Thứ Năm, 27 tháng 7, 2023

“Bắt bệnh” thiếu niềm tin một cách mù quáng

Câu chuyện dù đã quen thuộc trong đời sống xã hội nhưng rất ít người đề cập thẳng thắn. Ấy là việc nhiều cá nhân thiếu niềm tin một cách mù quáng vào người tốt, cái tốt đang hiện hữu trong đời sống xã hội, rồi sinh ra tâm lý tiêu cực, bất mãn, thiếu trách nhiệm với tổ chức, cộng đồng, thậm chí là với chính mình. Đây là căn bệnh khá phổ biến ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng; rất cần được cơ quan chức năng sớm nhận diện, dập tắt. 1. Trên trang Facebook cá nhân, một cán bộ hưu trí ở phía Nam bỗng dưng đăng bài viết bày tỏ bức xúc, quy chụp và lớn tiếng phê bình lối sống của một số cán bộ cấp cao. Chủ tài khoản mạng xã hội này cho rằng cán bộ tốt bây giờ không còn nữa nên bản thân thật sự mất niềm tin. Biết anh từ khá lâu nên chúng tôi gặng hỏi, sao anh lại quy chụp kiểu “vơ đũa cả nắm” như thế. Anh bực dọc: “Bây giờ cán bộ ai chả thế. Những người tưởng chừng là tốt, là hay rồi cũng đã “nhúng chàm”. Thế thì còn biết tin ai, tin vào đâu”. Không đồng tình với quan điểm đó, chúng tôi đấu lý rồi kể tên hàng loạt cán bộ cấp cao liêm chính, giản dị, sống vì dân. Bảo rằng cán bộ tha hóa, biến chất trong xã hội bây giờ không hiếm, nhưng đó không phải là tất cả. Đó chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”. Thuyết phục mãi anh mới chịu hạ giọng, nhưng vẫn chua thêm một câu qua điện thoại, đại thể: Nói chung, không thể tin được cán bộ bây giờ! Một câu chuyện khác, khi báo chí đăng tải một bài viết về tấm gương cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ở miền Trung, dù không biết cán bộ đó là ai, không rõ thực hư thành quả cá nhân đó đạt được như thế nào nhưng nhiều người đọc ở ngoài Bắc vẫn bình luận bày tỏ sự hoài nghi, thậm chí dị nghị: Lại “bôi trơn”, tung hô nhau đây. Đúng là “đài nói láo, báo nói thêm”... Rõ ràng, tâm lý xã hội đang thật sự có vấn đề. Đó không chỉ là tâm lý của những người dân bình dị mà còn là lối nghĩ của không ít trí thức, người có vị trí xã hội, kể cả những người có chức trách, nhiệm vụ đi tuyên truyền, giáo dục. Công bằng mà nói, lâu lắm rồi, báo chí và các phương tiện truyền thông chưa quan tâm thỏa đáng, đúng tầm mức việc tuyên truyền về người tốt-việc tốt, cán bộ tiêu biểu, điển hình, mô hình... Minh chứng là khi thử thao tác tra cứu Google với cụm từ “gương cán bộ cấp tỉnh, thành phố”... thì kết quả thu được thật khó tin: Gần như chỉ đếm được trên đầu ngón tay số cán bộ cấp tỉnh, thành phố, cán bộ công chức ở các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương được báo chí truyền thông viết thành gương điển hình. Thực tế cho thấy, không phải không có điển hình, mà chính những người trong cuộc lại ngại được tuyên truyền, vì tâm lý sợ “lợi bất cập hại”... Mặt khác, ngay cả cơ quan báo chí cũng chưa dành nhiều thời gian, đầu tư công sức để mở chuyên trang, chuyên mục ngợi ca, tôn vinh các điển hình, mô hình, cái hay, cái đẹp một cách hệ thống, thường xuyên, hiệu quả. Cũng bởi thế mà trong dòng chảy thông tin xã hội, thông tin mạng xã hội lấn át thông tin báo chí chính thống; thông tin tiêu cực bao trùm lên thông tin tích cực một cách khó kiểm soát. Kết quả khảo sát tại một số cơ quan báo chí cho thấy, những bài viết về cái hay, cái đẹp, gương người tốt-việc tốt thời gian qua nhận được rất ít sự quan tâm của bạn đọc, lượng chia sẻ, tương tác khá khiêm tốn; số lượng bình luận bày tỏ thái độ tiêu cực, thiếu niềm tin nhiều hơn sự ghi nhận, khen ngợi nhân vật điển hình. Thậm chí trong không ít năm, các giải thưởng báo chí ở nhiều cấp, ngành, địa phương thường ưu tiên giải thưởng cho các tác phẩm đề cập đến nội dung đấu tranh chống tiêu cực, dám bóc trần những hạn chế, yếu khuyết của đời sống xã hội. Hơn thế, trên báo chí, mạng xã hội hiện nay, người ta nói nhiều đến sự vô cảm và dễ dàng bắt gặp những tin tức tội phạm, câu chuyện tiêu cực, hành vi ứng xử kém văn hóa... Những thứ ấy được đào xới, lan truyền một cách bừa bãi, nhận sự ủng hộ của cộng đồng mạng theo lối a dua, ăn theo; nhưng lại có quá ít người sẻ chia, ủng hộ những tấm gương tốt, việc làm thiện, cách sống hay. 2. Ông cha ta đã dạy “... mất niềm tin là mất tất cả”. Những người không tin tưởng vào chính mình, không có niềm tin vào cuộc sống, nhất là những điều tốt đẹp sẽ không biết bản thân nên làm gì, hành động thế nào. Từ đó, họ sinh ra tâm lý chán nản, không muốn làm việc tốt, không có động lực dấn thân, cống hiến. Khi một cá nhân không có niềm tin sẽ không tin vào phẩm chất, năng lực của chính mình; không còn khả năng đương đầu với khó khăn, thử thách, dễ dàng buông xuôi. Tổ chức, cơ quan, địa phương có những cá nhân mất niềm tin thì công việc sẽ đình trệ, nội bộ mất đoàn kết. Vì thiếu niềm tin vào người tốt, cái tốt của xã hội nên không ít cá nhân nhìn nhận xã hội này bằng những gam màu xám xịt. Nhiều người sinh ra bất mãn, tự ti, cực đoan. Khi đó, họ so sánh xã hội này với xã hội khác, xã hội hiện nay với xã hội ngày xưa... Điều này tiềm ẩn nguy cơ lớn của việc đòi hỏi thay đổi chế độ, đòi hỏi dân chủ quá trớn, tự do quá đà. Trong xã hội có những cá nhân mất niềm tin như vậy như những đốm lửa nhỏ cháy âm ỉ, từng ngày lan truyền tạo thành đám lửa lớn, sinh ra những xung đột kiểu “đại dịch... thiếu niềm tin”. Điều đáng nói là các thế lực thù địch, phản động luôn tung ra những luận điệu xuyên tạc, quy chụp về các hiện tượng tiêu cực, cá nhân sai phạm, từ đó hướng lái dư luận xã hội mất niềm tin vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, vào sự lãnh đạo của Đảng, đòi thay đổi chế độ. Trong thời đại của “xã hội ảo”, lợi dụng internet, mạng xã hội, những kẻ hiềm khích, chống phá dựng nên nhiều “tấm gương tốt” ở bên kia chiến tuyến, dựng nên cuộc chiến tranh tâm lý, tạo ra sự nghi ngờ bao trùm trong xã hội, thật-giả, tốt-xấu lẫn lộn khiến người dân hoang mang, mất niềm tin. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Đó là nguy cơ của mọi nguy cơ, vì mất niềm tin là mất tất cả! 3. Thật ra, người tốt, cái tốt luôn hiện hữu quanh ta. Vấn đề là mỗi người cần tĩnh tâm nhìn nhận để phát hiện ra điều đó, bởi người tốt thì không bao giờ lộ thiên, điều tốt thì thiêng liêng, cao quý, rất khó để cảm nhận đủ đầy giá trị của nó. Những người tốt thường khiêm tốn, không thích khoe khoang thành tích cá nhân, không thích được vinh danh, xướng tên trên truyền thông, báo chí. Lòng tốt đôi khi chỉ là những cử chỉ, lời nói động viên rất nhỏ, có khi chỉ thoảng qua khiến chúng ta khó nhận ra, ví dụ như việc giúp một người già qua đường, nhường ghế cho một người yếu thế trên xe buýt... Đừng nghĩ rằng việc tốt phải là những việc to tát, lớn lao. Ngày nay, trong cuộc sống náo nhiệt với sự đa dạng về văn hóa, ứng xử... chắc hẳn không ít người từng bắt gặp những con người, hành vi chưa tốt, để rồi chép miệng “xã hội tốt-xấu lẫn lộn, chẳng thể tin ai”. Cũng không phải tự nhiên mà người ta nghi ngại như vậy. Bởi đôi khi, sự giả tạo vẫn tồn tại trong cuộc sống và trong nhiều trường hợp có phần lấn át cái hay, cái đẹp, khiến chúng ta khó nhận ra cái tốt trước mắt. Đặc biệt, khi người ta đánh giá con người qua “xã hội ảo” nhiều hơn xã hội thực thì việc kiểm chứng thông tin càng trở nên khó khăn gấp bội. Cái đẹp, cái thiện vẫn âm thầm, lặng lẽ tồn tại xung quanh chúng ta. Người tốt là người biết lo nghĩ cho người khác, sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng, quê hương, đất nước. Tuy nhiên, để phát hiện người tốt-việc tốt, để “cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp” thì công tác tuyên truyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không ít cơ quan truyền thông, báo chí vẫn xem đó là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, cũng là việc cần kíp để nhân lên niềm tin tốt đẹp trong xã hội. Ví như ở Báo Quân đội nhân dân, với trách nhiệm vinh danh, nhân lên phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và những giá trị cao đẹp chân-thiện-mỹ trong đời sống xã hội, liên tục hơn 14 năm qua, tờ báo chiến sĩ đã duy trì hiệu quả Cuộc thi viết “Những tấm gương bình dị mà cao quý”, phát hiện hàng nghìn tấm gương sáng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để cán bộ, quần chúng soi chiếu, học tập, làm theo. Như vậy, để khắc phục, khống chế “đại dịch... thiếu niềm tin” đang lan tràn rộng khắp thì giải pháp cần kíp và lâu dài vẫn là quan tâm kiếm tìm, tôn vinh, nhân lên những tấm gương sáng, hành động đẹp trong đời sống xã hội. Phần việc này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, mà trước hết cần phải thay đổi tư duy, quan niệm về sự ghi nhận, đón nhận, tán dương cái hay, cái tốt, cái đẹp bằng sự lạc quan, tin tưởng tuyệt đối của cả cộng đồng xã hội./.

