Thứ Năm, 27 tháng 7, 2023

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH ĐOÀN KÊT DÂN TỘC

 


Đại đoàn kết là truyền thống quý báu, được hun đúc trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, cũng là mục tiêu chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu giải pháp tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Trong những năm qua, mặc dù đất nước có nhiều khó khăn, thách thức, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường. Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động; phát huy ngày càng tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cùng Đảng, Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, quản lý xã hội; thường xuyên tổ chức các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước”1.

Bảo vệ an ninh quốc gia là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, diễn ra gay go, quyết liệt và phức tạp, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chế đ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Công tác bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng là bộ phận của bảo vệ an ninh quốc gia, có mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn cho chế đ chính trị xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội trong hệ thống chính trị. Đ thực hiện được điều đó thì chỉ lực lượng công an không thể hoàn thành nổi mà cần có sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân mới có thể giành thắng lợi. Bên cạnh đó xuất phát từ âm mưu, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch với Việt Nam luôn tìm cách chống phá Đảng và Nhà nước ta với mục tiêu là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế đ chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chúng tiến hành chống phá Đảng và Nhà nước ta trên các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Do đó, công tác bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng liên quan đến nhiệm vụ của nhiều lực lượng, nhiều ngành, phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị mới có thể phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch. Từ thực tiễn công tác đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia cho thấy bảo vệ an ninh quốc gia nói chung và bảo vệ văn hóa, tư tưởng nói riêng cần có sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của khối đại đoàn kết toàn dân. Chỉ khi nào chúng ta phát huy được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân thì chúng ta mới giành được thắng lợi.

Xác định công tác đấu tranh trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải nắm chắc thông tin, thường xuyên có giải pháp linh hoạt. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quản lý nhà nước để quản lý các hoạt động dịch vụ văn hoá nhất là những ngành nghề kinh doanh nhạy cảm như quán bar, quán karaoke…Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, các lực lượng. Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý văn hoá có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị vững vàng, tận tâm, trách nhiệm là nhân tố quan trọng trong xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh. Tăng cường đầu tư xây dựng, phát huy vai trò và hiệu quả của hệ thống thiết chế văn hoá trong đời sống của các tầng lớp nhân dân, tạo môi trường lành mạnh để người dân được thừa hưởng những giá trị văn hoá truyền thống cũng như thành tựu văn hoá tiến bộ trên thế giới. Trong bối cảnh tình hình trên, để tiếp tục tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Trước hết, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để các cấp, ngành, lực lượng nhận thức sâu sắc về sự cần thiết phải tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”3; “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi...”4. Công tác tuyên truyền cần phải làm cho nhân dân thấm nhuần lời dạy của Người. Cùng với đó, cần quán triệt, thực hiện quan điểm của Đảng: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo”5. Để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần phát huy những yếu tố tương đồng, cố gắng tìm ra mẫu số chung của mọi giai cấp, tầng lớp; quy tụ sức mạnh của các bộ phận cấu thành dân tộc ta nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Qua đó, để mọi người nhận thức rõ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm mọi người dân đang sinh sống, làm ăn ở trong nước và ở nước ngoài có nguồn gốc là người Việt Nam, không phân biệt là dân tộc thiểu số hay đa số, theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; không phân biệt giàu hay nghèo, nam hay nữ, già hay trẻ, nếu “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”6 để xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 

 

CHÍNH THỨC XÉT XỬ MỘT ADMIN CỦA FANPAGE "UEH CONFESSIONS" TỘI "ĐƯA TRÁI PHÉP THÔNG TIN MẠNG MÁY TÍNH"

 


Sáng 26-7, Tòa án Quân sự Quân khu 7 đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Lê Tấn Tài về tội “Đưa trái phép thông tin mạng máy tính” theo quy định tại khoản 1, Điều 288, Bộ luật Hình sự, liên quan đến vụ việc đưa thông tin thất thiệt liên quan đến Trường Quân sự Quân khu 7.


Bị cáo Nguyễn Lê Tấn Tài (admin của UEH CONFESSIONS) đã CHỈNH SỬA NỘI DUNG, không tiến hành kiểm chứng, đăng tin thất thiệt nặc danh không rõ người gửi đến về việc "10 chiến sĩ quân khu 7 tiến hành H.D 2 nữ sinh Hulfit dẫn đến thietmangng". Bài viết đã tạo ra lượng tiếp cận và tương tác rất lớn, tuy bị cáo sau đó có tiến hành xóa bài viết nhưng bài viết đã có hàng trăm nghìn lượt tương tác, gây hoang mang dư luận.


Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa là Thượng tá Nguyễn Mạnh Cường. Phiên tòa xét xử trên tinh thần cải cách tư pháp, bảo đảm tính công khai dân chủ, nghiêm minh, bảo đảm tính độc lập, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.


Vụ việc đánh giá rất nghiêm trọng, gây hoang mang lớn dư luận, sai sự thực, ảnh hưởng đến hình ảnh Quân đội Nhân dân Việt Nam và hình ảnh Việt Nam. Vụ án được xét xử bởi Tòa án Quân sự Quân khu 7.

