Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2023

Tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Nền tảng lý luận cho công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong giai đoạn mới

 TCCS - Cuốn sách Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là tác phẩm có giá trị to lớn, góp phần phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nói chung, về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng. Tác phẩm thực sự có ý nghĩa truyền cảm hứng; đồng thời, thể hiện quyết tâm cao, nỗ lực lớn, đề ra quan điểm chỉ đạo và hệ thống giải pháp đúng đắn, toàn diện nhằm tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn hiện nay.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực_Ảnh: TTXVN

Tác phẩm Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh tổng kết thực tiễn phong phú chặng đường 10 năm từ khi Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được thành lập, trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng Ban(1); rút ra những vấn đề ở tầm lý luận về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; định hướng những giải pháp trọng tâm trong thời gian tới. Tác phẩm trình bày về vấn đề đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở tầm lý luận, làm rõ tư duy lý luận của Đảng trong lĩnh vực này; cung cấp cơ sở khoa học để nhận thức đúng về bản chất tình trạng tham nhũng, tiêu cực; phương pháp để xác định và thực hiện đúng công việc mà toàn Đảng, toàn dân đang kiên quyết, kiên trì triển khai; đồng thời, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để phản bác mạnh mẽ, hiệu quả các luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch. Tác phẩm thể hiện rõ những nội dung cốt lõi sau: 

Nhận diện rõ hơn về tham nhũng, tiêu cực; hậu quả của tham nhũng, tiêu cực; ý nghĩa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đồng chí Tổng Bí thư nhắc lại cách định nghĩa nôm na, dễ nhớ, dễ hiểu và cũng rất nghiêm khắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tham nhũng là hành vi “ăn cắp của công làm của tư”; tham ô, tham nhũng là “giặc nội xâm”. Đồng thời, đồng chí nhấn mạnh, tham nhũng, tiêu cực là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực(2).

Tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư đã nhận diện rõ hơn, sâu hơn về phạm vi của tham nhũng, tiêu cực; phân tích, chỉ ra mối quan hệ giữa tham nhũng và tiêu cực. So với “tham nhũng” thì “tiêu cực” có nghĩa rộng hơn. Tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực của người có chức, có quyền. Tiêu cực là môi trường nảy sinh tham nhũng. Tham nhũng làm trầm trọng hơn tình trạng tiêu cực. Cái gốc, cái biểu hiện và nguyên nhân cơ bản, trực tiếp của tình trạng tham nhũng, tiêu cực được chỉ rõ, chính là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đồng chí Tổng Bí thư nêu rõ: Tham nhũng tiền bạc, tài sản thì có thể thu hồi được, nhưng “nếu suy thoái về đạo đức, tư tưởng là mất tất cả”(3). Bởi vậy, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải tập trung vào đấu tranh với căn nguyên, gốc rễ của tham nhũng, tiêu cực là tình trạng biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. “Phòng, chống tiêu cực, mà trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, tức là trị tận gốc của tham nhũng”(4).

Việc bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo cả công tác phòng, chống tiêu cực đã đưa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực bước sang một giai đoạn mới, đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa phòng và chống theo đúng tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của Đảng. Đó không đơn thuần là mở rộng phạm vi cuộc đấu tranh mà thực chất là nâng tầm cuộc đấu tranh vừa toàn diện và đồng bộ, vừa đi vào chiều sâu, xác định đúng và trúng gốc rễ của tình trạng này. Vấn đề căn cơ trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là phòng ngừa từ sớm, từ xa, mà trung tâm là xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên để trị tận gốc tham nhũng, tiêu cực.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kiên quyết khẳng định: Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là việc làm cần thiết, tất yếu và thực tế đã trở thành xu thế không thể đảo ngược. Bởi lẽ, đảng cầm quyền luôn có nguy cơ thoái hóa, biến chất; mà tham nhũng, tiêu cực “là khuyết tật bẩm sinh” đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Tham nhũng, tiêu cực làm giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước; là thách thức đối với sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước; đe dọa sự ổn định, phát triển đất nước, sự tồn vong của Đảng và của chế độ. Chính vì vậy, “Vị trí, vai trò của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng được coi trọng và nhận thức sâu sắc hơn, toàn diện hơn”(5). Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một vấn đề trọng yếu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngày càng được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao, được quốc tế ghi nhận.

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là đòi hỏi của thực tiễn, mệnh lệnh của cuộc sống. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dù rất đau xót, nhưng rất kiên quyết xử lý cán bộ tham nhũng, lãng phí, sống xa hoa khi mà đồng bào và chiến sĩ đang chịu bao tổn thất, hy sinh trong cuộc kháng chiến trường kỳ. Nay, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, khi phải xử lý kỷ luật nghiêm khắc những người vi phạm tham nhũng, tiêu cực, cũng luôn trăn trở, đau xót, nhưng xác định rõ lập trường: nếu không kiên quyết xử lý thì ảnh hưởng đến tồn vong của chế độ. Việc xử lý nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao như vừa qua là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng đó là việc phải làm, vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, vì sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và trên hết, là vì ý nguyện của nhân dân, vì lợi ích quốc gia - dân tộc.

Đồng chí Tổng Bí thư đã chỉ ra những bước tiến mới về nhận thức trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Từ chỗ, trước đây chủ yếu quan tâm đến tác hại trước mắt, về vật chất, thì hiện nay chúng ta quan tâm nhiều hơn đến tác hại tiềm ẩn, khôn lường của tệ tham nhũng, tiêu cực; trước đây chỉ tập trung vào khu vực nhà nước, các hành vi làm thất thoát tài sản nhà nước, thì nay mở rộng ra cả khu vực ngoài nhà nước; gắn đấu tranh chống tham nhũng với chống lãng phí; gắn chống tham nhũng với chống tiêu cực, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân... Đặc biệt, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thường xuyên được chấn chỉnh, uốn nắn từ trong suy nghĩ, nhận thức đến hành động, từ đó được tiến hành sâu rộng, từ sớm, từ xa, cả “ngọn” lẫn “gốc”.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được nhiều kết quả quan trọng; không đơn thuần là những con số vụ việc được phát hiện, xử lý. Năm 2014, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã đánh giá: Tình trạng tham nhũng “vẫn đang là thách thức và là một trong những vấn đề bức xúc nhất của xã hội”. Đến năm 2018, tình trạng này “đang từng bước được kiềm chế và có chiều hướng thuyên giảm”. Năm 2020, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã “đạt nhiều kết quả cụ thể rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt... “trở thành một phong trào, xu thế” được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được quốc tế ghi nhận”(6). Nếu như năm 2014, Ban Chỉ đạo đánh giá “việc phát hiện tham nhũng vẫn là khâu yếu” thì thời gian gần đây đã được chỉ đạo và thực hiện một cách bài bản, đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá trong trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đáng chú ý nhất là hệ thống các quy định pháp luật thu hẹp, lấp kín các “kẽ hở”, ngăn ngừa, giảm thiểu những hành vi tham nhũng, tiêu cực có thể lọt qua; phát huy ý thức làm chủ và tinh thần dân chủ của người dân; cảnh tỉnh và tăng cường giáo dục, rèn luyện của cán bộ, đảng viên; loại trừ những hành vi, vụ việc, cá nhân tham nhũng, tiêu cực. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần đã góp phần thúc đẩy sự tiến bộ và những giá trị tốt đẹp, thêm động lực để những cán bộ, đảng viên trong sạch hăng hái làm việc, cống hiến. Và trên thực tế những năm qua, cùng với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đạt được nhiều kết quả quan trọng, kinh tế ngày càng phát triển, chính trị, xã hội ổn định, uy tín và vị thế đất nước được nâng cao.

