được triển khai sâu rộng, công tác thông tin, tuyên truyền, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu, độc trên mạng xã hội được tăng cường với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Qua đó, kịp thời tuyên truyền, định hướng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội và BĐBP, tạo sự đồng thuận cao trong cán bộ, chiến sĩ các đơn vị, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG là trách nhiệm của mọi tổ chức, lực lượng và cá nhân. Trong đó, Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 tại các đơn vị là lực lượng nòng cốt, tiên phong. Do vậy, cần chú trọng bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ được giao nhiệm vụ chuyên trách đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các đối tượng phản động, thế lực thù địch; bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng. Những cán bộ, đảng viên được lựa chọn phải là những người có trình độ chuyên sâu về lý luận, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng lập luận, xâu chuỗi các vấn đề, am hiểu về công nghệ thông tin.

Bốn là, phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo, ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ BĐBP trong đấu tranh, phản bác với những quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG.

Hiện nay, ứng dụng internet và mạng xã hội đã phổ biến trong công tác, học tập và sinh hoạt của giới trẻ, trong đó có cán bộ, chiến sĩ BĐBP. Bên cạnh thông tin tích cực, các bạn trẻ cũng dễ dàng tiếp xúc với những thông tin trái chiều, có nội dung chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng kiên định hoặc nhận thức đúng bản chất của những thông tin đó, nên không ít thanh niên dễ bị lôi kéo, kích động.

Do đó, tổ chức Đoàn các cấp cần chủ động nắm, dự báo, báo cáo, cung cấp thông tin về hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; gắn bồi dưỡng nâng cao năng lực đấu tranh với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên. Đồng thời, thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng, dư luận, tâm trạng của cán bộ, đoàn viên, từ đó, có biện pháp tuyên truyền, giáo dục, định hướng, giải quyết hiệu quả, tránh để các thế lực thù địch, phản động có cơ hội lôi kéo, mua chuộc; kịp thời tuyên truyền, giáo dục, uốn nắn những thanh niên có biểu hiện tư tưởng lệch lạc, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Năm là, bảo đảm tốt hơn nữa về cơ chế, chính sách và cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ đấu tranh, phản bác với những quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG.

Thực tiễn cho thấy, để phát huy vai trò của BĐBP trong công tác này, cần phải bảo đảm tốt hơn nữa về cơ chế, chính sách và cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ quá trình đấu tranh. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần phải tổ chức quán triệt sâu sắc, nắm vững các chế độ, chính sách đã được quy định trong các văn bản của Đảng, Nhà nước và Quân đội; gặp gỡ, động viên, khen thưởng kịp thời đối với những tập thể, cá nhân có thành tích trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên KGM.

Điểm sáng trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

1.   

Thiếu tá Trịnh Văn Phú, Chính trị viên Đồn Biên phòng Ngọc Lâm cho biết: "Để thực hiện nhiệm vụ trên tuyến biên giới biển, đơn vị đã phối hợp với các tổ chức đoàn thể chính trị trong huyện tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến các hộ dân. Từ đầu năm đến nay, đơn vị đã phối hợp với Hội Nông dân huyện tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), cách phát hiện và phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội được 35 buổi sinh hoạt với trên 2.300 lượt hội viên tham gia".

Với phương châm “mỗi cán bộ, chiến sĩ Biên phòng là một tuyên truyền viên pháp luật”, Đồn Biên phòng Ngọc Lâm luôn đan xen, kết hợp chặt chẽ giữa việc thực hiện nhiệm vụ công tác biên phòng với công tác tuyên truyền, PBGDPL, lấy công tác tuyên truyền miệng là chính và được thực hiện bằng nhiều mô hình khác nhau, nổi bật nhất là mô hình “Tiếng loa Biên phòng”.