Nâng cao chất lượng quản lý thông tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí

Trải qua 98 năm hình thành và phát triển, báo chí Cách mạng Việt Nam đã tham gia tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống “diễn biến hòa bình”. Trước những biến động khó lường của đời sống xã hội, yêu cầu đặt ra cho các cơ quan có thẩm quyền là phải phát huy tốt hơn nữa vai trò quản lý thông tin về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí. CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH KHÔNG NGỪNG LỢI DỤNG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ ĐỂ PHÁ HOẠI NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG Trong những năm qua, các thế lực thù địch không ngừng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm và khó nhận diện. Nhằm vào lĩnh vực báo chí - truyền thông, các thế lực thù địch thường xuyên công kích, vu khống, cho rằng Việt Nam không có tự do báo chí. Chúng sử dụng các đài, báo, tạp chí bên ngoài của các hội nhóm phản động, tổ chức phi chính phủ (NGOs) và đảng phái chính trị thiếu thiện chí với Việt Nam để đăng tải những bài viết xuyên tạc vấn đề tự do báo chí của nước ta; tung hô những đối tượng lợi dụng báo chí để xâm phạm an ninh quốc gia (ANQG) hoặc có quan điểm cực đoan, đi ngược lại chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Một số tổ chức như “Tổ chức phóng viên không biên giới”, “Ân xá quốc tế” hằng năm công bố “Báo cáo về vấn đề tự do Internet, tự do báo chí của Việt Nam” với một góc nhìn phiến diện, chủ quan, tiêu cực, nặng nề. Vào các dịp kỷ niệm, các sự kiện báo chí Việt Nam và quốc tế như: Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6), Ngày Tự do Báo chí thế giới (3/5), Ngày Nhân quyền thế giới (10/12)…, các thế lực thù địch triệt để khai thác, lợi dụng, “thổi phồng để bóp méo” việc chúng ta đấu tranh, xử lý những đối tượng lợi dụng báo chí xâm phạm ANQG - tuyên truyền phá hoại tư tưởng, xuyên tạc tự do báo chí, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam... Cùng với đăng tải trên Internet, mạng xã hội những tin, bài của một số đối tượng phóng viên có quan điểm cực đoan, quá khích để kích động chống Đảng, Nhà nước, cổ súy cho quan điểm đòi tách báo chí thoát ly tính Đảng, tính giai cấp..., các thế lực thù địch cũng gia tăng các hoạt động lôi kéo, mua chuộc những phóng viên, biên tập viên có tư tưởng bất mãn, quan điểm cấp tiến để tác động, hô hào họ tham gia vào hoạt động xâm phạm ANQG; tài trợ, cấp học bổng cho một số cán bộ, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí tham gia các khóa học về chuyên môn nhằm lôi kéo số này đi theo quỹ đạo của tổ chức nước ngoài, đánh mất vai trò của báo chí cách mạng Việt Nam, không tuân thủ, chấp hành chủ trương quan điểm của Đảng, Nhà nước về báo chí. Những âm mưu, thủ đoạn nêu trên đã dẫn đến hậu quả suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số cán bộ phóng viên, biên tập viên. Trong đó, nổi lên là tình trạng đưa tin, viết bài thể hiện quan điểm hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thậm chí, xuất hiện tình trạng phóng viên ủng hộ quan điểm, tư tưởng lệch lạc, sai trái của số đối tượng chống đối trong và ngoài nước; hạ thấp thành quả cách mạng; xuyên tạc lịch sử; suy diễn, thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước... Đặc biệt, thông qua các trang cá nhân trên mạng xã hội, một số nhà báo ở trong nước đã viết bài, bình luận thể hiện quan điểm ủng hộ “tự do báo chí, tự do ngôn luận” theo kiểu phương Tây, “bóng gió” lên tiếng đòi thoát ly vai trò của Đảng đối với báo chí trong nước... Đây là những biểu hiện rõ nét của tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận phóng viên, biên tập viên mà nguyên nhân một phần do âm mưu, hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và các cơ quan có trách nhiệm phải tăng cường hơn nữa vai trò quản lý thông tin về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí, để các hoạt động báo chí nước nhà không chỉ bảo đảm đúng tôn chỉ, mục đích; chấp hành nghiêm các quy định về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn phát huy mạnh mẽ công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, lên án, vạch rõ những âm mưu, ý đồ phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch, phần tử phản động và cơ hội chính trị. TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐỊNH HƯỚNG, QUẢN LÝ THÔNG TIN BÁO CHÍ VỀ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG Thời gian qua, công tác quản lý thông tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo. Theo đó, đã từng bước nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của báo chí cách mạng trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu, âm mưu thù địch, chống phá. Chỉ thị số 34-CT/TW, ngày 17/4/2009 của Ban Bí thư về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá” nhấn mạnh: “Tăng cường công tác lãnh đạo và quản lý báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, cổ vũ, khuyến khích những tác phẩm có nội dung và nghệ thuật tốt, ngăn chặn những tác phẩm có quan điểm lệch lạc, sai trái. Chủ động, kịp thời cung cấp, định hướng thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân”. Kết luận số 23-NQ/TW, ngày 22/11/2017 của Ban Bí thư về “Tăng cường chỉ đạo, quản lý, phát huy vai trò của báo chí, xuất bản trong việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” chỉ rõ cần phải: “Tăng cường công tác xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể trong các cơ quan báo chí, xuất bản; Xây dựng đội ngũ người làm báo, xuất bản có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ nghiệp vụ ngày càng cao, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, có trách nhiệm với xã hội, đất nước”. Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 8/4/2020 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam” tiếp tục nêu bật các nhiệm vụ trọng tâm liên quan đến quản lý báo chí, trong đó nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với báo chí theo hướng bảo đảm báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng và quyền tự do, dân chủ của nhân dân”. Đặc biệt, trước những âm mưu, hoạt động chống phá ngày càng phức tạp, tinh vi của các thế lực thù địch trên vực tư tưởng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, trong đó, tiếp tục khẳng định: “Phát huy vai trò tổng hợp của các cơ quan báo chí, xuất bản”. Theo đó, quản lý thông tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí là yêu cầu nhiệm vụ quan trọng, tất yếu trong tình hình mới, bởi: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân...”