Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2023

Nhận thức và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Kỳ III và hết)

 Hai là, các mối quan hệ lớn góp phần làm sáng rõ hơn các quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc thù của Việt Nam.

Quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một thời kỳ lịch sử chuyển tiếp, nhất thiết phải quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, là con đường mới mẻ chưa có nước nào kinh qua. Do đó, cần nghiên cứu thấu đáo và nắm vững những vấn đề có tính quy luật phát triển dựa trên phép biện chứng duy vật, thấu suốt những nguyên tắc, phương pháp luận của nó để chỉ đạo và vận dụng vào thực tiễn đúng hướng.

Với nhận thức về chủ nghĩa xã hội vừa mang tính phổ biến, vừa có tính đặc thù, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng nghiên cứu, tìm tòi mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Trong sự phù hợp với các quy luật phát triển chung, việc nhận thức sâu sắc các mối quan hệ lớn cũng giúp Đảng ta tìm tòi, phát hiện và làm sáng rõ hơn các quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam, thể hiện tập trung ở mô hình chủ nghĩa xã hội riêng có Việt Nam mang những đặc trưng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Để hiện thực hóa mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cần thực hiện tám phương hướng: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Tám phương hướng trên được vạch ra không phải ngẫu nhiên, duy ý chí, mà từ việc nghiên cứu và nắm rõ những quy luật phát triển khách quan, nên bản thân các phương hướng này đã mang tính quy luật phát triển chung của nhân loại và quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đặc biệt, các phương hướng và đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng liên thông chặt chẽ với mười mối quan hệ lớn. Việc nắm vững các mối quan hệ lớn, nắm vững các quy luật phát triển chung và đặc thù chính là tiền đề, cơ sở phương pháp luận để định hình các đặc trưng và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Điều đó thể hiện rõ khi nhiều nội dung của từng mối quan hệ lớn có liên hệ chặt chẽ, thậm chí chuyển hóa lẫn nhau với nội dung của các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa hay phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ví dụ: Mối quan hệ lớn giữa “phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa” và giữa “tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường” có quan hệ mật thiết với đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”, “có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”. Hay các mối quan hệ lớn: “Nhà nước, thị trường và xã hội”; “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”; “thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội” có quan hệ mật thiết với đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa: “Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo” và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”...

Tuy nhiên, có thể thấy, các mối quan hệ lớn hoặc từng mặt của nhiều mối quan hệ lớn hiện nay đã có nội dung rộng hơn các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên tất yếu cần điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng và phương hướng này trong thời gian tới.

Ba là, các mối quan hệ lớn góp phần làm sáng rõ hơn nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trọng trách lãnh đạo, cầm quyền đối với Nhà nước và xã hội của Đảng ta là do lịch sử dân tộc giao phó và được nhân dân thừa nhận. Là chủ thể lãnh đạo và quyết định sự thành bại của toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam, bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một thực thể quyền lực mạnh, ưu tú về trí tuệ, bản lĩnh, năng lực, đạo đức cầm quyền, xứng đáng với vai trò lãnh đạo của mình. Quá trình nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn giúp Đảng tự khám phá, nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề mang tính bản chất và quy luật về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng: 1- Đảng là đội tiên phong của giai cấp, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc; 2- Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng; 3- Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng; 4- Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân; 5- Đảng là một khối đoàn kết thống nhất, tự phê bình và phê bình là nguyên tắc và quy luật phát triển của Đảng; 6- Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; 7- Gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng, chỉnh đốn cả hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; thường xuyên nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng...

Lịch sử cho thấy, các đảng cộng sản xa rời những nguyên tắc lý luận xây dựng đảng, thì sớm hay muộn, sẽ dần biến chất, thay đổi lập trường chính trị, từ bỏ mục tiêu, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Do đó, việc vận dụng sáng tạo các nguyên tắc lý luận trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta có ý nghĩa rất quan trọng, bảo đảm giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của một đảng mác-xít chân chính. Việc nhận thức về các mối quan hệ lớn, nhất là mối quan hệ lớn giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội... giúp Đảng nhận thức sâu sắc hơn về các vấn đề nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, là cơ sở khoa học để Đảng ta không ngừng tự xây dựng, chỉnh đốn, có đủ năng lực, sức chiến đấu để đưa ra những quyết sách chính trị đúng đắn, xử lý kịp thời cục diện phức tạp, giải quyết thỏa đáng các mâu thuẫn lớn và những vấn đề khó khăn, cầm quyền vì dân, cầm quyền khoa học, cầm quyền dân chủ, cầm quyền theo pháp luật, cầm quyền liêm chính để lãnh đạo nhân dân ta vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội...

Bên cạnh những thành tựu, cũng còn một số hạn chế trong nhận thức và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, như những nghiên cứu có hệ thống về chỉnh thể các mối quan hệ lớn, nghiên cứu sâu từng mối quan hệ lớn trong sự bổ sung, cập nhật thường xuyên về nội hàm, những điều chỉnh cho phù hợp với thời cuộc... còn chưa tương xứng với tầm quan trọng của nội dung này; nhiều quy luật phát triển phổ quát của nhân loại, quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng chưa được luận giải rõ, có hệ thống và trong sự liên thông với các mối quan hệ lớn, nhất là do chưa thật sự làm rõ được tính quy luật trong một số mối quan hệ, tính đặc thù và tính phổ biến ở Việt Nam, nên đã ảnh hưởng đến việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như việc ban hành những chính sách cụ thể trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; nghiên cứu các mối quan hệ lớn trong mối quan hệ với các đặc trưng và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội còn khoảng trống; việc hiểu bản chất, vận dụng các mối quan hệ lớn vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cụ thể của các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên còn hạn chế... 

Một số khuyến nghị tiếp tục nghiên cứu về các mối quan hệ lớn cần nhận thức và giải quyết tốt trong công cuộc đổi mới, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Về tổng thể, việc nhận diện các mối quan hệ lớn hàm chứa những vấn đề có tính quy luật, tồn tại khách quan trong chiều sâu phức hợp sự vận động, biến đổi không ngừng, cùng các mối liên hệ, tác động đa dạng, đa chiều giữa các yếu tố, bộ phận cấu thành, các mặt đối lập vốn có trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chưa có tiền lệ trong lịch sử, là một bước tiến mới, quan trọng về lý luận chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đến Đại hội XIII của Đảng, các mối quan hệ lớn đã được nhận diện cơ bản toàn diện, bao quát các quy luật phát triển trên các mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội, được hệ thống hóa tạo thành một chỉnh thể khá đầy đủ. Do đó, cơ sở để bổ sung ngay mối quan hệ lớn mới là chưa chín muồi. Mười mối quan hệ lớn trên tiếp tục là cơ sở phương pháp luận quan trọng để chúng ta nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời gian tới.

Về từng mối quan hệ lớn, mặc dù mười mối quan hệ lớn tạo thành một chỉnh thể khá đầy đủ, tuy nhiên đối với từng mối quan hệ, do sự thay đổi của bối cảnh, nên rất cần làm rõ thêm nội hàm, có sự điều chỉnh, bổ sung, thậm chí nhận thức lại cho phù hợp với điều kiện mới, để kịp thời luận giải, hóa giải được những mâu thuẫn, thách thức, xung đột mới nảy sinh, rộng đường cho sự phát triển. 

Về mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển, nếu như trước đây, đổi mới được xác định là yếu tố quan trọng nhất trong ba thành tố cấu thành mối quan hệ lớn trên và phải thực hiện trước; tiếp đó, Đại hội XIII của Đảng xác định ổn định cần được đặt lên đầu tiên; thì hiện nay, nên nhận thức phát triển là quan trọng hàng đầu và phải tập trung mọi nguồn lực để thực hiện, bởi chỉ có phát triển lâu dài mới giúp chúng ta tích lũy và chuẩn bị kịp những tiền đề, điều kiện, nền tảng cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong bối cảnh không còn nhiều thời gian để có thể đạt và cán cột mốc mục tiêu trọng đại của đất nước vào năm 2030, 2045 như Đại hội XIII đã đề ra. Phát triển lâu dài cũng là điều kiện tiên quyết để Đảng giữ vững uy tín, vị thế cầm quyền lâu dài. Tất nhiên, phát triển ở đây được quan niệm mới bao gồm cả phát triển về vật chất và tinh thần, phát triển chất lượng cao, phát triển xanh, tuần hoàn, bền vững... Theo đó, thứ tự từng thành tố trong mối quan hệ lớn này không thay đổi, song nội hàm của nó cần ưu tiên hơn cho thực hiện “phát triển”, trong tương quan tiếp tục giữ vững “ổn định” và đề cao “đổi mới”, nhất là chú trọng tìm kiếm các không gian phát triển mới và động lực tăng trưởng mới, trong bối cảnh nhiều nguồn lực trước đây không còn là động lực, thậm chí quay trở lại thành cản lực phát triển.