Theo đó, đơn vị cùng với chính quyền địa phương 3 xã Nghĩa Hải, Phúc Thắng, Nam Điền và thị trấn Rạng Đông, tổ chức 4 cụm loa tuyên truyền lưu động, vận động người có uy tín trong các khu dân cư, chức sắc tôn giáo phối hợp tích cực tuyên truyền, PBGDPL cho nhân dân tại các khu dân cư, bến, bãi neo đậu tàu, thuyền. Một số cụm loa cố định được đặt ngay trên tuyến đường đi làm về của bà con, ngư dân để đạt được hiệu quả rộng nhất.

Ông Đỗ Ngọc Sang, ngư dân xã Phúc Thắng đã chia sẻ: ”Hiện nay, tôi và bà con trong xã đã quen thuộc với tiếng loa phát các nội dung tuyên truyền về những nội dung thông báo của địa phương, những văn bản pháp luật mới ban hành... Đặc biệt, thời gian dịch Covid-19 hoành hành, mô hình "Tiếng loa Biên phòng" đã trở nên gần gũi và thiết thực với bà con chúng tôi, giúp người dân nắm bắt được những thông tin bổ ích để phòng, chống bệnh dịch, nâng cao sức khỏe và đời sống”.

Đồn Biên phòng Ngọc Lâm còn phối hợp tham gia cùng các xã, thị trấn khu vực biên giới biển thành lập Câu lạc bộ “Phụ nữ với pháp luật”, “Nông dân với pháp luật”, “Phụ nữ vì sự phát triển và bình yên tuyến biển”, “Nông dân tham gia giữ gìn an ninh trật tự và bình yên tuyến biển”, 2 mô hình “Khu dân cư vùng giáo tiên tiến và an toàn về an ninh trật tự”. Bà Mai Thị My, Chi hội trưởng phụ nữ xóm 2, xã Nghĩa Hải cho biết: “Việc được cán bộ Biên phòng trang bị các kiến thức pháp luật cho người dân là rất quan trọng, để chị em phụ nữ và bà con hiểu và chấp hành nghiêm. Thông qua buổi tuyên truyền, chị em về nhà lại tiếp tục tuyên truyền cho chồng, con và các thành viên trong gia đình chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.

Cùng bước chân tuần tra của những người lính mang quân hàm xanh trên địa bàn biên giới biển Nam Định, đi trên những con đường liên xóm, liên xã của Nghĩa Hải hôm nay, chúng tôi cảm nhận được rõ nét sự đổi thay về mọi mặt của một xã biên giới biển. Những thành tích đạt được rất đáng tự hào ấy có sự đóng góp không nhỏ của những người lính Biên phòng đang ngày đêm bám dân, bám địa bàn, xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân”, để xây dựng tuyến biên giới biển ngày càng vững mạnh. 

Chung sức xây dựng khu vực biên giới biển vững mạnh

1.    

          Những năm qua, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ngọc Lâm, BĐBP Nam Định luôn sát cánh cùng địa phương thực hiện các chương trình, dự án phát triển cơ sở hạ tầng, giúp nhân dân phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân khu vực biên giới biển nắm vững và thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Qua đó, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, xây dựng khu vực biên giới biển ngày càng vững mạnh.

Chúng tôi theo chân đội công tác của Đồn Biên phòng Ngọc Lâm xuống địa bàn xã Nghĩa Hải, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định những ngày đầu tháng 6. Đi trên con đường trải rộng thênh thang, sạch sẽ, thoáng mát dẫn đến xóm 2, xã Nghĩa Hải, chúng tôi được ngắm những chậu hoa giấy đua nhau nở rộ, khoe sắc. Đồng chí cán bộ đi cùng cho biết, đoạn đường được trải bê tông này là một phần của mô hình Tuyến đường nông thôn mới (NTM) kiểu mẫu do Đồn Biên phòng Ngọc Lâm tham mưu với Đảng ủy, UBND xã Nghĩa Hải lựa chọn làm điểm xây dựng điểm. Sau khi huy động tổng lực sức dân, cùng với sự đóng góp công sức của cán bộ, chiến sĩ BĐBP, con đường liên xóm dài 0,1km bằng bê tông, mặt đường rộng 5m, dày từ 20-25cm đã được đầu tư gần 400 triệu đồng để xây dựng. Ngay sau khi hoàn thiện, con đường còn được nhân dân trong xã đóng góp, lắp đặt thêm 18 cột đèn điện chiếu sáng, trồng hàng chục cây bóng mát xung quanh...