Chi tiết tại Báo QĐND👇

https://www.qdnd.vn/phap-luat/tin-tuc/xet-xu-vu-an-dua-thong-tin-that-thiet-ve-truong-quan-su-quan-khu-7-736214

ST# Trường Tồn 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỮ VỮNG AN NINH CHÍNH TRỊ GẮN VỚI XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM

 

Quán triệt sâu sắc đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, nhất là chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân, những năm qua, các cấp, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang và toàn dân đã thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần tăng cường sức mạnh quốc phòng cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc từng địa bàn, hướng chiến lược và cả nước. Để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục một cách sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tạo nên sự đồng thuận về nhận thức trong nhân dân: Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thế thống nhất, gắn chặt bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân với bảo vệ chế độ; bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ gắn chặt với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, bảo vệ chế độ bao hàm cả việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, làm cơ sở cho sự đồng thuận về hành động.

Giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là điều kiện căn bản để xây dựng đất nước; sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng an ninh. Đề cao yêu cầu chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Nội dung hình thức tuyên truyền, giáo dục nhân dân phải phù hợp đối tượng, địa phương, phong phú, sinh động, sâu sắc nhằm xây dựng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đoàn kết sát cánh bên nhau trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng, củng cố, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, chống âm mưu và hành động chia rẽ dân tộc, chống chủ nghĩa ly khai của các thế lực thù địch. Thực hiện biện pháp này, một mặt phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò tích cực, chủ động của các tổ chức quần chúng; mặt khác, phải tăng cường vai trò của chính quyền các cấp trong quản lý nhà nước về các hoạt động và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhà nước phải dựa vào các tổ chức chính trị của quần chúng, tạo điều kiện cho các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả; đồng thời kiên quyết trấn áp những tổ chức và lực lượng phản cách mạng, các hoạt động phá vỡ khối đoàn kết toàn dân. ần thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp sau:

Một làtiếp tục xây dựng tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc. Tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân bao gồm: tiềm lực chính trị, kinh tế, khoa học và công nghệ, quân sự, đối ngoại; trong đó, tiềm lực chính trị, giữ vai trò quan trọng - thành tố cơ bản, cội nguồn, động lực để huy động, xây dựng các tiềm lực khác tạo thành sức mạnh tiềm lực quốc phòng. Theo đó, cần tập trung xây dựng tổ chức đảng, chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; xây dựng “thế trận lòng dân”, mà cốt lõi là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ngày càng vững chắc. Thường xuyên chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết là đoàn kết trong Đảng thành một khối thống nhất, làm hạt nhân đoàn kết toàn dân tộc; khắc phục kịp thời những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016. Chủ động đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ cội nguồn lịch sử đất nước, truyền thống, văn hóa dựng nước, giữ nước của dân tộc; chủ trương, đường lối quốc phòng, quân sự, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; chính sách, pháp luật về quốc phòng của Đảng và Nhà nước, v.v. Phát huy dân chủ rộng rãi, tạo đồng thuận, nhất trí cao trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Trong xây dựng tiềm lực kinh tế, cần kết hợp mở rộng hội nhập quốc tế với tăng cường đầu tư, phát triển, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với tăng cường quốc phòng, an ninh và ngược lại; điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế gắn với chiến lược quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tập trung mọi nguồn lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững để không ngừng bổ sung nguồn dự trữ của đất nước, trong đó có dự trữ cho quốc phòng. Xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ, tiềm lực quân sự, cần chú trọng tận dụng những thành tựu về công nghệ lõi, công nghệ nền tảng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào hiện đại hóa Quân đội, phát triển công nghiệp quốc phòng và bảo đảm an ninh mạng quốc phòng, quốc gia. Xây dựng tiềm lực đối ngoại, cần tập trung hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, xây dựng nguồn nhân lực, bảo đảm cơ sở vật chất, nâng tầm đối ngoại quốc phòng song phương, đa phương, tăng cường lòng tin chiến lược, mở rộng đối tác, tạo môi trường quốc tế thuận lợi thu hút các nguồn lực bên ngoài vào củng cố quốc phòng, phát triển đất nước.

Hai lànâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang nhân dân, trọng tâm là Quân đội nhân dân, đủ sức làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Trước yêu cầu cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, các cấp, ngành, lực lượng, địa phương và cả hệ thống chính trị cần thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh; chú trọng xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng,… tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Theo đó, cùng với phấn đấu hoàn thiện điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng “tinh, gọn, mạnh” vào năm 2025, Quân đội cần tích cực đổi mới công tác giáo dục chính trị, huấn luyện, diễn tập, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu; kết hợp huấn luyện với đào tạo, xây dựng nền nếp chính quy, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Chủ động xây dựng, điều chỉnh hệ thống văn kiện, kế hoạch, phương án tác chiến các cấp, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ sẵn sàng chiến đấu, vận dụng tốt các phương thức, cơ chế mới trong bảo đảm hậu cần, tài chính, kỹ thuật cho các nhiệm vụ; tận dụng tối đa thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phát triển khoa học - công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật quân sự. Thường xuyên tổng kết kinh nghiệm, phát triển lý luận xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý nhà nước về quốc phòng, làm cơ sở nâng cao chất lượng xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Cơ quan quân sự các cấp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, ban, ngành tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tập trung mọi nguồn lực xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh toàn diện, có đủ thành phần, lực lượng và chất lượng theo quy định, đáp ứng yêu cầu bảo vệ địa bàn. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao, chú trọng huấn luyện, đăng ký, quản lý chặt chẽ, sẵn sàng động viên bổ sung cho lực lượng thường trực khi cần thiết. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, coi trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển và dân quân tự vệ ở các địa bàn trọng điểm; phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ngay từ cơ sở.

