Thứ Năm, 27 tháng 7, 2023

Ở ĐỜI, CÓ 2 THỨ...

 1. Có 2 thứ bạn phải thay đổi, đó là bản thân và nhận thức.

2. Có 2 thứ bạn phải giữ gìn, đó là niềm tin và nhân cách.
3. Có 2 thứ bạn phải trân trọng, đó là gia đình và hiện tại.
4. Có 2 thứ bạn nên tiết kiệm, đó là sức khỏe và lời hứa.
5. Có 2 thứ bạn phải cho đi, đó là tri thức và lòng tốt.
6. Có 2 thứ bạn phải tự mình thực hiện, đó là lao động và chịu trách nhiệm với việc mình làm.
7. Có 2 thứ bạn phải lãng quên, đó là đ. au th.ương và h. ận th.ù.
8. Có 2 thứ bạn phải khắc ghi, là công ơn Mẹ Cha và sự giúp đỡ của người khác.
9. Có 2 thứ bạn buộc phải có để là người thành công, đó là đam mê và lòng kiên trì.
10. Có 2 thứ bạn không được làm, đó là h. ãm h.ại người khác và ph.ản b.ội lòng tin.
11. Có 2 thứ bạn phải bảo vệ, đó là danh tín và lẽ phải.
12. Có 2 thứ bạn phải chấp nhận, là cái ch. ế.t và sự khác biệt.
13. Có 2 thứ bạn phải kiểm soát, đó là bản năng và cảm xúc.
14. Có 2 thứ bạn phải tránh xa, đó là c.ám d. ỗ và sự í.ch k.ỷ.
15. Có 2 thứ bạn luôn phải sử dụng mà đừng hà tiện, là tiền bạc và kinh nghiệm.
16. Có 2 thứ bạn không được s.ợ sệt, là cái á.c và sống thật.
17. Có 2 thứ bạn phải nuôi dưỡng, là tình yêu và sự bao dung.
18. Có 2 thứ mà bạn cần phải đạt được trong cuộc sống, đó là thành đạt và hạnh phúc.
19. Có 2 thứ bạn phải luôn sẵn sàng, đó là khó khăn và ngày mai.
20. Có 2 thứ bạn phải luôn ghi nhớ, đó là thực hiện những điều trên và làm thật tốt chúng trong cuộc sống hàng ngày./.
ST

PHẢI BIẾT TRỌNG DANH DỰ

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần lưu ý, muốn làm người đảng viên, người cán bộ, trước hết phải là một con người chân chính, một con người biết trọng liêm sỉ, trọng danh dự.

1. Dư luận nhân dân đánh giá rất cao quyết tâm chính trị và kết quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước được khởi xướng bởi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Những vụ đại án được đưa ra xét xử những năm qua và gần đây càng củng cố thêm quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ của Đảng ta.
Điều đáng bàn ở đây là mỗi khi một vụ án được đưa ra xét xử, chúng ta lại có dịp suy ngẫm và đúc rút những bài học trong công tác cán bộ và cả trong cuộc sống nhân sinh. Đứng trước hội đồng xét xử, những người vi phạm mới thực sự thức tỉnh, mới thực sự thấu hiểu được những giá trị lớn lao của danh dự, của đạo đức và nhân phẩm con người. Sau khi tuyên án, có thể sẽ phải chịu cảnh những năm tháng trong nhà tù, mất quyền công dân, con người ta mới thực sự thấm thía một sự thật: Bao nhiêu tiền bạc, nhà nọ, xe kia... cũng đều trở nên vô nghĩa. Và cái mất lớn nhất chính là danh dự, như bát nước đã đổ đi không bao giờ lấy lại được nữa.
Đó cũng chính là lúc những người từng là cán bộ, đảng viên và tất cả chúng ta mới thực sự thấm thía lời nhắc nhở của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, rằng: "Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất!".
Hiểu cặn kẽ hơn, danh dự là một thành tố thuộc phạm trù đạo đức; có ý nghĩa nền tảng định hướng con người lựa chọn làm điều tốt, điều thiện; ngăn ngừa làm điều xấu, điều ác. Trong văn hóa lịch sử nhân loại, có không ít cộng đồng và những cá nhân đã trở thành minh chứng sống động, khẳng định giá trị của danh dự, khi sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để bảo vệ danh dự, làm tất cả không tiếc điều gì chỉ để giữ gìn danh dự bản thân, danh dự gia đình, dòng họ, danh dự quốc gia... Danh dự là biểu hiện cao nhất của liêm sỉ. Cán bộ dù giữ chức vụ to hay nhỏ, dù ở cấp trung ương hay cấp cơ sở, trước hết phải là người có danh dự.
2. Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cấp bách là phải triển khai mạnh mẽ hơn nữa, hiệu quả hơn nữa công tác xây dựng Đảng về đạo đức; trong đó, lấy con người làm trung tâm, coi xây dựng văn hóa trọng danh dự làm nòng cốt.
Để làm được điều đó, các cấp ủy tổ chức Đảng, nhất là người đứng đầu các cấp phải thực sự quan tâm, tâm huyết, gương mẫu, đi đầu, trở thành “nhạc trưởng” huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và nhân dân. Xây dựng Đảng về đạo đức phải gắn với xây dựng một xã hội văn hóa, văn minh, nơi đa số con người biết trân quý những giá trị cốt lõi chân - thiện - mỹ, tự giác điều chỉnh hành vi, tự soi, tự sửa hằng ngày để tốt hơn lên mỗi ngày. Ở đó, con người có văn hóa xấu hổ, vì nhờ biết xấu hổ mà có danh dự, từ có danh dự mà trong tiềm thức đã tự giác ý thức không dám nói và làm những điều sai trái.
Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Lời dạy của Bác vừa nhắc nhở chúng ta rằng rèn luyện để trở thành người có danh dự, trọng danh dự không dễ, thậm chí rất khó khăn, gian khổ; nhưng thành quả thì có giá trị và ý nghĩa to lớn, ít nhất là không phải hối tiếc, ân hận.
Để có đủ năng lực, phẩm chất đương đầu và vượt lên được những cám dỗ của đồng tiền, xét cho cùng con người phải có cái gốc đạo đức vững chãi và một tâm thế không màng những thứ không thuộc về mình. Khả năng đó chỉ có được khi ngay từ đầu người đảng viên, người cán bộ làm việc phải nhằm giữ gìn danh dự cho bản thân và tổ chức; phải thực hiện đúng tinh thần “Dĩ công vi thượng”, nghĩa là đặt việc công lên trên hết, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, lợi ích của nhân dân, lên trên hết, trước hết. Đây là một trong những nội dung cốt lõi của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và cũng chính là "tấm áo giáp" rắn chắc bảo vệ thanh danh cán bộ, đảng viên trước những “viên đạn bọc đường”.
Dân gian có câu: “Gieo nhân nào thì gặt quả nấy”. Cách ngôn minh triết này đã được chiêm nghiệm, kiểm chứng ngàn đời, rất đáng để vận dụng. Lại có câu: Kẻ trí thì sợ “nhân”, người ngu thì sợ “quả” để dạy rằng, đừng đến khi nhận “quả” rồi mới biết sợ, mà phải biết sợ từ lúc gieo “nhân”, trên cơ sở đó mà lựa chọn đúng việc cần làm: Làm việc tốt, thực sự chí công, vô tư, quang minh, chính đại.
Xây dựng Đảng về đạo đức để có đội ngũ cán bộ thực sự trọng danh dự cần xuất phát từ mỗi cá nhân, nhưng phải đặt trong nỗ lực chung của cộng đồng, xã hội; phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, "chống" là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách./.
ST

XÂY DỰNG, CỦNG CỐ TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN Ở NƯỚC NGOÀI TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