Ông Phạm Văn Điện, Bí thư chi bộ, Trưởng ban Công tác mặt trận xóm 2, xã Nghĩa Hải cho biết: “Sau khi được công nhận huyện đạt chuẩn NTM, huyện Nghĩa Hưng đã chuyển trọng tâm sang xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu theo các tiêu chí mới. Đứng chân trên địa bàn, phụ trách xã Nghĩa Hải, Đồn Biên phòng Ngọc Lâm đã tham mưu cho Đảng ủy, UBND xã lựa chọn xây dựng khu dân cư kiểu mẫu ở xóm 2 của xã Nghĩa Hải. Trong 3 năm qua, đường ngõ đi lại trong xóm 2 đã được đầu tư xây dựng theo quy chuẩn NTM nâng cao, việc đi lại sinh hoạt của người dân ngày một thuận lợi. Xóm 2 có được bộ mặt đổi mới như hôm nay có sự đóng góp phần công sức không nhỏ của các cán bộ Biên phòng”.

Ông Nguyễn Văn Nam, Trưởng xóm 2, xã Nghĩa Hải chia sẻ: “Việc triển khai mô hình Tuyến đường NTM kiểu mẫu do những người lính Biên phòng khởi xướng trong mấy năm qua đã mang lại giá trị tinh thần vô cùng to lớn cho bà con. Mỗi lần đi làm về, đi trên con đường bê tông rộng rãi, sạch sẽ, được ngắm những chậu hoa sắc màu hai bên đường thì bao muộn phiền, mệt mỏi của chúng tôi dường như tan biến”.

Ngoài tham quan mô hình Tuyến đường NTM kiểu mẫu, chúng tôi còn được Thiếu tá Nguyễn Văn Tuấn, cán bộ Đội Vận động quần chúng của đồn giới thiệu tham quan mô hình trồng bưởi Diễn của một số hộ dân tại xã Nghĩa Hải. Điển hình là gia đình ông Phạm Xuân Ban đang thực hiện mô hình trồng cây bưởi Diễn, mỗi năm cho thu nhập khoảng 20-30 triệu đồng. Nhìn thấy chúng tôi, ông chạy tới tay bắt, mặt mừng, rồi hồ hởi khoe: “Năm vừa qua, nhờ có vườn bưởi thu nhập khá nên gia đình tôi đã đầu tư xây thêm được một gian nhà bếp khang trang. Năm nay, hy vọng sẽ có thu nhập tốt hơn để gia đình tôi cưới vợ cho cậu út”.

Được biết, vườn bưởi Diễn rộng hơn 2 sào, với 50 gốc của gia đình ông Phạm Xuân Ban là một trong 7 mô hình phát triển kinh tế do cán bộ Đồn Biên phòng Ngọc Lâm phối hợp với Hội Nông dân huyện Nghĩa Hưng triển khai từ năm 2016. Theo đó, để hỗ trợ cho bà con trên địa bàn tuyến biên phòng, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ngọc Lâm đã đóng góp kinh phí mua cây giống, Hội Nông dân huyện chuyển giao khoa học kỹ thuật chăm sóc cây trồng cho các hộ. Đến nay, các hộ gia đình thực hiện mô hình này đều phát triển tốt, có thu nhập trong tương lai.


Một số giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên

1.     

Để phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh, phòng, chống âm mưu của các thế lực thù địch vùng DTTS. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, đồng bào vùng DTTS nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bọn phản động trong và ngoài nước. Tiếp tục tuyên truyền, khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư khóa XII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN...

Hai là, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS. Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề khó khăn trong đời sống của đồng bào DTTS để chống phá. Các cấp, các ngành cần triển khai hiệu quả các chủ trương, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ; giải quyết tốt tình trạng tranh chấp đất đai, đẩy nhanh tiến độ giao đất, khoán rừng, tổ chức lại sản xuất cho đồng bào các DTTS, tạo việc làm ổn định, giúp đồng bào an cư lạc nghiệp, trọng tâm là việc triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội ngày 18/11/2014 về phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030...