. Trải qua 98 năm hình thành và phát triển, báo chí Cách mạng Việt Nam đã luôn đi theo con đường do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng chính trị tư tưởng. Về cơ bản, hoạt động báo chí nước nhà luôn đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và diễn đàn của nhân dân; là một trong những lực lượng xung kích, đi đầu trong đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; góp phần tích cực vào công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước tới các tầng lớp nhân dân. Trong tình hình mới, để phát huy mạnh mẽ, tích cực, có hiệu quả hơn nữa công tác quản lý thông tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí, cần tiếp tục chú trọng và quyết liệt hơn trong thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau: Một là, xây dựng, hoàn thiện, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí. Cơ quan quản lý nhà nước căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao trực tiếp xây dựng, ban hành hoặc xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí nhằm xây dựng hành lang pháp lý để cơ quan báo chí tham gia có hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, nội dung văn bản quy phạm pháp luật cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của báo chí tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, trọng tâm là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đồng thời, quy định cụ thể về những điều “không được làm” trong hoạt động báo chí, trọng tâm là các hành vi chống Đảng, Nhà nước; xuyên tạc bản chất chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; cổ súy quan điểm chống đối, phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước… Hai là, xây dựng, tổ chức thực hiện các đề án, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch báo chí tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm cần thường xuyên tiến hành nghiên cứu, dự báo tình hình về nguồn lực báo chí cũng như các yếu tố tác động đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí; trên cơ sở đó, tổng hợp và tiến hành xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các đề án, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nhằm nâng cao hiệu quả báo chí tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nội dung đề án, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cần xác định chính xác những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo; mục tiêu, yêu cầu; nội dung, hình thức, cơ chế và nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí. Các nội dung này được tổ chức quán triệt thực hiện đồng bộ tại các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan báo chí nhằm bảo đảm triển khai chất lượng, hiệu quả, thống nhất. Ba là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật và hướng dẫn thực hiện các quy định về quản lý thông tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí. Đối tượng cần được thường xuyên tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn thực hiện là cán bộ, phóng viên, biên tập viên cơ quan báo chí, trọng tâm là đội ngũ chuyên trách viết tin, bài về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bên cạnh việc nâng cao nhận thức toàn diện cho đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên, cần nắm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của báo chí tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; công tác tuyên truyền, phổ biến cần chú trọng làm rõ, bổ sung, khẳng định “những điều không được làm” cũng như chế tài xử lý các hành vi vi phạm. Qua đó, bảo đảm cơ quan báo chí hoạt động tuân thủ pháp luật, bám sát tôn chỉ, mục đích, tham gia hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trước mỗi chủ trương, chính sách, văn bản mới... liên quan đến những quy định về quản lý thông tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí, công tác tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn cần đa dạng các hình thức: hội nghị, sinh hoạt chuyên đề; thường xuyên thông tin trên các phương tiện truyền thông; phát huy vai trò trách nhiệm của cấp ủy, lãnh đạo cơ quan báo chí. Bốn là, quan tâm đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức, kỹ năng thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho đội ngũ những người làm báo. Chú trọng hơn đến việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu. Bên cạnh những nội dung cơ bản như chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng về đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch - vận dụng trong tình hình mới; những thủ đoạn tuyên truyền phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch… cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng viết, kinh nghiệm - kiến thức đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; nhận diện đúng các “cấp độ” chống phá, phản động, xuyên tạc, đồng thời phân biệt với giọng điệu “nói leo”, “a dua” vì thiếu hiểu biết... để xây dựng những tuyến bài, thể loại - hình thức tác phẩm báo chí phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm. Năm là, lãnh đạo cơ quan báo cần chú trọng hơn nữa trong việc quản lý, định hướng, thẩm định, đánh giá nội dung tác phẩm báo chí liên quan đến đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhất là trước những thời điểm quan trọng và trước những vấn đề khó, nhạy cảm. Điều này không chỉ nhằm bảo đảm nội dung tác phẩm báo chí luôn đúng tôn chỉ, mục đích, đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kịp thời phát hiện những nội dung chưa phù hợp, “chệch” định hướng tuyên truyền; mà còn tránh “sản xuất” ra những tác phẩm báo chí “làm cho có”, chung chung, phiến diện, khiên cưỡng, “vô thưởng vô phạt”, thậm chí là phản tác dụng... Sáu là, các cơ quan có trách nhiệm cần tích cực, thường xuyên kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi cố tình vi phạm quy định về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí. Theo đó, cần có “lăng kính” khách quan, khoa học, tránh quy chụp, suy diễn trong đánh giá, kết luận về những vấn đề liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí; kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong quá trình thông tin để nhắc nhở khắc phục, xử lý phù hợp, phổ biến - rút kinh nghiệm cho các cơ quan báo chí khác. Bảy là, quan tâm hơn nữa đến chất lượng, tiến độ thời gian sơ kết, tổng kết nhằm đánh giá chính xác công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí; chỉ rõ những thiếu sót, bất cập và nguyên nhân làm giảm hiệu lực, hiệu quả công tác này; kịp thời biểu dương, nhân rộng những kinh nghiệm hay, mô hình tốt. Kết quả sơ kết, tổng kết phải là những căn cứ, cơ sở thực chất, quan trọng để cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan chuyên trách về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng kiến nghị, đề xuất Đảng và Nhà nước tiếp tục bổ sung, ban hành các chỉ thị, nghị quyết, kết luận liên quan đến nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí phù hợp với bối cảnh, tình hình mới./

TINH THẦN VIỆT NAM.