 Trong công tác xây dựng Đảng, công tác đảng ngoài nước là một bộ phận hữu cơ, gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thông suốt của Trung ương Đảng. Trải qua hơn 60 năm hình thành và phát triển kể từ khi Ban Bí thư ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TW, “Về tổ chức đảng ngoài nước” vào ngày 31-3-1961, công tác đảng ngoài nước đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt”(2), theo đó tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là “sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng”(3) còn đảng viên là nhân tố cơ bản nhất, năng động nhất của tổ chức đảng. Vì thế, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu cao và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) đã xác định “đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng”(4), “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”(5). Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”, tiếp tục nhấn mạnh “cấp ủy cơ sở phải làm tốt công tác quản lý đảng viên”, “tăng cường công tác quản lý đảng viên ở ngoài nước và đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập, lao động”. Đây là biểu hiện sinh động về sự quan tâm của Trung ương đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ ở trong nước, mà cả ở ngoài nước.
Những dấu ấn nổi bật sau hơn ba năm hợp nhất
Triển khai Quyết định số 209-QĐ/TW, ngày 26-11-2019, của Bộ Chính trị, về hợp nhất Đảng bộ ngoài nước với Đảng bộ Bộ Ngoại giao, trong hơn ba năm qua, Đảng ủy Bộ Ngoại giao đã phát huy tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo công tác đảng ngoài nước phục vụ triển khai đường lối đối ngoại, trong đó công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên ở nước ngoài tiếp tục đạt nhiều kết quả quan trọng. Nhờ đó, hệ thống tổ chức đảng ngoài nước được giữ vững, không ngừng hoàn chỉnh và phát triển, đội ngũ đảng viên ở nước ngoài tiếp tục góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ nhất, công tác tham mưu cho Trung ương Đảng về công tác đảng ngoài nước tiếp tục được quan tâm, chú trọng. Qua các thời kỳ, Trung ương Đảng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về công tác đảng ngoài nước, tiêu biểu như Nghị quyết số 38-NQ/TW, ngày 16-5-1981, “Về tổ chức đảng ngoài nước”; Chỉ thị số 51-CT/TW, ngày 13-4-2005, “Về tăng cường công tác đảng ngoài nước trong tình hình mới”; Thông báo số 89-TB/TW, ngày 23-4-2012, “Về tổ chức đảng ngoài nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế”. Trên cơ sở những văn bản chỉ đạo của Trung ương Đảng và để tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong bối cảnh mới, Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao đã phối hợp với Đảng ủy Bộ Ngoại giao trình Ban Bí thư ban hành Quy định số 43-QĐ/TW, ngày 26-11-2021, “Về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở hoạt động ở nước ngoài trực thuộc Đảng ủy Bộ Ngoại giao” thay thế Quy định số 271-QĐ/TW, ngày 27-12-2014, “Về chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ cơ sở hoạt động ở nước ngoài trực thuộc Đảng ủy ngoài nước” và Quy định số 86-QĐ/TW, ngày 28-10-2022, “Về nhiệm vụ của đảng viên và công tác quản lý đảng viên ở nước ngoài” thay thế Quy định số 228-QĐ/TW, ngày 7-2-2014, “Về nhiệm vụ của đảng viên và công tác quản lý đảng viên ở nước ngoài”. Năm 2023, Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao phối hợp với Đảng ủy Bộ Ngoại giao triển khai Đề án trình Ban Bí thư ban hành Quy định về công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng, đảng viên ở nước ngoài. Công tác nghiên cứu tham mưu với những kết quả cụ thể đã và đang góp phần hoàn thiện hệ thống các văn bản về công tác đảng ngoài nước, bảo đảm xây dựng hệ thống tổ chức đảng ngoài nước vững mạnh, thực hiện đúng các nguyên tắc, quy định của Đảng.
Thứ hai, công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng được triển khai thực chất, hiệu quả. Đảng ủy Bộ Ngoại giao đã ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định về chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình đảng bộ, chi bộ trực thuộc nhằm tăng cường, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng; xây dựng hệ thống quy chế, hướng dẫn, biểu mẫu để chuẩn hóa quy trình công tác cấp ủy, công tác đảng viên, chuyển sinh hoạt đảng, phát triển đảng viên, phân công công tác, quản lý hồ sơ đảng viên, đánh giá, xếp loại, khen thưởng tổ chức đảng, đảng viên, tạo thuận lợi cho các tổ chức đảng ngoài nước thực hiện thống nhất nhiệm vụ. Các cấp ủy thường xuyên rà soát, đánh giá chất lượng, chấn chỉnh, củng cố từng loại hình tổ chức cơ sở đảng; chủ động sắp xếp mô hình tổ chức bảo đảm gọn, nhẹ, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị. Công tác xây dựng, củng cố, kiện toàn cấp ủy, ủy ban kiểm tra đảng ủy được thực hiện thường xuyên, kịp thời. Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho các đồng chí đại sứ, bí thư, cấp ủy đảng, cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác đảng ngoài nước được coi trọng. Qua đó, hệ thống tổ chức đảng ở ngoài nước được củng cố và phát triển cùng với sự phát triển của hệ thống các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.
Thời gian qua, Trung ương Đảng tiếp tục quan tâm tháo gỡ những vấn đề đặt ra trong triển khai công tác đảng ở ngoài nước. Ngày 27-12-2022, Ban Bí thư đã ban hành hướng dẫn về thí điểm sinh hoạt đảng trực tuyến ở đảng bộ cơ sở, chi bộ có tính chất đặc thù hoặc trong hoàn cảnh đặc biệt và sinh hoạt đảng theo tổ đảng ở chi bộ đông đảng viên. Đây là vấn đề đã được các tổ chức đảng ngoài nước kiến nghị qua nhiều nhiệm kỳ nhằm tạo thuận lợi và phù hợp với điều kiện hoạt động của các tổ chức đảng ngoài nước. Trên cơ sở hướng dẫn của Trung ương Đảng, tháng 4-2023, Đảng ủy Bộ Ngoại giao đã ban hành Hướng dẫn thí điểm sinh hoạt đảng trực tuyến ở đảng bộ cơ sở, chi bộ có tính chất đặc thù hoặc trong hoàn cảnh đặc biệt và sinh hoạt đảng theo tổ đảng ở chi bộ đông đảng viên, qua đó tạo thuận lợi cho các tổ chức đảng ngoài nước trong triển khai nhiệm vụ.
Thứ ba, việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở nước ngoài được quan tâm, chú trọng. Công tác xây dựng và quản lý đảng viên ở ngoài nước được xác định là nhiệm vụ trọng tâm với phương châm không để đảng viên nào khi ra nước ngoài không được tổ chức bố trí sinh hoạt đảng, quản lý và giao nhiệm vụ. Đảng ủy Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các cấp ủy trong nước tăng cường giáo dục, trang bị kiến thức cho đảng viên trước khi ra nước ngoài; thực hiện thủ tục chuyển sinh hoạt đảng ra ngoài nước; quản lý đảng viên đi đôi với quản lý nội dung, chất lượng đảng viên. Hầu hết đảng viên ra nước ngoài được bố trí sinh hoạt đảng trong các chi bộ, một số ít được bố trí sinh hoạt lẻ. Cấp ủy giao nhiệm vụ cụ thể cho đảng viên để phát huy vai trò nòng cốt tại cơ sở, gương mẫu chấp hành các quy định, quy chế, kỷ luật làm việc, học tập, lao động; chống các biểu hiện tiêu cực, vi phạm pháp luật của nước sở tại và giữ quan hệ với nhân dân nước sở tại và bạn bè quốc tế. Công tác bồi dưỡng, tạo nguồn, kết nạp đảng viên được các cấp ủy quan tâm chỉ đạo chặt chẽ, đúng quy trình, tiêu chuẩn. Các cấp ủy tập trung phát triển đảng viên là trí thức trẻ, lưu học sinh đạt thành tích học tập xuất sắc, tích cực tham gia các phong trào đoàn, hội, cộng đồng. Trung bình hằng năm kết nạp trên 400 quần chúng ưu tú vào Đảng. Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 31 (tháng 12-2021), Đảng bộ Bộ Ngoại giao đã thông qua Nghị quyết số 02/NQ-ĐUB, “Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên”, trong đó xác định nâng cao chất lượng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở ngoài nước là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, góp phần xây dựng ngành ngoại giao tiên phong, toàn diện, hiện đại. Theo kế hoạch, trong năm 2023, Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Ngoại giao sẽ ban hành Nghị quyết nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong Đảng bộ Bộ Ngoại giao, qua đó tiếp tục góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng trong toàn Đảng bộ.
Nhìn chung, đến nay, hệ thống tổ chức đảng ở ngoài nước phát huy tốt vai trò, phù hợp với điều kiện ở ngoài nước, giữ vững vai trò là hạt nhân chính trị, lãnh đạo cán bộ, đảng viên, quần chúng và tuyên truyền, vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, tôn trọng luật pháp và phong tục, tập quán nước sở tại, tham gia xây dựng và thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị của cơ quan đại diện, xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh. Cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong tại các cơ quan đại diện, đơn vị, trường học, trung tâm thương mại của người Việt Nam và các khu vực cư trú, góp phần xây dựng hình ảnh người Việt Nam ở nước sở tại, trong các phong trào vận động, tập hợp quần chúng, cộng đồng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau và phong trào hướng về quê hương, đất nước.
Những vấn đề đặt ra đối với công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở ngoài nước hiện nay
Cùng với quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, công tác xây dựng tổ chức đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở ngoài nước đứng trước những vấn đề mới, đòi hỏi phải xử lý thỏa đáng.
Một là, số lượng đảng viên, người Việt Nam ra nước ngoài ngày càng đông và đa dạng, với nhiều mục đích khác nhau, như công tác, học tập, lao động, đầu tư, kinh doanh, kết hôn, định cư, thăm thân, du lịch, chữa bệnh... Cán bộ, đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập, lao động góp phần làm cầu nối thúc đẩy và làm sâu sắc mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nếu như năm 1961, số lượng cán bộ, đảng viên của Việt Nam đi công tác, học tập mới ở 21 quốc gia thì đến nay, số lượng cán bộ, đảng viên của Việt Nam đi công tác, học tập ở nước ngoài đã trải rộng trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tuy nhiên, cán bộ, đảng viên Việt Nam ra nước ngoài không chỉ phát triển mạnh mẽ về quy mô và phạm vi lan tỏa, mà tỷ lệ biến động hằng năm lớn (gần 30%), trong khi hình thức ra nước ngoài đã thay đổi theo hướng chủ yếu đi đơn lẻ, không tổ chức thành đoàn, đội chặt chẽ như trước.
Hai là, vấn đề đảng viên có thêm quốc tịch nước ngoài. Một số đảng viên trẻ sau khi kết thúc học tập, làm việc, lao động ở nước ngoài xin ở lại hoặc kết hôn với người nước ngoài và định cư lâu dài ở nước ngoài. Một số lượng thế hệ thứ hai, thứ ba trong cộng đồng có quốc tịch nước ngoài có nguyện vọng phấn đấu vào Đảng. Một số đảng viên nhiều tuổi mang hai quốc tịch, có vai trò, vị trí trong cộng đồng, là nòng cốt trong công tác vận động, tập hợp quần chúng vẫn tha thiết gắn bó với Đảng, quê hương, đất nước, mong muốn được tiếp tục giữ danh hiệu đảng viên để tiếp tục tham gia đóng góp xây dựng quê hương, đất nước.