          Ba là, thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ “cơ bản, toàn diện, liên hoàn, vững chắc”; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Tây Nguyên nói chung, tỉnh Đắk Nông nói riêng. Chủ động triển khai hiệu quả các biện pháp chống biểu tình, bạo loạn; làm tốt công tác kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh các phương án bảo vệ an ninh ở địa phương, cơ sở. Đồng thời, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, chủ động phòng, chống các hoạt động tình báo, gián điệp của địch, củng cố trận địa an ninh nhân dân vững mạnh, làm cơ sở, chỗ dựa vững chắc cho đồng bào các DTTS trên địa bàn.

Bốn là, đổi mới và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, chính quyền cơ sở, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt là người DTTS vững mạnh về mọi mặt. Cấp ủy, chính quyền các địa phương cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên là người DTTS tại chỗ; đồng thời tăng cường cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức cho cơ sở vùng đồng bào DTTS, vùng tôn giáo, nhất là ở những địa bàn trọng điểm...

Năm là, chủ động phát hiện, kịp thời đấu tranh vô hiệu hóa các hoạt động truyền bá, kích động cực đoan gây chia rẽ các dân tộc. Chủ động đấu tranh với các thế lực thù địch chỉ đạo, hậu thuẫn số đối tượng bên trong đòi ly khai, tự trị; đấu tranh với các hoạt động quốc tế hóa vấn đề dân tộc và sự can thiệp từ bên ngoài. MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội cần bám sát, nắm chắc tư tưởng của quần chúng, vận động họ tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương. Đồng thời, cần xây dựng nội dung, phương thức phù hợp để chủ động nhận diện và tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng và Nhà nước, chính quyền các cấp của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề dân tộc ở địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nói chung, tỉnh Đắk Nông nói riêng 

 

SỰ ĐỘC ĐOÁN, CHUYÊN QUYỀN – MỘT DẠNG THA HÓA QUYỀN LỰC

Quyền lực - Cho dù có tồn tại dưới dạng hình thức nào, khi nào, với ai hay trong cộng đồng nào, được thực hiện bằng cách nào và cho đến bao giờ thì cũng luôn được coi là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của một xã hội. Điều đó còn đúng hơn rất nhiều khi quyền lực đó tồn tại trong xã hội có giai cấp và có nhà nước.

Xét về nguồn gốc hợp pháp, quyền lực có nguồn gốc từ xã hội. Nhưng quyền lực ấy không dàn trải trong toàn xã hội mà phải có người đại diện để thống nhất quyền lực và điều đó là cần thiết. Do đó mà phải có hình thức xã hội trao quyền. Tuy nhiên, quá trình hành xử của quyền lực cộng với tham vọng cá nhân, lợi ích nhóm….đã dần làm cho nó trở nên quan liêu và thoát ly khỏi xã hội, người được xã hội trao quyền muốn thâu tóm, khống chế quyền lực bằng một cơ chế tập trung quyền lực cao độ về tay mình. Điều đó làm xuất hiện nguy cơ của cách hành xử quyền lực một cách độc đoán, chuyên quyền với các thủ đoạn chính trị cực đoan, trấn áp tất cả các thế lực chống đối, từ đó tuyệt đối hóa quyền lực của mình. Nhiều chính thể quân chủ chuyên chế đã hình thành từ sự tập trung quyền lực một cách quá đáng mà hậu quả của nó là sự triệt tiêu nền dân chủ, tước đoạt tự do của con người, vô hiệu hóa cơ chế cạnh tranh quyền lực một cách lành mạnh để phát hiện và sử dụng những nhân tố mới và tích cực.

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta đang tiến hành hiện nay; trong chặng đường xây dựng một nhà nước kiến tạo, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì nhận diện được hình thức tha hóa quyền lực dạng này là quan trọng, cần thiết để giúp cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đấu tranh hiệu quả hơn để loại bỏ những mầm độc tham nhũng hiện nay./.