 

 

QUÁN TRIỆT, THỰC HIỆN NHIÊM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Để thực hiện thắng lợi mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết xác định phải tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chiến lược sau: Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Không để xảy ra bạo loạn chính trị và: “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Ngăn chặn, đẩy lùi mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, nguy cơ can thiệp quân sự và xung đột vũ trang, xâm hại chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, kết hợp chặt chẽ với bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt vững vàng về chính trị, có đủ phấm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và giáo dục chính trị - tư tưởng. Phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc. Xây dựng Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thực sự trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội.

Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa đi đôi với tăng cường trật tự, kỷ cương, giải quyết tốt các vấn đề dân tộc, tôn giáo, không để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo tiến hành các hoạt động chống phá.

Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Hoàn thiện cợ chế lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng an ninh.

Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, mở rộng hợp tác quốc tế theo tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, nhằm tranh thủ vốn, công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến để thực hiện thăng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; nâng cao vị thế của nước ta trong khu vực và thế giới.

QUÁN TRIỆT THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ BIỂN ĐẢO

 


Quản lý và bảo vệ biển đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế khác mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Các cơ quan, tổ chức và mọi công dân Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển. Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế.

Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và thực hiện các biện pháp cần thiết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển kinh tế biển. Xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng, khai thác, bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo một cách bền vững phục vụ mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.

Khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ vào việc sử dụng, khai thác, phát triển kinh tế biển, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển bền vững các vùng biển phù hợp với điều kiện của từng vùng biển và bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; tăng cường thông tin, phổ biến về tiềm năng, chính sách, pháp luật về biển. Khuyến khích và bảo vệ hoạt động thủy sản của ngư dân trên các vùng biển, bảo hộ hoạt động của tổ chức, công dân Việt Nam ngoài các vùng biển Việt Nam phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam là thành viên, pháp luật quốc tế, pháp luật của quốc gia ven biển có liên quan.

Đầu tư bảo đảm hoạt động của các lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên biển, nâng cấp cơ sở hậu cần phục vụ cho các hoạt động trên biển, đảo và quần đảo, phát triển nguồn nhân lực biển. Thực hiện các chính sách ưu tiên đối với nhân dân sinh sống trên các đảo và quần đảo; chế độ ưu đãi đối với các lực lượng tham gia quản lý và bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo.

PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HÔI PHÁT TRIỂN PHẢI GẮN LIỀN VỚI XÂY DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG AN NINH VỮNG CHẮC

 

Phát huy vai trò của văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước, tập trung xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vừa tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội.

Phát triển kinh tế xã hội phải đi đôi với tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng trong một chiến lược thống nhất nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực, tạo sức mạnh cao nhất để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mỗi bước phát triển kinh tế xã hội phải là một bước tạo điều kiện xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân cả về tiềm lực và thế trận. Theo đó, phải kết hợp chặt chẽ kinh tế xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh trong các dự án lớn, quy hoạch phát triển các vùng, các ngành kinh tế, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm, các địa bàn chiến lược, các ngành quan trọng.

Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp cơ bản tạo nền tảng cho công nghiệp quốc phòng an ninh, các dự án phục vụ nhiệm vụ quốc phòng an ninh ở khu vực biên giới, hải đảo, địa bàn chiến lược. Tập trung đầu tư, lồng ghép các chương trình để nâng cao hiệu quả xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng ở vùng biển đảo, vành đai biên giới, các địa bàn xung yếu, phát triển kinh tế xã hội nâng cao đời sống nhân dân các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các vùng căn cứ cách mạng, quản lý chặt chẽ các dự án đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn nhạy cảm về quốc phòng an ninh. Chuẩn bị tốt kế hoạch động viên kinh tế cho chiến tranh gắn với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội trong phạm vi cả nước, trong từng bộ, ngành, địa phương.

Phát triển kinh tế xã hội đi đôi với tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng trên từng địa bàn lãnh thổ, trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, các chương trình dự án, các hoạt động kinh tế đối ngoại, giữ vững độc lập, tự chủ trong hợp tác kinh tế quốc tế. Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội phải kết hợp chặt chẽ với công tác bảo vệ an ninh chính tộ nội bộ; an ninh văn hoá, tư tưởng; an ninh thông tin. Phát hiện đấu tranh, ngăn chặn các thế lực thù địch thông qua hợp tác kinh tế, văn hoá, giáo dục; tác động làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế, từng bước chuyển hoá chính trị; giữ vững hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước nhanh, bền vững.

PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 


Trong những năm tới trên thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng tình hình tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, bất trắc, khó lường. Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Để phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. Theo đó, phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước; phát triển và nâng cao vai trò của kinh tế tập thể để kinh tế nhà nước giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, đối mới tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để tạo điều kiện phát triển và quản lý có hiệu quả nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán. Giữ vững và nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế đất nước, đồng thời tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của đất nước, tham gia có hiệu quả vào hệ thống phân công lao động quốc tế.

Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường phải kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Thực hiện biện pháp này phải tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ; đẩy mạnh phát triển các vùng kinh tế trọng điểm tạo động lực cho nền kinh tế, đồng thời hỗ trợ cho các vùng còn nhiều khó khăn; khuyến khích làm giầu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo.

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển, tập trung giải quyết tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập; khắc phục những bất hợp lý về tiền lương, tiền công, trợ cấp xã hội phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Triển khai có hiệu quả chương trình xóa đói, giảm nghèo, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; huy động mọi nguồn lực xã hội cùng Nhà nước chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho những người và gia đình có công với cách mạng.

NHẬN THỨC VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI NHIỆM VỤ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Gắn kết nhiệm vụ phát triển kinh tế với nhiệm vụ an ninh, Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 05/01/2017 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh kinh tế trong điều kiện phát triền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế xác định các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh kinh tế; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp Nhân dân trong công tác bảo đảm an ninh kinh tế. Kết họp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và bảo đảm an ninh kinh tế trong từng bước đi, chính sách phát triển và trong từng dự án đầu tư phát triển.

Xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy chế, quy định bảo đảm an ninh kinh tế; thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về quản lý ngân sách, đầu tư công, tài sản công, bảo đảm an toàn nợ công, an ninh tài chính quốc gia, an ninh thông tin, an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước trong lĩnh vực kinh tế. Nâng cao năng lực thực thi pháp luật về môi trường; khắc phục cơ bản tĩnh trạng ô nhiễm môi trường; chủ động ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Thận trọng, thẩm định chặt chẽ đối với những chương trình, đề án, dự án hợp tác quốc tế, đầu tư nước ngoài vào địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, nhất là các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ khâu thẩm định, cấp phép đến quá trình thi công, vận hành dự ỏn để bảo đảm an ninh, an toàn, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Kiên quyết xử lý các dự án không thực hiện đúng cam kết. Và xử lý nghiêm minh các cá nhân, tổ chức vi phạm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Phòng ngừa, giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc nảy sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, các vụ khiếu kiện, đình công, không để hình thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự.

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHỨC TẠP TIỀM ẨN ĐỐI VỚI AN NINH QUỐC GIA

 

 Tập trung giải quyết các yếu tố tiềm ẩn phức tạp đối với an ninh quốc gia; thường xuyên rà soát, giải quyết dứt điểm các kiến nghị chính đáng của nhân dân; chủ động ngăn ngừa, xử lý sớm các vấn đề có thể tạo ra bức xúc, phản kháng của nhân dân, nhất là các vụ việc khiếu kiện đông người kéo dài, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân; không tạo cớ cho các đối tượng, thế lực thù địch, phản động kích động chống phá. Tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên, bảo vệ cơ quan đại diện, công dân Việt Nam ở nước ngoài. Xử lý kịp thời số đối tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có quan điểm, hoạt động trái với chủ trương, đường lối và những quy định của Đảng.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, quản lý của chính quyền các cấp đối với tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng, bảo đảm đúng tôn chỉ, mục đích thành lập. Ngăn chặn, vô hiệu hóa ảnh hưởng, chấm dứt hoạt động đối với các “hội, nhóm” trái pháp luật, xử lý số cầm đầu, cốt cán theo quy định của pháp luật. Kiểm soát chặt chẽ quá trình xây dựng chính sách, pháp luật, các dự án, hội thảo do nước ngoài tài trợ.

Phát hiện, ngăn chặn, vô hiệu hóa kịp thời các hoạt động thông qua hợp tác kinh tế để chuyển hóa chính trị, tạo sự lệ thuộc, làm tổn hại, suy giảm tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; các hành vi tiêu cực, tham nhũng, gây thất thoát tài sản quốc gia. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả cơ chế thẩm định nhà nước đối với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội có liên quan đến an ninh, quốc phòng.

Tăng cường kiểm soát hoạt động thông tin, truyền thông. Xử lý nghiêm những hoạt động lợi dụng danh nghĩa tự do ngôn luận, tự do báo chí để hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước hoặc trục lợi cá nhân. Tăng cường và làm tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, trọng tâm là Công giáo; vô hiệu hóa số chức sắc cực đoan, xử lý kiên quyết, khôn khéo số giáo sỹ vi phạm pháp luật nghiêm trọng, không để số này khống chế quần chúng và tạo ra khuynh hướng chống đối cực đoan.