Những thành quả quan trọng nêu trên là minh chứng thuyết phục, phản bác mạnh mẽ những ý kiến lo ngại rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì sẽ làm “chùn” sự chỉ đạo hay làm “chậm” sự phát triển; cần khẳng định nhất quán, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng cường an ninh - quốc phòng, đối ngoại(7). Việc xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm “chậm lại” sự phát triển, mà ngược lại, càng làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và cán bộ; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân(8). Trong thực tế, cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã chót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu kiến thức, kinh nghiệm và bản lĩnh.

Nhận diện và phân tích phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên nhiều chiều cạnh. Trước hết, đây là cuộc đấu tranh - đấu tranh trong nội tâm, nhận thức, tư tưởng mỗi cán bộ, đảng viên; đấu tranh trước hết trong Đảng, trong mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng các cấp - đấu tranh giữa một bên là cám dỗ vật chất tầm thường với trách nhiệm và quyền lợi hợp pháp, chính đáng; đấu tranh giữa một bên là sự cám dỗ và tha hóa của quyền lực và một bên là đạo đức cách mạng, là trọng trách của mỗi cán bộ, đảng viên phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Cuộc đấu tranh này có phạm vi rộng lớn, trong toàn Đảng và hệ thống chính trị, với sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân. Dù diễn ra trong thời bình, nhưng cuộc đấu tranh này luôn mang tính chất sinh - tử, bởi nó có ý nghĩa đối với sự tồn vong của chế độ.

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một công tác, có hệ thống tổ chức từ trên xuống dưới, chủ trương mạnh mẽ, quan điểm nhất quán, nguyên tắc chặt chẽ, phương châm rõ ràng, phương pháp tổ chức thực hiện bài bản, linh hoạt, lực lượng rộng lớn; được sự quan tâm, giám sát, đánh giá của toàn Đảng, toàn dân mà thước đo hiệu quả cao nhất là niềm tin của nhân dân. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được xác định rõ về chủ thể và đối tượng; vũ khí đấu tranh mạnh mẽ, uy lực; phương pháp đấu tranh đa dạng, thích hợp với từng đối tượng, hành vi, mức độ vi phạm; hình thức đấu tranh quyết liệt, đến cùng, không khoan nhượng. Đặc biệt, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có lực lượng rộng lớn, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó sự lãnh đạo trực tiếp, chặt chẽ, toàn diện, thường xuyên của Đảng là nhân tố quyết định.

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ là nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan chuyên trách, mà còn trở thành mối quan tâm chung của các tầng lớp nhân dân, cán bộ, đảng viên và cả bạn bè quốc tế. Trong thực tế đời sống xã hội, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã trở thành một phong trào, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của nhân dân và xã hội. Sức mạnh và động lực to lớn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng, tham gia tích cực của nhân dân và cả hệ thống chính trị, mà nòng cốt là các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, như nội chính, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. “Nếu không dựa vào dân thì cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực khó có thể thành công”(9). Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và báo chí, doanh nghiệp, doanh nhân,... Khái quát nội dung này, Tổng Bí thư trích lại lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”(10).

Về tư tưởng, phương châm chỉ đạo xuyên suốt, nhất quán: Kiên quyết, kiên trì, liên tục, bền bỉ, không nghỉ, không ngừng; phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm, từ xa, cả ngọn lẫn gốc; chủ động tích cực phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, trong đó phòng là chính, là cơ bản, lâu dài, chống là quan trọng, cấp bách. Làm nghiêm từ trên xuống dưới (đồng chí Tổng Bí thư nhắc nhở: phải tránh tình trạng “Thượng bất chính, hạ tắc loạn!”, “Cấp trên ở chẳng chính ngôi/Cho nên ở dưới chúng tôi hỗn hào!”(11)), không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào; phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm, từ xa, cả ngọn lẫn gốc; tổ chức thực hiện phải trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt. Đây là cuộc đấu tranh không khoan nhượng, không “nhụt chí”, “chùn chân”, “mỏi gối”. Xử lý cả hành vi tham nhũng, tiêu cực và hành vi dung túng, bao che cho tham nhũng, tiêu cực, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, tiêu cực.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thực hiện theo phương châm vì sự phát triển và trên tinh thần phát triển. Từ mấy chục năm trước, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã viết bài đăng trên Tạp chí Cộng sản về bệnh sợ trách nhiệm. Gần đây, Bộ Chính trị ban hành quy định về khuyến khích và bảo vệ cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Trên thực tế, không chỉ cán bộ, mà cả người dân cũng thấy rằng những người bị xử lý vì tham nhũng thời gian vừa qua là vì tư lợi, lợi ích nhóm, chứ không ai bị kỷ luật, kết án vì dám làm, dám chịu trách nhiệm cả. Chống tham nhũng, tiêu cực để đẩy lùi thoái hóa biến chất, đồng thời kích thích tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ở đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư đã toát lên tinh thần của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải được thực hiện thật nghiêm minh, đồng thời mang giá trị nhân văn sâu sắc. Đồng chí Tổng Bí thư nhắc lại quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cái cây”. Mục đích của việc xử lý tham nhũng, tiêu cực là để “trị bệnh, cứu người”, kỷ luật một vài người để cứu nhiều người, truy tố một vụ để cảnh tỉnh cả một vùng, một lĩnh vực. Chống luôn phải đi đôi với xây. Không nhất thiết phải xử lý nhiều mới là tốt mà quan trọng là đấu tranh ngăn chặn/phòng ngừa, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe... Xử lý phải hết sức biện chứng, chặt chẽ, đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể về tình hình thực tế và quy định của pháp luật tại thời điểm xảy ra sai phạm; xem xét kỹ động cơ, mục đích sai phạm, hậu quả thiệt hại và nguyên nhân để đánh giá khách quan, toàn diện trong tổng hòa các mối quan hệ; từ đó xác định đúng bản chất của vụ việc, hành vi sai phạm, lỗi, động cơ, mục đích(12). Xử lý nghiêm hành vi sai phạm của những người vì động cơ vụ lợi, cá nhân; khuyến khích sự tự giác nhận khuyết điểm, sai phạm, tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, từ chức của những người có sai phạm; đồng thời, bảo vệ, khuyến khích những người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo vì sự nghiệp chung(13). Cần có chính sách khoan hồng đối với những người có hành vi tham nhũng, nhưng đã chủ động khai báo, khắc phục hậu quả trước khi bị phát giác, tạo môi trường xã hội tích cực nhằm ngăn chặn tham nhũng. Trong thực tế, thời gian qua công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng được tiến hành kiên quyết, kiên trì, không khoan nhượng, không nương tay, không bỏ lọt tội phạm; đồng thời, không làm oan sai; rất nghiêm minh, nhưng cũng rất nhân văn, nhân ái, có lý, có tình. Nhờ vậy, hầu hết các đối tượng bị xử lý đều nhận thức rõ sai phạm của mình cũng như hậu quả của những sai phạm ấy; tâm phục, khẩu phục, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải, xin lỗi Đảng, Nhà nước và nhân dân(14).

Tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư đã đúc kết, rút ra những bài học rất có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, để củng cố thêm bản lĩnh và niềm tin trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong đó những bài học cốt yếu: 1- Nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vị trí, ý nghĩ, tầm quan trọng đặc biệt của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từ đó có quyết tâm chính trị rất cao, biện pháp đúng và hành động quyết liệt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tập trung, thống nhất của Đảng, mà trực tiếp là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trực thuộc Bộ Chính trị; Ban Nội chính Trung ương là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo; 2- Đặc biệt quan tâm, chú trọng công tác cán bộ; gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; 3- Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “chống giặc nội xâm”; là nhiệm vụ rất quan trọng, nhưng cũng vô cùng khó khăn, đòi hỏi tiến hành một cách kiên quyết, kiên trì, liên tục, bền bỉ, “không nghỉ”, “không ngừng” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự. Không thể chủ quan, nóng vội; không được né tránh, cầm chừng; 4- Phải kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, kịp thời xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tiêu cực; trong đó, phòng ngừa là chính, là cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, đột phá. Tăng cường giáo dục kỷ luật, siết chặt kỷ luật, dùng kỷ luật nghiêm minh, giám sát nghiêm khắc; để cán bộ, đảng viên giữ gìn, nhớ điều cấm, giữ giới hạn; 5- Tăng cường và nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực. Mọi quyền lực phải được kiểm soát bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm; quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn. Phải “nhốt” quyền lực vào trong “lồng” cơ chế, bảo đảm quyền lực được vận hành đúng đắn, không bị “tha hóa”. Phải tăng cường giám sát việc sử dụng quyền lực của cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, tăng cường giám sát trong nội bộ tập thể lãnh đạo; công khai sử dụng quyền lực theo pháp luật để cán bộ, nhân dân giám sát. Bất cứ ai cũng không có quyền lực tuyệt đối ngoài pháp luật, bất kỳ ai sử dụng quyền lực đều phải phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và tự giác chịu sự giám sát của nhân dân; 6- Chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt và sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, nhịp nhàng, kịp thời, hiệu quả của các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; trong đó, Ban Chỉ đạo là trung tâm chỉ đạo, phối hợp hoạt động; 7- Các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải phù hợp với bối cảnh, yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và truyền thống văn hóa của dân tộc; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài; kế thừa kinh nghiệm của các nhiệm kỳ trước; 8- Cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Xử lý nghiêm khắc, khắc phục tình trạng thông tin một chiều, thông tin không chính xác, mang tính kích động, gây hoang mang hoặc quy kết về tội danh, mức án trước khi xét xử.

Chỉ ra giải pháp toàn diện tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư, nhiệm vụ, giải pháp được nêu lên một cách toàn diện để “không dám”, “không thể” “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực; đồng bộ các biện pháp chính trị tư tưởng, tổ chức hành chính, kinh tế, hình sự; có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh; bước đi, lộ trình phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, từ tuyên truyền, giáo dục, hoàn thiện thể chế, công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát, kiểm soát tài sản, thu nhập, cải cách hành chính, xây dựng cơ quan, đơn vị và cán bộ chuyên trách. Với tinh thần tạo nên những bước tiến mới, quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn trong thời gian tới, đồng chí Tổng Bí thư nêu rõ những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần tập trung thực hiện thật tốt:

- Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu, xây dựng văn hóa liêm chính, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt nói đi đôi với làm của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải nâng cao tính chiến đấu, chủ động phòng ngừa, tự phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu phải gương mẫu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đề cao trách nhiệm nêu gương và trách nhiệm người đứng đầu. Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nêu gương về sự liêm chính, trong sạch, không tham nhũng, lãng phí; nêu gương trong đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về những yếu kém, sai phạm về tham nhũng, tiêu cực trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Nếu tự kiểm tra, giám sát không phát hiện tham nhũng, tiêu cực, mà đoàn kiểm tra của Trung ương phát hiện tham nhũng, tiêu cực, thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm và phải có hình thức kỷ luật nghiêm khắc(15).

Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh: Các tổ chức đảng và đảng viên phải đoàn kết, thống nhất, thông suốt, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, nói đi đôi với làm; “cái cần nhất lúc này là sự tự giác, sự thống nhất cao về ý chí và hành động, là tổ chức thực hiện(16). Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ là tuyên ngôn, mà đã trở thành quyết tâm chính trị và hành động thực tế. Khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán để phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý kịp thời, nghiêm minh và công khai các vụ việc, vụ án tham nhũng, qua đó nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe. Để “không dám” tham nhũng, cần có cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc. Chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh từ trên xuống dưới, không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai. Xử lý cả cán bộ đương chức và về hưu; cả cán bộ cấp cao, cán bộ trong lực lượng vũ trang. Tập trung xử lý dứt điểm nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ. Mở rộng hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực khu vực ngoài nhà nước; nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Tiến hành đồng bộ giữa thi hành kỷ luật Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể và xử lý hình sự. Trong đó, kỷ luật của Đảng thực hiện trước, tạo tiền đề để xử lý kỷ luật hành chính, kỷ luật của đoàn thể và xử lý hình sự; kỷ luật của Đảng nghiêm hơn xử lý theo pháp luật.

Đồng chí Tổng Bí thư đưa ra những quan điểm chỉ đạo hết sức cụ thể, rất thực tế, yêu cầu quán triệt thực hiện thật nghiêm túc, góp phần tạo bước đột phá trong công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực: Có vụ việc thì phải xác minh làm rõ; tích cực, khẩn trương, rõ đến đâu xử lý đến đó; xử lý cả tham nhũng, tiêu cực và hành vi bao che cho tham nhũng, tiêu cực, can thiệp, cản trở chống tham nhũng, tiêu cực. Có dấu hiệu tội phạm phải khởi tố, điều tra, kết luận có tội thì phải truy tố, xét xử; chưa đến mức hình sự thì phải xử lý nghiêm minh theo quy định của Nhà nước, đoàn thể. Trong quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, thi hành án, nếu phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì phải kịp thời chuyển hồ sơ đến cơ quan điều tra để thụ lý điều tra, xử lý theo pháp luật không chờ kết thúc quá trình... Trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, thanh tra, kiểm toán nếu phát hiện sai phạm liên quan đến cán bộ, đảng viên thì phải kịp thời báo cáo và chuyển tài liệu cho cấp ủy, ủy ban kiểm tra có thẩm quyền xem xét xử lý theo quan điểm của Đảng.

Tập trung chỉ đạo, xử lý những khâu yếu, việc khó trong phòng, chống tham nhũng hiện nay. Trong đó khâu yếu chính là khâu tự phát hiện tham nhũng, tiêu cực; những việc gặp nhiều khó khăn, các lĩnh vực hẹp và sâu, như công tác giám định, định giá tài sản, công tác thu hồi tài sản tham nhũng, kể cả tài sản đã tẩu tán ra nước ngoài bằng nhiều cách thức, sự phối hợp với các cơ quan chức năng, ngăn ngừa từ sớm, phát hiện và kiên quyết truy tố nghiêm khắc những trường hợp vi phạm trốn đi nước ngoài...

- Hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, tiêu cực. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở”, nâng cao hiệu quả thực hiện thể chế để “không thể” tham nhũng, tiêu cực. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, tiêu cực. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; đẩy mạnh cải cách hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới và tăng cường giám sát việc thực thi quyền lực.

Lực lượng Công an xã Liêm Phong, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam đến tận nhà làm căn cước công dân gắn chíp cho những người dân có hoàn cảnh khó khăn, người cao tuổi_Ảnh: TTXVN

Tăng cường công khai, minh bạch, giám sát, kiểm soát quyền lực; xây dựng văn hóa liêm chính, tiết kiệm. Trong đó, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình được đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh là điều kiện quan trọng đầu tiên để kiểm soát quyền lực, để các cơ quan hữu quan thực hiện giám sát hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường giám sát, kiểm soát việc sử dụng quyền lực; giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống và nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tiến hành hiệu quả việc kiểm soát quyền lực và thực hành liêm chính, trước hết ở chính các cơ quan làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Thực hiện tốt công tác tiếp nhận, xử lý, giải đáp, phản hồi những phản ánh, kiến nghị của người dân. Coi trọng thực hiện dân chủ ở cơ sở và đối thoại với các tầng lớp nhân dân để ngăn chặn, phát hiện và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng văn hóa liêm chính, tiết kiệm để không cần, không muốn tham nhũng, tiêu cực.

- Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, triển khai có hiệu quả hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở khu vực ngoài nhà nước. Nghiên cứu, hoàn thiện mô hình cơ quan chuyên trách chống tham nhũng, tiêu cực. Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trước hết và ngay trong cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực bảo đảm liêm chính, đủ năng lực hoàn thành trọng trách được giao, thực sự là “thanh bảo kiếm” của Đảng và Nhà nước trong công tác này; đồng thời coi trọng kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong các cơ quan này(17).   

Tác phẩm Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thể hiện tâm huyết, sự nung nấu đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trong đó có cả những nội dung mà đồng chí từng đưa ra trong một số bài viết từ cách đây nửa thế kỷ. Với cách tiếp cận hệ thống, xuất phát từ lý luận và tổng kết sâu sắc, tác phẩm đặt một dấu mốc quan trọng cả về lý luận và thực tiễn để đưa công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lên tầm cao mới, trở thành “một việc làm cần thiết; một xu thế không thể đảo ngược”. Việc nghiên cứu sâu sắc, quán triệt thực hiện nghiêm túc nội dung tác phẩm sẽ tạo nên bước tiến mới, mạnh mẽ hơn nữa và đạt hiệu quả cao hơn nữa. Tham nhũng, tiêu cực nhất định sẽ bị ngăn chặn, đẩy lùi./.

------------------------------------

Khát vọng và tầm nhìn phát triển tỉnh Quảng Nam theo tinh thần bài viết “Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 TCCS - Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về đường lối đổi mới, về phát triển đất nước trên mọi lĩnh vực. Tác phẩm có giá trị trong việc vận dụng xây dựng luận cứ khoa học nhằm hoạch định chủ trương, đề ra nhiệm vụ, giải pháp đột phá để phát triển tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay.

Khát vọng phát triển đất nước

Thực tiễn trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta, khát vọng xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước luôn là nguồn lực nội sinh lớn mạnh làm nên nhiều chiến công hiển hách. Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam đã anh dũng đấu tranh và chiến thắng kẻ thù xâm lược bằng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Sức mạnh ấy được khởi nguồn từ “ham muốn tột bậc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là: “Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(1) cho đến khát vọng mãnh liệt: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(2); “Không có gì quý hơn độc lập, tự do(3). Đất nước thống nhất, tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, với khát vọng “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như ước nguyện lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tiếp nối khát vọng của dân tộc, giá trị cốt lõi, mục tiêu và khát vọng phát triển đất nước, trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xác định khát vọng xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới(4).

Khát vọng phát triển đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là chủ đề xuyên suốt, được đặt ra trong rất nhiều kỳ Đại hội Đảng, trong diễn văn và các bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Khát vọng đó đã được Đảng và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xác định bằng mục tiêu cụ thể: “Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(5); “Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa(6)

Khát vọng phát triển tỉnh Quảng Nam

Khát vọng phát triển của một đơn vị, địa phương không thể nằm ngoài khát vọng phát triển của quê hương, đất nước. Khát vọng phát triển tỉnh Quảng Nam và tầm nhìn về một vùng đất đã được các bậc tiền nhân gửi gắm cách đây hơn 550 năm, với sự kiện thành lập Thừa tuyên Quảng Nam - Đạo Thừa tuyên thứ 13 của nước Đại Việt vào năm 1471. Danh xưng Quảng Nam đã được vị vua anh minh Lê Thánh Tông gửi gắm vào đó ý nghĩa “mở rộng về phương Nam”.

Trong tiến trình lịch sử đồng hành cùng dân tộc, tỉnh Quảng Nam đã có nhiều đóng góp để lại dấu ấn hết sức nổi bật. Đặc biệt, sau khi Đảng bộ tỉnh Quảng Nam ra đời vào ngày 28-3-1930, thông cáo thành lập Đảng bộ đã xác định sứ mệnh lịch sử của mình: “Chúng tôi, những người trong Tỉnh bộ lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng nguyện hy sinh tranh đấu do Đảng Cộng sản Việt Nam hướng đạo, nhằm bênh vực quyền lợi cộng sản cho thợ thuyền, dân cày và những người lao khổ...”(7). Sứ mệnh thiêng liêng ấy đã theo suốt chặng đường xây dựng và phát triển của Đảng bộ tỉnh 93 năm qua với những dấu ấn, mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ, quân và dân tỉnh Quảng Nam.

Ngày 28-3-1930, tại địa điểm Cây Thông Một, xã Cẩm Hà (nay là khối phố Tân Thanh, phường Tân An, thành phố Hội An), Đảng bộ tỉnh Quảng Nam ra đời. Đây là Đảng bộ ra đời sớm thứ hai cả nước, chỉ sau Đảng bộ thành phố Hà Nội. Sau khi thành lập, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp giành chính quyền (1930 - 1945), chớp thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền trong mùa thu cách mạng (năm 1945), đưa tỉnh Quảng Nam trở thành một trong những tỉnh, thành phố khởi nghĩa giành chính quyền sớm nhất trong cả nước.