Ba là, một số vấn đề nảy sinh trong công tác đảng ngoài nước, như mô hình tổ chức đảng ở những đảng bộ lớn, địa bàn quan trọng, đông đảng viên, phạm vi rộng, đặt ra yêu cầu giao quyền cấp trên cơ sở; việc theo dõi, quản lý, đánh giá chất lượng và nắm bắt diễn biến tư tưởng khối đảng viên ngoài cơ quan đại diện, đảng viên sinh hoạt lẻ... cần tiếp tục được nghiên cứu, tham mưu có hướng dẫn, quy định cụ thể để vừa bảo đảm công tác quản lý, bảo vệ chính trị nội bộ, vừa tạo thuận lợi cho tổ chức đảng và đảng viên hoạt động phù hợp với điều kiện ở ngoài nước và xu thế hội nhập quốc tế.
Bốn là, đại dịch COVID-19 và cuộc xung đột Nga - U-crai-na đã bộc lộ rõ hơn những trở ngại, đặt ra yêu cầu mới phải triển khai linh hoạt và chủ động thích ứng hơn nữa với tình hình biến chuyển hết sức nhanh chóng của thế giới. Quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang đến cả những cơ hội, thuận lợi, song cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đối với công tác xây dựng Đảng ở trong nước nói chung và công tác xây dựng tổ chức đảng và đảng viên ở nước ngoài nói riêng. Những điều này tác động mạnh mẽ và đặt ra những yêu cầu mới không chỉ đối với các tổ chức đảng, mà còn đối với đội ngũ cán bộ làm công tác đảng của Bộ Ngoại giao, nhất là đội ngũ cấp ủy viên cơ sở và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ngoài.
Một số giải pháp xây dựng, củng cố tổ chức đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở ngoài nước trong bối cảnh mới
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, kể cả trên lĩnh vực tư tưởng, ý thức hệ, xung đột cục bộ, nguy cơ an ninh dự kiến sẽ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức với tính chất phức tạp, gay gắt hơn trước. Các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, như dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh mạng... tiếp tục gia tăng. Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn và khát vọng nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Phát huy tinh thần ngoại giao phụng sự đất nước, ngành ngoại giao sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy và hành động với quyết tâm xây dựng ngành ngoại giao thực sự trong sạch, vững mạnh, toàn diện, hiện đại và chuyên nghiệp, quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại được đề ra tại Đại hội XIII của Đảng. Với mục tiêu để công tác đảng ngoài nước tiếp tục góp phần quan trọng thúc đẩy đường lối đối ngoại, xây dựng, củng cố tổ chức đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở nước ngoài là nhiệm vụ hàng đầu, vừa cấp bách, vừa thường xuyên, lâu dài, vừa đặc thù, đồng thời coi trọng phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và các cấp ủy địa phương có đảng viên, quần chúng đang công tác, lao động, học tập ở nước ngoài, trong thời gian tới, Đảng ủy Bộ Ngoại giao sẽ tập trung vào một số giải pháp chính sau:
Thứ nhất, tiếp tục tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cơ quan liên quan hoàn thiện mô hình tổ chức của các loại hình tổ chức cơ sở đảng. Cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn những cơ chế đặc thù, tạo điều kiện thuận lợi lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức đảng, đảng viên ở ngoài nước. Đổi mới phương thức lãnh đạo, hoàn thiện và chuẩn hóa lề lối, quy trình công tác, quy trình quản lý tổ chức đảng và đảng viên. Kiện toàn, sắp xếp hệ thống tổ chức đảng ngoài nước bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở và phù hợp với xu thế phát triển và tiến trình hội nhập quốc tế. Tập trung nghiên cứu mô hình tổ chức đảng đối với những đảng bộ có nhiệm vụ chính trị quan trọng, quy mô lớn, số lượng đảng viên đông, nhiều tổ chức đảng trực thuộc, hoạt động trên phạm vi rộng.
Thứ hai, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở nước ngoài, tạo sự chuyển biến về chất lượng hoạt động của từng loại hình tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, bảo đảm giữ vững vai trò là hạt nhân chính trị, lãnh đạo cán bộ, đảng viên, quần chúng thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng và nhiệm vụ chính trị, triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đảng ở ngoài nước trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc xây dựng Đảng, quy định của Điều lệ Đảng, nhưng phải linh hoạt, sáng tạo, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, cách thức quản lý đảng viên phù hợp điều kiện hoạt động ở ngoài nước. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cấp trên đối với cơ sở, tập trung củng cố những đơn vị trọng điểm, những cơ sở đảng yếu, kém. Nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng bộ, chi bộ, sinh hoạt cấp ủy theo hướng đơn giản về hình thức, sâu sắc, thiết thực về nội dung, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, tính đặc thù. Nghiên cứu vận dụng hình thức sinh hoạt trực tuyến phù hợp, bảo đảm theo quy định và hướng dẫn của Trung ương. Nâng cao chất lượng công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại, khen thưởng tổ chức đảng và đảng viên hằng năm bảo đảm khách quan, toàn diện, thực chất trên cơ sở thực hiện đánh giá đa chiều, chặt chẽ, công khai gắn với việc thực hiện nhiệm vụ của cá nhân, tập thể.
Thứ ba, tăng cường đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục, nghiên cứu phát triển, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng và công tác đối ngoại. Tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt các nghị quyết của Trung ương, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Kịp thời cung cấp thông tin chính thống cho đảng viên bằng các biện pháp, cách thức phù hợp với địa bàn qua đó, tạo thêm đồng thuận, nhất trí, giữ vững bản lĩnh, niềm tin của cán bộ, đảng viên và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Chủ động định hướng tư tưởng cho quần chúng, cộng đồng trước những luận điệu tuyên truyền sai lệch của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật nội bộ của Đảng. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ động ngăn chặn, phòng ngừa, đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gắn với triển khai Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy. Đối với cán bộ, đảng viên hoạt động ở nước ngoài, xa Tổ quốc, hoạt động độc lập, càng cần phải nhận thức đúng, kiên định lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng “tự miễn dịch”, “tự đề kháng” cao, tránh để các thế lực thù địch, phản động lôi kéo, tác động.
Thứ tư, chú trọng nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng. Các cấp ủy ngoài nước xác định phát triển đảng viên là một nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng, củng cố tổ chức đảng ngoài nước. Tiến hành rà soát, đối khớp danh sách đảng viên giữa các tổ chức đảng ở ngoài nước với các cơ quan, địa phương trong nước. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý đảng viên trong cùng hệ thống Đảng, từng bước số hóa bảo đảm thuận tiện cho việc chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên và quản lý hồ sơ đảng viên.
Thứ năm, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”. Các tổ chức đảng và đảng viên ngành ngoại giao đóng vai trò nòng cốt, là hạt nhân lãnh đạo bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ đối ngoại của các cấp ủy và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Trong môi trường hoạt động đa dạng và phức tạp, thì ý thức “tự kiểm tra”, “tự giám sát”, “tự tu dưỡng”, “tự soi”, “tự sửa” của các cán bộ, đảng viên là hết sức quan trọng. Chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, với lợi ích của dân tộc, có trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị vững vàng, uy tín, hội đủ tố chất “vừa hồng, vừa chuyên”, thể hiện được bản lĩnh, đạo đức, cốt cách ngoại giao Hồ Chí Minh như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Một nhà ngoại giao, một nhà hoạt động đối ngoại giỏi trước hết phải là một nhà chính trị giỏi, luôn lấy lợi ích của quốc gia - dân tộc, của chế độ làm kim chỉ nam trong hành động. Các nhà ngoại giao, các nhà hoạt động đối ngoại cần luôn ghi nhớ rằng, phía sau mình là Đảng, là Đất nước, là Nhân dân, phải tự tin, vững vàng, kiên định và khôn khéo, mưu lược”(5).
Chăm lo xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, nâng cao năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng; chú ý lựa chọn những đảng viên có tâm huyết, tinh thần trách nhiệm cao, có khả năng đoàn kết, tập hợp quần chúng, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để lãnh đạo xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Thực hiện thống nhất mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là người đứng đầu cơ quan đại diện tạo điều kiện gắn kết công tác xây dựng Đảng và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị đối ngoại.
Thứ sáu, phải nhận thức đúng công tác xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở ngoài nước là một bộ phận hữu cơ, gắn bó với hệ thống tổ chức và công tác xây dựng Đảng trong toàn Đảng. Tại Hội nghị tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao chất lượng công tác đảng ngoài nước diễn ra vào ngày 16-12-2021 trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 31, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư nhấn mạnh: “Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng và quản lý đảng viên ở ngoài nước không chỉ là trách nhiệm của Đảng bộ Bộ Ngoại giao và các cấp ủy, tổ chức đảng ở ngoài nước, mà còn là trách nhiệm của các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các cấp ủy địa phương có đảng viên đang công tác, lao động, học tập ở nước ngoài”(6). Do đó, cần tăng cường và phát huy hơn nữa sự phối hợp, tham gia hiệu quả của các cơ quan, ban, ngành, địa phương để nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở ngoài nước thời gian tới.
Với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương, sự nỗ lực phấn đấu của đội ngũ cấp ủy, cán bộ, đảng viên ở ngoài nước, công tác xây dựng, củng cố tổ chức Đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở ngoài nước chắc chắn sẽ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác xây dựng Đảng và công tác đối ngoại góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, vì khát vọng, mục tiêu, tầm nhìn phát triển và nâng cao vị thế đất nước, đóng góp xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
ST