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ẢNH HƯỞNG TỚI AN NINH QUỐC GIA TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 

Những khó khăn, thách thức liên quan đến bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia - dân tộc trên Biển Đông. Trung Quốc quyết liệt triển khai các hoạt động nhằm “độc chiếm Biển Đông”, cơ bản thiết lập khả năng kiểm soát trên thực tế ở biển Đông, chiếm ưu thế và chủ động chiến lược trên thực địa, tạo nguyên trạng mới ở biển Đông, khiến không gian chiến lược biển và nguồn lợi kinh tế biển của Việt Nam bị thu hẹp. Hiện nay Trung Quốc đang gia tăng sức ép toàn diện đối với hoạt động dầu khí trên biển của Việt Nam, mục tiêu biến vùng không có tranh chấp thành khu vực có tranh chấp, xâm phạm ngày càng nghiêm trọng hơn quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam tại Biển Đông, tác động tiêu cực đến các hoạt động kinh tế trên biển, đời sống của ngư dân ven biển.

Những thách thức, nguy cơ đối với an ninh kinh tế. Nổi lên là: Khó khăn, thách thức trước những tác động từ cạnh tranh chiến lược, cọ xát kinh tế, thương mại giữa các nước lớn và xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, trong bối cảnh nền kinh tế trong nước có độ mở cao và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Nguy cơ kinh tế Việt Nam lệ thuộc nhiều hơn vào nước ngoài thông qua các dự án hợp tác cụ thể trong quá trình tham gia các chiến lược/sáng kiến của các nước triển khai tại Châu Á - Thái Bình Dương nói chung, Đông Nam Á nói riêng.

Nguy cơ môi trường phát triển kinh tế ở trong nước, thu hút đầu tư nước ngoài bị ảnh hưởng tiêu cực, không gian phát triển kinh tế biển bị thu hẹp trước diễn biến phức tạp ở Biển Đông. Các nguy cơ chệch hướng, tụt hậu về kinh tế; mất độc lập về kinh tế; suy giảm tiềm lực và chậm đà phát triển… vẫn hiển hiện. Những thách thức, khó khăn khi thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là các FTA thế hệ mới; tác động từ khủng hoảng kinh tế thế giới dẫn tới khủng hoảng kinh tế - chính trị, xã hội tại các nước và ảnh hưởng tới Việt Nam; lợi dụng hội nhập kinh tế để gây sức ép về chính trị, quốc phòng, an ninh gia tăng mức độ phức tạp.

 

NỘI DUNG BIỆN PHÁP XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

 

Bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng còn là bảo vệ truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới. Xây dựng một nền văn hóa của Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phù hợp với xu hướng tiến bộ của thế giới. Để thực hiện điều này cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của mọi người dân chứ không chỉ riêng cơ quan an ninh.

Phải thống nhất nhận thức, bảo vệ an ninh văn hóa là một bộ phận quan trọng trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược an ninh quốc gia, góp phần củng cố vững chắc trận địa tư tưởng xã hội chủ nghĩa, nâng cao lòng tin và sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, định hướng xã hội chủ nghĩa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, loại bỏ nguy cơ mất an ninh, an toàn mạng thông tin quốc gia, bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu về bảo vệ bí mật nhà nước.

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân theo quan điểm của Đảng, cảnh giác, đấu tranh, vô hiệu hóa các luận điệu, hoạt động phá hoại tư tưởng, văn hóa của địch; tăng cường đấu tranh lý luận, đấu tranh tư tưởng, văn hóa nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các loại hình thông tin trên mạng, đặc biệt là các mạng xã hội, trang thông tin điện tử, blog; khắc phục kịp thời những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý các trang thông tin điện tử. Ngăn chặn âm mưu, hoạt động tác động quan điểm, tư tưởng, pháp luật tư sản, giá trị phương Tây vào các giai tầng xã hội, nhất là thanh niên, trí thức, học sinh, sinh viên để kích động tư tưởng chống đối, đa nguyên, đa đảng, từng bước chuyển hóa về chính trị.

 

XÁC ĐỊNH RÕ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Chủ động và tích cực đầu tư phát triển bền vững, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, chăm lo bảo vệ môi trường sinh thái.  Nhiều mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ tình trạng phản phát triển hay phát triển thiếu bền vững. Tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển; kiểm soát phân tầng xã hội; tích cực xóa đói, giảm nghèo, chăm lo cho con người thông qua hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt hỗ trợ lẫn nhau để bảo đảm cho con người luôn được có môi trường và điều kiện phát triển lành mạnh. 

Phân loại từng lĩnh vực an ninh phi truyền thống với đặc điểm khác nhau để xác định những cơ chế, phương thức quản trị an ninh phi truyền thống phù hợp. Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ rủi ro của thị trường, việc chủ động và tích cực ứng phó phải bắt đầu bằng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cấu trúc lại chức năng của Nhà nước, nhằm giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực của thị trường khi rơi vào khủng hoảng. Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ mặt trái của toàn cầu hóa, tính chủ động, tích cực thể hiện ở thúc đẩy hợp tác quốc tế để phòng ngừa và ứng phó ngay từ chính quốc gia có thể phát sinh và lan truyền các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ mặt trái sử dụng thành tựu khoa học công nghệ , tính chủ động và tích cực thể hiện ở xây dựng đội ngũ chuyên gia tinh nhuệ, có trình độ công nghệ cao, đủ năng lực phòng ngừa và ứng phó hiệu quả. Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ tranh chấp tài nguyên, năng lượng, nguồn nước,... tính chủ động và tính cực thể hiện ở định hình một chiến lược năng lượng thay thế, hạn chế tối đa khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đàm phán với các đối tác trong chia sẻ khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên.