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và hơn 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam luôn nhất quán trong vận dụng sáng tạo đường lối cách mạng. Điển hình là vận dụng linh hoạt phương châm “hai chân, ba mũi giáp công” với Chiến thắng Núi Thành vào rạng sáng ngày 26-5-1965, viết nên trang sử vẻ vang cho vùng đất “Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”. Không chỉ là nơi diễn ra trận đầu thắng Mỹ, tỉnh Quảng Nam còn là nơi diễn ra trận đánh đồn xã Đốc (27-3-1971) - trận đánh tiêu diệt cứ điểm cuối cùng của Mỹ trên chiến trường Khu 5, đến Chiến thắng Thượng Đức mở toang cánh cửa thép tiến vào thành phố Đà Nẵng (7-8-1974); từ đó, tạo tiền đề giải phóng hoàn toàn quê hương vào ngày 24-3-1975, góp phần giải phóng thành phố Đà Nẵng tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thời kỳ 1975 - 1997, từ chủ trương bám sát thực tiễn đời sống của Đảng bộ tỉnh mà công trình đại thủy nông Phú Ninh đã được xây dựng thành công vượt kỳ vọng. Đây là công trình, đúng hơn là cuộc vận động sức người, sức của lớn chưa từng có của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh sau ngày quê hương giải phóng, khẳng định tinh thần dám nghĩ, dám làm của Đảng bộ tỉnh. Tỉnh Quảng Nam cũng là một trong những địa phương nhanh chóng triển khai chủ trương phát triển kinh tế tập thể trong sản xuất nông nghiệp và sau đó thực hiện chuyển đổi hợp tác xã theo mô hình hợp tác xã kiểu mới. Đặc biệt, mạnh dạn “xé rào”, thực hiện “khoán chui” những “đêm trước khoán 10” trên nhiều đồng đất nhằm giải phóng sức sản xuất.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đến thăm, làm việc tại Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải (THACO), Khu công nghiệp Chu Lai, tỉnh Quảng Nam_Ảnh: TTXVN

Sau ngày tái lập tỉnh (1-1-1997), từ một địa phương thuần nông nằm trong nhóm những tỉnh nghèo nhất của cả nước; Đảng bộ tỉnh đã có nhiều quyết sách táo bạo, khai phóng con đường phát triển và đưa tỉnh Quảng Nam vươn lên trở thành tỉnh khá của khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Từ một nền nông nghiệp lạc hậu, tỉnh Quảng Nam đã chuyển hướng sang phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch; Khu kinh tế mở Chu Lai và hàng loạt khu công nghiệp, cụm công nghiệp lần lượt ra đời; hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông, điện, viễn thông, trường học, bệnh viện,... được đầu tư đồng bộ.

Với quyết tâm đổi mới, phát huy lợi thế, huy động nội lực, thu hút đầu tư, tỉnh Quảng Nam đã đạt được những kết quả khá toàn diện, có bước chuyển cơ bản, rõ nét về cơ cấu kinh tế, từ thuần nông sang công nghiệp, dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 25 năm đạt trên 9,0%/năm (năm 2022, tốc độ tăng trưởng đạt 11,2%, là một trong số ít tỉnh, thành phố có tốc độ tăng trưởng hai con số). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm mạnh tỷ trọng khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp từ 50% lên 87,5%. Thu ngân sách, từ số thu 120 tỷ đồng năm 1996, đến năm 2022, tổng thu ngân sách nhà nước của tỉnh đã lên đến 33.338 tỷ đồng (trong đó, thu nội địa đạt 26.485 tỷ đồng), gấp gần 278 lần so với thời điểm tái lập tỉnh. Từ một địa phương phải nhận trợ cấp hơn 70% ngân sách Trung ương, đến năm 2017, tỉnh Quảng Nam đã tự cân đối được ngân sách và có đóng góp về Trung ương. GRDP bình quân đầu người đạt 76,6 triệu đồng, gấp khoảng 40 lần so với năm 1997.

Đặc biệt, Khu kinh tế mở Chu Lai được xây dựng thành công, đã hiện thực hóa khát vọng vươn lên, xác lập vị thế của tỉnh Quảng Nam trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Ngành du lịch đã khai thác tốt lợi thế, tiềm năng và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Kết cấu hạ tầng có bước phát triển đáng kể, hạ tầng đô thị, nông thôn từng bước được cải thiện, đã làm thay đổi mạnh mẽ diện mạo các vùng, miền trong tỉnh. 

Các giá trị văn hóa tại chỗ, truyền thống được quan tâm bảo tồn, gìn giữ và phát huy, đặc biệt là 2 Di sản văn hóa thế giới: Khu đền tháp Mỹ Sơn và đô thị cổ Hội An; văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế,... có sự chuyển biến tích cực; an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng lên; quốc phòng, an ninh được giữ vững, đối ngoại, hợp tác và hội nhập quốc tế được tăng cường.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng được củng cố, kiện toàn và lớn mạnh. Từ chỗ chỉ có hơn 70 đảng viên khi mới thành lập năm 1930, đến cuối năm 2022, Đảng bộ đã có 1.150 tổ chức cơ sở đảng với 71.319 đảng viên. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp có sự chuyển biến tích cực. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều đổi mới; khối đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được củng cố, tăng cường; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền được nâng lên....

Đảng bộ tỉnh đã tập trung lãnh đạo thực hiện 3 nhiệm vụ đột phá chiến lược về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đột phá về hạ tầng giao thông, hạ tầng xã hội và hạ tầng đô thị đã giúp tỉnh Quảng Nam phát triển toàn diện. Hệ thống sân bay Chu Lai, cảng biển Chu Lai, cửa khẩu quốc tế Nam Giang đã và đang được nâng cấp, mở rộng đầu tư và được kỳ vọng sẽ tạo ra điểm nhấn quan trọng cho phát triển kinh tế của tỉnh. Thêm vào đó, các chủ trương phát triển kinh tế vùng Đông, vùng Tây của tỉnh nhằm tạo sự tác động phát triển hài hòa giữa các vùng.

Sau hơn 25 năm tái lập tỉnh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Nam rất tự hào với những kết quả đạt được. Trong bức tranh toàn cảnh ấy nổi bật lên nhiều gam màu tươi sáng về tình hình kinh tế - xã hội, tạo nên hình ảnh, diện mạo và vị thế của một tỉnh Quảng Nam tự lập, chủ động, sáng tạo trong tư duy; đúng đắn, quyết liệt trong hành động; vững tin bước vào kỷ nguyên mới với niềm khát vọng tươi sáng trong tương lai.

Những thắng lợi to lớn trong chặng đường hơn 93 năm qua mang ý nghĩa lịch sử to lớn. Nguyên nhân chính của những thắng lợi đó là sự lãnh đạo đúng đắn, tư duy đổi mới, sáng tạo, bản lĩnh chính trị vững vàng, sự đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động của Đảng bộ, được nhân dân trong tỉnh ủng hộ, hưởng ứng. Những kết quả đó được tạo dựng và vung đắp qua nhiều thế hệ nối tiếp, từ những người đặt nền móng ban đầu cho đến những thế hệ xây dựng nên kiến trúc kinh tế - xã hội như ngày nay. Ý nghĩa của những kết quả này sẽ còn nhắc đến và tô đậm hơn theo thời gian của lịch sử, bởi đó là minh chứng hùng hồn cho tinh thần đoàn kết, ý chí bất khuất và khát vọng vươn lên của người dân xứ Quảng; tạo tiền đề, nền tảng vững chắc để tỉnh phát triển nhanh và bền vững trong thời gian đến.

Hiện thực hóa khát vọng đưa tỉnh Quảng Nam trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030

Kế thừa, phát huy những kết quả đạt được, quán triệt và vận dụng sâu sắc nội dung cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, đặc biệt là bài viết “Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam xác định mục tiêu: “Xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh, hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, bản sắc văn hóa và truyền thống cách mạng; cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động xã hội; huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển kinh tế nhanh, bền vững; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, bảo vệ tốt môi trường sinh thái; tăng cường quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; phấn đấu đưa tỉnh Quảng Nam trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030”(8).