Thủ đô Hà Nội ngày càng phát triển, là động lực phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước_Ảnh: TTXVN   

Về mối quan hệ lớn giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ, cần xem xét cả cơ chế thúc đẩy và cơ chế kiểm soát quyền lực giữa ba chủ thể chính trong hệ thống chính trị nước ta là: Quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực nhà nước và quyền lực của nhân dân, trong đó quyền lực nhân dân là quyền lực gốc. Nhiều nghiên cứu về mối quan hệ và cơ chế thúc đẩy đã được thực hiện, tuy nhiên cơ chế kiểm soát giữa ba chủ thể, thiết chế quyền lực trên vẫn còn nhiều khoảng trống. Cần tăng cường kiểm soát quyền lực chính trị bằng cơ chế dựa trên việc cụ thể hóa nguyên tắc “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”, Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình và “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”; quy định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành pháp trong kiểm soát quyền lực các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, tư pháp; hoàn thiện cơ chế hoặc thực hiện nhiều hơn, thực chất hơn các cơ chế đã có để nhân dân trực tiếp kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, phát huy quyền làm chủ của mình (ví dụ cơ chế bầu cử trực tiếp, cơ chế trưng cầu ý dân...). Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo chính trị cao nhất, cầm quyền duy nhất, là nhân tố quyết định bảo đảm cho sự tồn tại chế độ chính trị ở nước ta, quyền lực nhà nước là trung tâm, nhưng quyền lực nhân dân là tối cao, là chủ thể thực sự của quyền lực. Do đó, cần suy nghĩ thật thấu đáo trở lại với tư tưởng trước đây Đảng ta đã dùng (đặt “nhân dân làm chủ” trước “Nhà nước quản lý”) ngay trong bài “Nắm vững quy luật, đổi mới quản lý kinh tế” của Tổng Bí thư Lê Duẩn trình bày tại Hội nghị Trung ương 6 khóa V (ngày 3-7-1984): “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý là ba khâu gắn bó chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất”(1); sau đó, Đại hội VI của Đảng - đại hội đổi mới của đất nước - cũng khẳng định: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội”(2).

Trong nội hàm mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, cần làm rõ và bổ sung mối quan hệ giữa quản trị toàn cầu, quản trị quốc gia và quản trị địa phương - một mối quan hệ lớn đang bức thiết đặt ra hiện nay (khi chín muồi, có thể chuyển hóa mối quan hệ này thành một mối quan hệ lớn riêng). Đây là những khái niệm còn khá mới. Từng thành tố của mối quan hệ trên đã bước đầu được nghiên cứu, song bản chất, vị trí, vai trò và mối quan hệ liên thông giữa ba thành tố của mối quan hệ, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam vẫn còn ít được nghiên cứu. Nhiều vấn đề về huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực; ứng phó với các khủng hoảng, bối cảnh bất thường (đơn cử như đại dịch COVID-19 vừa qua đã lộ ra nhiều lúng túng, hạn chế trong quản trị vĩ mô tầm quốc gia và từng địa phương), an ninh phi truyền thống; bất cập, thậm chí xung đột trong phân quyền, phân cấp giữa Trung ương và địa phương; đặc thù quản trị địa phương của mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để làm sao phát huy cao độ bản sắc vùng, miền, lợi thế cạnh tranh, cơ hội nổi trội riêng có... đã bộc lộ nhiều bất cập, đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi phải tổng kết kinh nghiệm và nghiên cứu lý luận xứng tầm để cung cấp cơ sở khoa học - thực tiễn cho việc quản trị quốc gia trong mối quan hệ với quản trị toàn cầu, quản trị địa phương. Trong môi trường hội nhập sâu, rộng, quản trị quốc gia, quản trị địa phương có quan hệ mật thiết với quản trị toàn cầu; nhiều vấn đề không thể xử lý được nếu dừng ở tầm quốc gia hay địa phương. Đặc biệt, khi Việt Nam bước vào ngưỡng cửa của một quốc gia tầm trung, với uy tín, tiếng nói, vị thế quốc tế mới, việc quản trị quốc gia không thể không tính tới liên thông với quản trị toàn cầu, để nước ta chủ động, tích cực ở vị thế tham gia nhiều hơn vào xây dựng, định hình “luật chơi” trên trường quốc tế, nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc và có những đóng góp trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.      

Trong nội hàm mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, cùng với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng cần thiết đề cập tới xây dựng xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa, để pháp quyền và thượng tôn Hiến pháp, pháp luật không chỉ ở hành xử của các cơ quan nhà nước, mà còn lan tỏa đến ứng xử toàn xã hội và mọi người dân, trong điều kiện thực thi pháp luật đang là một điểm yếu, văn hóa thượng tôn pháp luật cũng chưa định hình trong xã hội, khiến tình trạng khinh nhờn pháp luật, vi phạm pháp luật nghiêm trọng còn nhiều, an ninh chính trị, an ninh con người, an ninh xã hội bị đe dọa... Xây dựng xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng góp phần hoàn thiện hơn các yếu tố cấu thành chính yếu của mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa - dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa để thượng tôn Hiến pháp và pháp luật dần trở thành văn hóa trong xã hội, thành ứng xử của mọi người dân (Trong ảnh: Công an xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình gần dân, sát dân để phổ biến pháp luật)_Ảnh: TTXVN

Về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, cần nhấn mạnh hơn sự quan tâm tới phát triển văn hóa, không chỉ về mặt lý luận, mà còn trong vận dụng vào thực tiễn, bởi văn hóa đến nay vẫn chưa thực sự được quan tâm và đầu tư tương xứng với vị trí quan trọng của nó. Cần sớm xây dựng chương trình tổng thể mục tiêu quốc gia về chấn hưng, phát triển văn hóa để khơi dậy và phát huy các tài nguyên văn hóa, tập trung nguồn lực đầu tư tạo bước chuyển thực sự về văn hóa. Đặc biệt quan tâm xây dựng văn hóa chính trị, văn hóa trong Đảng, bởi Đảng ta là “văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn; nghiên cứu bổ sung thành tố “văn hóa” vào nội hàm công tác xây dựng Đảng, thành xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ và văn hóa. Đặt con người ở trung tâm của mọi sự phát triển, gắn chặt văn hóa với con người, chăm lo, đầu tư, phát triển toàn diện và bảo vệ con người, đích cuối hướng đến là hạnh phúc của nhân dân, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(3). Do đó, cần nghiên cứu bổ sung thành tố “hạnh phúc” vào hệ mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thành: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc”. Mặt khác, bảo vệ môi trường ngày càng đặt ra cấp thiết, nên phải đặc biệt quan tâm, có những đột phá hơn nữa trong thực hiện; cùng với việc đã là thành tố của một mối quan hệ lớn, nghiên cứu đưa bảo vệ môi trường vào quan điểm chỉ đạo chung, thành: Phát triển kinh tế - xã hội - môi trường là trung tâm, đặt trong tổng thể năm trụ cột phát triển đất nước là: Kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội - môi trường.

Về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, cần quan tâm nhiều hơn đến việc bồi tụ, nuôi dưỡng nội lực, thực lực của đất nước, tránh phụ thuộc một chiều và quá nhiều vào nguồn lực, ảnh hưởng từ bên ngoài, chưa chuyển hóa được ngoại lực thành nội lực (đơn cử như sự phụ thuộc còn nhiều vào nguồn vốn và công nghệ lõi của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thiếu sự liên thông giữa kinh tế FDI với các thành phần kinh tế trong nước; hay sự phụ thuộc vào các sản phẩm truyền thông của các tập đoàn truyền thông đa quốc gia...)... ít nhiều có nguy cơ gây mất an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh chính trị...

Việc tiếp tục nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về các mối quan hệ lớn để nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ này luôn là vấn đề rất hệ trọng, là xuất phát điểm lý luận nền tảng góp phần khẳng định và định hình hệ thống lý luận đổi mới Việt Nam, lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam soi sáng con đường phát triển của đất nước ta./

NGẪM!

4 nàng ở xứ Kim Chi

Sang ta hò hét rằng thì giá cao

Rất đông, lắm kẻ đón chào

Cuồng "thần tượng" đấy biết sao bây giờ.


4 học sinh phất cao cờ

Nhiều người vẫn cứ thờ ơ thế nào

Olympic Hóa giải cao

Mấy ai trong số đồng bào tung hô.


Câu chuyện 4 chàng 4 cô

Kẻ chê người thích trầm trồ ngợi khen

Trào lưu văn hóa "đú trend"

Ngẫm thôi bỗng thấy rối ren trong lòng 😂




MỘT SỰ CUỒNG NHIỆT TRÊN MỨC KHÙNG ĐIÊN?

     Đó là nói chuyện hàng vạn đám trẻ Hà Nội kéo bầy kéo lũ đi đón tiếp nhóm Blackpink (BP) của Hàn Quốc đến Hà Nội.
“Các thần tượng” Hàn Quốc được nghênh tiếp khác chi “cha chết sống lại”? Không biết, nhóm BK lâu nay đã cứu giúp gì cho lớp trẻ thủ đô mà đám trẻ này lại dành hết “não và ruột già” cho BP? 
Hàng vạn đám trẻ bỏ ăn, bỏ học, bỏ cả việc làm thức thâu đêm , suốt sáng ăn vạ, nằm chực ngoài đường để săn đón BK, như săn đón ân nhân muôn đời khó quên? Thậm chí, hàng trăm đám trẻ đi vay, mượn tiền để tạo nguồn ăn nằm, chầu chực…được gặp mặt BP? 
Hình như chưa bao giờ Hà Nội diễn ra “cuộc đón tiếp cuồng điên” như vậy? 
Trước hết, Trung ương Đoàn TNCS HCM, chắc thấy sự thất bại của mình trong việc giáo dục thế hệ trẻ nên yêu ai, thần tượng hoá ai…? 
Các cơ quan truyền thông, từ Bộ 4T đến Bộ VH…Hội Nhà báo…cũng hoàn toàn thất thủ trong việc định hướng giáo dục những lẽ phải điều hay cho đám trẻ thủ đô/ngàn năm Văn hiến? 
“Hồn Tổ quốc ngự trong lòng tuổi trẻ;
Họ yếu hèn, đất nước sẽ suy vong;
Chủ tương lai là người nối dõi
Nếu lệch tim lòng, Tổ quốc dễ “đi tong”? 
Ý đó là của cụ TBT Lê Duẩn, và…
Nhưng, nay, cụ mất rồi, ai nhớ, ai làm nữa đâu?

Yêu nước ST.

NGƯỜI CÓ SÁNG KIẾN PHỤC HỒI HÌNH ẢNH LIỆT SĨ!