Họ hơn đẳng cấp, thể hình.

Cho nên họ thắng chúng mình thế thôi.

Đá như vậy cũng được rồi.

Tinh thần thi đấu tuyệt vời Việt Nam.


Từ nhận diện, các mối quan hệ lớn ngày càng được nhận thức sâu sắc, nắm vững bản chất các mối liên hệ phức hợp bên ngoài, bên trong, hình thành hệ thống quan điểm mang tính nguyên tắc phương pháp luận để định hướng giải quyết tốt các vấn đề thực tiễn, góp phần hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội Việt Nam

 Thứ nhất, về bản chất các mối liên hệ phức hợp bên ngoài, bên trong của các mối quan hệ lớn.

Trước hết, việc giải quyết các mối quan hệ lớn được đặt trong tổng thể mối quan hệ chặt chẽ với hệ mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội, tám đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa, tám phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự thống nhất chỉnh thể của bốn nội dung trên có thể nói chính là những vấn đề cốt lõi trong cấu trúc hệ thống lý luận đổi mới Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cũng là lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Các mối quan hệ lớn chính là phương tiện, phương pháp để nhận thức và tổ chức thực hiện đúng nhằm đạt mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thực hiện thành công các đặc trưng và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiều nội dung của từng mối quan hệ lớn có liên hệ chặt chẽ, thậm chí chuyển hóa lẫn nhau với nội dung của các đặc trưng hay phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Như vậy, trong nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn phải luôn đặt trong tổng thể mối quan hệ với phương hướng, đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa; nếu tách biệt sẽ đánh mất tính hệ thống, tính mục đích, không thấy rõ những quy luật phát triển khách quan bên trong các mối quan hệ lớn. Việc tìm ra các quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội không phải là đích cuối, mà là phương pháp, phương tiện nhận thức ở tầm lý luận để Đảng ta thực hành cầm quyền khoa học đúng với các quy luật phát triển khách quan, hóa giải những mâu thuẫn lớn, từng bước đạt mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành công phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội và hiện thực hóa những đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa.

Từng mối quan hệ lớn trong chỉnh thể các mối quan hệ lớn cũng ngày càng được nhận thức sâu sắc hơn. Hệ thống các mối quan hệ lớn cấu thành bởi mười mối quan hệ lớn cùng hướng đích, song mỗi mối quan hệ lớn có những đặc điểm, vị trí riêng.

Mối quan hệ lớn giữa đổi mới, ổn định và phát triển là mối quan hệ có vị trí đầu tiên, tiên phong, khởi nguồn trong hệ thống các mối quan hệ lớn. Trong ba thành tố của mối quan hệ này, đổi mới phải thực thi trước tiên, là phương thức để phát triển, ổn định là điều kiện và phát triển là mục tiêu - đây là mối quan hệ chế ước, ràng buộc giữa điều kiện, phương thức và mục tiêu phát triển lâu dài. Phát triển phải dựa trên ổn định và bằng phương thức đổi mới; không có nền móng ổn định không thể phát triển được và chính nhờ phát triển mới tạo điều kiện để ổn định vững chắc và tiếp tục đổi mới ở yêu cầu, trình độ cao hơn. Từ xác định đổi mới là quan trọng nhất, Đại hội XIII của Đảng hoán đổi vị trí của “ổn định” cho “đổi mới”, hàm ý trong bối cảnh hiện nay cần đề cao hơn việc giữ ổn định các mặt của đời sống chính trị - xã hội nhằm tạo tiền đề, điều kiện cho sự phát triển.

Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị giữ vai trò trung tâm, cơ bản, bởi việc giải quyết mối quan hệ này sẽ tác động và quyết định tới việc giải quyết các mối quan hệ lớn khác, khi “yếu tố kinh tế được xem như nền tảng số một của sự phát triển, đồng thời chính trị là yếu tố nhạy cảm, phức tạp nhất trong đời sống xã hội”(2). Đổi mới kinh tế là khâu đột phá cho quá trình đổi mới ở nước ta, tập trung phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo dựng nền tảng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Quá trình đổi mới kinh tế phải tiến hành đồng thời với từng bước đổi mới chính trị; đổi mới chính trị tập trung vào đổi mới tư duy chính trị và hệ thống chính trị. Đổi mới kinh tế đi trước, song không vì thế mà chậm đổi mới chính trị; đổi mới chính trị cần làm từng bước, thận trọng, bảo đảm nguyên tắc cái gì đã rõ, đã chín, được thực tiễn chứng minh hiệu quả, đa số đồng tình thì tiếp tục thực hiện, cái gì chưa có quy định hoặc vượt quy định thì mạnh dạn thí điểm, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, mở rộng dần, không cầu toàn, nhưng không nóng vội.

Mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa là hai mặt của một chỉnh thể thống nhất là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc tuân theo các quy luật của nền kinh tế thị trường (quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh...) là một tất yếu khi chúng ta phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường. Nếu không tuân thủ các quy luật thị trường, tính chất thị trường của nền kinh tế thì nền kinh tế sẽ vận hành méo mó, phát triển duy ý chí, rất dễ quay trở lại với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Mặt khác, tính chất định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường là nhằm bảo đảm các mục tiêu xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế. Đây không phải là vế ghép khiên cưỡng, mà là tính chất quy định bản chất của nền kinh tế thị trường chúng ta xây dựng, phát triển; nếu thiếu bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế phát triển tự do vô độ, chạy theo lợi ích của thiểu số, tính chất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có nguy cơ trỗi dậy, làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa là quy luật cơ bản nhất, xuyên suốt và chi phối sự phát triển của xã hội loài người, cũng như quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Lực lượng sản xuất quyết định nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất; ngược lại, quan hệ sản xuất tác động trở lại, quy định mục tiêu xã hội của sản xuất, từ đó hình thành những yếu tố thúc đẩy lực lượng sản xuất nếu phù hợp hoặc kìm hãm nếu không phù hợp. Với xuất phát điểm thấp của nền kinh tế, nên nhiệm vụ trung tâm, có ý nghĩa sống còn đối với việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là phải phát triển không ngừng lực lượng sản xuất để tạo dựng cơ sở vật chất hiện đại. Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ lâu dài. Không thể nóng vội tạo ra quan hệ sản xuất vượt trước, thậm chí thoát ly khỏi trình độ lực lượng sản xuất, khiến mâu thuẫn giữa hai mặt của phương thức sản xuất trở nên gay gắt, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng như trước đổi mới. Do đó, cùng với việc tìm phương cách phát triển lực lượng sản xuất, giải phóng mọi nguồn lực để phát triển, với nhiều thành phần kinh tế, thì quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xác định “hoàn thiện từng bước”, với đa hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, tiếp thu trình độ tổ chức - quản lý kinh tế vĩ mô và quản trị doanh nghiệp hiện đại, hoàn thiện chế độ phân phối. Đồng thời, quan hệ sản xuất được xác định “tiến bộ phù hợp”, tức không chỉ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại như quan điểm trước đây, mà còn phù hợp với bản chất, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là mối quan hệ mới, được Đại hội XII của Đảng chính thức xác lập, là ba chủ thể tạo nên thế kiềng “ba chân” trong quản lý phát triển xã hội, vừa có quan hệ cạnh tranh, vừa hợp tác, vừa chế ước lẫn nhau, mà về bản chất chính là xử lý mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước, quyền lực kinh tế và quyền lực đạo đức - văn hóa, với đại diện là Nhà nước - doanh nghiệp - tổ chức xã hội. Theo đó, Nhà nước vừa là chủ thể quản lý, vừa là chủ thể trên thị trường, đối tác của thị trường, tập trung chức năng kiến tạo phát triển, tạo lập môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch, không thiên vị cho các doanh nghiệp, tổ chức xã hội phát triển; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong phân bổ hiệu quả các nguồn lực; các tổ chức xã hội ngày càng có vai trò chủ động, tham gia sâu hơn, hiệu quả hơn trong quản lý phát triển, giám sát và phản biện xã hội. Để hài hòa hóa trong giải quyết quan hệ giữa Nhà nước - thị trường và xã hội, sự phân vai hợp lý và cơ chế tự điều tiết nội bộ giữa ba chủ thể có vai trò quyết định, đồng thời không thể không tính tới nhân tố từ bên ngoài là vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng trong điều tiết, sử dụng, phát huy đúng đắn vai trò, chức năng của Nhà nước, thị trường và xã hội.