NGHĨA TÌNH ĐỒNG CHÍ TRÊN ĐẤT NƯỚC TRIỆU VOI

 Nhiều năm qua, công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh khi thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại Lào của Quân khu 2 được chính quyền và nhân dân nước bạn quan tâm hỗ trợ, với hàng nghìn HCLS được hồi hương về nước, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của thân nhân, gia đình liệt sĩ.

Dựa vào nhân dân nước bạn để tìm đồng đội
Một ngày cuối tháng 6-2023, tại Nghĩa trang Liệt sĩ Tông Khao (xã Thanh Nưa, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên), Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang, đại diện Ban Công tác đặc biệt Chính phủ và 6 tỉnh Bắc Lào cùng đông đảo đồng bào các dân tộc trong tỉnh bồi hồi xúc động tổ chức lễ đón, truy điệu và an táng HCLS Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại nước bạn Lào. Đợt 2, mùa khô năm 2022-2023, Đội Quy tập mộ liệt sĩ, Cục Chính trị Quân khu 2 đã phối hợp với chính quyền và nhân dân các tỉnh Bắc Lào tìm kiếm, quy tập, đưa về nước 10 HCLS, trong đó có 4 HCLS xác định được danh tính. Có được kết quả nêu trên, bên cạnh tinh thần nỗ lực, chủ động khắc phục khó khăn của cán bộ, nhân viên đơn vị, phải kể đến sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa của nhân dân các tỉnh Bắc Lào.
Gặp Đại tá Hán Văn Hùng, Đội trưởng Đội Quy tập mộ liệt sĩ, Cục Chính trị Quân khu 2 sau chuyến công tác dài ngày bên nước bạn, chúng tôi được anh chia sẻ, những năm qua, công tác tìm kiếm, quy tập HCLS của đơn vị gặp không ít khó khăn, do phần lớn HCLS nằm nơi rừng sâu, núi thẳm, địa hình hiểm trở. Mỗi đợt hành quân tìm kiếm HCLS của đơn vị thường kéo dài 7-10 ngày, trong điều kiện không có đường giao thông, thiếu nước sạch, không có điện lưới và cả sóng điện thoại. Trước khó khăn đó, cấp ủy, chỉ huy Đội chủ động phối hợp với chính quyền và nhân dân nước bạn trong việc phát hiện, xác định các vị trí an táng liệt sĩ.
Đại tá Hán Văn Hùng nhớ lại, trung tuần tháng 12-2022, anh nhận được cuộc gọi từ một số máy lạ, giới thiệu tên là Lun Sẻng Vi Lay Phon, 71 tuổi, trú tại bản Moc Muong, huyện Pak Ou, tỉnh Luang Prabang (Lào) thông báo việc phát hiện một số chiếc dây lưng tại khu vực khe suối giáp ranh bản Moc Muong. Ngay ngày hôm sau, anh em đơn vị được ông nhiệt tình chỉ dẫn đến khu vực phát hiện di vật có khả năng của liệt sĩ Quân tình nguyện Việt Nam. Tại đây, đơn vị đã cất bốc, quy tập được 3 HCLS là chiến sĩ Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 82 hy sinh, gồm: Lò Văn Kịnh, sinh năm 1949, quê quán: Mường Mun (Tuần Giáo, Điện Biên), nhập ngũ năm 1968, hy sinh năm 1970; Hoàng Văn Khốn, sinh năm 1945, nhập ngũ năm 1968, quê quán: Chiềng Đông (Yên Châu, Sơn La); Cao Xuân Ngãi, sinh năm 1941, nhập ngũ năm 1961, quê quán: Đông Sơn (Chương Mỹ, Hà Tây, nay là Hà Nội), hy sinh năm 1970.
Mới đây, đơn vị cũng được ông Thong Sayson, 65 tuổi, người bản Sop Hun, huyện Muang Ngoy, tỉnh Luang Prabang tìm đến tận đơn vị, cung cấp thông tin về vị trí doanh trại đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam đóng quân trước đây. Được sự chỉ dẫn nhiệt tình của ông Thong Sayson, đơn vị phát hiện, cất bốc được hài cốt các liệt sĩ: Đinh Công Thân, sinh năm 1938, cấp bậc: Trung sĩ, chức vụ: Tiểu đội trưởng, đơn vị: Đại đội 12, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 335, Quân khu Tây Bắc (trước đây), hy sinh ngày 29-4-1967; Lường Văn Xương, cấp bậc: Binh nhất, chức vụ: Chiến sĩ, đơn vị: Đại đội 7, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 335, Quân khu Tây Bắc... Đối chiếu hiện vật do gia đình cung cấp và thực tế tìm thấy, chỉ huy đơn vị đã báo cáo Ban chỉ đạo 515 Quân khu 2, đồng thời bàn giao cho gia đình, địa phương tổ chức an táng theo đúng quy định. Được biết, bên cạnh những thông tin quan trọng do người dân bản địa cung cấp, cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng các tỉnh Bắc Lào cũng sẵn sàng chia sẻ thông tin, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Đề cao trách nhiệm trong công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ
Trong cuộc kháng chiến giành độc lập của nhân dân các dân tộc Lào trước đây, nhiều cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã anh dũng hy sinh khi sát cánh cùng bộ đội Pathet và nhân dân các dân tộc Lào. Trao đổi với Thiếu tướng Đinh Mạnh Phác, Phó tư lệnh Quân khu 2, chúng tôi được biết, từ năm 1994 đến nay, từ sự hỗ trợ, giúp đỡ trách nhiệm của nhân dân các dân tộc Lào nói chung, các tỉnh Bắc Lào nói riêng, Đội Quy tập mộ liệt sĩ, Cục Chính trị Quân khu 2 đã xác minh, kết luận 4.286 thông tin về mộ liệt sĩ; tìm kiếm, cất bốc, hồi hương được 1.812 HCLS, trong đó 142 liệt sĩ có đầy đủ thông tin. Riêng từ năm 2019 đến nay, từ sự giúp đỡ của bạn, đơn vị đã quy tập được 107 HCLS Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam, trong đó 16 HCLS có đầy đủ thông tin; 45 HCLS chỉ có tên, chưa xác định được quê quán và 46 HCLS chưa xác định được danh tính.
Theo Đại tá Nguyễn Văn Chính, Trưởng phòng Chính sách, Cục Chính trị Quân khu 2, cùng với công tác tìm kiếm, quy tập HCLS hy sinh bên nước bạn Lào, Ban chỉ đạo 515 Quân khu 2 đặc biệt coi trọng công tác thu thập, kết nối, xử lý thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ, thân nhân liệt sĩ; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương quán triệt triển khai thực hiện nghiêm túc việc rà soát; hoàn thiện hồ sơ, danh sách liệt sĩ ở 3 cấp (xã, huyện, tỉnh) bảo đảm chặt chẽ. Hiện các đơn vị đã hoàn thiện danh sách 17.031 liệt sĩ do cơ quan, đơn vị, địa phương quản lý qua các thời kỳ. Rà soát, chuyển giao danh sách theo quê quán 13.373 quân nhân hy sinh, từ trần cho các địa phương; chủ động kiểm đếm tại 336 nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn, với tổng 37.815 mộ, phục vụ tốt cho việc đối chiếu xác minh thông tin, kết luận địa bàn xã, huyện, tỉnh, làm căn cứ để lập bản đồ tìm kiếm, quy tập HCLS.
Trung tướng Phạm Đức Duyên, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 2 khẳng định, những năm qua, Đảng ủy, Bộ tư lệnh, Ban chỉ đạo 515 Quân khu 2 thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan chức năng, tập trung mọi nguồn lực, phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm trong công tác tìm kiếm, quy tập HCLS. Khi thân nhân liệt sĩ có nhu cầu di chuyển HCLS về địa phương hoặc đi tìm mộ liệt sĩ, ngoài việc hướng dẫn thủ tục, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 2 chỉ đạo cơ quan quân sự các cấp kịp thời tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương hỗ trợ kinh phí, thực hiện lễ truy điệu, an táng trang trọng, đúng quy định. Đặc biệt, bên cạnh hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, lực lượng quy tập mộ liệt sĩ của Quân khu còn tích cực tham gia công tác xã hội, hỗ trợ nhân dân nước bạn xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, góp phần vào thành công của công tác đối ngoại quốc phòng, đồng thời quảng bá hình ảnh đất nước, con người, Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, hình ảnh, truyền thống vẻ vang của lực lượng vũ trang Tây Bắc./.
ST