     Anh Lê Quyết Thắng (sinh năm 1991, quê Nghệ An), hiện đang sinh sống, làm việc tại Hà Nội chính là người khởi xướng ý tưởng phục dựng ảnh liệt sĩ để trao tặng cho các gia đình, thân nhân nhằm tưởng nhớ, tri ân các liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc. 
Vậy có thơ rằng khen rằng:
Cháu còn trẻ tuổi
Sáng kiến thật hay
Phục dựng lại ngay
Hình đây liệt sĩ.

Biết bao thế hệ 
Tuổi trẻ hy sinh
Chẳng tiếc thân mình
Vì dân vì nước.

Giờ cháu tiếp bước
Truyền thống cha anh
Việc làm nghĩa tình
Tri ân liệt sỹ.

Bao người hoan hỷ
Ảnh quý trao tay
Rưng rưng lệ đầy
Nhận ngay ảnh tặng.

Chúc cháu vui sống
Cống hiến cho đời
Mang đến niềm vui
Tặng nhiều người nữa..!
Môi trường ST.

NHÀ VĂN NAM CAO VÀ LẦN THOÁT KHỎI ĐÒN THÙ CỦA BÁ KIẾN!

         "Cái lò gạch cũ" là tác phẩm của nhà văn Nam Cao được tin thành sách lần đầu vào 1941. Sau đó nhà xuất bản Đời mới (Hà Nội) đã tự ý đổi tên thành "Đôi lứa xứng đôi". Đến khi tác phẩm được in lại trong tập Luống Cày do Hội văn hóa Cứu Quốc xuất bản tại Hà Nội năm 1946 và tác giả Nam Cao đặt lại tên cho tác phẩm này là "Chí Phèo".

Tác phẩm "Chí Phèo" được biết đến là 1 trong những truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Nam Cao. Đây cũng là tác phẩm văn học được chuyển thể thành phim. Tác phẩm xoay quanh một tấn những bi kịch của người nông dân bị tha hóa trong xã hội xưa cũ. Ở câu kết trong tác phẩm, Chí Phèo đã phải thốt lên "Ai cho tao lương thiện ?”. Đây là câu nói đã đi sâu vào tâm trí của nhiều thế hệ độc giả. 

Trong truyện ngắn Chí Phèo, cùng với nhân vật Chí Phèo, Thị Nở thì nhân vật Bá Kiến cũng rất nổi tiếng. Bá Kiến là nhân vật điển hình cho giai cấp thống trị ở xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng Tháng Tám năm 1945. 

Con người có thực ngoài đời được Nam Cao lấy nguyên mẫu để xây dựng nên nhân vật Bá Kiến có tên là Trần Duy Bính. Người làng Đại Hoàng vẫn gọi ông ta là Nghị Bính vì ông ta thuộc hàng chức sắc không những ở Đại Hoàng mà cả tổng Nam Sang đều biết tiếng.

Gia tộc Nghị Bính trước đó đã có năm đời làm lý trưởng. Đến đời Trần Duy Bính tuy con nhà "dòng dõi" nhưng Bính vẫn phải mua chức phó lý rồi mới lên được lý trưởng. Nghị Bính rất được lòng quan trên, nhờ thế mà ông ta đã nhoi lên được tới chức chánh tổng Cao Đà, thành nghị viên Bắc Kỳ, từng được nhà vua triệu vào kinh đô Huế dự lễ tế đàn Nam Giao. Nghị Bính đi đâu thường cưỡi một con ngựa màu nâu thẫm, có người cắp tráp theo hầu.

Ngôi nhà Nghị Bính ở làng Đại Hoàng rất bề thế. Nhà toàn tòng bằng gỗ lim, thượng bò hạ kẻ, bàn thờ có lư hương, đỉnh nến, hạc chầu. Nghị Bính vời một đồ nho nổi tiếng hay chữ khắp vùng tên là Hùng Sơn đến nhà lập đôi câu đối, tạc vào gỗ vàng tâm treo hai bên cột cạnh bàn thờ

Nghị Bính đến công đường làm việc thì áo the khăn sếp, giày Gia Định, ô lục soạn còn về làng thì mặc bộ đồ sa tanh màu mỡ gà, thường hay la cà ở quán xá chơi tổ tôm, xóc đĩa. Quyền bính khuynh loát nhưng mỗi lần bắt gặp ông giáo nghèo Trần Hữu Tri (tức nhà văn Nam Cao) bao giờ Nghị Bính cũng cất lời chào trước.

Nghị Bính có năm vợ, mười hai con gồm 3 trai và 9 gái.

Bà cả là người làng thường gọi bà Nghị cả, tính tình chân thật, hiền hòa nên được ông Nghị giao cho quản lý tiền nong. Bà cả chỉ có một con trai tên là Trần Duy Tảo.

Bà hai tên là Trần Thị Khuyến. Bà này được ông Nghị cưới làm vợ hai trong lúc bà cả bị ốm nặng, tưởng không qua khỏi. Bà hai sinh được bốn người con là Trần Thị Quế, Trần Duy Hòe (ông này nhà văn Nam Cao lấy làm mẫu xây dựng nhân vật Lý Cường, con trai Bá Kiến), Trần Thị Trinh, Trần Thị Nhài.

Bà ba là Trần Thị Yêm. Bà Yêm con nhà quyền quý, xinh đẹp, khi lấy Nghị Bính bà mang theo về khá nhiều của hồi môn, lại biết chiều chồng nên rất được ông Nghị sủng ái, cho dù bà này chỉ sinh cho ông có ba mụn con gái, tên là Trần Thị Dung, Trần Thị Yến, Trần Thị Xuyến.

Bà Tư thường chỉ gọi là bà Tư Nghị, cũng sinh hạ ba người con gái là Trần Thị Sen, Trần Thị Cúc, Trần Thị Hồng.

Bà năm tên là Trạch, quê Thái Bình (bốn bà trước đều cùng quê làng Đại Hoàng với Nghị Bính, mà làng này ngày đó hầu như cả làng mang họ Trần). Bà Trạch làm nghề buôn bán. Nghị Bính làm quen với bà trong một chuyến đi kinh lý rồi cưới làm vợ nhưng không cho ai ở làng biết. Bà Trạch có với Nghị Bính một đứa con trai. Đứa con trai lớn lên lấy vợ, sinh con, khi ấy Nghị Bính mới đưa "một góc gia đình" này về quê ra mắt bốn bà vợ trước và họ hàng.

Giàu có vào hạng nhất làng, Nghị Bính lo cho mỗi bà vợ một dinh cơ riêng. Nghị Bính ở với bà ba, nhưng chuyện phòng the, chăn gối với các bà kia đều được ông ta lên lịch, không muốn để bà nào quá thiệt thòi. Tuy ông Nghị không để lỡ, để sót bà nào nhưng vì sức ông phục vụ năm bà có vẻ hơi quá tải nên đôi khi các bà cũng có cách đi ngang về tắt, mà chủ yếu dan díu với đám canh điền. Nhờ có của nả, lại muốn an nhàn nên bà nào cũng nuôi canh điền khỏe mạnh trong nhà. Phần lớn những chuyện dan díu của các bà đều kín như bưng nhưng cũng có lúc bại lộ.

Cái đận truyện ngắn "Đôi lứa xứng đôi" (sau đổi tên là "Chí Phèo") ra đời đã trở thành một "sự kiện nóng" trong làng Đại Hoàng. Thực ra khi viết truyện này Nam Cao còn trẻ, ông cứ viết phóng sinh phóng địa theo nguồn cảm hứng và chất liệu thực tế ngồn ngộn tuôn trào chứ ông không tin truyện sẽ được in.  

Một phó lý muốn tâng công nịnh thần cấp trên đến ghé vào tai Nghị Bính: "Thưa cụ lớn, con đọc cái truyện ngắn "Đôi lứa xứng đôi" do ông giáo Trần Hữu Tri viết thì thấy ông ta chửi cả làng ta mà người bị chửi nhiều nhất chính là... là... cụ lớn đấy ạ".

Phó lý vừa xun xoe vừa đưa tờ báo cho Nghị Bính. Nghị Bính ngoắc kính lên, đọc xong liền đập bàn một cái, mắt trợn ngược, nghiến răng kèn kẹt, chửi: "Tiên sư cái đồ dở ông dở thằng! Ta đây không thèm nói với cái loại này cho bẩn mồm! Ta sẽ ném đi vài mẫu ruộng là đủ cho nó rũ tù!".

Nghị Bính nói là làm. Y chuẩn bị khá chu đáo để đưa Nam Cao vào vòng lao lý. Ông phó Huệ, phụ thân của nhà văn đã phải nhắn lên phủ nơi Nam Cao đang trú ngụ dạy học rằng hãy tìm nơi chốn nào thật xa xôi hẻo lánh mà ẩn náu, rằng tránh voi chẳng xấu mặt nào... Nhưng thật may cho Nam Cao, đúng lúc ấy huyện Nam Sang thay tri huyện mới. Một hôm, Nghị Bính và đám sai nha lên huyện xin thỉnh thị gì đó. Nghị Bính chưa kịp thưa gửi gì thì quan tân tri huyện đã nói:

- Các chư vị từ làng Đại Hoàng lên đấy phải không ? Tôi có người bạn học tên là Trần Hữu Tri hiện làm nghề dạy học, các chư vị về gặp cho tôi gửi lời thăm...

Nghe đến đó trong con người Nghị Bính đang sôi sục tâm địa trả thù nhà văn bỗng hạ nhiệt. Y đành phải dạ dạ vâng vâng để lấy lòng bề trên.
Nhà văn Nam Cao thoát vòng lao lý là vì thế./.
Ảnh: Nhân vật Bá Kiến trong phim "Làng Vũ Đại ngày ấy".
Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2023

TẠI SAO LẠI PHẢI “TRẢ LẠI TOÀ KHÂM SỨ SỐ 2 NHÀ CHUNG” ĐỂ TOÀ THÁNH LÀM VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN?

