Thứ Năm, 10 tháng 8, 2023
CÁC NƯỚC TÂY PHI LÀM CUỘC CÁCH MẠNG ĐÁNH ĐUỔI THỰC DÂN PHÁP - VÙNG LÊN HỠI CÁC NÔ LỆ Ở THẾ GIAN!
CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM MONG MUỐN TĂNG 5-6% LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG NĂM 2024
VẤN ĐỀ CẤP BÁCH QUYẾT ĐỊNH SỨC MẠNH CỦA ĐẢNG, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
Thứ Tư, 9 tháng 8, 2023
MỘT SỐ NHẬN THỨC VỀ HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA
Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đổi mới theo hướng hiện đại và hội nhập sâu rộng, khi con đường phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao đã được xác định rõ, các vấn đề về giá trị, hệ giá trị văn hoá được đặt ra và nói tới hằng ngày trong các diễn ngôn chính trị, văn hoá, xã hội, đặc biệt là xuất hiện thường xuyên và liên tục trong các văn kiện, nghị quyết quan trọng của Đảng trong hơn hai thập kỷ qua.
1. Giá trị, hệ giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác với tự nhiên, xã hội, sự sáng tạo này là liên tục và đến lượt mình - hệ giá trị văn hoá - lại trở thành yếu tố cơ sở, nền tảng, chuẩn mực chi phối phương châm, triết lý sống cũng như từng hành vi của con người. Như vậy, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của hệ giá trị văn hoá.
Giá trị, hệ giá trị văn hoá được hình thành trên cơ sở học (văn hoá hoá), con người được dạy bằng nhiều con đường khác nhau và thông qua trải nghiệm trực tiếp của các cá nhân. Các cá nhân nhập tâm hoá hệ giá trị thông qua việc học/trải nghiệm này và các giá trị khi được nhập tâm trở thành tập tính (hành động, lựa chọn…) mà không phản tư tại sao lại hành động/lựa chọn như vậy, ví dụ như thắp hương ngày rằm, mùng một; mời nhau trước khi ăn cơm, dùng đũa khi ăn...
Với cách hiểu như vậy, giá trị, hệ giá trị văn hoá có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hiện thực hoá mục tiêu “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; “Xây dựng hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” mà Đảng ta đã đề ra.
2. Hệ giá trị được xem là cốt lõi, là nền tảng tạo nên diện mạo một nền văn hoá, bản sắc văn hoá. Chính vì vậy, hiểu về các đặc điểm, tính chất của hệ giá trị văn hoá là cần thiết và giúp nhìn nhận rõ hơn về bản chất cùng những chiều tương tác của hệ giá trị trong các bối cảnh, môi trường cụ thể.
Một là, hệ giá trị văn hoá luôn tồn tại là một hệ thống hay tạo nên hệ thống với nhiều yếu tố cấu thành. Bản thân hệ giá trị đã là sự kết nối, tổng hoà của nhiều giá trị, ví dụ hệ giá trị nhân ái bao gồm một chuỗi các yếu tố/giá trị cấu thành như đoàn kết, tương trợ, yêu thương, cảm thông, chia sẻ,… hay hệ giá trị vạn vật hữu linh là sự kết hợp của nhiều yếu tố/giá trị như niềm tin, đa thần, linh hồn, thiêng, hồn, vía, thờ cúng,… Trong hệ thống này, các yếu tố/giá trị không tồn tại riêng rẽ nhau mà luôn gắn kết với nhau, bổ trợ nhau tạo nên những mối quan hệ, những chiều tương tác trong một tổng thể hệ giá trị.
Tính hệ thống khiến cho hệ giá trị vừa có những liên kết nội tại song cũng vừa có những sự kết hợp với những hệ giá trị khác để cấu thành nên những tổng thể lớn hơn. Ví dụ, hệ giá trị nhân ái kết hợp với hệ giá trị anh hùng, dũng cảm, yêu nước tạo nên hệ giá trị ở quy mô lớn hơn, của cả một cộng đồng tộc người hay quốc gia...
Hai là, hệ giá trị mang tính tương đối khi chúng ta trải nghiệm một thực tế là mỗi một nền văn hoá đều có hệ giá trị riêng. Theo đó, mỗi cộng đồng, tộc người, mỗi nhóm xã hội đều có hệ giá trị riêng mà những hệ giá trị ấy được hình thành và duy trì, phát triển trong điều kiện cụ thể và đặc thù của chính cộng đồng tộc người hay nhóm xã hội đó. Vì vậy, khi nhìn nhận, đánh giá về bất cứ một giá trị, hệ giá trị nào cũng cần đặt nó trong bối cảnh sinh thái, lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của nó.