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ 27/7

 1. Hoàn cảnh ra đời

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam) ra đời chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Với tinh thần “.... thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu chống lại quân xâm lược. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến quyết liệt chống thực dân Pháp, nhiều đồng bào, chiến sỹ đã ngã xuống, hy sinh một phần xương máu trên các chiến trường. Với truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và nhân dân ta đã dành tất cả tình thương yêu cho các chiến sĩ và đồng bào đã vì độc lập, tự do của Tổ quốc mà bị thương hoặc hy sinh.
Đầu năm 1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn ra đời ở Thuận Hóa (Bình Trị Thiên), rồi đến Hà Nội và một số địa phương khác... Sau đó ít lâu được đổi thành Hội giúp binh sĩ bị thương. Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự của Tổng Hội.
Ngày 28-5-1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng tại Nhà hát Lớn Hà Nội để kêu gọi mọi người gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sỹ bị thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự.
Ngày 17-11-1946, cũng tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hội Liên Hiệp Quốc dân Việt Nam đã tổ chức lễ xung phong “Mùa đông binh sỹ”, mở đầu cuộc vận động “Mùa đông binh sỹ” trong cả nước để giúp chiến sỹ trong mùa đông giá rét. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự buổi lễ và Người đã cởi chiếc áo đang mặc để tặng binh sỹ.
Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 19-12-1946, theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng dậy kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên, đời sống của chiến sỹ, nhất là những chiến sỹ bị thương gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều quyết định với những chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sỹ, góp phần ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sỹ.
Ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Sắc lệnh số 20/SL, quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sỹ đối với cuộc kháng chiến và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ.
Tháng 6-1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội phụ nữ Cứu quốc, Trung ương Đoàn thanh niên Cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin Tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Bắc Thái) để bàn về công tác thương binh, liệt sỹ và thực hiện Chỉ thị của Hồ Chủ Tịch chọn một ngày nào đó làm ngày Thương binh Liệt sỹ. Tại cuộc họp này các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27 tháng 7 là ngày “Thương binh toàn quốc”. Từ đó hàng năm cứ vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư, quà thăm hỏi, động viên, nhắc nhở mọi người phải biết ơn và hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sỹ. Đặc biệt, từ sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến công tác thương binh, liệt sỹ.
Từ tháng 7 năm 1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi “Ngày Thương binh toàn quốc” thành “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8-7-1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hằng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” của cả nước.
Mỗi năm cứ đến “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” nhất là vào dịp kỷ niệm năm tròn, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta lại tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, đầy tình nghĩa chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng.
2. Ý nghĩa
Ngày Thương binh Liệt sỹ có ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội sâu sắc, đó là:
- Truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người đã hi sinh, cống hiến vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; qua đó phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
- Tôn vinh các anh hùng, liệt sỹ, thương binh và người có công; khẳng định sự cống hiến, hy sinh của họ cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân là vô giá. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công là vinh dự, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và mai sau.
- Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trân trọng đánh giá cao những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sỹ đối với Tổ quốc; đồng thời cũng luôn chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và lòng biết ơn sâu sắc của các tầng lớp nhân dân, của các thế hệ cách mạng đối với thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng./.
ST

Tri ân 27/7

 TRI ÂN!


Tri ân tất cả những người

Thanh xuân ngã xuống cho đời rạng danh

Qua rồi những cuộc chiến tranh

Nhân dân ta đã lại giành tự do.


Nhờ ơn Đảng có cơm no

Áo chăn ấm áp, thơm tho ấm lòng

Ngàn đời nhớ, vạn đời mong

Xin tri ân! giữa cõi vòng nhân sinh.


Cúi đầu gửi tấm chân tình

Biết ơn Người đã hy sinh cho đời

Nén tâm nhang nói thay lời

Tri ân vọng bốn phương trời bao la.


(27/7/2023)

Đối tượng Nguyễn Văn Đài chống phá Đảng. Nhà nước


Ngay sau khi một nhóm đối tượng có tổ chức, rất manh động, dùng vũ khí, hung khí nguy hiểm gây mất ANTT nghiêm trọng, tấn công vào trụ sở UBND xã Ea Ktur và UBND xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, sát hại 4 cán bộ Công an, 2 cán bộ xã, 3 người dân và làm bị thương một số người khác với hành vi rất man rợ, Nguyễn Văn Đài lập tức lên "kênh truyền thông" của mình ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật. Trong lúc lực lượng chức năng và quần chúng nhân dân địa phương nỗ lực truy lùng, bắt giữ những đối tượng có vũ trang liên quan tới vụ việc đang lẩn trốn ngoài xã hội, có nguy cơ đe dọa, gây nguy hiểm tới tính mạng, tài sản của người dân thì Nguyễn Văn Đài đã nhanh nhảu lên mạng xã hội "luận đàm" với giọng điệu vô cùng hả hê.


Trên trang Facebook cá nhân "Nguyễn Văn Đài", đối tượng này đăng dòng trạng thái kích động người dân nổi dậy chống Đảng và Nhà nước.


Dĩ nhiên, người dân Việt Nam chẳng ai ngây thơ đến nỗi bị một đối tượng phản động "dắt mũi", trừ vài thành phần cùng hội cùng thuyền với y. Cái kết là Nguyễn Văn Đài được cộng đồng mạng yêu nước "tặng" cho hơn 2.000 "cục gạch" với dòng trạng thái trên. Những ngày sau đó, Nguyễn Văn Đài liên tiếp sản xuất ra các đoạn video xuyên tạc sự thật về nhóm đối tượng gây mất ANTT nghiêm trọng ở Đắk Lắk, gây bức xúc dư luận.


Bất cứ vụ việc gì liên quan tới ANTT, nhất là vụ việc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại UBND xã Ea Ktur và Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, công tác điều tra, xác định nguyên nhân, làm rõ sự việc đều phải được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và hết sức thận trọng nhằm đảm bảo đánh giá khách quan, toàn diện, đúng bản chất sự việc, không gây oan sai, làm ảnh hưởng tới người khác. Vậy mà ngay lập tức, Nguyễn Văn Đài đã lên "kênh truyền thông" của mình quy chụp, khẳng định với nội dung: "Lộ diện những kẻ đứng đằng sau kích động, trang bị, huấn luyện cho những người nổi dậy Tây Nguyên".


Đối tượng này vu khống rằng, Việt Nam đàn áp tôn giáo, phân biệt gây chia rẽ các sắc tộc ở Tây Nguyên và muốn tiêu diệt những người có tiếng nói đối lập nên đã "vũ trang hóa" cho những người vừa gây ra tội ác kinh hoàng ở Đắk Lắk để lấy cớ đàn áp, tiêu diệt các tổ chức tôn giáo, nhóm đối lập. Căn cứ đối tượng này đưa ra là nhóm trên "được trang bị vũ khí, có quần áo rằn ri, được huấn luyện".


Nguyễn Văn Đài lập luận rằng: vũ khí, quần áo rằn ri không thể chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam. Các tổ chức ở nước ngoài không thể thâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam để tổ chức huấn luyện cho nhóm người trên. Theo Đài, nhóm đối tượng gây ra tội ác tày trời ở Đắk Lắk vừa qua có được những thứ này là do cơ quan chức năng trong nước cung cấp. Quả là một sự xuyên tạc, vu khống không gì có thể trơ trẽn hơn.


Thực tế là, sau khi xảy ra vụ việc, lực lượng chức năng các tỉnh Tây Nguyên đã kiểm tra, phát hiện và thu giữ hàng nghìn bộ quần áo rằn ri (không có quân hàm) không rõ nguồn gốc, xuất xứ được bày bán để xử lý theo quy định. Riêng về vũ khí, từ ngày đất nước thống nhất tới nay, cơ quan chức năng đã có nhiều cố gắng trong công tác tuyên truyền, kêu gọi người dân giao nộp các loại vũ khí, hung khí nguy hiểm, vật liệu nổ và thu được nhiều kết quả tích cực. Hằng năm, Công an các tỉnh Tây Nguyên đều phối hợp với chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, phát động những đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, chương trình đổi vũ khí, hung khí lấy gạo… Hàng trăm khẩu súng các loại đã được người dân tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an thu hồi, tiêu hủy. Thế nhưng, thực tế vẫn còn không ít các loại vũ khí quân dụng còn sót lại từ thời chiến tranh hoặc súng tự chế đang được cất giữ trong một số gia đình, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số. Người dân bản địa thường xem các loại vũ khí này như là kỷ vật của tổ tiên, dòng họ, thậm chí có người còn quan niệm là "vật thiêng", dùng để thờ cúng.


Về vấn đề này, lực lượng Công an đang tiếp tục tuyên truyền, vận động bà con tự nguyện giao nộp, đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp tàng trữ, sử dụng vũ khí, hung khí nguy hiểm và vật liệu nổ trái phép, gây ảnh hưởng tới ANTT. Với nội dung nhóm người trên được huấn luyện để hành động. Người viết bài này chưa có điều kiện để kiểm chứng cũng không rõ Nguyễn Văn Đài căn cứ vào đâu để khẳng định họ được huấn luyện.


Thực tế là, hàng loạt những video xuyên tạc sự thật, vu khống Đảng và Nhà nước, vu khống lực lượng Công an được Nguyễn Văn Đài đăng tải trên các nền tảng xã hội liên quan tới việc một nhóm người gây ra tội ác dã man ở Đắk Lắk đã bị cộng đồng mạng bóc mẽ. Không chỉ bị cộng đồng người Việt trong và ngoài nước lên án, tẩy chay, dưới những video này của Nguyễn Văn Đài, cộng đồng mạng còn "khuyến mại" từ hàng trăm tới hàng nghìn bình luận với nội dung chỉ trích, lên án những luận điệu xuyên tạc bịp bợm của y. Cay cú vì "được tặng" quá nhiều "gạch đá", Nguyễn Văn Đài quay sang đăng dòng trạng thái với nội dung chửi đổng cộng đồng mạng.


Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân; bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng; bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. Những quan điểm nhất quán này đã được ghi nhận trong Hiến pháp, kể từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp 2013. Trong khi đó, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc được thể hiện trong Nghị quyết các kỳ đại hội, Kết luận số 65/KL/TW ngày 30/10/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.