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường là mối quan hệ lớn trọng tâm thể hiện sự phát triển bền vững phù hợp với xu thế của thời đại, đồng thời thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là mối quan hệ lớn có nhiều thành tố cấu thành nhất, trong đó “tăng trưởng kinh tế” là hạt nhân có quan hệ vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với bốn thành tố còn lại; tăng trưởng kinh tế gắn chặt với thực hiện các nội dung khác trong mối quan hệ lớn trên sẽ trở thành phát triển bền vững, ngược lại, tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, xem nhẹ hoặc tách rời các nội dung còn lại sẽ làm các giá trị văn hóa xuống cấp, gây bất bình đẳng, xung đột, bất ổn xã hội, hủy hoại môi trường và những hệ lụy khôn lường khác, kéo lùi sự phát triển và tiến bộ xã hội. Từ sự phát triển thiên về chiều rộng, chúng ta ngày càng quan tâm hơn đến chiều sâu và chất lượng tăng trưởng. Thực hiện phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Đặc biệt, bảo vệ môi trường chính thức trở thành một thành tố của mối quan hệ lớn trên cho thấy nhận thức đúng đắn và ngày càng đề cao việc tôn trọng, bảo vệ và nuôi dưỡng môi trường, với những quan điểm về phát triển hài hòa, thuận thiên, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn... Đây là những xu thế phát triển tất yếu, là bước tiến quan trọng về nhận thức lý luận của Đảng ta để kịp thời định hướng đúng đắn cho sự phát triển bền vững thời gian tới.

Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phản ánh hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, có quan hệ biện chứng sâu sắc, mang tầm chiến lược, có ảnh hưởng và chi phối tới các mối quan hệ lớn khác, tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa hai mục tiêu lớn: Vừa xây dựng đất nước phồn vinh, giàu mạnh, vừa phải giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Việc giải quyết mối quan hệ lớn trên được Đảng ta vận dụng trong tất cả lĩnh vực, khi chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại... đều “lưỡng dụng” gắn với các nhiệm vụ, mục tiêu quốc phòng, an ninh; thực hiện nhất quán quan điểm phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên; huy động và dựa vào sức mạnh tổng hợp cao nhất của mọi lực lượng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó rường cột là lực lượng vũ trang. Xây dựng đất nước giàu mạnh chính là tạo lực và thế để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; bảo vệ vững chắc Tổ quốc chính là điều kiện quan trọng nhất để xây dựng đất nước, không được xem nhẹ bất kỳ một nhiệm vụ nào, không một phút lơ là. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc về mối quan hệ lớn trên, nhiều vấn đề về quốc phòng, an ninh trong thời kỳ đổi mới được Đảng ta vận dụng linh hoạt, bảo đảm nguyên tắc, để giải quyết tốt, qua đó ngăn chặn, hóa giải và loại trừ các xung đột lớn, nguy cơ chiến tranh, giữ vững môi trường ổn định, hòa bình để phát triển đất nước, tạo dựng thế chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế thể hiện chiến lược kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Đảng ta ngay từ sớm, trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, càng rõ nét trong công cuộc đổi mới đất nước. Ba thành tố của mối quan hệ lớn trên vừa tạo tiền đề cho nhau, vừa thống nhất, thúc đẩy nhau. Độc lập là chủ quyền pháp lý, tự chủ là chủ quyền thực tế; độc lập, tự chủ là sức mạnh bên trong, là nội lực. Hội nhập là tham gia và trở thành một bộ phận cấu thành của cộng đồng quốc tế, là sức mạnh ngoại lực. Giữ vững độc lập, tự chủ bằng sức mạnh tổng hợp quốc gia và bản sắc quốc gia trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... thì mới hội nhập thành công, nếu không sẽ bị lệ thuộc, hòa tan; ngược lại, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả giúp nâng cao vị thế quốc gia, tận dụng các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển đất nước, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, đa dạng hóa, đan cài các quan hệ lợi ích, từ đó càng giúp gia tăng độc lập, tự chủ, nội lực. Nếu tuyệt đối hóa yếu tố độc lập, tự chủ thì sẽ thành biệt lập, “đóng cửa”, bỏ qua cơ hội tranh thủ được các nguồn lực từ bên ngoài, khiến nội lực không được bồi tụ, suy yếu; hoặc quá đề cao hội nhập, trong khi nội lực còn mỏng, dẫn đến bị lệ thuộc, đánh mất tự chủ, độc lập. Nhận thức sâu sắc mối quan hệ lớn trên, Đảng ta lãnh đạo giải quyết tốt giữa việc không ngừng gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, sự độc lập, tự chủ trong mọi lĩnh vực, quyết sách quan trọng, với việc hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tiếng nói và vị thế ngày càng nâng cao trên trường quốc tế, “ngoại giao cây tre” tiên phong xử lý khéo léo, mở rộng và đi vào chiều sâu các mối quan hệ quốc tế, chủ động tham gia nhiều hơn trong việc hình thành các cơ chế hợp tác, xây dựng luật lệ, chuẩn mực chung có tính chất định hình “cuộc chơi” trong quan hệ quốc tế...  

Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ là mối quan hệ tổng quát, bao trùm, rộng lớn nhất trong chính trị và trong đời sống xã hội, khẳng định bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa do nhân dân làm chủ. Đây cũng là nguyên tắc chính trị tổng quát của chế độ chính trị của Việt Nam, mà trung tâm là cấu trúc và cơ chế vận hành của quyền lực chính trị - quyền lực nhà nước - quyền lực nhân dân, tương ứng với ba chủ thể quyền lực: Đảng - Nhà nước - nhân dân. Trong đó, Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội, thực thi quyền lực chính trị của mình trước hết bằng Nhà nước và thông qua quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước ở vị trí trung tâm, có vai trò trọng yếu; là đối tượng chịu sự lãnh đạo của Đảng, nhưng Nhà nước lại có những chức năng đặc thù của một tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước do nhân dân ủy quyền, phát huy vai trò chủ động và không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Xây dựng cơ chế phát huy thực chất vai trò chủ thể quyền lực của nhân dân, với tư cách quyền lực nhân dân là quyền lực tối cao, quyền lực gốc.