Mỗi cá nhân có thể lựa chọn giá trị hay chính là lựa chọn phương châm sống, triết lý sống cho mình hoàn toàn khác với cá nhân khác hoặc khác với số đông. Do điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử cũng như điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội khác nhau nên quá trình sáng tạo văn hoá ở mỗi cộng đồng, quốc gia là khác nhau và hệ giá trị được hình thành và vận hành trong các cộng đồng, quốc gia đó cũng theo các quá trình và phương thức khác nhau. Kết quả là những giá trị hệ giá trị được biểu hiện ra không giống nhau. Ví dụ, giá trị làng Việt truyền thống Bắc bộ là khép kín kiểu “trong họ ngoài làng”, cố kết, co cụm trong khi làng Việt Nam bộ lại mở, phóng khoáng, năng động; giá trị canh tác nông nghiệp truyền thống Bắc bộ là thâm canh, trong khi ở Nam bộ là quảng canh. Giá trị ứng xử của người Việt vùng châu thổ Bắc Bộ là coi trọng mồ mả, ngày giỗ trong khi nhiều dân tộc thiểu số bỏ mồ mả, không làm giỗ...
Chính vì hệ giá trị văn hoá mang tính tương đối, nên khó có thể có một hệ giá trị văn hoá nào có thể thống trị và trở thành hệ giá trị mang tính định hướng cho toàn bộ xã hội. Sự khác nhau, sự mở rộng, bổ sung, thay thế hay mâu thuẫn, trái ngược nhau trong sự tồn tại của hệ giá trị văn hoá đều là bình thường và hợp quy luật.
Ba là, mỗi vùng sinh thái, vùng văn hoá, mỗi địa phương, tộc người, nhóm người sáng tạo và duy trì các hệ giá trị văn hoá khác nhau tạo nên tính đa dạng của hệ giá trị văn hoá ở Việt Nam. Sự đa dạng luôn thể hiện ở đủ các góc cạnh, phương diện của hệ giá trị văn hoá, cả trong điều kiện hình thành và trong quá trình sáng tạo, duy trì, phát triển, bổ sung, bồi đắp, làm mới các hệ giá trị, trong các mối quan hệ tương tác, tiếp nối, kế thừa của các hệ giá trị và trong cả sự giao lưu, tiếp biến văn hoá giữa các hệ giá trị qua các thời kỳ.
Hệ giá trị văn hoá được hình thành và bồi đắp từ nhiều nguồn khác nhau (từ truyền thống văn hoá, từ truyền thông đại chúng, từ những cá nhân trong vai trò là những biểu tượng,…) và bằng nhiều con đường khác nhau (qua môi trường gia đình, xã hội, qua giáo dục trong nhà trường và qua các trải nghiệm cá nhân...). Vì vậy, hệ giá trị văn hóa luôn đa dạng, đa chiều và đa ý nghĩa.
Hệ giá trị luôn tồn tại trong sự đa dạng khi một nhóm, một cộng đồng, một tộc người, một quốc gia có thể tồn tại nhiều hệ giá trị khác nhau tạo ra nhiều chuẩn mực, triết lý sống khác nhau mà mỗi chuẩn mực, triết lý lại có cách vận hành riêng để tồn tại và chi phối cuộc sống con người...
Có thể khẳng định rằng, đa dạng giá trị, đa dạng nguồn hình thành giá trị, đa dạng cách vận hành giá trị, đa dạng ý nghĩa, đa dạng hình thức thể hiện giá trị là những đặc điểm nổi bật khi nhìn vào hệ giá trị văn hoá.
Bốn là, do hệ giá trị là tương đối và đa dạng nên không có một hệ giá trị nào tồn tại mãi mãi mà luôn có sự thay đổi, thay thế, bổ sung hay sáng tạo mới; cũng không có sự đồng nhất trong hệ giá trị mà các hệ giá trị luôn tồn tại đa dạng, đan cài nhau trong các mối quan hệ tương tác, tương liên, với những sự kết nối chặt chẽ và đa chiều.