 


“TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Trong xu thế hoà bình, hợp tác để phát triển vẫn đang là xu thế chung của thời đại; bên cạnh đó, chính sách đối ngoại là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế đã giúp Việt Nam trong những năm qua phát triển trong hoà bình, ổn định.

Tuy nhiên, cục diện tình hình thế giới đang diễn biến nhanh chóng, khó lường và hết sức phức tạp trên tất cả các lĩnh vực chính trị - xã hội, kinh tế, khoa học-công nghệ... ở trong nước, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục tăng cường các hoạt động chống phá Việt Nam và những yếu tố “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” từ bên trong đang ngày càng biểu hiện rõ ràng và phức tạp hơn.

Những yếu tố thuận lợi cơ bản và ngày càng tăng lên, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ chưa được đẩy lùi, có mặt, có lúc diễn biến phức tạp, công khai, nguy hiểm hơn. Suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” biểu hiện không chỉ đối với cán bộ, đảng viên trong Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc mà cả những đoàn viên, hội viên trong các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, cán bộ, đảng viên đã nghỉ hưu trí, cán bộ đảng viên trong khối kinh tế; có xu hướng liên kết trong nội bộ với ngoài xã hội, trong nước với ngoài nước. Những năm gần đây, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bộc lộ công khai theo xu hướng “ly khai Đảng”, thành lập tổ chức chính trị đối trọng với Đảng và các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp.

Trong đó, một bộ phận văn nghệ sỹ công khai bộc lộ thái độ tiêu cực, khuynh hướng sáng tác “giải thiêng”, “phản tỉnh” các giá trị vốn đã được lịch sử dân tộc khẳng định; xuyên tạc, bóp méo lịch sử, hạ bệ thần tượng, phủ nhận chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề “dân chủ nghị trường”, “phản biện chính sách” đang là điều kiện để các thế lực thù địch, phản động chống phá.

Bối cảnh tình hình trong ngoài như vậy, nhất là sự vận động phức tạp của các mối đe doạ ANPTH cho thấy tính tất yếu của việc tăng cường nhận thức về quan điểm chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ An ninh quốc gia trong tình hình mới. Có như vậy, chúng ta mới có thể bảo đảm cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện được những mục tiêu chiến lược mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã đề ra.

TĂNG CƯỜNG TIỀM LỰC QUỐC PHÒNG AN NINH

 


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng tiếp tục đề ra nhiều nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó với các nguy cơ, thách thức, mối đe dọa an ninh phi truyền thống, phục vụ phát triển bền vững đất nước. Chính vì vậy, nghiên cứu về an ninh phi truyền thống và các giải pháp đặt ra để đảm bảo quốc phòng an ninh trước tác động của an ninh phi truyền thống là cần thiết.

Trong xây dựng lực lượng, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục và khẳng định xây dựng Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân “vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân”. Quan điểm của Đảng chú trọng xây dựng Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân “vững mạnh về chính trị”, “tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân” là yếu tố tiên quyết để Quân đội và Công an là lực lượng tin cậy, công cụ sắc bén của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Đồng thời: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở”; “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống”.

Đại hội XIII của Đảng bổ sung, phát triển quan điểm “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh Nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh Nhân dân”, nhằm gắn kết chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh, tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

 

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH CHÍNH TRỊ

 

Tình hình mới đan xen giữa thời cơ và nguy cơ đòi hỏi phải có nhận thức mới có tính biện chứng, sâu sắc và khách quan. Nhận thức mới sẽ đưa đến những nhiệm vụ mới, lý luận mới, phương pháp đầy sức sáng tạo trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia nhằm tận dụng, khai thác những yếu tố thuận lợi và hạn chế những khó khăn, thách thức. Vì vậy, cần tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước về bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội phải đi đôi với tăng cường hiệu lực quản lý các mặt công tác khác.

Một xã hội có an ninh và trật tự là sản phẩm, là kết quả của các mặt hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và ngược lại xã hội có an ninh trật tự ổn định cũng tác động tích cực đến tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước đó. Trước hết, là xây dựng bộ máy Nhà nước nói chung và bộ máy hành chính Nhà nước trong tình hình mới, điều kiện mới chưa thật rõ ràng và chưa thống nhất, còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn chưa được làm sáng tỏ, còn nhiều chủ trương, chính sách, quy định của pháp luật ra đời trong cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp chưa được kịp thời sửa đổi, thay thế.

Triển khai các nhiệm vụ về cải cách hành chính chưa được tiến hành đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, cải cách hành chính chưa gắn bó chặt chẽ với đổi mới hoạt động lập pháp và cải cách tư pháp. Cải cách hành chính gặp trở ngại lớn do đụng chạm đến lợi ích cục bộ của nhiều cơ quan hành chính, nhiều cán bộ, công chức trong bộ máy Nhà nước ở Trung ương và địa phương; ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp còn đè nặng lên nếp nghĩ, cách làm của không ít cán bộ, công chức; cuộc cải cách chưa được chuẩn bị tốt về mặt tư tưởng.