         Nhân dịp Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng thăm Tòa thánh Vatican, căn cứ kết quả Cuộc họp vòng X Nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam – Vatican (31/3/2023), với mong muốn chung thúc đẩy quan hệ, hai bên chính thức thông báo về việc Chính phủ Việt Nam và Tòa thánh đã thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng Đại diện thường trú Tòa thánh tại Việt Nam”. Đây là chủ đề được Toà thánh Vatican đẩy mạnh trong thời gian qua. 

Và đối với người dân Việt Nam dù là người Công giáo hay không thì rõ ràng đều mong muốn rằng Đại diện thường trú Tòa thánh sẽ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ trong Quy chế; hỗ trợ cộng đồng Công giáo Việt Nam hoạt động trên tinh thần tôn trọng pháp luật và Giáo huấn của Giáo hội, thực hiện đường hướng “Đồng hành cùng dân tộc”, “Giáo dân tốt và công dân tốt”... 

Và trong cuộc hội kiến với Giáo hoàng và cuộc gặp cới Thủ tướng, Hồng y Pietro Paảolin, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cũng đã nhấn mạnh rằng Việt Nam sẽ tiếp tục hỗ trợ Tòa thánh sớm hoàn thành thủ tục cần thiết để mở Văn phòng Đại diện thường trú của Tòa thánh tại Hà Nội và hỗ trợ hoạt động của đại diện thường trú tại Việt Nam. 

Lợi dụng vấn đề này, một số vị linh mục chố.ng đối bấy lâu nay như Nguyễn Ngọc Nam Phong, Nguyễn Đình Thục hay cả tổ chức Việt Tân cũng nhanh chóng đăng tải thông tin cho rằng chính quyền Việt Nam cần phải trả lại Toà Khâm sứ số 42, Nhà Chung, Hà Nội để Toà thánh làm Văn phòng Đại diện. Nên nhớ rằng đây là 42 Nhà Chung cũng là nơi mà Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt và một số chức sắc, tín đồ Công giáo đã âm mưu chiếm đoạt đất từ những năm 2007, 2008 và gây ra tình hình phức tạp về an ninh, trật tự trong thời gian này.

Giờ đây, khi quan hệ của Việt Nam - Vatican đang có những bước phát triển, khi hai bên đã thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng Đại diện thường trú Tòa thánh tại Việt Nam” thì thêm lần nữa họ lại đưa ra cái yêu sách gọi là “Nhà nước trả lại đất cho Toà thánh”. Thật nực cười cho cái chiêu trò ”đất Thánh” của một số vị chức sắc Công giáo hay cả tổ chức khủ.ng b.ố Việt Tân!

Đất đai trên mảnh đất hình chữ "S" này là do bao đời thế hệ người Việt Nam gây dựng bằng công sức, mồ hôi và cả bằng máu của mình. Nên nhớ điều đó./.



Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: HỆ QUẢ CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH SAI HAY KHÔNG XÁC ĐỊNH ĐƯỢC GIÁ TRỊ SỐNG...

- Xác định sai giá trị sống nên không biết cái gì thực sự cần thiết đối với mình và cuộc sống của mình. Vì vậy, nên họ sẵn sàng xin xỏ, vay mượn hay các cách khác để có vài triệu để đặt vé rồi sau đó bỏ công bỏ việc đội nắng đội mưa đi đổi vé, đổi vòng/thẻ để được vào xem "thần tượng" biểu diễn mà phần lớn là không nhìn rõ mặt chứ đừng nói là được sờ, được ôm thần tượng.
- Xác định sai giá trị sống nên họ bất chấp bỏ lại cha mẹ, người thân với tình cảm và bữa cơm gia đình - là những thứ giá trị thực - ở lại phía sau để lao đến sân bay từ nửa buổi chiều chỉ để nhìn thấy và hò hét khi "thần tượng" của họ xuống sân bay, bất chấp việc "thần tượng" có quan tâm đến sự hiện diện và hò hét của họ hay không và bất chấp việc ấy có đem lại điều gì cho họ.
- Xác định sai giá trị sống nên họ bất chấp đêm hôm và bất chấp việc gây ách tắc giao thông, ồn ào mất trật tự cả một khu phố chỉ để đứng nhìn cái khách sạn mà "thần tượng" của họ đang ở chứ không phải là nhìn tận mắt, sờ tận tay "thần tượng" của họ.
Một thế hệ có những người trẻ mất định hướng giá trị như thế thì liệu tương lai của họ và tương lai đất nước, tương lai dân tộc sẽ đi về đâu?
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2023

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NỮ TRẠNG NGUYÊN DUY NHẤT TRONG LỊCH SỬ KHOA BẢNG VIỆT NAM!

         Ở tuổi đôi mươi, Nguyễn Thị Duệ giả nam đi thi và đỗ trạng nguyên. Tài năng, đức độ của nữ tiến sĩ đầu tiên được vua trọng dụng, dân kính trọng.

Giáo dục Việt Nam thời phong kiến coi trọng Nho học, phụ nữ không có quyền tham gia thi cử. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Duệ là ngoại lệ. Bà không chỉ là nữ tiến sĩ đầu tiên ở nước ta, mà còn là nữ trạng nguyên duy nhất trong lịch sử khoa bảng.

Nguyễn Thị Duệ (hay Nguyễn Thị Du) sinh năm 1574 trong một gia đình nhà nho nghèo ở Chí Linh, Hải Dương. Theo Hải Dương phong vật chí, tên chính xác của bà là Nguyễn Thị Ngọc Toàn.

Thuở nhỏ, bà nổi tiếng xinh đẹp, tài hoa. Tương truyền, bà biết viết văn, làm thơ khi mới 4 tuổi. Danh tiếng lan xa khiến nhiều người người ngưỡng mộ tài sắc, đến xin hỏi cưới nhưng bà không đồng ý.

Dù hiếu học nhưng sống dưới thời phong kiến trọng nam khinh nữ, bà phải giả nam để có thể theo nghiệp đèn sách.

Theo ghi chép của sử sách, cuộc đời bà trải qua nhiều thăng trầm. Khi chúa Trịnh Tùng đem quân đánh chiếm Thăng Long, nhà Mạc thất thế, chạy lên Cao Bằng. Nguyễn Duệ cùng cha theo lên đây.

Nhà Mạc mở khoa thi, bà giả nam tham dự và đỗ đầu. Khi vào cung dự yến tiệc, vua Mạc Kính Cung rất bất ngờ khi biết tân khoa trạng nguyên là nữ. Vua quý mến hiền tài, không trách tội nhưng theo phép tắc, bà không thể tiếp tục mang danh trạng nguyên. Tiếc nuối cho tài năng của người con gái trẻ, vua cho phép bà ở lại triều, theo Chuyện kể về các nhà khoa bảng.

Nguyễn Thị Duệ được vời vào cung, phụ trách việc dạy học cho các phi tần. Một thời gian sau, Mạc Kính Cung lập bà làm phi, ban hiệu Tinh Phi. Vì thế, dân gian còn gọi bà là bà chúa Sao.

Năm 1625, quân Trịnh tiến lên Cao Bằng đánh nhà Mạc. Khi bị bắt, nữ trạng nguyên vẫn rất trấn định. Bà dùng gươm kề cổ, uy hiếp quân lính phải giải bà đến trước chúa Trịnh. Nhờ tài đối đáp xuất sắc, Nguyễn Thị Duệ thoát tử tội.

Mến mộ tài năng, khí độ hiếm có của bà, chúa Trịnh giao trọng trách trông coi việc học của phủ chúa và rất trọng dụng. Sau này, bà được phong là Nghi ái quan.

Thời làm quan, Nguyễn Thị Duệ rất coi trọng việc học và bồi dưỡng nhân tài. Bà còn xin triều đình cấp nhiều mẫu ruộng cho canh tác lấy huê lợi, giúp đỡ học trò nghèo biết chăm chỉ.

Tương truyền, để thúc đẩy phong trào học tập địa phương, cách một khoảng thời gian, bà cùng các bậc túc nho đến giảng dạy tại các khu vực ấn định rồi soạn đề, tổ chức thi. Bài thi được gửi lên cho bà chấm, kết quả được gửi trở lại các địa phương.

Cách làm này đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao giáo dục tại các vùng xa kinh kỳ.

Nguyễn Thị Duệ sống dưới tư tưởng trọng nam khinh nữ nhưng tài năng của bà khiến người khác không thể không nể phục. Vì thế, trong phần lớn các kỳ thi Đình, thi Hội thời đó, bài thi đều qua tay bà chấm.

Không chỉ tài năng, nữ trạng nguyên còn là người đức độ. Theo dân gian truyền lại, trước đây, khi còn nghèo khó, anh trai bà bị người trong làng hãm hại. Nhưng khi vinh hiển, bà không hề nghĩ đến thù riêng.
Khi cao tuổi, bà cáo quan về quê, mở am Đào Hoa, tiếp tục đọc sách và chỉ bảo các sĩ tử trong làng. Nhờ những đóng góp quan trọng cho giáo dục, thi cử, bà được triều đình hậu đãi. Tuy nhiên, nữ tiến sĩ vẫn sống cần kiệm, dành phần lớn bổng lộc để giúp đỡ người dân, đặc biệt các nho sĩ nghèo.

Trong Công dư tiệp ký, danh sĩ Vũ Phương Đề ghi: “Văn thơ của bà rất nhiều, nhưng nay không còn bài nào. Bà có làm bài Gia ký bằng Quốc âm thuật lại các việc riêng và tự ví mình như Bạc Thị” (phi tần của Hán Cao Tổ, mẹ vua Văn Đế, một phụ nữ nổi tiếng hiền đức trong lịch sử Trung Quốc).
Kém gì một chút đảo điên
So le Bạc Thị vốn duyên Hán hoàng.
Nữ nhi dù đặng có lề
Ắt là tay thiếp kém gì trạng nguyên.
Vũ Phương Đề cũng khen ngợi bà: “Lễ sư thông tuệ, nhất kính chiếu tam vương”.