 

 

 

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN NGUY CƠ SUY THOÁI, “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” Ở BÊN TRONG VỚI ĐẤU TRANH CHỐNG “TÁC ĐỘNG CHUYỂN HÓA” TỪ BÊN NGOÀI

Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nỗ lực đó sẽ đem lại hiệu quả cao hơn và bền vững hơn nếu gắn kết chặt chẽ, thường xuyên với việc đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” từ bên ngoài; qua đó, góp phần vào thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ Tư, 26 tháng 7, 2023

 

THÀNH TỰU 36 NĂM ĐỔI MỚI LÀ LUẬN CỨ ĐỂ KHẲNG ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN PHÙ HỢP HOÀN CẢNH VIỆT NAM

 Có ý kiến xuyên tạc rằng "việc du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là nguyên nhân của mọi tai họa, đưa đất nước vào vòng tăm tối, trì trệ".

Đảng Cộng sản Việt Nam với 93 năm qua kể từ ngày thành lập 03 tháng 02 năm1930 cũng như hiện nay luôn phấn đấu hy sinh để đưa đất nước được hoàn toàn độc lập, nhân dân được ấm no, dân tộc vươn lên sánh vai với bạn bè năm châu. Chính nhờ được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ với tinh hoa truyền thống dân tộc và nhân loại mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại, làm cho đất nước ngày càng phát triển, lập nên nhiều kỳ tích vang dội trong thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI. Đó là thực tế. Đó cũng là lý do giải thích vì sao Đảng ta kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin.

Khi bước vào thời kỳ đổi mới, trong nghiên cứu ở nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng thì có sợ hạn chế việc phát triển lý luận của Đảng Cộng sản hay không? Hay chỉ cần coi đó là kim chỉ nam cho hành động là đủ vì điều này phù hợp với ý của C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin.

Để hiểu đúng vấn đề này, chỉ có một cách tốt nhất là trở về với cách hiểu, cách giải thích, cách vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin ở Hồ Chí Minh, Người đã nêu một số ý tổng quát:

Nắm chủ nghĩa Mác - Lênin là nắm lập trường quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin không cần phải nhớ nhiều sách, thuộc nhiều câu chữ của chủ nghĩa Mác Lênin, mà phải dùng lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết, vận dụng những vấn đề của cách mạng nước ta và thời đại đang đặt ra.

Lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin là lập trường cách mạng triệt để; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là quan điểm khoa học, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện quy luật và làm theo quy luật; phương pháp của cách mạng Mác - Lênin là phương pháp biện chứng. Đây cũng là lập trường, quan điểm và phương pháp của tư tưởng Hồ Chí Minh mà chúng ta cần phải nắm vững.

Về quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong những năm đổi mới, chúng ta đã tiến thêm một bước là đặt vấn đề phải phân biệt:

Những luận điểm nào của Mác - Lênin trước kia đúng, bây giờ vẫn đúng và lâu dài về sau tiếp tục vẫn đúng. Những luận điểm nào trước kia đúng, nhưng điều kiện lịch sử hiện nay thay đổi, không còn phù hợp, cần phải bổ sung, phát triển hoặc thay đổi. Những luận điểm, mà Mác - Lênin đã phát hiện thấy sai và đã sửa. Những luận điểm nào của Mác - Lênin mà chúng ta đã hiểu không đầy đủ, hoặc hiểu sai do bản thân chúng ta nghiên cứu không thấu đáo hoặc hiểu theo cách hiểu không đúng của người khác, đảng khác.

Đây là những vấn đề lớn, không thể làm được tất cả ngay một lúc, mà phải dày công nghiên cứu mới dẫn dẫn làm sáng tỏ được. Cũng phải trải qua thực tiễn đổi mới ở nước ta cùng với thực tiễn cách mạng các nước và những biến đổi của thế giới mới có thể đi đến những kết luận đúng đắn. 

Sau những thành tựu của công cuộc đổi mới, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam." Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 -19/5/2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (ngày 23/5/2021) đã khẳng định: “Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống./.