Vì hệ giá trị văn hoá luôn thay đổi theo sự thay đổi của lịch sử, của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội nên các hệ giá trị đã từng tồn tại trong truyền thống có thể không còn tồn tại trong hiện tại hoặc vẫn tồn tại nhưng đã có sự thay đổi về nội hàm hay sự mở rộng về trường nghĩa, sự thay thế về cách biểu đạt. Ví dụ, giá trị chuẩn mực của người phụ nữ truyền thống là “công, dung, ngôn, hạnh”, trong xã hội đương đại đã có sự thay đổi theo những giá trị chuẩn mực mới như: trí tuệ, năng động, sáng tạo, khéo léo, linh hoạt,… Giá trị chuẩn mực của mối quan hệ con cái với cha mẹ trong gia đình truyền thống là: quyền của cha mẹ, bổn phận của con cái, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, trong xã hội đương đại chuẩn mực này đã thay đổi theo hướng quyền của con cái, bổn phận của cha mẹ, cha mẹ không áp đặt mà tôn trọng lựa chọn của con cái,… Giá trị yêu nước, theo thời gian và đặc thù lịch sử, đã luôn được tích hợp, thay đổi, bổ sung những trường nghĩa mới, khi đất nước bị xâm lược, yêu nước là tham gia chiến đấu đánh đuổi giặc ngoại xâm, thời kỳ tái thiết đất nước, yêu nước là dốc sức xây dựng đất nước, đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, thời kỳ đổi mới yêu nước là làm giàu cho đất nước và hiện nay giá trị yêu nước được bổ sung nhiều trường nghĩa mới như: “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là yêu nước, hay trong cuộc chiến chống dịch bệnh COVID-19 “ở nhà là yêu nước”...
Hệ giá trị không bất biến mà luôn thay đổi, song sự thay đổi này không triệt để theo hướng là thay thế, xoá bỏ mà các hệ giá trị có thể song song tồn tại, vừa duy trì các giá trị truyền thống, vừa sáng tạo các giá trị mới, các giá trị mới có thể kế thừa, hội nhập, tích hợp các giá trị truyền thống. Chính vì thế, các hệ giá trị không đồng nhất mà mỗi hệ giá trị có “toạ độ” riêng trong đời sống xã hội, chuyển tải những trường nghĩa của cộng đồng, nhóm, tộc người, quốc gia sản sinh ra và nuôi dưỡng nó. Hiện nay, nhiều hệ giá trị truyền thống đã thay đổi theo hướng thích ứng với bối cảnh mới, nhiều hệ giá trị mới đang được hình thành và vận hành trong xã hội như dân chủ, bình đẳng, hội nhập, khoan dung, cạnh tranh...
Năm là, vì hệ giá trị văn hoá rất đa dạng, mang tính tương đối, không bất biến, không đồng nhất nên hệ giá trị văn hoá tồn tại ở nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau, có hệ giá trị mang tính chung, tính phổ quát, có hệ giá trị mang tính riêng, tính đặc thù của từng nhóm, từng cộng đồng, từng tộc người, từng quốc gia, có hệ giá trị tồn tại trong một không gian rộng, một thời gian dài với số đông người lựa chọn nhưng cũng có hệ giá trị lại chỉ tồn tại trong một không gian hẹp, một thời gian ngắn với chỉ một nhóm người lựa chọn.
Các hệ giá trị mang tính phổ quát thường được nhắc tới là chân, thiện, mỹ, là yêu nước, nhân ái, đoàn kết, khoan dung, sáng tạo... Những hệ giá trị này thường được đông đảo các nhóm, cộng đồng, tộc người, quốc gia chia sẻ, điều đó có nghĩa những hệ giá trị này có ở nhiều nền văn hoá song nội hàm, trường nghĩa cùng sự sắp đặt theo tầm quan trọng của các hệ giá trị này lại có sự khác nhau giữa các nhóm, cộng đồng, tộc người, quốc gia và đây chính là tính đặc thù của hệ giá trị văn hoá.
Tính phổ quát của hệ giá trị khiến cho văn hoá Việt Nam có thể chia sẻ, hội nhập, đối thoại dễ dàng với nền văn hoá thế giới, trong khi đó tính đặc thù của hệ giá trị lại khiến cho văn hoá Việt Nam “hội nhập mà không hoà tan”, giữ được hồn cốt dân tộc, làm giàu bản sắc văn hoá. Tính phổ quát và tính đặc thù của hệ giá trị không tạo ra mâu thuẫn mà cùng tồn tại như hai mặt của một vấn đề, một giá trị riêng lẻ cũng có thể vừa có tính phổ quát, vừa có tính đặc thù và chính thuộc tính này lại thúc đẩy mạnh mẽ hơn tính đa dạng và tương đối của hệ giá trị văn hoá.