Chế độ, chính sách về tổ chức và cán bộ, về tiền lương còn nhiều điều chưa phù hợp, chưa tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc cải cách. Xây dựng một nên hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG

 

Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" còn diễn biến phức tạp. Vì vậy, đòi hỏi phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, văn hóa diễn ra rất phức tạp, đa dạng, nhiều cấp độ, trong đó cấp độ cao nhất là sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Đó là hiện tượng bất mãn với chế độ, luôn có tư tưởng đi ngược lại với quan điểm Đảng, ủng hộ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, sẵn sàng từ bỏ con đường Chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã chọn, làm phương hại đến lợi ích của Đảng, của dân tộc, thậm chí nói xấu, bôi nhọ những gì thuộc về đất nước mình.

Đây là một biểu hiện nghiêm trọng của sự xuống cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị nay đang có xu hướng gia tăng, không dễ ngăn chặn, đẩy lùi,đặc biệt biểu hiện rất rõ trên không gian mạng. Đó là việc xuất hiện những hội, nhóm, tổ chức xã hội dân sự, trang mạng có số thành viên rất lớn. Nhiều hội nhóm, tổ chức xã hội dân sự, trang mạng được các thế lực thù địch thành lập và  hậu thuẫn nhằm thông qua không gian mạng tác động vào  đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phát tán thông tin xấu độc, đưa thông tin sai lệch, truyền bá quan điểm phản động, xuyên tạc thực hiện chiến lược “ diễn biến hòa bình”; “ bạo loạn lật đổ”, truyền bá các tư tưởng sai trái, thù địch, thúc đẩy “ tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” nhằm phi chính trị hóa Quân đội và xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện chiến tranh thông tin, chiến tranh phi quy ước tiến tới lật đổ chế độ Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP ĐỐI PHÓ VỚI ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG

 


Cục diện thế giới biến chuyển nhanh chóng do sự điều chỉnh chính sách chiến lược của các nước lớn, đặc biệt là hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc tăng cường tập hợp lực lượng, tranh giành ảnh hưởng về địa chính trị và trên nhiều lĩnh vực. Chính sách của các nước gây nguy hại trực tiếp đến vấn đề an ninh chủ quyền lãnh thổ, đường lối phát triển độc lập, tự chủ của Việt Nam cũng như các vấn đề an ninh chính trị, nội bộ, trật tự trong nước. Đồng thời, các thế lực lợi dụng tự do, dân chủ, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Vì vậy, cần thực hiện các nội dung:

Thực hiện tốt các chính sách đảm bảo an sinh hội, dân tộc, tôn giáo và chính sách đối với các giai tầng xã hội; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời những hoạt động chống phá của kẻ thù. Ngăn chặn âm mưu kích động ly khai tự trị, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc, chia cắt đất nước, nhất là trên các địa bàn Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Bắc.

Cấp ủy, chính quyền các cấp rà soát, tập trung giải quyết dứt điểm các vụ tranh chấp khiếu kiện đông người kéo dài, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân, nhất là về đất đai, môi trường, các vấn đề liên quan đến tôn giáo, dân tộc và các kiến nghị chính đáng của Nhân dân; chủ động ngăn ngừa, xử lý sớm các vấn đề có thể gây ra bức xúc tạo cớ cho các thế lực thù địch, phản động kích động, chống phá.

Quan tâm chăm lo cải thiện đời sống công nhân. Nghiên cứu, điều chỉnh quy hoạch một cách hợp lý các khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung đông công nhân. Rà soát, có cơ chế chặt chẽ việc thu hút và quản lý các dự án đầu tư FDI để bảo đảm kết hợp chặt chẽ kinh tế và quốc phòng, an ninh.

Thường xuyên kiểm tra giám sát, kịp thời phát hiện xử lý nghiêm minh các cán bộ, đảng viên có quan điểm sai trái, cơ hội chính tri, thoái hoá, biến chất, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước. Bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, đảng viên, đặc biệt là trong quan hệ với tổ chức, cá nhân nước ngoài. Đồng thời, tăng cường quản lý giáo dục thanh niên, sinh viên nhận rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của địch, giáo dục cảm hoá những trường hợp bị địch lôi kéo, tác động.

“Lũy tre biên thùy” ở biên giới Lai Châu

1.     

 Phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp góp tiền mua tre về trồng dọc theo đường biên giới và bàn giao cho nhân dân quản lý, phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống là cách làm của cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Huổi Luông, BĐBP Lai Châu được chính quyền địa phương đánh giá cao. Phên dậu biên cương được “xây” bằng những cây tre thân thuộc với tinh thần đoàn kết gắn bó quân và dân nơi biên giới.

Mô hình “Lũy tre biên thùy” đã được triển khai thí điểm tại bản Hồ Thầu (xã Huổi Luông, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu). Đây là mô hình trồng tre Bát Độ dọc theo đường biên giới với chiều dài gần 3km. “Nhóm tác giả” của “Lũy tre biên thùy” là các cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Huổi Luông - những người luôn trăn trở với các dự án giúp dân phát triển kinh tế.