 

 

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN “ĐƯỢC CHO LÀ LỖI THỜI” KHI KHÔNG NHẬN THỨC ĐƯỢC TÍNH KHOA HỌC TRONG TỪNG LUẬN ĐIỂM VÀ QUÁ TRÌNH VẬN DỤNG

 Với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, từ đó đặt chủ nghĩa Mác - Lênin trước sự thử thách khắc nghiệt của lịch sử. Trong bối cảnh đó, các nhà chính trị và tư tưởng tư sản phản động hí hửng tung ra đủ thứ lý luận nhằm bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và rêu rao về sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản, sự diệt vong của chủ nghĩa cộng sản, về "chiến thắng không cần chiến tranh" (Nichxơn), về "Sự tận cùng của lịch sử" (Fukuyama).

Không những kẻ thù của chủ nghĩa Mác - Lênin mà cả một số người trước đây một thời được coi là người mácxít, thì giờ đây cũng ra sức xuyên tạc, bác bỏ, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng học thuyết đó đã lỗi thời. Để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, họ thường viện dẫn những sai lầm, thiếu sót ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, nhất là ở Liên Xô và những đặc điểm mới của thời đại. Họ cho rằng "kinh tế tri thức, nền văn minh tin học không dung nạp chủ nghĩa xã hội", "chủ nghĩa Mác là sản phẩm của nền văn minh cơ khí, nó chỉ thích hợp với thế kỷ XIX chứ không dung hợp với thời đại ngày nay "sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở một mảng lớn trên thế giới chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lênin là một sai lầm), v.v và v.v..

Tuy vậy, thực tiễn lịch sử với tất cả những bước đi quanh co, phức tạp của nó vẫn khẳng định tính đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin.

Nói về cái tinh tuý nhất trong học thuyết Mác, Hồ Chí Minh thể hiện trong ba chữ: phép biện chứng - tức linh hồn sống của chủ nghĩa Mác.

V.I.Lênin nói: Học thuyết Mác là học thuyết vạn năng, vì nó là một học thuyết chính xác. Đó là một học thuyết cân đối và hoàn bị, nó cho người ta một thế giới hoàn chỉnh, không thoả hiệp với bất cứ sự mê tín nào, một hành vi phản động nào, một hành vi bảo vệ sự áp bức của tư sản...

Một là, C.Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới.

 C.Mác là người đầu tiên đã áp dụng phép biện chứng duy vật, do chính Ông xây dựng, vào việc nghiên cứu lịch sử, làm cho chủ nghĩa duy vật trở thành hoàn bị triệt để. Ph. Ăngghen nói rằng, giống như Đácuyn, C.Mác đã phát hiện quy luật phát triển của lịch sử loài người.

Hai là, C.Mác đã tìm ra quy luật riêng biệt của sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra,

Ba là, với sự phát hiện khoa học vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã đặt nền móng cho chủ nghĩa xã hội khoa học, học thuyết về sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng loài người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột và tha hoá.

Về học thuyết xã hội chủ nghĩa của C.Mác, chúng tôi muốn nhấn mạnh một điểm, đó là quan hệ biện chứng giữa giải phóng con người và giải phóng giai cấp.

Sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện ở chỗ nó soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín muối của nhân loại, đó là nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, khỏi mọi tha hoá. Có thể khẳng định rằng, cho đến nay, khi nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng được nhiệm vụ lịch sử mà không thể học thuyết nào có thể thay thế được. Đời sống xã hội đương đại mặc dù rất phức tạp, trải qua biết bao thăng trầm, quanh co khúc khuỷu, vẫn không đi ra ngoài những quy luật phổ biến đã được C.Mác tổng kết.

Từ thực tiễn vận động phát triển trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của thế giới đương đại, chúng ta có đủ căn cứ để khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách là lý luận về phương pháp nhận thức thế giới và cải tạo thế giới bằng cách mạng vẫn giữ nguyên giá trị, dù cho một số luận điểm cụ thể riêng biệt của lý luận Mác - Lênin có thể không được thực tiễn xác nhận hoặc cần phải điều chỉnh./.