3. Hệ giá trị văn hoá hình thành trong tư duy của con người, thể hiện ra bằng triết lý, chuẩn mực, phương châm sống và có chức năng cơ bản là định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi cũng như những quan hệ xã hội, theo đó hệ giá trị là một hệ thống phức tạp của những chiều tương tác, quan hệ, tác động, ảnh hưởng, du nhập, giao lưu...
Trong bối cảnh xã hội đương đại với sự gia tăng của toàn cầu hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, hệ giá trị văn hoá ở Việt Nam ngày càng trở nên phức tạp với sự cùng tồn tại của hệ giá trị truyền thống, hệ giá trị mới, hệ giá trị phổ quát, hệ giá trị đặc thù, hệ giá trị cốt lõi, hệ giá trị phái sinh... Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, xung đột giá trị, thậm chí khủng hoảng giá trị, “sốc” giá trị cũng đã xảy ra càng làm gia tăng thêm tính phức tạp nhưng cũng làm lộ rõ sự cần thiết nhìn nhận lại việc xây dựng hệ giá trị văn hoá hiện nay.
Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII với Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (1998) đã ghi dấu mốc quan trọng khi đề cập đến giá trị văn hoá, khẳng định sự cần thiết phải “sáng tạo nên những giá trị văn hoá mới”. Từ đây, vấn đề giá trị, hệ giá trị văn hoá luôn được đề cập trong các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng - từ Đại hội IX đến Đại hội XIII.
Qua văn kiện của các kỳ Đại hội và Cương lĩnh xây dựng đất nước qua các thời kỳ, Đảng ta đã từng bước định hình rõ nhiệm vụ sáng tạo, hoàn thiện, đúc kết, nghiên cứu, triển khai xây dựng hệ giá trị văn hoá. Theo đó, hệ giá trị văn hoá mang tính khái quát được đề cập là: Dân tộc, Nhân văn, Dân chủ, Pháp quyền và Khoa học và 7 đặc tính cơ bản được xác định là những chuẩn mực giá trị của con người Việt Nam: Yêu nước, Nhân ái, Nghĩa tình, Trung thực, Đoàn kết, Cần cù, Sáng tạo.
Hệ giá trị văn hoá là một phương diện quan trọng của một nền văn hoá và thể hiện rõ nhất bản sắc văn hoá. Hệ giá trị văn hoá đã và đang được thực hành đa dạng, sống động trong đời sống xã hội, việc gọi tên, đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hoá là vô cùng quan trọng, giúp cho chúng ta có những nhìn nhận bao quát hơn, đầy đủ hơn và phát huy được hiệu quả hơn chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh của hệ giá trị văn hoá. Hơn nữa, việc xây dựng hệ giá trị văn hoá còn thể hiện mong muốn, khát vọng của chúng ta về những hệ giá trị tốt đẹp sẽ được thực hành phổ biến tạo nên sự phát triển phồn vinh và bền vững cho xã hội.
Từ góc độ nghiên cứu về văn hoá và con người Việt Nam, đã có nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam. Các giá trị, hệ giá trị được các nhà nghiên cứu xem là những giá trị, hệ giá trị truyền thống, đã có sẵn trong văn hoá, con người Việt Nam mà họ chỉ tổng kết lại, chỉ rõ ra và phân tích những biểu hiện của chúng.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hệ giá trị cần xây dựng để phù hợp với bối cảnh xã hội đương đại. Chẳng hạn như, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm nhấn mạnh hệ giá trị định hướng cốt lõi hiện nay gồm: Dân chủ và Pháp quyền; Nhân ái và Yêu nước; Trung thực và Bản lĩnh; Trách nhiệm và Hợp tác. Trong công trình xuất bản gần đây, tác giả Nguyễn Ngọc Thiện và Từ Thị Loan đề xuất hai phương án xác định hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam, phương án thứ nhất gồm 5 giá trị (Yêu nước, Trách nhiệm, Kỷ luật, Sáng tạo, Trung thực); phương án thứ hai gồm 7 giá trị (Yêu nước, Trách nhiệm, Kỷ luật, Sáng tạo, Trung thực, Đoàn kết, Nhân ái)...