Ngày 28/1/2022, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 10/NQ-CP về việc Ban hành chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Qua đó càng cho thấy, dân tộc, tôn giáo là vấn đề thường trực, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, hoàn toàn không như sự bịa đặt, xuyên tạc, vu khống của Nguyễn Văn 

Không ai có thể xuyên tạc tinh thần quốc tế cao cả của Quân đội ta

Một trong những phẩm chất cao quý làm nên nhân cách tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam trong gần tám thập niên qua là cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã không ngại gian khổ, hy sinh, sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, đóng góp vào cuộc sống hòa bình của nhân loại. Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến sai trái, lạc lõng nhằm phủ nhận tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội ta. Ý kiến sai trái tự phơi bày âm mưu đen tối Đêm 12-2-2023, Đoàn cứu hộ, cứu nạn của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất. Việc tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục thảm họa động đất thể hiện chính sách đối ngoại ưu việt, trách nhiệm cao cả của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Việc làm này cũng khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm và năng lực tác chiến trong thời bình của Quân đội ta trước các vấn đề an ninh phi truyền thống và góp phần thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng vì hòa bình của Việt Nam. Tuy nhiên, những người thiếu thiện chí, có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và Quân đội ta lại không nghĩ như thế. Họ cho rằng, “tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ là việc làm không cần thiết”, “là ôm rơm nặng bụng”. Thậm chí có người còn cho rằng, việc làm đó của Quân đội ta là “khôn chợ, dại nhà”, “việc nhà thì lười nhác, việc chú bác thì siêng năng” (!). Ác ý hơn có người còn cho rằng, “đất nước còn nghèo, nhân dân còn đói khổ, tại sao quân đội lại đem tiền của ra nước ngoài mà không dùng nó để cứu giúp đồng bào ta”, lại “lăng xăng đi cứu người” (!)... Những luận điệu nêu trên là sai trái, hết sức vô cảm, cần phải lên án, bác bỏ. Nó không những tạo ra tâm lý nghi ngờ, bất an, sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm đối với một bộ phận người dân, nhất là một số thân nhân, gia đình có quân nhân nhận nhiệm vụ đến Thổ Nhĩ Kỳ tham gia cứu hộ, cứu nạn, mà còn bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta; làm phai mờ hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Tỏa sáng tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội ta Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi lời chia buồn sâu sắc đến Chính phủ và người dân của hai quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ và Syria về những thiệt hại vô cùng to lớn do thảm họa động đất gây ra, làm hàng chục nghìn người thiệt mạng. Thấu hiểu, sẻ chia về những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn ấy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định cử đoàn công tác của Quân đội nhân dân Việt Nam sang tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Thổ Nhĩ Kỳ, giúp bạn tìm kiếm các nạn nhân xấu số và cứu chữa những nạn nhân còn sống, đưa họ về trạng thái an toàn; tiếp tục giúp giải quyết, khắc phục hậu quả thảm họa, sớm đem lại cuộc sống bình thường mới cho người dân nơi xảy ra động đất ở đất nước này. Tham gia đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn là thực hiện mục đích nhân đạo. Trong lịch sử, Quân đội ta đã từng giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc, coi “giúp bạn là tự giúp mình”. Đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn của Quân đội ta là các quân nhân đã được đào tạo cơ bản, có sức khỏe, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ tốt. Trong số đó có nhiều quân nhân từng tham gia cứu hộ, cứu nạn tại hai tỉnh Quảng Trị và Quảng Nam năm 2020 và có mặt tại các tâm điểm phòng, chống dịch Covid-19 năm 2021 ở các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh... Trong đoàn công tác cũng có một số quân nhân từng tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan. Thiên tai, thảm họa là điều không ai muốn và bất khả kháng. Mất mát về tiền của có thể bù đắp, có thể tạo ra bằng sự quyên góp của cộng đồng nhưng thương vong về con người là vô cùng to lớn, không thể bù đắp được. Việc Quân đội ta tham gia giúp bạn khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa là góp phần làm vơi đi nỗi đau thương, mất mát của một dân tộc, là nghĩa tình bạn bè trong lúc hoạn nạn có nhau, chia bùi sẻ ngọt cùng nhau. Trong buổi chia tay, tiễn 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã biểu dương tinh thần chủ động, tích cực khắc phục khó khăn, thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị có liên quan. Từng thành viên trong đoàn công tác sẵn sàng nhận nhiệm vụ, họ đã rất khẩn trương thu xếp công việc gia đình, cơ quan để lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, đáp ứng yêu cầu, sự chờ đợi lực lượng của các quốc gia đến cứu hộ, cứu nạn, trong đó có Việt Nam. Từng trải qua những năm tháng chiến tranh biết bao gian khổ, đau thương, mất mát, hơn ai hết, dân tộc, nhân dân Việt Nam và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn khát vọng được sống trong hòa bình. Cán bộ, chiến sĩ quân đội mong muốn an tâm công tác, xây dựng đơn vị; không ai muốn rời xa đồng đội, người thân đi đến nơi “đất khách quê người”, đối mặt với gian khổ, hiểm nguy. Thế nhưng, do yêu cầu, nhiệm vụ và thực hiện công việc nhân đạo, họ đã chấp nhận rời xa người thân, tổ ấm gia đình, xa đơn vị, xa đồng chí, đồng đội để lên đường thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trong số các quân nhân sang Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện nhiệm vụ lần này có một quân nhân chỉ ít ngày nữa sẽ xây dựng gia đình, nhưng vẫn xung phong lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để làm quà kỷ niệm ngày cưới. Đó là bằng chứng sinh động thể hiện tinh thần cống hiến, hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình. Vì việc chung, lợi ích chung nên sẵn sàng gác lại việc riêng, lợi ích riêng - đó là phẩm chất, bản lĩnh của người quân nhân cách mạng đã được giáo dục, nuôi dưỡng, tôi rèn bền bỉ trong môi trường quân đội. Tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống Hơn ai hết, quân nhân mang bộ quân phục màu xanh, đội mũ đeo sao vàng, trên vai, trên ngực áo mang quân hàm tươi màu cờ đỏ và trong trái tim là tình yêu Tổ quốc, hình bóng người thân, gia đình, đơn vị. Họ là Bộ đội Cụ Hồ đi làm nhiệm vụ quốc tế mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ủy thác. Gánh trên vai trách nhiệm thiêng liêng đối với Tổ quốc, niềm vinh dự, tự hào là Bộ đội Cụ Hồ, tấm lòng tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân, Đoàn cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhì Kỳ đại diện cho dân tộc Việt Nam, góp sức mình để lan tỏa tinh thần nhân ái, “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam để tương trợ, giúp bạn trong lúc khó khăn, hoạn nạn, hiểm nghèo. Đây là việc làm đầy tính nhân văn, nhân đạo, tất cả vì con người, vì sự tiến bộ xã hội. Chính điều đó góp phần lan tỏa mạnh mẽ chính sách nhân đạo, đoàn kết, vì hòa bình của Đảng, Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Hàng triệu triệu con mắt trên hành tinh đang dõi theo việc làm, trách nhiệm của của họ đối với thể diện quốc gia, hình ảnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với vai trò đại diện cho đất nước và cho Quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta đang gắng sức khắc phục khó khăn, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao phó. Hơn thế, họ còn có nhiệm vụ tạo ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế và chính quyền, nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong mắt bạn bè quốc tế. Quân đội ta là Quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Quân đội ta không có mục đích nào khác. Nếu không phải vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy thì cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đâu dám xả thân hy sinh vì cách mạng; cùng nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã làm nòng cốt và cùng toàn dân đánh thắng hai thế lực xâm lược cường bạo nhất nhì thế giới là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; đồng thời tình nguyện giúp đỡ nhân dân Lào, đặc biệt là giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, hồi sinh và phát triển đất nước. Phát huy tinh thần quốc tế cao cả đó, việc tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua hoạn nạn, thảm họa động đất là một hoạt động nhân văn trong các hoạt động “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” của Quân đội ta trong thời bình. Sự thật ấy là minh chứng đầy thuyết phục để bác bỏ mọi sự xuyên tạc, ác ý của những kẻ xấu./

Nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước

Ngay từ những ngày thành lập, Đảng ta đã xác định chính sách dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, là một yếu tố mang tính quyết định góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, chính sách dân tộc không ngừng được Đảng, Nhà nước ta quan tâm bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện để phù hợp tình hình thực tiễn và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Đặc biệt trong những năm gần đây các nguyên tắc, vấn đề cơ bản về vấn đề dân tộc tiếp tục được khẳng định và bổ sung nhằm phát huy mọi nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Vừa qua, lợi dụng sự việc một nhóm đối tượng gây mất an ninh trật tự ở Đắk Lắk, các tổ chức, cá nhân chống phá, thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam lập tức khai thác triệt để nhằm vu cáo chính quyền, xuyên tạc các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Đáng chú ý, chiêu bài vu cáo “Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền” tiếp tục được các đối tượng chống phá triệt để sử dụng như cho rằng nguyên nhân của vụ việc là do “người dân tộc không khuất phục, không quy thuận người Kinh”, “do căng thẳng sắc tộc, tôn giáo”. Có thể thấy, đây là một trong những chiêu trò quen thuộc của chúng nhằm cố tình xuyên tạc bản chất của vụ việc, hướng lái dư luận theo những ý đồ đen tối. Trong khi đó, dựa trên những kết quả điều tra thực tế, cơ quan chức năng đã đánh giá đây là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của các đối tượng rất man rợ, mất nhân tính, thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng. Lực lượng công an đã có tài liệu, chứng cứ chứng minh vụ án xảy ra còn do có sự hậu thuẫn, chỉ đạo từ một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, thậm chí cử đối tượng từ nước ngoài xâm nhập trái phép về Việt Nam dàn dựng, chỉ đạo tấn công khủng bố. Hiện nay các cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật. Thông tin về vụ việc đã được công bố kịp thời trên các phương tiện truyền thông đại chúng để người dân chủ động nắm bắt, hiểu rõ bản chất vấn đề, tuyệt đối không tin, nghe theo những luận điệu xuyên tạc của các đối tượng xấu. Vụ việc nêu trên một lần nữa cho thấy các thế lực thù địch, phản động luôn dùng mọi âm mưu, thủ đoạn hòng chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc chính sách dân tộc ở Việt Nam. Thực tế, nhiều năm qua, mỗi khi xảy ra vấn đề nào có liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số thì các đối tượng này đều tìm cách triệt để lợi dụng với mục đích kích động mâu thuẫn, xung đột, làm căng thẳng tình hình, từ đó tìm cách mua chuộc, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, bất mãn thực hiện các hành vi chống phá, gây rối theo sự điều hành, dẫn dắt của chúng. Bằng cách này chúng âm mưu tạo ra những mầm mống ly khai, chia rẽ nội bộ từ bên trong, gây bất ổn về chính trị, làm suy yếu chính quyền địa phương. Thí dụ việc một số đồng bào dân tộc thiểu số do chưa nắm rõ thông tin nên chưa đồng tình với một vài chính sách ở các địa phương, đã được các đối tượng phản động lập tức xuyên tạc thành “chính quyền đàn áp người dân tộc thiểu số, vi phạm quyền tự do tôn giáo, nhân quyền của đồng bào du canh du cư”, nhằm kích động người dân bất hợp tác, chống đối cơ quan chức năng, hủy hoại tài sản của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn. Bên cạnh đó các đối tượng chống phá thường xuyên khai thác sự chênh lệch về mức hưởng thụ đời sống văn hóa, tinh thần giữa các vùng miền để khoét sâu những khó khăn, thiếu thốn của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, những nơi xảy ra thiên tai, dịch bệnh từ đó xuyên tạc rằng “Đảng, Nhà nước ta thiếu quan tâm”, “đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử”... Chưa kể, lợi dụng một số yếu kém, sai phạm trong công tác quản lý, điều hành ở một số địa phương, các đối tượng chống phá lập tức lu loa, biến thành vấn đề chính sách dân tộc của Việt Nam là thiếu bình đẳng, không công bằng. Mưu đồ sâu xa là từ việc gây ra những “đốm lửa nhỏ” như vậy các đối tượng chống phá hy vọng sẽ thổi bùng lên thành những “đám cháy” lớn để kích động lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá Đảng, Nhà nước, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế nhằm “quốc tế hóa” các vấn đề nội bộ, từ đó lật đổ chế độ, cản trở sự phát triển của Việt Nam. Cần khẳng định rằng, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán về chủ trương, chính sách dân tộc, theo nguyên tắc đã được xác định trong Hiến pháp 2013 đó là: nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước (Điều 5). Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước ta còn thường xuyên có những chủ trương, chính sách, văn bản chỉ đạo, định hướng đối với công tác dân tộc nhằm hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc đều bình đẳng, được tôn trọng như nhau, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Tiêu biểu có thể kể đến Nghị quyết số 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/11/1989 về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Đảng ta đã ban hành nghị quyết riêng về công tác dân tộc (Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 12/3/2003). Quốc hội đã ban hành các luật khung và luật chuyên ngành nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho việc bảo đảm và thúc đẩy các quyền cũng như chính sách hỗ trợ phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số. Thống kê sơ bộ cho thấy từ năm 2010 đến 2022 Chính phủ đã xây dựng, ban hành 118 văn bản chính sách; 54 đề án, chính sách dân tộc trực tiếp hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó có các nhóm chính sách: về giảm nghèo bền vững; giáo dục, đào tạo; y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số, miền núi và nhóm chính sách, cơ chế đặc thù về truyền thông và tuyên truyền vận động, phổ biến giáo dục pháp luật,... Đáng chú ý, ngày 28/1/2022 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 10/NQ-CP về chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó tiếp tục nhấn mạnh quan điểm kiên trì và nhất quán thực hiện các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển; phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, ý chí tự lực, tự cường, lòng tự hào dân tộc trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, hướng tới mục tiêu vì một Việt Nam thịnh vượng. Từ những chủ trương, chính sách đúng đắn, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sát sao của Đảng, Nhà nước, những chính sách dân tộc đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Kết luận số 65-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 30/10/2019 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới ghi nhận: công tác dân tộc có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố lòng tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước. Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp đã cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết phù hợp với điều kiện của địa phương, đơn vị. Nhà nước đã ban hành chính sách, pháp luật, bố trí nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tăng cường vận động, tuyên truyền, động viên đồng bào dân tộc thiểu số tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, phát huy nội lực để phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao cuộc sống, đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được quan tâm đầu tư, góp phần tạo diện mạo mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện rõ nét. Sự nghiệp giáo dục-đào tạo và chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ; các giá trị văn hóa dân tộc truyền thống được bảo tồn và phát huy. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cơ bản được bảo đảm; đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố. Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc, miền núi được tăng cường, đội ngũ cán bộ được kiện toàn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ. Quốc phòng, an ninh, chính trị được giữ vững, ổn định. Tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025, Đảng ta khẳng định: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 được triển khai mạnh mẽ, chuyển từ cách tiếp cận đơn chiều sang đa chiều, tập trung vào nhóm, hộ nghèo nhất. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020, bình quân giai đoạn 2016-2020 giảm hơn 1,4%/năm. Kết cấu hạ tầng thiết yếu ở các huyện nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường. Đời sống người dân không ngừng được cải thiện; tạo sinh kế và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam. Trong suốt các chặng đường phát triển của đất nước, Đảng ta luôn đưa ra nhiều chủ trương, quyết sách và biện pháp quan trọng để tiếp tục củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, chú trọng chăm lo đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, động viên nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền. Tuy vậy trong quá trình thực hiện có lúc, có nơi vẫn còn một số hạn chế, bất cập, một vài chính sách dân tộc chưa thật sự phát huy hiệu quả, vẫn còn những mâu thuẫn, vướng mắc chưa được giải quyết dứt điểm. Từ đây đòi hỏi hệ thống chính quyền cơ sở, các cơ quan, ban, ngành liên quan tiếp tục nâng cao trách nhiệm, kịp thời khắc phục những yếu kém, khuyết điểm. Không phủ nhận những hạn chế, nhưng chúng ta cũng kiên quyết phản bác những luận điệu xuyên tạc thành tựu của Việt Nam đã đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc. Sự phát triển của đất nước về mọi mặt, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện và nâng cao, niềm tin của người dân đối với sự lãnh đạo của Đảng được củng cố... là minh chứng thuyết phục về sự đúng đắn trong những chủ trương chính sách của Đảng ta về công tác dân tộc, tạo nền tảng quan trọng để đất nước tiếp tục vững bước tiến về phía trước./.