Mục tiêu và cũng là khát vọng xây dựng “tỉnh Quảng Nam trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030”. Khát vọng phấn đấu vươn lên từ chính bản lĩnh, ý chí, sức mạnh, tinh thần đoàn kết, đồng lòng của con người xứ Quảng trong suốt hơn 550 năm hình thành và phát triển. Đó là sự kết tinh trí tuệ, tầm nhìn, ý chí, khát vọng của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đối với sự phát triển của quê hương. Khát vọng ấy được xây dựng trên nền tảng kế thừa, phát huy thành quả trong suốt chặng đường qua. Đồng thời, đó cũng chính là sứ mệnh mà tỉnh Quảng Nam phải quyết tâm thực hiện nhằm hiện thực hóa mục tiêu “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

Để hiện thực hóa khát vọng nêu trên, trong giai đoạn 2020 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam đã đề ra 14 nhóm giải pháp trọng tâm với các đột phá chiến lược, lộ trình, bước đi phù hợp, cụ thể; trong đó, ưu tiên chú trọng một số nhiệm vụ, giải pháp mang tính quyết định, bao gồm:

Trước hết và quan trọng nhất, là tập trung công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, xác định đây là nhiệm vụ then chốt, quyết định đến uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ và kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng và công tác dân vận của hệ thống chính trị. Đây là nhân tố có tính quyết định đến sự phát triển của tỉnh.

Thứ hai, huy động nguồn lực thực hiện hiệu quả 3 nhiệm vụ đột phá chiến lược. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và nâng cao tỷ lệ đô thị hóa. Chủ động tiếp cận, tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phong trào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ, chuyển đổi số đồng bộ, phát triển kinh tế số, kinh tế chia sẻ, hình thành doanh nghiệp số. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, kỷ cương; nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ đáp ứng môi trường công nghệ số; thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung.

Thứ ba, phát huy tiềm năng, lợi thế động lực của vùng kinh tế biển và vùng đồng bằng ven biển; phát triển Khu kinh tế mở Chu Lai thành khu kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực gắn với phát triển kết cấu hạ tầng đô thị, khu công nghiệp; thương mại - dịch vụ - du lịch - logistics; chế biến nông sản chất lượng cao, xứng tầm là trung tâm phát triển lớn của Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ và cả nước. Triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách, ưu tiên nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới; chú trọng sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư vùng nguy cơ cao về thiên tai. Cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình, nâng cao chất lượng tăng trưởng theo hướng phát triển song song công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; lấy dịch vụ làm ngành kinh tế quan trọng; xây dựng thương hiệu, sản phẩm dịch vụ du lịch Quảng Nam mang tầm quốc gia, quốc tế; phát triển du lịch về phía Nam, phía Tây của tỉnh.

Thứ tư, phát huy giá trị văn hóa, con người Quảng Nam; xây dựng con người Quảng Nam phát triển toàn diện về nhân cách, trí tuệ, năng lực, thể chất và trách nhiệm với xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Xây dựng, phát huy các giá trị, bản sắc đặc trưng của con người xứ Quảng; khơi dậy khát vọng vươn lên, cống hiến vì cộng đồng, quê hương, đất nước. Phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, bảo đảm an sinh xã hội, môi trường sống an toàn, lành mạnh, nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Phan Việt Cường thăm hỏi công nhân làm việc tại Khu công nghiệp Chu Lai, tỉnh Quảng Nam_Nguồn: vov.gov.vn

Thứ năm, tiếp tục thực hiện tốt các chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, thanh niên xung phong, bảo trợ xã hội. Quan tâm công tác giảm nghèo bền vững tại khu vực đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo; giảm dần khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền.

Thứ sáu, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện tốt phương châm “gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân và tôn trọng nhân dân”; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Tuyên truyền, vận động, tập hợp, tạo sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân, cùng nhau chung sức, đồng lòng xây dựng quê hương Quảng Nam ngày càng phát triển.

Tỉnh Quảng Nam luôn tự hào là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi sản sinh nhiều người con ưu tú cho đất nước, với bề dày lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng anh hùng, cùng những thành quả đã được bồi đắp, những kinh nghiệm quý báu được tích lũy từ các thế hệ đi trước... Trên chặng đường sắp đến, với ý chí, khát vọng đổi mới, sáng tạo, vươn lên mạnh mẽ, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Nam sẽ tiếp tục đoàn kết, đồng thuận, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng tỉnh Quảng Nam trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030, góp phần cùng cả nước “Vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội...” như quyết tâm của đồng chí Tổng Bí thư và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề ra./.

Nhận thức và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Kỳ III và hết)

 Hai là, các mối quan hệ lớn góp phần làm sáng rõ hơn các quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc thù của Việt Nam.

Quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một thời kỳ lịch sử chuyển tiếp, nhất thiết phải quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, là con đường mới mẻ chưa có nước nào kinh qua. Do đó, cần nghiên cứu thấu đáo và nắm vững những vấn đề có tính quy luật phát triển dựa trên phép biện chứng duy vật, thấu suốt những nguyên tắc, phương pháp luận của nó để chỉ đạo và vận dụng vào thực tiễn đúng hướng.

Với nhận thức về chủ nghĩa xã hội vừa mang tính phổ biến, vừa có tính đặc thù, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng nghiên cứu, tìm tòi mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Trong sự phù hợp với các quy luật phát triển chung, việc nhận thức sâu sắc các mối quan hệ lớn cũng giúp Đảng ta tìm tòi, phát hiện và làm sáng rõ hơn các quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam, thể hiện tập trung ở mô hình chủ nghĩa xã hội riêng có Việt Nam mang những đặc trưng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Để hiện thực hóa mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cần thực hiện tám phương hướng: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Tám phương hướng trên được vạch ra không phải ngẫu nhiên, duy ý chí, mà từ việc nghiên cứu và nắm rõ những quy luật phát triển khách quan, nên bản thân các phương hướng này đã mang tính quy luật phát triển chung của nhân loại và quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đặc biệt, các phương hướng và đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng liên thông chặt chẽ với mười mối quan hệ lớn. Việc nắm vững các mối quan hệ lớn, nắm vững các quy luật phát triển chung và đặc thù chính là tiền đề, cơ sở phương pháp luận để định hình các đặc trưng và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Điều đó thể hiện rõ khi nhiều nội dung của từng mối quan hệ lớn có liên hệ chặt chẽ, thậm chí chuyển hóa lẫn nhau với nội dung của các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa hay phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ví dụ: Mối quan hệ lớn giữa “phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa” và giữa “tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường” có quan hệ mật thiết với đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”, “có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”. Hay các mối quan hệ lớn: “Nhà nước, thị trường và xã hội”; “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”; “thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội” có quan hệ mật thiết với đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa: “Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo” và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”...

Tuy nhiên, có thể thấy, các mối quan hệ lớn hoặc từng mặt của nhiều mối quan hệ lớn hiện nay đã có nội dung rộng hơn các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên tất yếu cần điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng và phương hướng này trong thời gian tới.