Sau khi Nguyễn Thị Duệ mất, người dân làng Kiệt Đặc lập đền thờ bà chúa Sao. Bà còn được thờ tại Văn miếu Mao Điền cùng nhiều danh nhân, học sĩ danh tiếng khác./.
Ảnh: Lăng mộ của bà Nguyễn thị Duệ ở Hải Dương.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: TƯ TƯỞNG BÀN LÙI VÀ NHỮNG NGỤY BIỆN!

     Chấn chỉnh, đấu tranh loại bỏ tư tưởng bàn lùi, lo ngại rằng nếu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực quá mạnh sẽ “cản trở sự phát triển”... Đó là thông điệp được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ Khóa XIII.

Khẳng định những kết quả đạt được về phòng, chống tham nhũng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua là rất quan trọng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng lưu ý thời gian tới cần chấn chỉnh, đấu tranh loại bỏ tư tưởng bàn lùi, lo ngại rằng nếu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực quá mạnh sẽ cản trở sự phát triển, làm nhụt chí, làm “cầm chừng”, “phòng thủ”, “che chắn”, giữ “an toàn”, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, công chức nào đó, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. “Tôi đã nhiều lần nói rồi, nay xin nhắc lại: Những ai có tư tưởng ấy thì hãy đứng sang một bên để người khác làm! Tất cả chúng ta, nhất là những người trực tiếp làm công tác tổ chức, cán bộ, phải có ý chí, quyết tâm cao, có tấm lòng trong sáng, có con mắt tinh đời, đừng “nhìn gà hóa quốc”; “đừng thấy đỏ tưởng là chín”, Tổng Bí thư nêu rõ.

Thực tiễn, với sự quyết tâm, quyết liệt chống tham nhũng, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm bất kể là ai, ở cương vị nào đã cho thấy quan điểm nhất quán của Đảng giữa nói và làm, giữa việc ban hành nghị quyết, chỉ thị với lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, từ đó tạo ra sự cảnh tỉnh, răn đe và phòng ngừa chung rất hiệu quả. Tuy nhiên, gần đây trong dư luận xuất hiện những luồng quan điểm có xu hướng sai lệch với sự chỉ đạo nhất quán trên. Đó là những ý kiến cho rằng, thời gian qua, chúng ta xử lý tham nhũng, tiêu cực “quá mạnh tay”, “bắt bớ quá nhiều”, tạo ra sự lo ngại, trì trệ trong công tác và lao động, sản xuất. Đã xảy ra hiện tượng một số cơ quan, đơn vị chùn tay, không dám làm vì sợ trách nhiệm, thậm chí đùn đẩy, né tránh khi phải xem xét, ký kết các văn bản, kế hoạch, hợp đồng tài chính, các văn bản liên quan đến đấu thầu.

Đặc biệt, nhiều người lấy lý do vụ Việt Á, vụ “chuyến bay giải cứu” có số lượng bị can lớn, liên quan nhiều cơ quan, lĩnh vực từ Trung ương đến địa phương nên họ lý lẽ rằng, để xảy ra tham nhũng, tiêu cực là do cơ chế, do chính sách nên rơi vào hoàn cảnh đó “ai đen thì chịu” và “muốn tránh cũng khó”! Từ đó, có xu hướng quy cho việc chúng ta đẩy mạnh chống tham nhũng, tiêu cực, kỷ luật, bắt giam, xét xử nhiều là nguyên nhân dẫn tới cán bộ, đảng viên, công chức lo lắng, không dám làm, dẫn đến sản xuất có dấu hiệu đình trệ, tư tưởng làm việc cầm chừng, nghe ngóng... Họ viện dẫn thực tế nhiều nơi cán bộ đùn đẩy, không dám ký, không dám quyết để quy do hệ quả cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực, từ đó lên tiếng “cần xem xét lại”, đồng thời kiến nghị “nên tạm dừng chống tham nhũng, bắt bớ để tập trung phát triển kinh tế, tăng cường nguồn lực lao động, sản xuất”.

Những quan điểm trên là không đúng với chủ trương, tinh thần của Đảng, được thể hiện rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) là: Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt... Việc chống tham nhũng vừa phải kiên quyết, vừa kiên trì, làm thường xuyên, bài bản chứ không có khái niệm làm cầm chừng hay “làm thế đủ rồi”, “bắt thế nhiều rồi”, từ đó đưa ra lý lẽ nên dừng lại, nên khoanh lại chống tham nhũng để tập trung phát triển kinh tế. Cần thấy rằng, những ai có tư tưởng bàn lùi, quy cho chống tham nhũng sẽ làm chậm phát triển, làm đình trệ kinh tế là kiểu tư duy ngược, coi lợi ích kinh tế hơn nguy cơ suy thoái chính trị, tư tưởng, coi lợi nhuận, đồng tiền hơn tư tưởng, đạo đức... thì đó chính là những mầm mống gây hại cho cuộc chiến chống “giặc nội xâm” vốn rất phức tạp, gian nan.

Nhìn nhận khách quan, tham nhũng có những nguyên nhân do cơ chế, chính sách pháp luật còn sơ hở, lỏng lẻo, có những quy định bị lợi dụng. Cũng có những nguyên nhân mang tính bối cảnh, môi trường. Chẳng hạn, trong vụ “chuyến bay giải cứu” hay vụ kit test Việt Á, khi sai phạm xảy ra từ chính một số lãnh đạo bộ, ngành ở Trung ương, lại thể hiện tính tổ chức, cấu kết chặt chẽ, chỉ đạo cấp dưới thực hiện khiến nhiều cơ sở y tế các địa phương bị kéo vào “vòng xoáy” và giám đốc nhiều CDC đã coi việc cầm “tiền lại quả” khi mua kit test như một món “hoa hồng” thông thường khi mua hàng hóa. Nghĩa là họ coi việc vi phạm luật pháp, lấy đồng tiền phi pháp thành chuyện nhận lại quả như một sự hiển nhiên. Đấy là điều nguy hại, bởi khi nhiều người coi việc đưa, nhận hối lộ là bình thường thì tạo ra thông lệ xấu, trở thành luật bất thành văn, lẽ ra phải đấu tranh, chống việc đưa và nhận hối lộ thì họ lại coi đó như một khâu cần phải có để đảm bảo lợi ích cho cả bên đưa và bên nhận. Và, suy cho cùng, dù có những bối cảnh, nguyên nhân khách quan tác động khi thực hiện hành vi tội phạm thì nguyên nhân chính vẫn là ở con người. Việc điều tra, xử lý nghiêm vụ án kit test Việt Á, vụ “chuyến bay giải cứu”, ngoài xử lý các cá nhân cụ thể thì điều quan trọng hơn là chúng ta ngăn chặn chuỗi hành vi vừa vi phạm đạo đức, vừa vi phạm pháp luật, không để nó “sống bám” như những tác nhân gây hại mà không bị luật pháp sờ tới, sẽ sinh sôi nảy nở gấp bội. Từ đó, tạo bài học cảnh tỉnh, răn đe lớn trong xã hội, thức tỉnh các cơ quan, cá nhân, tổ chức khác biết sợ mà dừng, mà quay lại lề lối làm việc chuẩn chỉ. Răn đe để chính họ tránh những đồng tiền không trong sáng, ngăn ngừa động cơ làm vì tiền để khái niệm thực thi công việc “vì dân” được thực chất hơn.

Thực tiễn cũng cho thấy, có những vụ tham nhũng, tiêu cực xảy ra như khối ung nhọt hết sức nguy hiểm, lại nằm ở nhóm cán bộ cấp cao của địa phương, nếu không được khui ra chữa trị thì ngoài việc tiền, tài sản nhà nước bị đục khoét, sự bức xúc trong dân chúng là rất lớn. Xem diễn biến vụ án xảy ra tại tỉnh Lào Cai liên quan nhiều cán bộ, từ nguyên Bí thư, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh đến các đồng phạm cho thấy rõ sự nguy hại của những khối ung nhọt này. Mới đây, ngày 18/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam và lệnh khám xét nơi ở, nơi làm việc đối với bị can Nguyễn Văn Vịnh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai; bị can Doãn Văn Hưởng, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai để điều tra về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 3, Điều 281, Bộ luật Hình sự.

Trước đó, Ngày 8/5, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã họp xem xét, thi hành kỷ luật đối với ông Nguyễn Văn Vịnh, Doãn Văn Hưởng và các trường hợp: Nguyễn Thanh Dương, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai; Lê Ngọc Hưng, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh, nguyên Giám đốc Sở Công thương Lào Cai; Mai Đình Định, nguyên Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, nguyên Bí thư Thành ủy Lào Cai, nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai... Sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhận thấy, các ông Nguyễn Văn Vịnh, Doãn Văn Hưởng, Nguyễn Thanh Dương, Lê Ngọc Hưng, Mai Đình Định đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát để nhiều tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, bị xử lý hình sự. Vi phạm trên đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, khó khắc phục, làm thiệt hại, thất thoát rất lớn tiền, tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, chính quyền địa phương. Đến ngày 15/5, tại Hội nghị lần thứ 7 (Hội nghị giữa nhiệm kỳ) Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Nguyễn Văn Vịnh.