Nói về ý tưởng trồng tre,Trung tá Lê Văn Quyết, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Huổi Luông cho biết: Dọc tuyến biên giới do Đồn Biên phòng Huổi Luông quản lý, địa hình hiểm trở, nhân dân sống thưa thớt, còn nhiều diện tích đất trống, đồi núi trọc, đồi cây tạp... Sau nhiều lần khảo sát và họp bàn kỹ lưỡng, Đồn Biên phòng Huổi Luông nhận thấy, giống tre Bát Độ lấy măng dễ thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết trên địa bàn huyện Phong Thổ. Chưa kể chi phí trồng, chăm sóc cây tre không cao, thời gian cây trưởng thành và cho thu hoạch măng khoảng 2 năm, mang lại giá trị kinh tế cho bà con trên địa bàn.

Đồn Biên phòng Huổi Luông phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Phong Thổ, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Lai Châu, UBND xã Huổi Luông triển khai thí điểm mô hình trồng tre Bát Độ trên biên giới với tên gọi mô hình “Lũy tre biên thùy”. Tre Bát Độ cho năng suất măng cao, cây ít bị sâu bệnh, dễ trồng, phù hợp với các loại thổ nhưỡng, khí hậu. Đây là thực phẩm an toàn với người tiêu dùng, vì thế được bà con hào hứng đón nhận.

Sau khi trồng, tre được bàn giao lại cho các hộ dân tham gia ở bản Hồ Thầu, xã Huổi Luông chăm sóc, quản lý và khai thác để làm mô hình sinh kế cho người dân. Thực hiện mô hình này, Đồn Biên phòng Huổi Luông đã lựa chọn kỹ lưỡng chừng 3.600 cây tre để trồng thử nghiệm trên địa bàn. Tổng kinh phí triển khai mô hình là 90 triệu đồng.

Chia sẻ về mô hình này, Trung tá Lê Văn Quyết cho hay: "Những mầm tre được trồng dọc theo theo tuyến biên giới, tương lai sẽ “nở cành xanh ngọn” trở thành “phên dậu xanh” bền vững. Hình ảnh cây tre nơi biên giới Việt có ý nghĩa lớn về văn hóa, thể hiện hình ảnh thân thuộc, gắn liền với đời sống của mỗi người dân Việt Nam, đại diện cho tinh thần kiên cường, bất khuất, dẻo dai, đoàn kết gắn bó của dân tộc. Đặc biệt, cây tre cũng như ngoại giao Việt Nam, là sự kết hợp hài hòa giữa “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”.

Hơn nữa, việc trồng tre làm hàng rào biên giới "mềm" chi phí thấp hơn nhiều so với đầu tư xây dựng hệ thống hàng rào cứng nên vừa tạo nguồn sinh kế mới cho người dân địa phương, vừa góp phần phủ xanh đất trống, đồi trọc, chống xói mòn, bảo vệ nguồn nước sinh hoạt cho đồn Biên phòng và nhân dân xã Huổi Luông, bảo vệ môi trường sinh thái, chống biến đổi khí hậu. Đối với công tác quản lý, bảo vệ biên giới, việc trồng tre giúp nhân dân dễ nhận biết đường biên giới, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, bảo vệ biên giới".

Ngay từ khi đề xuất, mô hình “Lũy tre biên thùy” được cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương ủng hộ, nhất là bà con bản Hồ Thầu đồng lòng, hồ hởi vào cuộc. Người dân tin tưởng với sự chung tay, đồng hành của cán bộ, chiến sĩ Biên phòng thì nhất định mô hình sinh kế này sẽ thành công. Hàng tre được ươm trồng nhanh chóng, hình thành hàng rào "mềm" dọc đường biên. Hằng ngày, các hộ dân trong bản Hồ Thầu đều đặn lên nương rẫy, đến chăm sóc hàng tre được bộ đội giao, đồng thời trực tiếp tham gia bảo vệ đường biên, mốc giới.

"Trồng tre để phát triển kinh tế là một hướng đi mới, không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho người dân, mà còn góp phần đẩy mạnh phong trào "Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới" theo Chỉ thị số 01/CT-TTg, ngày 9/1/2015 của Thủ tướng Chính phủ" - Ông Lê Văn Dung, Bí thư Đảng ủy xã Huổi Luông cho biết.

Với chăm sóc chu đáo, lũy tre Hồ Thầu đang co lớn từng ngày. Không bao lâu nữa, khu vực đồi trọc này sẽ được phủ màu xanh bạt ngàn. Tre Bát Độ có thể thu hoạch sau 2-3 năm trồng. Trung bình năm đầu tiên cho thu hoạch từ 11-23kg măng/bụi, đến năm thứ 6 cho 20-25kg măng/bụi, sang năm thứ 7-8 có thể cho 30-40kg măng/bụi...

Trên cơ sở đánh giá hiệu quả của mô hình “Lũy tre biên thùy”, Đồn Biên phòng Huổi Luông tiếp tục nghiên cứu tham mưu cho Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh; Huyện ủy, UBND huyện Phong Thổ mở rộng mô hình trên các đoạn biên giới thuộc huyện Phong Thổ và tuyến biên giới tỉnh Lai Châu để mô hình phát triển bền vững, thực sự trở thành “Lũy thép biên thùy” trên biên giới Lai Châu.