Ba là, các mối quan hệ lớn góp phần làm sáng rõ hơn nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trọng trách lãnh đạo, cầm quyền đối với Nhà nước và xã hội của Đảng ta là do lịch sử dân tộc giao phó và được nhân dân thừa nhận. Là chủ thể lãnh đạo và quyết định sự thành bại của toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam, bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một thực thể quyền lực mạnh, ưu tú về trí tuệ, bản lĩnh, năng lực, đạo đức cầm quyền, xứng đáng với vai trò lãnh đạo của mình. Quá trình nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn giúp Đảng tự khám phá, nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề mang tính bản chất và quy luật về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng: 1- Đảng là đội tiên phong của giai cấp, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc; 2- Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng; 3- Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng; 4- Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân; 5- Đảng là một khối đoàn kết thống nhất, tự phê bình và phê bình là nguyên tắc và quy luật phát triển của Đảng; 6- Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; 7- Gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng, chỉnh đốn cả hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; thường xuyên nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng...

Lịch sử cho thấy, các đảng cộng sản xa rời những nguyên tắc lý luận xây dựng đảng, thì sớm hay muộn, sẽ dần biến chất, thay đổi lập trường chính trị, từ bỏ mục tiêu, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Do đó, việc vận dụng sáng tạo các nguyên tắc lý luận trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta có ý nghĩa rất quan trọng, bảo đảm giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của một đảng mác-xít chân chính. Việc nhận thức về các mối quan hệ lớn, nhất là mối quan hệ lớn giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội... giúp Đảng nhận thức sâu sắc hơn về các vấn đề nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, là cơ sở khoa học để Đảng ta không ngừng tự xây dựng, chỉnh đốn, có đủ năng lực, sức chiến đấu để đưa ra những quyết sách chính trị đúng đắn, xử lý kịp thời cục diện phức tạp, giải quyết thỏa đáng các mâu thuẫn lớn và những vấn đề khó khăn, cầm quyền vì dân, cầm quyền khoa học, cầm quyền dân chủ, cầm quyền theo pháp luật, cầm quyền liêm chính để lãnh đạo nhân dân ta vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội...

Bên cạnh những thành tựu, cũng còn một số hạn chế trong nhận thức và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, như những nghiên cứu có hệ thống về chỉnh thể các mối quan hệ lớn, nghiên cứu sâu từng mối quan hệ lớn trong sự bổ sung, cập nhật thường xuyên về nội hàm, những điều chỉnh cho phù hợp với thời cuộc... còn chưa tương xứng với tầm quan trọng của nội dung này; nhiều quy luật phát triển phổ quát của nhân loại, quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng chưa được luận giải rõ, có hệ thống và trong sự liên thông với các mối quan hệ lớn, nhất là do chưa thật sự làm rõ được tính quy luật trong một số mối quan hệ, tính đặc thù và tính phổ biến ở Việt Nam, nên đã ảnh hưởng đến việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như việc ban hành những chính sách cụ thể trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; nghiên cứu các mối quan hệ lớn trong mối quan hệ với các đặc trưng và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội còn khoảng trống; việc hiểu bản chất, vận dụng các mối quan hệ lớn vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cụ thể của các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên còn hạn chế... 

Một số khuyến nghị tiếp tục nghiên cứu về các mối quan hệ lớn cần nhận thức và giải quyết tốt trong công cuộc đổi mới, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Về tổng thể, việc nhận diện các mối quan hệ lớn hàm chứa những vấn đề có tính quy luật, tồn tại khách quan trong chiều sâu phức hợp sự vận động, biến đổi không ngừng, cùng các mối liên hệ, tác động đa dạng, đa chiều giữa các yếu tố, bộ phận cấu thành, các mặt đối lập vốn có trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chưa có tiền lệ trong lịch sử, là một bước tiến mới, quan trọng về lý luận chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đến Đại hội XIII của Đảng, các mối quan hệ lớn đã được nhận diện cơ bản toàn diện, bao quát các quy luật phát triển trên các mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội, được hệ thống hóa tạo thành một chỉnh thể khá đầy đủ. Do đó, cơ sở để bổ sung ngay mối quan hệ lớn mới là chưa chín muồi. Mười mối quan hệ lớn trên tiếp tục là cơ sở phương pháp luận quan trọng để chúng ta nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời gian tới.

Về từng mối quan hệ lớn, mặc dù mười mối quan hệ lớn tạo thành một chỉnh thể khá đầy đủ, tuy nhiên đối với từng mối quan hệ, do sự thay đổi của bối cảnh, nên rất cần làm rõ thêm nội hàm, có sự điều chỉnh, bổ sung, thậm chí nhận thức lại cho phù hợp với điều kiện mới, để kịp thời luận giải, hóa giải được những mâu thuẫn, thách thức, xung đột mới nảy sinh, rộng đường cho sự phát triển. 

Về mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển, nếu như trước đây, đổi mới được xác định là yếu tố quan trọng nhất trong ba thành tố cấu thành mối quan hệ lớn trên và phải thực hiện trước; tiếp đó, Đại hội XIII của Đảng xác định ổn định cần được đặt lên đầu tiên; thì hiện nay, nên nhận thức phát triển là quan trọng hàng đầu và phải tập trung mọi nguồn lực để thực hiện, bởi chỉ có phát triển lâu dài mới giúp chúng ta tích lũy và chuẩn bị kịp những tiền đề, điều kiện, nền tảng cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong bối cảnh không còn nhiều thời gian để có thể đạt và cán cột mốc mục tiêu trọng đại của đất nước vào năm 2030, 2045 như Đại hội XIII đã đề ra. Phát triển lâu dài cũng là điều kiện tiên quyết để Đảng giữ vững uy tín, vị thế cầm quyền lâu dài. Tất nhiên, phát triển ở đây được quan niệm mới bao gồm cả phát triển về vật chất và tinh thần, phát triển chất lượng cao, phát triển xanh, tuần hoàn, bền vững... Theo đó, thứ tự từng thành tố trong mối quan hệ lớn này không thay đổi, song nội hàm của nó cần ưu tiên hơn cho thực hiện “phát triển”, trong tương quan tiếp tục giữ vững “ổn định” và đề cao “đổi mới”, nhất là chú trọng tìm kiếm các không gian phát triển mới và động lực tăng trưởng mới, trong bối cảnh nhiều nguồn lực trước đây không còn là động lực, thậm chí quay trở lại thành cản lực phát triển.