Mối quan hệ giữa thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là mối quan hệ thứ mười, mới được Đại hội XIII của Đảng chính thức bổ sung. Mặc dù được xác lập sau, nhưng đây là mối quan hệ lớn có vị trí quan trọng đặc biệt vì dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ chính trị nước ta và sự ảnh hưởng rộng lớn của mối quan hệ này đối với mọi mặt của đời sống xã hội, mọi người dân, cần được chú trọng nhận thức và giải quyết tốt, trong tổng thể việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. “Thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm kỷ cương xã hội có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ, nương tựa và làm tiền đề tồn tại cho nhau. Thực hiện pháp chế nghiêm minh là yếu tố bảo đảm, bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân được thực hành thực chất trong thực tiễn; đồng thời, thực hành dân chủ của nhân dân được mở rộng và phát huy sẽ càng làm cho pháp chế được tăng cường và kỷ cương trong xã hội được tôn trọng. Kỷ cương xã hội là kết quả và biểu hiện ra bên ngoài của pháp chế”(3). Cần tránh cả hai thái cực, mất dân chủ, dân chủ giả hiệu, hình thức, dân túy hoặc dân chủ quá trớn, tự do phường hội, vô chính phủ, khinh nhờn pháp luật. Sự đối lập hay tách rời giữa thực hành dân chủ với tăng cường pháp chế sẽ dẫn đến những hệ lụy khôn lường, đe dọa tới sự ổn định chính trị và kỷ cương, trật tự xã hội./.

              

Việc nhận diện các mối quan hệ lớn ngày càng sáng rõ, đầy đủ, bao quát hơn, từ chỉnh thể hệ thống đến bộ phận cấu thành trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 Công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là cuộc cải biến cách mạng vĩ đại, toàn diện, sâu sắc, từ kinh tế đến chính trị - xã hội, từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng..., song điều này chưa có tiền lệ trong lịch sử, lại trong bối cảnh đi lên từ lực lượng sản xuất rất thấp..., nên chúng ta phải tự tìm con đường cho phù hợp với thực tiễn đất nước và phù hợp với xu thế chung của thời đại. Đây là cuộc trường chinh đầy khó khăn, gian khổ, phức tạp, lâu dài, vừa tiến hành, vừa đúc rút kinh nghiệm. Đặc biệt, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các yếu tố của chủ nghĩa xã hội và phi chủ nghĩa xã hội đan xen nhau hết sức đa dạng, phức tạp. Do đó, cần hết sức coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận để vạch rõ những vấn đề có tính quy luật khách quan của sự phát triển, dự báo những khuynh hướng cơ bản của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam, là cơ sở lý luận soi đường và bảo đảm cho sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta, có vai trò đặc biệt quan trọng định hướng và từng bước định hình chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Việt Nam; tránh tư duy, cách làm chủ quan theo chủ nghĩa kinh nghiệm và siêu hình sẽ dẫn đến những sai lầm, khuyết điểm, gây cản trở, làm kéo dài, thậm chí chệch hướng, tổn thất cho cách mạng và quá trình phát triển của đất nước. Công cuộc đổi mới đất nước cũng để lại nhiều bài học đắt giá từ việc chậm phát hiện, nhận thức thiếu đầy đủ hoặc do nắm chưa vững, giải quyết không thấu đáo, tả khuynh, nôn nóng những vấn đề có tính quy luật khách quan...

Chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ - là một chỉnh thể cấu thành từ nhiều yếu tố, mối quan hệ tạo nên một hệ thống, cấu trúc. Bên trong cấu trúc đó, các yếu tố cấu thành vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn, vừa tương hỗ, vừa đấu tranh; trong đó có những cặp quan hệ chủ đạo, phản ánh bản chất, mối liên hệ tất nhiên chi phối sự tồn tại, vận động và phát triển của đổi mới, của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - đó chính là các mối quan hệ lớn.

Tuy nhiên, trong sự vận động vô tận và phức tạp của sự vật, hiện tượng, những cái chung, bản chất, nội dung thường bị che mờ bởi những cái bề ngoài, hình thức, đơn nhất, ngẫu nhiên, tạo nên những “điểm mờ” của nhận thức; sự phát triển ẩn đằng sau sự vận động quanh co, khúc khuỷu và có cả sự thoái bộ, thụt lùi... Do đó, việc nhận diện các mối quan hệ lớn là quá trình khái quát hóa rất cao về nhận thức lý luận, tìm ra khuynh hướng phát triển chung, cái bên trong, những mâu thuẫn, xung đột lớn, mối liên hệ phổ biến mang tính quy luật không thể một sớm, một chiều, mà là một quá trình đầy khó khăn, lâu dài, thậm chí có cả những sai lầm trước khi đến được với nhận thức đúng đắn, đầy đủ, bao quát, sâu sắc hơn, thể hiện rõ từng nấc thang, từng bước đổi mới, phát triển trong tư duy lý luận, là biểu hiện sinh động phản ánh trình độ trưởng thành và phát triển về lý luận của Đảng ta.

Nhận thức về các mối quan hệ lớn là một quá trình thống nhất, xuyên suốt, không ngừng tìm tòi, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn, manh nha ngay từ sớm, trước đổi mới.

Thuật ngữ “các mối quan hệ lớn” xuất hiện chính thức lần đầu tiên trong văn kiện Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (tháng 12-1964) về thương nghiệp và giá cả. Khi đó, trong phân tích về những đặc điểm kinh tế cơ bản và nội dung cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trong những năm đầu tiến lên chủ nghĩa xã hội, Ban Chấp hành Trung ương lần đầu tiên đặt ra yêu cầu: “Xây dựng đúng đắn những mối quan hệ lớn, giải quyết tốt những mâu thuẫn lớn...”(1). Trong những buổi đầu tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tuy tư duy lý luận của Đảng tại thời điểm này chưa phản ánh đầy đủ những mối quan hệ mang tính quy luật, chưa xác định chính xác về tính chất và cách thức giải quyết các mối quan hệ lớn, song đây là sự manh nha, điểm khởi đầu có ý nghĩa, có tính chất tiền đề trong tư duy lý luận của Đảng về “các mối quan hệ lớn” trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước cùng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (năm 1975) cho đến trước Đại hội XI của Đảng (năm 2011), các văn kiện của Đảng gần như không trực tiếp xác định, gọi tên “các mối quan hệ lớn”.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) lần đầu tiên đề cập tới các mối quan hệ lớn như một chỉnh thể mang tính hệ thống, khi xác định phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, gồm: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Đại hội XII của Đảng điều chỉnh mối quan hệ “giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa” thành quan hệ “giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đồng thời, từ tám mối quan hệ lớn phát triển thành chín mối quan hệ lớn khi bổ sung mối quan hệ “giữa Nhà nước và thị trường”, sau đó mối quan hệ này được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII nhận diện đầy đủ hơn (bổ sung thành tố thứ ba là “xã hội”) thành mối quan hệ “giữa Nhà nước, thị trường và xã hội”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục có những nhận thức, bổ sung mới về các mối quan hệ lớn. Đó là điều chỉnh trật tự mối quan hệ “giữa đổi mới, ổn định và phát triển” thành “giữa ổn định, đổi mới và phát triển”; bổ sung mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”, thành “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”; điều chỉnh mối quan hệ “giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, thành “giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”; điều chỉnh mối quan hệ “giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, thành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”. Đặc biệt, Đại hội XIII của Đảng bổ sung mối quan hệ lớn giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, hợp thành chỉnh thể hệ thống mười mối quan hệ lớn có tính quy luật của đổi mới và phát triển của Việt Nam.