Có thể nhận thấy, cả tên gọi các hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam được xem là đã có sẵn và các hệ giá trị được xác định là cần xây dựng đều là các mỹ từ, nghe rất hay, rất quen thuộc, tạo cảm giác như chúng ta đã có hết rồi song thực tế lại không hẳn như vậy. Dường như những khái quát này vẫn chưa ghi nhận/phản ánh được những hệ giá trị văn hoá đa dạng mà các nhóm địa phương, tộc người trên cả nước đang thực hành trong thực tế cuộc sống thường ngày của họ. Điều này khiến cho các hệ giá trị văn hoá được xác định vẫn chưa thực sự gắn với thực tiễn, chưa đi vào cuộc sống mà chủ yếu tồn tại trên sách vở, trong các văn bản chính sách, trên các diễn đàn và các diễn ngôn truyền thông, tuyên truyền.
Hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực giá trị con người Việt Nam mà Đảng ta xác định chính là xác định việc xây dựng để có được những hệ giá trị đó, là khát vọng, là mục tiêu muốn đạt được mà không phải là những hệ giá trị có sẵn hay đang được thực hành phổ biến trong cả xã hội.
Nếu hiểu rõ hệ giá trị văn hoá mang tính hệ thống với nhiều yếu tố cấu thành và các yếu tố cấu thành này luôn gắn kết với nhau theo những trật tự nhất định và những tương tác đa chiều thì chúng ta sẽ hiểu không thể “nhặt” riêng một hệ giá trị nào ra khỏi tổng thể để đưa nó lên thành hệ giá trị phổ quát hay cốt lõi mà bỏ qua các giá trị có tính tương liên với nó. Ví dụ, muốn xây dựng hệ giá trị nhân ái, hài hoà với tự nhiên nhưng lại muốn xoá bỏ cúng rừng, chống mê tín dị đoan, bê tông hoá đồng loạt hệ thống tưới tiêu, xây dựng các công trình chặn dòng chảy của các con sông hoặc xả thải thẳng ra sông...
Nếu hiểu rõ hệ giá trị văn hoá mang tính tương đối, tính đa dạng thì việc xây dựng hệ giá trị văn hoá sẽ luôn phải tôn trọng tối đa bối cảnh đặc thù và sự lựa chọn giá trị của các chủ thể văn hoá ở các nền văn hoá khác nhau và không có hệ giá trị nào được xem là thống trị, lấn át hoàn toàn các hệ giá trị khác.
Nếu xem hệ giá trị văn hoá là không bất biến, không đồng nhất thì chúng ta xác định được việc xây dựng hệ giá trị cho một giai đoạn lịch sử nhất định và các hệ giá trị chúng ta đang xây dựng không phủ nhận hay xoá bỏ các hệ giá trị đã và đang có. Ngay cả khi hệ giá trị chúng ta đang xây dựng đã định hình và duy trì trong đời sống đương đại thì cũng không nên tuyệt đối hoá hệ giá trị ấy, cũng không áp đặt một mô hình hệ giá trị ấy cho tất cả và luôn cần tôn trọng sự đa dạng các hình thức và phương thức thực hành hệ giá trị ấy của các nhóm, cộng đồng, tộc người.
Nếu quan tâm đúng mức hơn đến tính thực tiễn của hệ giá trị văn hoá thì chúng ta sẽ khắc phục được sự chung chung, hô hào, hình thức trong xây dựng hệ giá trị văn hoá. Tính thực tiễn ở đây là hệ giá trị văn hoá phải được xây dựng từ thực tiễn và rồi phải được thực hành sâu rộng trong thực tiễn, trở thành lối sống, thói quen, tập tính hàng ngày của con người. Chỉ như vậy, việc xây dựng hệ giá trị văn hoá mới được xem là đạt hiệu quả.
Tạp chí Tuyên giáo
TRUYỀN THÔNG INDONESIA ĐƯA TIN ĐẬM NÉT VỀ BÀI PHÁT BIỂU CHÍNH SÁCH CỦA CHỦ TỊCH QUỐC HỘI VƯƠNG ĐÌNH HUỆ
Theo phóng viên TTXVN tại Jakarta, truyền thông Indonesia đưa tin đậm nét về bài phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tại Đối thoại chính sách với chủ đề "Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Indonesia gắn kết bền chặt, cùng nhau phấn đấu vì một châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương năng động, bao trùm hòa bình, hợp tác và phát triển".