Thủ đô Hà Nội ngày càng phát triển, là động lực phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước_Ảnh: TTXVN   

Về mối quan hệ lớn giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ, cần xem xét cả cơ chế thúc đẩy và cơ chế kiểm soát quyền lực giữa ba chủ thể chính trong hệ thống chính trị nước ta là: Quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực nhà nước và quyền lực của nhân dân, trong đó quyền lực nhân dân là quyền lực gốc. Nhiều nghiên cứu về mối quan hệ và cơ chế thúc đẩy đã được thực hiện, tuy nhiên cơ chế kiểm soát giữa ba chủ thể, thiết chế quyền lực trên vẫn còn nhiều khoảng trống. Cần tăng cường kiểm soát quyền lực chính trị bằng cơ chế dựa trên việc cụ thể hóa nguyên tắc “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”, Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình và “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”; quy định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành pháp trong kiểm soát quyền lực các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, tư pháp; hoàn thiện cơ chế hoặc thực hiện nhiều hơn, thực chất hơn các cơ chế đã có để nhân dân trực tiếp kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, phát huy quyền làm chủ của mình (ví dụ cơ chế bầu cử trực tiếp, cơ chế trưng cầu ý dân...). Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo chính trị cao nhất, cầm quyền duy nhất, là nhân tố quyết định bảo đảm cho sự tồn tại chế độ chính trị ở nước ta, quyền lực nhà nước là trung tâm, nhưng quyền lực nhân dân là tối cao, là chủ thể thực sự của quyền lực. Do đó, cần suy nghĩ thật thấu đáo trở lại với tư tưởng trước đây Đảng ta đã dùng (đặt “nhân dân làm chủ” trước “Nhà nước quản lý”) ngay trong bài “Nắm vững quy luật, đổi mới quản lý kinh tế” của Tổng Bí thư Lê Duẩn trình bày tại Hội nghị Trung ương 6 khóa V (ngày 3-7-1984): “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý là ba khâu gắn bó chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất”(1); sau đó, Đại hội VI của Đảng - đại hội đổi mới của đất nước - cũng khẳng định: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội”(2).

Trong nội hàm mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, cần làm rõ và bổ sung mối quan hệ giữa quản trị toàn cầu, quản trị quốc gia và quản trị địa phương - một mối quan hệ lớn đang bức thiết đặt ra hiện nay (khi chín muồi, có thể chuyển hóa mối quan hệ này thành một mối quan hệ lớn riêng). Đây là những khái niệm còn khá mới. Từng thành tố của mối quan hệ trên đã bước đầu được nghiên cứu, song bản chất, vị trí, vai trò và mối quan hệ liên thông giữa ba thành tố của mối quan hệ, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam vẫn còn ít được nghiên cứu. Nhiều vấn đề về huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực; ứng phó với các khủng hoảng, bối cảnh bất thường (đơn cử như đại dịch COVID-19 vừa qua đã lộ ra nhiều lúng túng, hạn chế trong quản trị vĩ mô tầm quốc gia và từng địa phương), an ninh phi truyền thống; bất cập, thậm chí xung đột trong phân quyền, phân cấp giữa Trung ương và địa phương; đặc thù quản trị địa phương của mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để làm sao phát huy cao độ bản sắc vùng, miền, lợi thế cạnh tranh, cơ hội nổi trội riêng có... đã bộc lộ nhiều bất cập, đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi phải tổng kết kinh nghiệm và nghiên cứu lý luận xứng tầm để cung cấp cơ sở khoa học - thực tiễn cho việc quản trị quốc gia trong mối quan hệ với quản trị toàn cầu, quản trị địa phương. Trong môi trường hội nhập sâu, rộng, quản trị quốc gia, quản trị địa phương có quan hệ mật thiết với quản trị toàn cầu; nhiều vấn đề không thể xử lý được nếu dừng ở tầm quốc gia hay địa phương. Đặc biệt, khi Việt Nam bước vào ngưỡng cửa của một quốc gia tầm trung, với uy tín, tiếng nói, vị thế quốc tế mới, việc quản trị quốc gia không thể không tính tới liên thông với quản trị toàn cầu, để nước ta chủ động, tích cực ở vị thế tham gia nhiều hơn vào xây dựng, định hình “luật chơi” trên trường quốc tế, nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc và có những đóng góp trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.      

Trong nội hàm mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, cùng với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng cần thiết đề cập tới xây dựng xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa, để pháp quyền và thượng tôn Hiến pháp, pháp luật không chỉ ở hành xử của các cơ quan nhà nước, mà còn lan tỏa đến ứng xử toàn xã hội và mọi người dân, trong điều kiện thực thi pháp luật đang là một điểm yếu, văn hóa thượng tôn pháp luật cũng chưa định hình trong xã hội, khiến tình trạng khinh nhờn pháp luật, vi phạm pháp luật nghiêm trọng còn nhiều, an ninh chính trị, an ninh con người, an ninh xã hội bị đe dọa... Xây dựng xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng góp phần hoàn thiện hơn các yếu tố cấu thành chính yếu của mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa - dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa để thượng tôn Hiến pháp và pháp luật dần trở thành văn hóa trong xã hội, thành ứng xử của mọi người dân (Trong ảnh: Công an xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình gần dân, sát dân để phổ biến pháp luật)_Ảnh: TTXVN

Về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, cần nhấn mạnh hơn sự quan tâm tới phát triển văn hóa, không chỉ về mặt lý luận, mà còn trong vận dụng vào thực tiễn, bởi văn hóa đến nay vẫn chưa thực sự được quan tâm và đầu tư tương xứng với vị trí quan trọng của nó. Cần sớm xây dựng chương trình tổng thể mục tiêu quốc gia về chấn hưng, phát triển văn hóa để khơi dậy và phát huy các tài nguyên văn hóa, tập trung nguồn lực đầu tư tạo bước chuyển thực sự về văn hóa. Đặc biệt quan tâm xây dựng văn hóa chính trị, văn hóa trong Đảng, bởi Đảng ta là “văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn; nghiên cứu bổ sung thành tố “văn hóa” vào nội hàm công tác xây dựng Đảng, thành xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ và văn hóa. Đặt con người ở trung tâm của mọi sự phát triển, gắn chặt văn hóa với con người, chăm lo, đầu tư, phát triển toàn diện và bảo vệ con người, đích cuối hướng đến là hạnh phúc của nhân dân, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(3). Do đó, cần nghiên cứu bổ sung thành tố “hạnh phúc” vào hệ mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thành: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc”. Mặt khác, bảo vệ môi trường ngày càng đặt ra cấp thiết, nên phải đặc biệt quan tâm, có những đột phá hơn nữa trong thực hiện; cùng với việc đã là thành tố của một mối quan hệ lớn, nghiên cứu đưa bảo vệ môi trường vào quan điểm chỉ đạo chung, thành: Phát triển kinh tế - xã hội - môi trường là trung tâm, đặt trong tổng thể năm trụ cột phát triển đất nước là: Kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội - môi trường.

Về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, cần quan tâm nhiều hơn đến việc bồi tụ, nuôi dưỡng nội lực, thực lực của đất nước, tránh phụ thuộc một chiều và quá nhiều vào nguồn lực, ảnh hưởng từ bên ngoài, chưa chuyển hóa được ngoại lực thành nội lực (đơn cử như sự phụ thuộc còn nhiều vào nguồn vốn và công nghệ lõi của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thiếu sự liên thông giữa kinh tế FDI với các thành phần kinh tế trong nước; hay sự phụ thuộc vào các sản phẩm truyền thông của các tập đoàn truyền thông đa quốc gia...)... ít nhiều có nguy cơ gây mất an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh chính trị...

Việc tiếp tục nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về các mối quan hệ lớn để nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ này luôn là vấn đề rất hệ trọng, là xuất phát điểm lý luận nền tảng góp phần khẳng định và định hình hệ thống lý luận đổi mới Việt Nam, lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam soi sáng con đường phát triển của đất nước ta./