Không thể phủ nhận ý nghĩa và giá trị của phong trào thi đua yêu nước

75 năm sau khi ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948-11/6/2023), tư tưởng Hồ Chí Minh về mục đích, nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức các phong trào thi đua yêu nước thiết thực, hiệu quả phù hợp với nhiệm vụ của từng giai đoạn dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự. Bất chấp sự xuyên tạc của các phần tử cơ hội, phản động, các thế lực thù địch thì sức sống và giá trị không thể phủ nhận của phong trào thi đua yêu nước trong những thập niên qua chính là minh chứng sinh động nhất bác bỏ những luận điệu phản động, bôi đen sự thật về thi đua yêu nước được tung lên mạng xã hội thời gian qua! THI ĐUA YÊU NƯỚC ĐỂ GÂY “HẠNH PHÚC CHO DÂN” Trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: Mục đích của thi đua là để “Diệt giặc đói, Diệt giặc dốt, Diệt giặc ngoại xâm”[1] nhằm thực hiện “Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc[2]”. Vì thế, để thi đua trở thành phong trào cách mạng của quần chúng, phát triển rộng rãi, sôi nổi, ăn sâu, lan rộng khắp về mọi mặt, thì “cách làm là dựa vào: Lực lượng của dân, Tinh thần của dân, để gây: Hạnh phúc cho dân”[3] và “các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia công việc, Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn, Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp, Đồng bào công nông thi đua sản xuất, Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh, Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân, Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng”[4]... Sau lời kêu gọi thi đua yêu nước của Người, những năm sau đó (trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước) trên khắp mọi miền của Tổ quốc, các phong trào thi đua yêu nước không chỉ là động lực của sự phát triển, là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, mà còn là một nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Rất giản dị và ngắn gọn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng “công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua”[5] và thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của các tầng lớp nhân dân; là phát huy sự năng động, khả năng sáng tạo, tính tích cực, kỷ luật, tinh thần đoàn kết, truyền thống yêu nước của mỗi người, mỗi tập thể để hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao, cho nên “thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”[6]. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, thì thi đua chính là động lực để phát huy lòng yêu nước và thông qua phong trào thi đua để bồi dưỡng, nâng cao lòng yêu nước, làm cho lòng yêu nước trở nên sinh động trong thực tiễn bằng chính suy nghĩ, hành động cụ thể, tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân, mỗi tập thể trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Vì thi đua “là một cách yêu nước thiết thực và tích cực” và yêu nước không chỉ là tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân; luôn gắn liền với bổn phận, trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước, mà còn là một truyền thống quý báu của dân tộc, là một giá trị tinh thần, luôn luôn đồng hành cùng dân tộc trong hành trình dựng nước và giữ nước, cho nên “thi đua ái quốclà ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”[7], chứ không phải là “lợi dụng công tác thi đua để thực hiện mục đích cá nhân”; là xuyên tạc tính tích cực và bản chất thi đua thành “ganh đua”, “tranh đoạt” như các thông tin xấu độc bôi đen sự thật. Thực tế cũng cho thấy, điều đặc biệt để làm nên thắng lợi của các phong trào thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là “1. Thi đua ái quốc phải có phương hướng đúng và vững. Nghĩa là phải nâng cao lòng nồng nàn yêu nước và giác ngộ chính trị của mọi người. Yêu nước thì phải thi đua, thi đua tức là yêu nước. 2. Phải có kế hoạch tỉ mỉ. Kế hoạch ấy phải do từng đơn vị nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân bàn bạc kỹ, hiểu biết thấu, vui vẻ làm. Nghĩa là phải sao cho mỗi nhóm, mỗi người tự giác tự động. 3. Nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực. Khi đặt kế hoạch phải tuyệt đối tránh sự sơ suất "đại khái", quá cao, phiền phức, miễn cưỡng. 4. Thi đua không nên thiên về một phía. Phải điều hoà 3 nhiệm vụ với nhau: Tăng gia sản xuất, công việc hằng ngày và học tập (chính trị, văn hoá, tình hình trong nước và thế giới). 5. Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng. Trước khi thi đua phải chuẩn bị đầy đủ (giải thích, cổ động, xét kỹ kế hoạch mỗi nhóm, mỗi người). Trong lúc thi đua, phải thiết thực đôn đốc, giúp đỡ, sửa đổi. Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi”[8]… Đi liền cùng đó là phải làm tốt công tác tư tưởng, vận động, tuyên truyền để toàn dân hiểu rõ, tự nguyện, tích cực tham gia phong trào, vì “tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý (...) Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước”[9]. Trong quá trình triển khai thực hiện, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và các đoàn thể nhân dân để phong trào phát triển đúng mục đích, mục tiêu chung đã định theo đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc trên mọi chặng đường cách mạng. Vì thế, sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân; sự phát triển ngày càng sâu, rộng của phong trào thi đua yêu nước không chỉ chứng minh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dưới chế độ tư bản, thực dân và phong kiến quyết không thể có phong trào thi đua yêu nước” và “chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”[10] là đúng đắn, mà còn đồng thời cho thấy thi đua yêu nước theo chỉ dẫn của Người vừa thiết thực, dễ hiểu lại vừa sâu sắc, toàn diện, dễ đi vào cuộc sống, nên có sức quy tụ, hấp dẫn đông đảo quần chúng nhân dân. BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ THI ĐUA YÊU NƯỚC Sự phát triển phong phú, đa dạng, thường xuyên, liên tục, thiết thực, hiệu quả của các phong trào thi đua yêu nước trong 75 năm qua không chỉ khẳng định rằng thi đua “là một cách yêu nước thiết thực và tích cực” chứ không phải là “tranh giành” mà còn “là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ. Thi đua giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm. Và đoàn kết, chặt chẽ để thi đua mãi. Vì vậy, thật thà tự phê bình và thân ái phê bình là một lực lượng để đẩy mạnh thi đua”[11]. Thi đua là đoàn kết vì mục tiêu chung, chứ không phải là sử dụng các “mánh khóe và thủ đoạn” dẫn đến “phá nát xã hội”; là “tìm cách triệt hạ người khác, hay ít nhất là bước lên đầu nhau mà sống” và như các luận điệu phản động bịa đặt, bôi đen. Thực tế, hiểu một cách ngắn gọn nhất thì thi đua là cùng nhau đem hết tài năng, sức lực của con người để không chỉ “đua nhau làm” mà còn “nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong một lĩnh vực hoạt động nào đó”. Đó là hoạt động sáng tạo, tích cực của mỗi con người, của từng tổ chức, địa phương, cơ quan đơn vị trên mọi lĩnh vực của cuộc sống (lao động, sản xuất, học tập, chiến đấu…); “là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (khoản 1 Điều 3) và “nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (Điều 5) của Luật Thi đua, khen thưởng 2003 (sửa đổi 2005, 2013). Vì thế, thi đua là một trong những biểu hiện của lòng yêu nước, của tinh thần, ý chí và sự nỗ lực, hy sinh phấn đấu của mỗi người dân vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, chứ không phải vì “sự khốc liệt trong cạnh tranh để đạt thành tích chứ không phải ở mục đích tạo ra giá trị bằng việc phát triển năng lực nhiều mặt của con người”; lại càng không phải là thi đua yêu nước “phá hủy từng con người, biến họ thành những kẻ xấu từ trong động cơ cho đến việc làm”; đồng thời, làm cho môi trường công tác, xã hội trở nên “ngột ngạt, gian dối, tiểu xáo, kèn cựa, đấu đá”, dẫn đến “làm mục ruỗng xã hội từ bên trong bởi sự xuống cấp trông thấy mỗi ngày”. Thực tế cũng cho thấy, các phong trào thi đua yêu nước từ: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”; “Bình dân học vụ”; “Hũ gạo kháng chiến”; “Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công, đồng bào ở hậu phương thi đua tăng gia sản xuất”; “Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”; “Ba nhất” trong Quân đội; “Gió Đại Phong” trong nông nghiệp; “Sóng Duyên Hải” trong công nghiệp; “Hai tốt” trong ngành giáo dục; “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong” trong thanh niên; “Ba đảm đang” trong phụ nữ; “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công”, “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt” hay “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt”… cho đến “Lao động giỏi - Lao động sáng tạo” của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; “Cựu chiến binh gương mẫu” của Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Thi đua Quyết thắng”, “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong quân đội; “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy”, “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ” trong Công an hay “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”… lan tỏa sâu rộng từ Trung ương đến địa phương, ở tất cả các cấp, các ngành; trên khắp mọi miền của Tổ quốc trải dài từ sau ngày 2/9/1945 đến nay. Những phong trào nêu trên đã minh chứng: Thi đua yêu nước không chỉ trở thành động lực quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, mà còn được nâng lên một tầm cao mới, mang hơi thở của thời đại mới. Bản chất của thi đua là yêu nước, nên khi đã hiểu rõ kế hoạch, mục đích, nội dung cách thức thi đua thì mỗi cá nhân, tập thể sẽ cùng nhau đoàn kết, nỗ lực phấn đấu để vượt qua mọi khó khăn; là “làm phát triển tinh thần đoàn kết giữa tất cả các tầng lớp nhân dân”; là thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc để sửa chữa tất cả mọi khuyết điểm, “cải tạo con người”… Vì thế, việc viện dẫn một ví dụ về thi đua trong ngành giáo dục hay cho rằng các phong trào thi đua yêu nước hiện nay chỉ là hình thức, qua loa, chạy theo số lượng phong trào, thậm chí là cào bằng, không thực chất hay là “chạy thi đua bằng mọi cách có thể”, vì “thi đua gắn chặt với quyền lợi của mỗi người về mọi mặt, từ vật chất, thăng tiến, đến cả sự yên ổn, an toàn” nên “sinh ra cạnh tranh, tị hiềm, đấu đá, ghen ghét, phá vỡ quan hệ tốt đẹp giữa các đồng nghiệp” là bẻ cong sự thật, là suy diễn mang tính chủ quan của các phần tử phản động. Trên thực tế, thi đua không chỉ giúp cho mọi người tiến bộ mà còn làm tăng cường tình đoàn kết, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau; không chỉ “đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi” mà còn cổ vũ, phát huy sức sáng tạo, lòng nhân ái, vẻ đẹp tâm hồn, tình đoàn kết của người Việt trong thời đại mới. Vì thế, thi đua yêu nước không phải là “phá vỡ” tình người, là “làm hỏng đi sự kết nối lành mạnh giữa người với người” và “gây ra những bức xúc ngầm” trong nội bộ. Cùng với đó, việc một số người nhân danh dân chủ, “chuộng dân chủ tư sản” cho rằng thi đua ở Việt Nam không phải là tự nguyện mà là “bắt buộc phải làm”, nên “thi đua là con đẻ của nỗi sợ hãi tự do” và mang các phong trào thi đua yêu nước so sánh với phương Tây, với việc lý giải rằng “họ không có thi đua, không ai phải thi đua với ai để tồn tại cả” mà vẫn phát triển không ngừng với nhiều phát minh, sáng chế, các thành tựu mọi mặt về khoa học, nghệ thuật… cũng chỉ là sự suy diễn một chiều. Ở Việt Nam, thi đua yêu nước là để phấn đấu vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc; là để nhằm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[12], cho nên các phong trào này luôn nhận được sự hưởng ứng rộng khắp, sôi nổi của các tầng lớp nhân dân. Những thập niên gần đây, các phong trào thi đua yêu nước gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, với các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, với việc triển khai Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" trong cả hệ thống chính trị và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" cùng Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương… ngày càng được tổ chức và thực hiện sáng tạo, linh hoạt với các nội dung cụ thể, thiết thực, hình thức phong phú trên mọi lĩnh vực, trên khắp mọi miền của Tổ quốc. Thi đua yêu nước là một phong trào cách mạng rộng rãi, thiết thực được lãnh đạo, chỉ đạo bởi các cơ quan, ban, ngành chức năng; được tổ chức thực hiện theo kế hoạch, với các hình thức phù hợp trong cả hệ thống chính trị, chứ không phải là “đặt sự vận động của xã hội trên nền của sự hơn thua giữa các cá nhân”; là sự “ganh đua” để “triệt hạ người khác” vì thành tích như các phần tử cơ hội, phản động, các thế lực thù địch xuyên tạc./.