Liên quan các sai phạm này, tháng 8/2021, Công an tỉnh Lào Cai ra quyết định khởi tố vụ án "Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên" xảy ra tại Công ty Apatit Việt Nam và Công ty TNHH Xây dựng thương mại Lilama (gọi tắt là Công ty Lilama). Sau gần 2 năm điều tra, tính đến nay, cơ quan tố tụng đã khởi tố tổng cộng 15 bị can, trong đó có nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Vịnh. Chỉ trong gần 3 năm, số quặng apatit mà Công ty Lilama khai thác lên tới hơn 1,5 triệu tấn, trị giá hơn 610 tỉ đồng. Để Công ty Lilama ngang nhiên khai thác trái phép hàng triệu tấn quặng apatit, cơ quan tố tụng xác định có trách nhiệm của UBND tỉnh Lào Cai và các sở, ban, ngành địa phương này.

Như vậy, sai phạm làm thất thoát lớn nguồn tài nguyên quốc gia có sự câu kết của cả nhóm lợi ích, trong đó có chính Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai. Tài sản nhà nước bị đục khoét, bị ém vào túi tư nhân mà người lãnh đạo địa phương chẳng những không ra tay ngăn chặn, xử lý mà lại cấu kết để trục lợi, làm giàu bất chính. Sự cấu kết phạm pháp đó khiến cán bộ, đảng viên và nhân dân địa phương hết sức bức xúc, bất bình. Vụ việc nghiêm trọng như thế, lòng dân bức xúc như thế, tất phải bị xử lý nghiêm minh, làm sao có thể chấp nhận tư tưởng hùa theo quan điểm “dừng lại”, “bắt thế đủ rồi”?
Ảnh: Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ Khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, phải loại bỏ tư tưởng bàn lùi trong đấu tranh chống tham nhũng.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 29 THÁNG 7 NĂM 1964!

         “Muốn hoàn thành tốt mọi việc, thì toàn thể đảng viên và cán bộ phải chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và chính sách của Đảng. Và muốn như vậy, thì các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra”!
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Bài nói tại Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra của Đảng, ngày 29 tháng 7 năm 1964. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta đang diễn ra rất ác liệt, đòi hỏi phải tập trung mọi mặt để thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gương mẫu chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng; giữ gìn tốt kỷ luật; các cấp ủy, tổ chức đảng phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, bảo đảm cho mọi chủ trương, đường lối, chính sách được thực thi nghiêm túc, nhất quán, đạt hiệu quả cao.
Quán triệt và thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Bác, cấp ủy, tổ chức đảng, Ủy ban kiểm tra Đảng các cấp trong toàn Đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nghiêm thông qua việc ban hành đồng bộ, kịp thời các nghị quyết, chỉ thị, quy định về trách nhiệm nêu gương; quy định các điều đảng viên không được làm, về quy trình tiến hành công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, Ủy ban kiểm tra Đảng các cấp… đã trực tiếp góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng “vừa hồng, vừa chuyên”, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vẻ vang trong công cuộc kháng chiến kiến quốc và thành công trong sự nghiệp đổi mới, như Bác hằng mong muốn “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm lãnh đạo không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng. Duy trì nghiêm túc nền nếp, chế độ sinh hoạt đảng, thực hiện tốt nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; rà soát, bổ sung và thực hiện nghiêm quy chế làm việc, quy chế lãnh đạo trên các mặt công tác trọng yếu; xác định rõ mối quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách. Phát huy dân chủ, trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị; phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân tham gia xây dựng Đảng. Đổi mới phương pháp, phong cách lãnh đạo theo chủ trương hướng về cơ sở, sâu sát bộ đội, cụ thể, tỉ mỉ. Gắn xây dựng cấp uỷ trong sạch vững mạnh với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Thực hiện nghiêm việc đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ hằng năm gắn với sinh hoạt tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng.
Cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng; thực hiện đồng bộ giữa công tác kiểm tra và công tác giám sát, “giám sát phải mở rộng”, “kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm” để chủ động phòng ngừa xẩy ra khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp từ khi còn manh nha, ngay tại cơ sở, ở trong chi bộ, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và xử lý các vấn đề phát sinh, không để trở thành điểm nóng, bức xúc, nổi cộm trong cơ quan, đơn vị đã thiết thực góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.
Môi trường ST.

BỊ CÁO HOÀNG VĂN HƯNG -KHÔNG THÀNH KHẨN, KHÔNG TRUNG THỰC GÂY BỨC XÚC CHO XÃ HỘI PHẢI XỬ LÝ NGHIÊM TRƯỚC PHÁP LUẬT!

        Theo HĐXX, hành vi của bị cáo Hoàng Văn Hưng mang tính chất đặc biệt nguy hiểm, gây ra bức xúc cho xã hội, cần một mức án nghiêm khắc, cao hơn mức đề nghị của VKS mới đủ sức răn đe.

Chiều 28/7, TAND TP Hà Nội tuyên phạt bị cáo Hoàng Văn Hưng (cựu điều tra viên Bộ Công an) án tù chung thân về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 800.000 USD.

Chủ tọa phiên tòa nhận định Hưng khai báo không thành khẩn, không trung thực, thay đổi lời khai. Hội đồng xét xử (HĐXX) đánh giá hành vi của bị cáo Hoàng Văn Hưng mang tính chất đặc biệt nguy hiểm, gây ra bức xúc cho xã hội.

"Mặc dù đã chuyển công tác nhưng Hoàng Văn Hưng vẫn đưa ra thông tin gian dối để nhận tiền của Lê Hồng Sơn, Nguyễn Thị Thanh Hằng. Sau khi nhận tiền bị cáo đã không giúp được như đã hứa hẹn nên đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", chủ tọa phiên tòa nói.

"Hưng lợi dụng chức vụ quyền hạn để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị cáo không thành khẩn, không ăn năn, đến nay cũng không khắc phục hậu quả vụ án", chủ tọa phiên tòa nói và nhận định cần một mức án nghiêm khắc, cao hơn mức đề nghị của VKS mới đủ sức răn đe. Trước đó VKS đề nghị mức án dành cho Hoàng Văn Hưng là 19-20 năm tù. 

HĐXX khẳng định, bị cáo Hoàng Văn Hưng không oan; các đề nghị trả hồ sơ, tách vụ án để điều tra bổ sung của luật sư bào chữa cho bị cáo là không có căn cứ./.
Yêu nước ST.

PHA TẤU HÀI CỰC ĐỈNH CỦA LINH MỤC NGUYỄN NGỌC NAM PHONG!

         Luận về tuổi tác thì linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong này còn thua tôi 3 tuổi. Thế nên xin phép anh chị cho tôi gọi Phong là chú em theo phép lịch sự.
    Không hiểu thằng chú em linh mục này nó có nắm giữ chức vụ gì bên Giáo triều Vatican không, hay chỉ là một Linh mục bình thường cũng như bao linh mục giáo phận khác mà thôi, vậy mà Nam Phong dám cao giọng đòi chính phủ Việt Nam phải trả lại tòa khâm xứ 42 Hà Nội để làm văn phòng đại diện cho vantican.
    Giá như thằng chú này là người trong nhóm phát ngôn viên của phân bộ Ngoại giao, hoặc chí ít cũng là Quốc vụ khanh chẳng hạn, thì may ra còn ngửi được,đằng này chú mày chỉ là một linh mục của giáo phận thôi thì quyền gì mà lên tiếng,thật nực cười.
    Trong những ngày qua, Giáo hội Công giáo ,và bà con giáo dân Công giáo Việt Nam, đang vui mừng vì sự kiện Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Tòa thánh vantican đã thông qua "Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng Đại diện thường trú Tòa thánh tại Việt Nam". Còn đối với việc đặt văn phòng đại diện Tòa thánh Vatican tại Việt Nam ở đâu thì tùy theo hai bên thỏa thuận, còn như thằng chú em Nam Phong này thì không đủ tư cách để lên tiếng. Đừng " cầm đèn chạy trước ô tô " hay còn gọi là " ch....chạy trước người " Làm thế chỉ tổ cho thiên hạ họ cười vào mặt thôi nhé cu em./.


Yêu nước ST.

THỊ PHI KHÓ TRÁNH

Có một vị tổng giám đốc gọi nhân viên lên và hỏi chuyện:

- “Tôi thấy cậu cũng đứng đắn, chững chạc và rạch ròi. Vậy sao trong công ty vẫn có lời ra tiếng vào, dị nghị đàm tiếu?”

Hắn trả lời:

Chí Phèo không còn trong văn học phổ thông

 Truyện rằng:

 ... Thị Nở ôm Chí Phèo, ứa lệ: "Người ta mà đuổi anh ra khỏi sách giáo khoa, em cũng sẽ xin ra theo. Em không thể sống thiếu anh". 

Chí Phèo vô cùng cảm động liền ôm chặt lấy Nở rồi cũng khóc sướt mướt.


THIẾU TU DƯỠNG, RÈN LUYỆN QUÂN NHÂN VI PHẠM PHÁP LUẬT!

     Là quân nhân công tác tại một đơn vị chủ lực, có bề dày truyền thống, nhưng do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, Nguyễn Đình Toàn sa vào tệ nạn cờ bạc, vay nặng lãi dẫn đến vi phạm pháp luật. Ngày 13-7 vừa qua, bị cáo Nguyễn Đình Toàn đã phải nhận án phạt nghiêm khắc bởi hành vi “đào ngũ”.

Theo cáo trạng, rạng sáng 4-1-2022, bị cáo Nguyễn Đình Toàn (sinh năm 2001, khi phạm tội là Thiếu úy QNCN, lái xe, công tác tại Lữ đoàn 273, Quân đoàn 3) tự ý bỏ trốn khỏi đơn vị, bắt xe vào TP Hồ Chí Minh, sau đó xuống tỉnh Tây Ninh, làm thủ tục xuất cảnh sang Campuchia tìm kiếm việc làm.