Như vậy, đến nay, Đảng ta đã xác định mười mối quan hệ lớn cần tiếp tục nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, gồm: 1- Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; 2- giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; 3- giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; 4- giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; 5- giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; 6- giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; 7- giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; 8- giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; 9- giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; 10- giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Rõ ràng, từng sự thay đổi, bổ sung chỉnh thể hay nội tại từng mối quan hệ trên đều mang ý nghĩa sâu sắc, là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận công phu, lâu dài. Hệ thống mười mối quan hệ lớn tạo thành một chỉnh thể tương đối đầy đủ, có ý nghĩa quan trọng mang tính phương pháp luận để chỉ đạo, dẫn dắt các hoạt động thực tiễn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn kiện Đại hội XIII cũng nhấn mạnh, đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta, đòi hỏi chúng ta nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả./.

THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN "CHUYẾN BAY GIẢI CỨU" ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 

                      ——————————————


         ✍ Trong những ngày qua, phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử 54 bị cáo bị truy tố về các tội “Đưa hối lộ”, “Nhận hối lộ”, “Môi giới hối lộ”, “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại một số bộ, ngành và địa phương (còn gọi vụ án “chuyến bay giải cứu”) tiếp tục nóng trên các diễn đàn báo chí, mạng xã hội... Phiên tòa xét xử 54 bị cáo trong vụ án tổ chức những “chuyến bay giải cứu” một lần nữa khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, khẳng định sự nghiêm minh của pháp luật và không có vùng cấm. 


         ⛔️ Tuy nhiên, lợi dụng việc xét xử vụ án, các thế lực xấu đưa ra nhiều bài viết, phỏng vấn với nội dung hướng lái từ vụ án hình sự sang vấn đề chính trị, tạo cớ bôi nhọ đất nước, chống phá Đảng, Nhà nước ta.


         ⛔️ Mục tiêu của các đối tượng là lợi dụng vụ án để hạ uy tín, phủ định vị trí cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng; làm lung lay quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; lợi dụng những tồn tại trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng của ta để kích động, hỗ trợ các phần tử phản động trong và ngoài nước gia tăng hoạt động chống phá tinh vi, xảo quyệt hơn. Từ đó, chúng tác động để cán bộ, đảng viên "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", dẫn đến nguy cơ tự sụp đổ từ bên trong.


         ✍ Từ phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử 54 bị cáo trong vụ án “chuyến bay giải cứu” cho thấy, chống tham nhũng, tiêu cực phải đi liền với chống lợi ích nhóm, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vụ án cũng chứng minh chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” của Đảng, Nhà nước ta được thực thi trên thực tế chứ không phải “khẩu hiệu suông, mị dân” như luận điệu kẻ xấu. Chúng ta đã thấy rõ những tác hại của vấn nạn tham nhũng gây ra, thấy rõ sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ, quyết tâm cao trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của cả hệ thống chính trị.


         ✍ Đồng thời, từ vụ án cũng cho thấy tính chất phức tạp của tệ nạn tham nhũng hiện nay, nếu không được kiểm soát tốt có thể lây lan thành căn bệnh nguy hiểm với sự tham gia của nhiều cán bộ có chức quyền ở nhiều bộ, ngành, địa phương. Với tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh chống “đạn bọc đường” và âm mưu của kẻ địch lợi dụng cuộc đấu tranh đó để chống phá Đảng, Nhà nước, đòi hỏi mỗi người phải luôn nâng cao cảnh giác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc phá hoại công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không để bị lôi kéo, kích động, biến thành những con rối.


         SY# Trường Tồn 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, BẢO VỆ ĐẢNG BẢO VỆ AN NINH CHÍNH TRỊ NỘI BỘ

 Bảo vệ chính trị nội bộ là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; có ý nghĩa sống còn đối với sinh mệnh của Đảng, sự sống còn của chế độ và lợi ích quốc gia-dân tộc. Với tư cách là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc, Đảng vững mạnh trong sạch là vấn đề trọng yếu quyết định thực hiện thắng lợi chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Trong những năm đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trên cơ sở đó công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Về chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao; phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước được đổi mới; vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững.

Về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng; niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố.

Về tổ chức cán bộ, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến bộ nhiều mặt. Thành tựu trong hơn 30 năm đổi mới là thành quả của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên... Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng còn nhiều hạn chế, yếu kém.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp; trong nước các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa”, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng; yêu cầu nhiệm vụ chính trị của nước ta rất to lớn, nặng nề, khó khăn đòi hỏi Đảng phải được xây dựng nâng tầm lãnh đạo lên cao hơn nữa. Mặt khác, bản thân Đảng, bên cạnh mặt tích cực, bản chất và truyền thống tốt đẹp cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng, nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Để làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp, biện pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hơn nữa trình độ nhận thức, hiểu biết về vị trí, vai trò, nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Ba là, chấp hành nghiêm và thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước, quân đội về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhất là các quy định về bảo mật, không để lộ, lọt, mất thông tin; không viết bài, đưa tin, phát ngôn sai quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội và trong quân đội; thực hiện nghiêm Quy định số 126-QĐ/TW ngày 28/2/2018 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về quy định những điều đảng viên không được làm. Thực hiện tốt các phương châm trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm không bỏ sót những người có năng lực, trình độ trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bốn là, thường xuyên thực hiện tốt công tác nắm tình hình, rà soát chính trị nội bộ. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và có biện pháp sử dụng, quản lý cán bộ, đảng viên phù hợp đối với những trường hợp có vấn đề chính trị. Thực hiện tốt hơn nữa việc kê khai bổ sung lý lịch đảng viên, kiểm tra thẻ đảng, hộ chiếu, các giấy tờ liên quan đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; kê khai các hoạt động đi ra nước ngoài, quan hệ với nước ngoài của cán bộ, đảng viên để kịp thời phát hiện vi phạm và uốn nắn.                                                                                    N.T.T

 

ĐỜI ĐỜI TỔ QUỐC GHI CÔNG

 


Kính cẩn cúi đầu trước các anh

Những người con hoá thân  thành bất tử

Trong lịch sử nước nhà còn lưu giữ

Mãi trường tồn một quá khứ liệt oanh.


Biết bao người con trong thân áo mong manh

Khi ngã xuống máu anh hoà với đất

Mẹ mong con, Vợ gọi chồng khóc ngất

Hàng triệu mái nhà tan tác rất đớn đau...


Chiến tranh giờ đã lùi lại phía sau

Đất nước bình yên rực tươi màu cờ đỏ

Chẳng ai quên những nỗi đau còn đó

Luôn nhắc lòng xứng tỏ những hy sinh.


Tri ân máu xương đã đổi lấy hoà bình

Ghi sâu mãi những dáng hình bất tử

Cuộc chiến kia có thể thành quá khứ

Nỗi đau thì tô sáng chữ vinh quang! 


Thế hệ các anh đã sống vẻ vang

Những hy sinh cho vững vàng độc lập

Mỗi giọt máu từng rơi vào đất thấm

Đều rực màu tô đỏ sắc cờ bay...


Những thế hệ hưởng bình yên hôm nay

Nguyện gìn giữ đẹp trang dày lịch sử

Vươn mơ ước nhưng không quên quá khứ 

Quyết đồng lòng xây Tổ quốc khang trang..


Tháng 7 về khói hương giữa mênh mang

Nén trầm thơm quện lòng càng nhắc nhớ 

Hồn đất Mẹ vọng về như tiếng thở

Đất nước đời đời ghi lại ở trong tim.....