Hãng thông tấn chính thức Antara cho biết, phát biểu tại sự kiện do Cộng đồng Chính sách đối ngoại Indonesia (FPCI) tổ chức ngày 5/8, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá cao việc Indonesia là nước ASEAN đi đầu trong tìm kiếm các giải pháp hòa bình, vì hòa bình và hợp tác.
Antara dẫn lời Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết sự tương đồng văn hóa, tư tưởng lập quốc, sự cận kề địa lý và những liên hệ lịch sử gần gũi, cùng những điểm đồng khát vọng về hòa bình là chất keo tự nhiên gắn kết 2 dân tộc Việt Nam và Indonesia, mang lại những giá trị vượt thời gian.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá Indonesia là đất nước của những tư tưởng mạnh mẽ vượt tầm khu vực, trong đó tư tưởng về độc lập, tự chủ, tự cường, không liên kết là triết lý đối ngoại của Indonesia và được nhiều quốc gia chia sẻ.
Khẳng định Indonesia và Việt Nam chia sẻ mối quan hệ văn hóa sâu sắc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhắc lại từ thế kỷ thứ VII, hai nước đã có sự giao lưu và kết nối về văn hóa, thương mại, ngôn ngữ và cả nhân chủng học giữa các vương quốc cổ đại Việt Nam và Indonesia, đồng thời lưu ý hai nước cùng chia sẻ nền nông nghiệp lúa nước phát triển lâu đời, bên cạnh những đặc điểm kiến trúc tương đồng.
Theo Antara, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam nhấn mạnh Indonesia là người bạn tình nghĩa cũng như láng giềng tốt, luôn đồng hành cùng Việt Nam. Indonesia là nước đầu tiên ở Đông Nam Á thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1955. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng thống Sukarno chia sẻ tầm nhìn về thế giới hòa bình và phát triển.
Trong bài viết “Chủ tịch Quốc hội Việt Nam ca ngợi quan hệ lâu đời với Indonesia, khuyến khích hợp tác đa lĩnh vực trong thế kỷ XXI”, tờ Republik Merdeka (Cộng hòa Độc lập) nhắc lại ý kiến của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, theo đó, trên cơ sở sự gần gũi về địa lý và lịch sử, Indonesia và Việt Nam cần tiếp tục phấn đấu vì nguyện vọng chung nhằm kiến tạo hòa bình và ổn định ở khu vực, nhất là trong thế kỷ XXI vốn được coi là thời kỳ quan trọng đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương.
Theo Republik Merdeka, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập an ninh và thịnh vượng chung cho tất cả các quốc gia trên thế giới, phù hợp với tư tưởng của Indonesia là tiếp tục tìm kiếm các giải pháp hòa bình. Nhằm đạt được mục tiêu này và trong nỗ lực tăng cường quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khuyến khích hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và Indonesia như kết nối về chính trị, an ninh, kinh tế, thương mại, văn hóa - xã hội và giao lưu nhân dân. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nêu rõ: “Hợp tác đa ngành có ý nghĩa rất quan trọng đối với Châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương và mang lại an ninh, thịnh vượng cho khu vực. Hai nước cần đoàn kết để đạt được các mục tiêu chung trong thời đại ngày nay”.
Republik Merdeka dẫn lời Chủ tịch Vương Đình Huệ nhấn mạnh rằng 2 nước cần đề cao ứng xử phù hợp với các nguyên tắc của Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Theo ông, 10 nguyên tắc của Hội nghị Bandung năm 1955 - như cùng chung sống hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền - cũng cần được sử dụng như kim chỉ nam quan trọng cho 2 nước trong việc thiết lập hợp tác và vượt qua các thách thức chung. Bằng cách thực hiện những nguyên tắc này, ông hy vọng rằng Indonesia và Việt Nam có thể thúc đẩy hơn nữa hợp tác song phương ngày càng mạnh mẽ.
Trong khi đó, tờ Pikiran Rakyat (Tư tưởng Nhân dân) và tờ Indoraya (Indonesia Vĩ đại) trích lời Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá cao vai trò của Indonesia - với tư cách là quốc gia hàng đầu ASEAN có khả năng tìm kiếm giải pháp hòa bình và hợp tác giữa các nước - và kêu gọi các nước ASEAN nhanh chóng tìm kiếm giải pháp hòa bình./.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu tại Diễn đàn Quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Indonesia.