Sau nhiều lần phối hợp với địa phương, gia đình tìm kiếm, nhằm đưa Toàn trở lại đơn vị nhưng không có kết quả, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 273 đã ra Quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo đối với Nguyễn Đình Toàn. Tháng 8-2022, Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực Quân đoàn 3 ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Đình Toàn về hành vi “đào ngũ”. Sau đó không lâu, cơ quan chức năng ra quyết định truy nã đối với Toàn. Biết không thể trốn thoát, ngày 6-4-2023, Toàn trở về nước, đến Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực Quân đoàn 3 đầu thú.

Trong giai đoạn điều tra và ở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai, diễn ra tại Hội trường Lữ đoàn 273, trước Hội đồng xét xử, những người làm chứng, thân nhân gia đình, cấp trên, đồng đội cũ, Nguyễn Đình Toàn cúi đầu khai nhận, quá trình công tác, do nghiện game online, bị mắc nợ một số tiền lớn, không có khả năng chi trả nên đã bỏ trốn khỏi đơn vị. Được nói lời sau cùng, Toàn tỏ ra hối hận về những việc làm sai trái của mình và mong được đơn vị, gia đình, đồng đội tha thứ. Toàn mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ, Hội đồng xét xử xác định hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân. Bị cáo là QNCN đã thực hiện hành vi đào ngũ thể hiện ý thức chấp hành kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước kém, cần phải xử lý nghiêm. Do đó, Tòa án Quân sự khu vực 1 Quân khu 5 đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đình Toàn 25 tháng tù giam. Đây thực sự là bài học cảnh tỉnh đối với bất cứ quân nhân nào lười rèn luyện, thiếu tu dưỡng để rồi vi phạm pháp luật, kỷ luật.
Theo Báo QĐND./.
Yêu nước ST.

KỶ NIỆM 28 NĂM VIỆT NAM GIA NHẬP ASEAN: CHUNG TAY VÌ MỘT CỘNG ĐỒNG ĐOÀN KẾT, VỮNG MẠNH VÀ THỊNH VƯỢNG!

     Cách đây 28 năm, vào ngày 28/7/1995, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), ghi dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới.

28 năm là một hành trình ghi đậm dấu ấn những đóng góp tích cực của Việt Nam vào sự phát triển chung của Hiệp hội, tạo nền tảng để thành lập Cộng đồng ASEAN gắn kết về chính trị, liên kết về kinh tế và chia sẻ trách nhiệm xã hội.

Quyết sách đối ngoại đột phá
Ngày 28/7/1995, Quốc kỳ Việt Nam được kéo lên tại Brunei. Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN. Đây là một quyết sách chiến lược rất đúng đắn, mở ra cánh cửa để Việt Nam hội nhập quốc tế.

Trước đây, khi đề cập đến quyết sách này, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan từng khẳng định, trước khi gia nhập ASEAN, Việt Nam là một nước bị bao vây, cô lập. Khi vào ASEAN, chúng ta đã bình thường hóa quan hệ với tất cả các nước, kể cả Hoa Kỳ. Vào ASEAN, chúng ta có một tư thế mới, là thành viên của một tổ chức có uy tín, từ đó ảnh hưởng của Việt Nam quan trọng hơn.

Nhìn lại bối cảnh lịch sử giai đoạn đầu những năm 1990, nhiệm vụ cơ bản của công tác đối ngoại đã được Đảng, Nhà nước chỉ rõ là củng cố và giữ gìn hòa bình để tập trung xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Việc điều chỉnh chính sách đối với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) không chỉ là đòi hỏi chủ quan của tình hình trong nước, mà còn là vấn đề sống còn trước yêu cầu khách quan khi tình hình thế giới, khu vực có nhiều thay đổi, nhất là sau khủng hoảng của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu.

Bên cạnh đó, việc Việt Nam gia nhập ASEAN không chỉ có ý nghĩa với nước ta mà còn cả với khu vực. Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng SOM ASEAN (giai đoạn 2007 - 2014) cho biết: Khu vực (thời điểm 1995) đứng trước những thách thức mới là làm sao gắn kết được cả 10 nước ASEAN vốn nghi kỵ, đối đầu nhau trước đây. Chính ASEAN cần Việt Nam và việc Việt Nam gia nhập ASEAN mở ra một chương mới cho Hiệp hội và khu vực Đông Nam Á đi vào hình thành cộng đồng, phát huy vai trò trung tâm và có thể đóng góp nhiều hơn cho hòa bình, ổn định, phát triển khu vực này.
Việc Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN năm 1995 đã mở đường cho các nước khác như Lào, Myanmar và Campuchia gia nhập khối, biến ASEAN trở thành khối các nước hợp tác không phân biệt sự khác biệt về hệ thống chính trị.

ASEAN với sự tham gia của Việt Nam đã đưa khu vực vào thời kỳ mới. Vai trò, dấu ấn của Việt Nam được ghi nhận trong quá trình xây dựng, hình thành các chiến lược, định hướng, kế hoạch phát triển của ASEAN, đặc biệt là trong thúc đẩy tăng cường các cơ chế hợp tác khu vực, với các đối tác lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc, Ấn Độ.

Theo Đại sứ Hoàng Anh Tuấn, nguyên Phó Tổng Thư ký ASEAN, Việt Nam từ những bước ban đầu còn chập chững nay đã là một thành viên rất là chủ động, rất tích cực và cùng với các nước thành viên khác ứng phó với các thách thức, cũng như tận dụng các cơ hội đóng góp vào những vấn đề hết sức chiến lược liên quan đến hòa bình, phát triển, thịnh vượng của ASEAN, góp phần thúc đẩy vị thế của ASEAN cũng như là vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.

Hơn một phần tư thế kỷ trôi qua, sự thành công và vai trò ngày càng lớn của ASEAN trong chặng đường vừa qua cùng sự đồng hành của Việt Nam đã một lần nữa cho thấy sự đúng đắn trong quyết định của Việt Nam khi gia nhập Hiệp hội này. Sự tham gia ấy không chỉ thể hiện sự chủ động, tích cực trong phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của nước ta, mà còn cho thấy nhu cầu hợp tác tất yếu vì hòa bình, phát triển thịnh vượng của cả khu vực.

Khẳng định bản lĩnh và vai trò dẫn dắt trong khu vực
Dấu ấn đầu tiên lớn nhất mà Việt Nam đóng góp cho ASEAN là mở đầu một giai đoạn mới cho ASEAN phát triển mạnh mẽ hơn, đoàn kết hơn và thống nhất hơn, tạo ra một thế đứng mới cho ASEAN trong khu vực với đủ cả 10 nước thành viên cùng nhau hợp tác, cùng nhau mở rộng quan hệ với bên ngoài, trở thành một lực lượng trung tâm trong tất cả tiến trình đa phương của khu vực.

Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xác định mục tiêu, phương hướng phát triển và hình thành các quyết sách lớn của ASEAN. Có thể kể đến việc góp phần xây dựng và thông qua nhiều văn kiện quan trọng, như: Tầm nhìn ASEAN năm 2020, Hiến chương ASEAN, Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN năm 2025 và các kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng, các Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN…, cùng các kế hoạch triển khai trên từng trụ cột của Cộng đồng và nhiều thỏa thuận quan trọng khác, nhất là về kết nối và thu hẹp khoảng cách phát triển.

Theo Đại sứ Vũ Hồ, Quyền Trưởng SOM ASEAN, Việt Nam là nước khởi xướng rất nhiều cơ chế hoạt động của ASEAN, trong đó có những cơ chế cho đến nay vẫn còn tiếp tục là những cơ chế trung tâm. Đơn cử như thành lập cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) năm 2010, các cơ chế ASEAN+, mở rộng Hội nghị cấp cao Đông Á với sự tham gia của Nga và Hoa Kỳ (năm 2010), thành lập Cộng đồng ASEAN (năm 2015). Những nỗ lực này giúp tăng cường vị thế quốc tế của ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng, đem lại những lợi ích to lớn đối với Việt Nam trên các khía cạnh an ninh - chính trị và vị thế quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi giúp Việt Nam xử lý các thách thức trong khu vực và trên thế giới.

Việt Nam đã làm Chủ tịch ASEAN 3 lần (1998, 2010, 2020), mỗi lần đều để lại dấu ấn đậm nét. Đặc biệt, năm 2020, trong cai trò Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã làm tốt vai trò dẫn dắt các hoạt động của Hiệp hội, từ trực tiếp sang trực tuyến. Sự linh hoạt, chủ động của Việt Nam góp phần giúp ASEAN đứng vững, vượt qua giai đoạn rất khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Những sáng kiến, ưu tiên của Việt Nam trong năm 2020 đã trở thành tài sản chung của khu vực.

Năm 2021, tham dự Hội nghị trực tiếp lần đầu tiên giữa các nhà lãnh đạo ASEAN, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đưa ra hàng loạt sáng kiến như Kế hoạch cung cấp vaccine cho người dân; thành lập và đưa vào vận hành Trung tâm ASEAN về các tình huống y tế khẩn cấp và dịch bệnh mới nổi; phục hồi và phát triển kinh tế trong và sau đại dịch, qua đó thể hiện vai trò, sự chủ động, tích cực của Việt Nam.

Nguyên Tổng Thư ký ASEAN Dato Lim Jock Hoi đánh giá: Việt Nam đã thể hiện "tầm lãnh đạo mạnh mẽ" trong việc dẫn dắt một phản ứng tập thể của khu vực trước đại dịch COVID-19. ASEAN đã đoàn kết và nhanh chóng ứng phó với đại dịch kể từ tháng 2/2020. Điều này một lần nữa khẳng định "tầm lãnh đạo của Việt Nam" đặc biệt trong việc thúc đẩy các quốc gia thành viên đối thoại và hợp tác thông qua một loạt các hội nghị trực tuyến. ASEAN hoàn toàn có thể vượt qua thử thách của dịch COVID-19 với sự đồng thuận, kiên cường và nỗ lực.