(Thơ sưu tầm). Trường Tồn 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI QUỐC PHÒNG AN NINH TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VÊ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh là một tất yếu khách quan, một nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước của Đảng ta, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực tế phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) cho thấy không phải mọi lúc, mọi nơi, sự kết hợp này được bảo đảm. Vì vậy, cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách cũng như tổ chức thực hiện nhằm kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước. Trong những năm tới trên thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng tình hình tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, bất trắc, khó lường. Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Thực hiện biện pháp này đòi hỏi người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực sự coi công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; phải cam kết về sự liêm khiết và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quản lý chặt chẽ đảng viên, cán bộ, thường xuyên kiểm tra nhắc nhở, ngăn ngừa và phát hiện cán bộ, đảng viên vi phạm; thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên.

Đồng thời, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế, chính sách về tổ chức, cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố xét xử tham nhũng, lãng phí. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giải quyết các vấn đề xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước; thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, từng bước củng cố lòng tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo điều kiện để giải quyết tận gốc tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, xóa đói, giảm nghèo, giảm dần sự cách biệt về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền; góp phần tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng khả năng hội nhập, hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, tăng cường hơn nữa sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với nước ta; tạo tiền đề và điều kiện cơ bản để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, củng cố lòng tin của Nhân dân vào sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.

Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế thị trường; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước; phát triển và nâng cao vai trò của kinh tế tập thể để kinh tế nhà nước giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN có tác động hai mặt đến việc củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước. Về tác động tích cực:

Thứ nhất, tiềm lực quốc phòng, an ninh của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Kinh tế phát triển tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật, công nghệ và nhân lực cho quốc phòng, an ninh. Khi kinh tế phát triển, nguồn vốn tích lũy, nguồn thu ngân sách không ngừng được tăng lên chính là điều kiện để phát triển đất nước về mọi mặt. Từ đó, góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển gắn với đổi mới kỹ thuật, công nghệ là cơ sở để đổi mới kỹ thuật, công nghệ trong công nghiệp quốc phòng, sản xuất ra các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật phục vụ quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển cũng là cơ sở để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tăng cường cho các lực lượng vũ trang.

Thứ hai, phát triển KTTT góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, từ đó củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường ổn định xã hội và tiềm lực quốc phòng, an ninh. Khi cuộc sống về mọi mặt của người dân được nâng cao, tiến bộ, công bằng, dân chủ được tăng cường thì người dân, các lực lượng xã hội yên tâm, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vững vàng trước sự lôi kéo, xúi bẩy, kích động của các thế lực thù địch. Cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có cơ hội phát triển toàn diện của nhân dân là nền tảng chính trị vững chắc để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh.

Thứ ba, KTTT phát triển khơi thông các tiềm lực kinh tế, tác động đến việc tăng cường sức mạnh của lực lượng quân đội và công an cả về vật chất và tinh thần. Về vật chất, kinh tế phát triển, đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ sẽ được cải thiện và nâng cao, là cơ sở để nâng cao năng lực thể chất và trí tuệ mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Về tinh thần, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân, trong đó có gia đình cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang được cải thiện, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ quân đội, công an; đồng thời, tạo cơ hội để họ tập trung vào công tác huấn luyện, rèn luyện, học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, đủ kiến thức và kỹ năng làm chủ các phương tiện, vũ khí, khí tài hiện đại, nâng cao sự sẵn sàng, khả năng chiến đấu và chiến thắng.

 

NHẬN DIỆN BIỂU HIỆN TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Nhận diện những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của Đảng như thế nào? Mục tiêu, quan điểm về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ? Mong nhận được phản hồi! Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” công khai, nguy hiểm hơn theo xu hướng “ly khai Đảng”, thành lập tổ chức chính trị đối trọng với Đảng, thành phần ngày càng đa dạng, có xu hướng liên kết trong nội bộ với ngoài xã hội, trong nước với ngoài nước. Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đang bộc lộ rất phức tạp, sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật trong cán bộ, đảng viên gia tăng. “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiếp tục diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả trí thức, luật sư, cán bộ lão thành, văn nghệ sĩ, nguyên cán bộ cao cấp, tướng lĩnh lực lượng vũ trang.

Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ công khai, nguy hiểm hơn theo xu hướng “ly khai Đảng”, thành lập tổ chức chính trị đối trọng với Đảng, thành phần ngày càng đa dạng, có xu hướng liên kết trong nội bộ với ngoài xã hội, trong nước với ngoài nước. Biểu hiện củа“tự diễn biến”, “tự chuyển hóа”trên lĩnh vực này là sự sùng bái, chạy theо văn hóа, lối sống phương Tây; xa rời các giá trị văn hóа, đạо đức truyền thống, đặc biệt là các giá trị văn hóа, đạо đức xã hội chủ nghĩа; có hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận nền văn hóа cách mạng; đề cао chủ nghĩа cá nhân, lối sống thực dụng; thương mại hóа các hоạt động văn hóа, đánh mất bản sắc văn hóа dân tộc... “Tự diễn biến” về văn hóа, xã hội, đạо đức, lối sống thường khởi đầu chо “tự diễn biến” về chính trị tư tưởng.

Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật trong cán bộ, đảng viên gia tăng; một số đảng viên không chấp hành các quy định của Đảng, tuyên bố công khai từ bỏ Đảng và kích động “từ bỏ Đảng Cộng sản”; tình trạng mâu thuẫn nội bộ, mất đoàn kết đang là những vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc phá hoại nội bộ; lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra với tính chất, mức độ rất nghiêm trọng.

Nguy hiểm hơn, một số cán bộ, đảng viên “tự chuyển hóa”, tự nguyện, sẵn sàng cộng tác, chủ động liên hệ với Cơ quan đặc biệt nước ngoài, phản động lưu vong để hoạt động chống phá; một bộ phận cán bộ có tư tưởng lừng chừng, hai mặt, chờ thời cơ có lợi cho cá nhân. Lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra với tính chất, mức độ rất nghiêm trọng. Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hoá” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.

6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.

8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ suý cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.

9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4. Tình hình an ninh mạng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ với sự phát triển của những công nghệ đột phá đem lại những lợi ích to lớn cho phát triển kinh tế - xã hội, song cũng đặt ra nhiều thách thức an ninh mang tính toàn cầu, như: hoạt động tình báo mạng, các cuộc tấn công mạng quy mụ lớn và nguy cơ chiến tranh mạng, sử dụng không gian mạng để tác động, chuyển hóa chính trị, tổ chức các hoạt động khủng bố, chiếm đoạt thông tin, dữ liệu người dùng để sử dụng vào các mục đích chính trị...

- Tình trạng vi phạm quy định của pháp luật trong quản lý, cung cấp, sử dụng, dịch vụ Internet và thông tin trên mạng của cơ quan báo chí, truyền thông gia tăng, gây ra những tác động tiêu cực, dư luận xã hội.

- Hoạt động tấn công mạng và lộ bí mật Nhà nước trên không gian mạng diễn ra ngày càng nhiều, tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng gia tăng.

- Hoạt động sử dụng không gian mạng vào hoạt động phạm tội gia tăng về quy mô, với nhiều thủ đoạn tinh vi, gây thiệt hại lớn cho tổ chức, cá nhân, gây phức tạp về trật tự, an toàn xã hội, tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến bất ổn về chính trị.