LAI CHÂU: BỘ ĐỘI TÍCH CỰC GIÚP DÂN KHẮC PHỤC HẬU QUẢ MƯA LŨ
Trong những ngày qua, trên địa bàn huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu có mưa to cục bộ kéo dài, gây sạt lở đất, đá làm thiệt hại đến tính mạng, tài sản của nhân dân và các công trình hạ tầng.
Theo báo cáo nhanh của UBND huyện Than Uyên, mưa lũ khiến 4 người tử vong, 3 người bị thương. Cụ thể, tại xã Tà Mung có 2 người tử vong gồm ông Lường Văn Ơn (sinh năm 1972, bản Tà Mung) và cháu Mùa A Sử (sinh năm 2019, tại bản Nậm Mở). Xã Khoen On có 2 người tử vong và 3 người bị thương (2 người tử vong là bà Lò Thị Đinh, sinh năm 1967, ở bản Chế Hạng và thi thể nam thanh niên khoảng 18 tuổi được phát hiện tại suối Nậm Mở, khu vực bản Nà Kè chưa xác định được danh tính).
Cùng với đó, mưa lũ khiến 8 người bị mắc kẹt ở giữa hai điểm sạt lở thuộc khu vực giáp ranh giữa xã Mường Kim và xã Hố Bốn. Hiện 8 người đã được di chuyển an toàn về xã Hố Bốn, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
Mưa lũ gây thiệt hại lớn về nhà cửa, tài sản của nhân dân các xã: Mường Cang, Khoen On, Mường Kim, Tà Hừa, Tà Mung; gây sạt lở và vùi lấp khoảng hơn 140ha lúa ruộng, rau màu, ao cá… Giá trị thiệt hại ước khoảng hơn 8 tỷ đồng.
Ngoài ra, mưa lũ cũng làm sạt lở các công trình giao thông, đường quốc lộ, đường nội đồng, đường liên bản, trôi cầu tạm và gãy, hỏng hoàn toàn đoạn mương, tuyến bờ kè rọ đá suối Nậm Kim, kênh thủy lợi… Ước thiệt hại khoảng hơn 30 tỷ đồng.
Ngay sau khi thiên tai xảy ra, Ban CHQS các huyện: Than Uyên, Sìn Hồ, Nậm Nhùn, Bộ CHQS tỉnh Lai Châu đã cử cán bộ, chiến sĩ phối hợp với chính quyền địa phương và nhân dân giúp vận chuyển đồ của các hộ dân có nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn.
Theo đó, đã di dời người và tài sản của 1 hộ dân tại bản Nà Kế, xã Hồng Thu, huyện Sìn Hồ và 3 hộ dân tại bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn đến nơi an toàn. Các hộ dân còn lại đang tiếp tục được theo dõi, tuyên truyền, vận động di chuyển khi có tình huống xấu xảy ra.
Tin, ảnh: HOÀNG TRƯỜNG - Báo QĐND
Ảnh: Cán bộ, chiến sĩ Ban CHQS huyện Than Uyên giúp vận chuyển đồ của các hộ dân có nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn tại xã Tà Mung, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Những cựu chiến binh với tinh thần "Cựu nhưng không cũ"
CÁI GỐC CỦA VĂN HÓA.
Đôi khi tôi viết một vấn đề gì đó, đọc lại mới thấy mình “rất phạm thượng”, đôi khi lại thấy mình rất vô duyên vì cứ “múa rìu qua mắt thợ”. Như hình đại diện trên facebook, tôi đã bộc lộ cái mong muốn của tôi là, “được chiêm nghiệm những sự việc xảy ra quanh mình” để rồi từ đó tạo cho riêng mình một nhận thức về sự việc đó qua con mắt của một anh công nhân. Thế thôi. Chính vì thế, nếu có ai đọc các bài viết của tôi, hoàn toàn chẳng có chút lý luận nào, vì có biết gì đâu mà viết!
Hôm nay bàn về chuyện “cái gốc của văn hóa”, hay nói đúng hơn, phải là “văn hóa là cái gốc”. Khi còn tại thế, cụ Hồ đã nói “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, và để khai triển tư tưởng Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Phú Trọng đã có một bài nói về văn hóa, trong đó có câu, “văn hóa còn thì dân tộc còn; văn hóa mất thì dân tộc mất”. Trong bài này tôi không nói về sự tồn vong của dân tộc, mà tôi muốn nói, văn hóa là cái gốc của mọi vấn đề.