Việt Nam cũng đã góp phần quan trọng trong việc củng cố và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong quan hệ với các đối tác. Các sáng kiến, đóng góp của Việt Nam góp phần thúc đẩy hợp tác thực chất, hiệu quả giữa ASEAN và các đối tác bên ngoài, đưa ASEAN trở thành đối tác chiến lược với nhiều đối tác quan trọng.

Trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, Việt Nam tham gia quá trình xây dựng nguyên tắc, định hình "luật chơi" của khu vực, cùng ASEAN bảo đảm hòa bình, an ninh, ổn định, thúc đẩy đối thoại và hợp tác. Việt Nam thúc đẩy Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) trở thành bộ quy tắc về quan hệ giữa các nước ASEAN, cũng như các nước ngoài khu vực. Việt Nam cũng đóng góp tích cực vào việc xây dựng, thông qua tài liệu Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (AOIP) giúp hình thành lập trường chung của ASEAN, thúc đẩy hợp tác trên cơ sở phù hợp với các giá trị, nguyên tắc cơ bản và vai trò trung tâm của ASEAN.

Về vấn đề Biển Đông, Việt Nam cùng các nước thành viên tham gia tích cực trong quá trình đàm phán, ký kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung Quốc; cũng như đàm phán sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, hiệu quả.

Năm 2023 là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đòi hỏi nỗ lực đồng bộ, nhanh chóng và quyết liệt ở tất cả các cấp, các ngành, lĩnh vực; trong đó không thể không nhắc đến đóng góp trên mặt trận đối ngoại nói chung và hoạt động đối ngoại đa phương nói riêng.

Là tổ chức có tầm quan trọng chiến lược, liên quan mật thiết đến lợi ích an ninh, vị thế và sự phát triển của Việt Nam, 28 năm qua, hợp tác với ASEAN luôn là một trụ cột quan trọng trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam.

Trong phát biểu tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 42 diễn ra tại Labuan Bajo (Indonesia) vào tháng 5/2023 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nêu ra 3 vấn đề cốt lõi quyết định bản sắc, giá trị, sức sống và uy tín của ASEAN, đó là giữ vững độc lập, tự chủ chiến lược, vươn mình bứt phá thành tâm điểm của tăng trưởng, thích ứng ngày càng tốt hơn trước những biến động bên ngoài. Trên cơ sở đó, Thủ tướng khẳng định mong muốn của Việt Nam cùng các nước xây dựng bản sắc, giá trị, sức sống và uy tín của ASEAN, đồng thời làm sâu sắc thêm quan hệ giữa Việt Nam và các nước ASEAN./.
Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 Nhân chuyến thăm Tòa thánh Vatican của Chủ tịch nước, họ lại lợi dụng vấn đề tôn giáo để nói xấu Nhà nước ta


Từ ngày 23-28/7/2023, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm một số nước châu Âu, trong đó có thăm Tòa thánh Vatican theo lời mời của nguyên thủ các quốc gia này. Lợi dụng điều đó, các thế lực có thâm thù với chế độ ta lại có dịp đưa thông tin thất thiệt để cho rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, tôn giáo ở Việt Nam bị đàn áp nhằm chống phá quan hệ giữa Việt Nam với các nước, nhất là quan hệ với Tòa thánh Vatican. Trang Việt Nam Thời báo ngày 25/7/2023 với bài: “Việt Nam bị đề nghị đưa vào lại danh sách Quốc Gia Quan Tâm Đặc Biệt (CPC)” là một ví dụ.


1. Họ cho là “Điều trần về tình trạng đàn áp tôn giáo toàn cầu: Việt Nam được chú ý đặc biệt”. Theo họ, tại buổi điều trần dưới quyền chủ tọa của Dân Biểu Christopher Smith (ngày 18/7) vừa qua, ông Dân biểu này đã nói: “Ở Việt Nam, cuộc đàn áp của nhà nước cộng sản nhắm vào các tôn giáo, kể cả Giáo Hội Công Giáo, đã tệ đi trong những năm gần đây”(!)


Trước hết cần khẳng định, ý kiến trên hoàn toàn không có cơ sở, không gắn với thực tiễn sinh động của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Đó là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ (4/2023), Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với trên 26,5 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước, hơn 54 nghìn chức sắc, trên 135 nghìn chức việc và gần 30 nghìn cơ sở thờ tự. Các tôn giáo có đông tín đồ là Phật giáo (trên 14 triệu), Công giáo (khoảng 7 triệu), Phật giáo Hòa Hảo (khoảng 1,5 triệu), Tin lành (khoảng 1,21 triệu); Cao Đài khoảng (trên 1,1 triệu), v.v.


Bên cạnh đó, Việt Nam là quốc gia có hệ thống tín ngưỡng vô cùng phong phú với 50.703 cơ sở tín ngưỡng, trong đó khoảng 3.000 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO ghi danh là di sản thế giới.


Cùng với quá trình đổi mới đất nước, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có nhiều chuyển biến mới: sự trở lại của niềm tin tôn giáo, sự gia tăng số lượng chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo; nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra với quy mô lớn hơn trước thu hút đông đảo tín đồ và người dân tham gia. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của đông đảo quần chúng nhân dân và có những đóng góp tích cực đối với đời sống xã hội.


Việt Nam không có tự do tôn giáo, đàn áp tôn giáo thì không thể có được đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng phong phú và số lượng tín đồ các tôn giáo đông đảo như trên.


2. Dựa trên những thông tin sai sự thật, năm 2022, Bộ Ngoại Giao Mỹ đã đưa Việt Nam vào Danh Sách Theo Dõi Đặc Biệt (SWL), hiện nay, một số cá nhân có thâm thù với chế độ ta lại muốn đưa Việt Nam vào danh sách CPC. Việc làm đó của họ đã không nhìn thấy đời sống tín ngưỡng, tôn giáo sinh động ở nước ta hiện nay. Đó là:


Nhà nước bảo đảm sự đa dạng, hòa hợp và bình đẳng tôn giáo và không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Các tôn giáo ở Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi người hoàn toàn tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tín đồ các tôn giáo được tự do bày tỏ đức tin tại gia đình, cơ sở thờ tự hoặc điểm nhóm đăng ký với chính quyền.


Nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo Hiến chương, Điều lệ và quy định pháp luật. Nhà nước bảo đảm và tạo điều kiện để các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động tôn giáo của mọi tôn giáo được diễn ra bình thường. Đặc biệt những ngày lễ trọng của các tôn giáo được tổ chức với quy mô lớn, thu hút không chỉ tín đồ mà còn đông đảo người dân tham gia.


Việc công nhận tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được thực hiện theo quy định của pháp luật. Sau khi thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã công nhận 01 tổ chức tôn giáo (Giáo hội Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam), cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 03 tổ chức (Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam; Hội thánh Tin lành Liên hiệp Truyền giáo Việt Nam; Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê-su Ky-tô Việt Nam).


Việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung trên phạm vi cả nước được tạo điều kiện thuận lợi. Trước khi Luật tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực, có hơn 2.600 điểm nhóm, sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực, có thêm hơn 1.100 điểm nhóm được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung.


Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam chủ động trong việc củng cố tổ chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành theo Hiến chương, Điều lệ và quy định của pháp luật. Hàng năm, số lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành và những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp không ngừng tăng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tinh thần của nhân dân. Kể từ khi thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, cả nước có hơn 6.500 người được phong phẩm, suy cử làm chức sắc; 16.783 người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc.


Nhà nước bảo đảm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Cả nước hiện có 62 cơ sở đào tạo tôn giáo; một số cơ sở được phép đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ.


Các tổ chức tôn giáo được quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện hoạt động xuất bản kinh sách và xuất bản phẩm khác về tín ngưỡng, tôn giáo; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tín ngưỡng, tôn giáo, đồ dùng tôn giáo bảo đảm phục vụ yêu cầu hoạt động của các tôn giáo. Từ năm năm 2018 đến năm 2022, Nhà xuất bản Tôn giáo đã có quyết định xuất bản 2.527 ấn phẩm với 8.506.240 bản in, trong đó có nhiều xuất bản phẩm được dịch ra tiếng Anh, Pháp, tiếng dân tộc thiểu số. Ở Việt Nam có 15 tờ báo và tạp chí của các tổ chức tôn giáo đang hoạt động. Phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có Website riêng để phục vụ việc sinh hoạt đạo, truyền bá tôn giáo của mình.


Nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo tham gia các hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài. Hàng năm, có hàng trăm lượt chức sắc, nhà tu hành, tín đồ của các tôn giáo ở Việt Nam xuất cảnh tham dự các hoạt động tôn giáo, khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài và hàng trăm lượt cá nhân tôn giáo nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam hoạt động tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam còn tích cực tham gia các hội nghị, diễn đàn tôn giáo khu vực và quốc tế (Đối thoại liên tín ngưỡng Á – Âu (ASEM), đối thoại liên tín ngưỡng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương,…). Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. Hiện có 67 điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại các tỉnh, thành phố với hàng trăm người tham gia và có quốc tịch từ nhiều nước (Hàn Quốc, Philippin, Singapore, Malaixia, Nga, Mỹ, Pháp,…). Cùng với đó, Nhà nước còn bảo đảm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc thiểu số; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đối với người chấp hành án phạt tù, v.v.


Qua đó cho thấy đời sống tín ngưỡng, tôn giáo sinh động, phong phú ở Việt Nam. Chỉ những tổ chức đội lốt tôn giáo như Hội thánh Đức chúa trời mẹ mới bị các cấp chính quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Đó là việc làm cần thiết để bảo đảm an ninh, an toàn và trật tự xã hội, vì hạnh phúc của mỗi người dân, mỗi gia đình và cả cộng đồng. Thế nên, đừng có lợi dụng tôn giáo hòng hạ uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế./.