Một điều tôi có thể chiêm nghiệm được, đó là các dân tộc có nền văn hóa khác nhau thì cái “nội hàm” (hay là gì đó mà tôi không tìm được từ thích hợp) cũng khác nhau.
Đã có lần tôi viết, nền tự do dân chủ và nhân quyền của quốc gia khác nhau, dù có là nền dân chủ tổng thống, dân chủ nghị viện hay quân chủ lập hiến cũng vậy. Ngay hai quốc gia có nền dân chủ tổng thống như Mỹ và Nga cũng không giống nhau. Ở Mỹ, tổng thống không có toàn quyền quyết định các vấn đề của quốc gia và về thực chất họ không chịu trách nhiệm trước nhân dân, mà chịu trách nhiệm trước những thế lực đã đặt họ vào chiếc ghế tổng thống, mọi người gọi thế lực đó là “Deepstate”. Còn tổng thống của nước Nga, ông ấy có đủ quyền hành tối thượng, chịu trách nhiệm trước đất nước, trước dân tộc Nga về tất cả những gì mà ông ấy đã quyết định.
Một khi anh đã chịu trách nhiệm trước ai thì tự do, dân chủ và nhân quyền sẽ được đem đến cho đối tượng đó. Từ đó suy ra, đảng cầm quyền cũng vậy. Người ta nói độc đảng là độc tài – có nghĩa là một khi chỉ có một đảng lãnh đạo thì dân nước đó không có tự do, dân chủ và nhân quyền. Họ đã “lớn cái nhầm”. Vấn đề là phải coi đảng ấy phục vụ cho ai, đem quyền lợi đến cho đối tượng nào? Vậy thôi.
Quay trở lại chuyện cái gốc văn hóa. Vấn đề này lớn lắm đó, vì văn hóa của một dân tộc được thể hiện trên mọi lĩnh vực hoạt động, nó len lỏi vào từng ngõ ngách của xã hội, vì thế mới có câu “văn hóa còn thì dân tộc còn” là vậy.
Văn hóa Mỹ đề cao chủ nghĩa vị kỷ, có thể nói một cách thô thiển là “vơ mọi thứ vào cho mình”. Một khi những người lãnh đạo đất nước có thêm thói dối trá, lừa lọc, tham lam thì chủ nghĩa vị kỷ được đẩy lên đến nấc thượng thừa. Ông cựu tổng thống Donald Trump với khẩu hiệu “nước Mỹ trên hết”, đó là chủ nghĩa vị kỷ, song ông ấy không (hoặc chưa thể hiện) thói dối trá… nên chưa gây ra một cuộc chiến tranh nào. Còn ông già Biden thì có đủ cả các thói hư tật xấu nên mới lôi kéo cả khối NATO đối đầu với nước Nga. Kết cục, giới tài phiệt Mỹ thì giàu lên mà dân các nước đồng minh của Mỹ thì nhận được một cuộc sống khó khăn hơn trước.
Chủ nghĩa vị kỷ, là một nền văn hóa không chỉ mong muốn áp đặt lên quốc gia khác, mà ngay trong nước Mỹ, thứ chủ nghĩa đó đã đề cao lối sống “cá lớn nuốt cá bé”. Ngay từ khi người Anglo Saxon chiếm đất của người da đỏ bản địa, chiếm đoạt tất cả tài nguyên của họ, tạo nên những tập đoàn công, nông nghiệp, tài chính do những ông chủ da trắng điều hành. Quyền tự do chiếm đoạt ấy được dành cho giới tinh hoa, còn người dân bản địa và những người từ quốc gia khác di cư đến Mỹ biến thành những kẻ làm thuê, phụ thuộc vào những nhà giàu chỉ chiếm 1% dân số Mỹ. Đó là tự do, dân chủ và nhân quyền của Mỹ, đó cũng là văn hóa Mỹ.
Văn hóa phương đông (như có lần tôi đã viết) khác hẳn với văn hóa phương tây. Một khi các nền văn hóa khác nhau thì khái niệm về tự do, dân chủ, nhân quyền cũng khác nhau. Những người cầm quyền Mỹ không thể áp đặt tiêu chuẩn và khái niệm về ba thứ quyền này cho bất kỳ nước nào khác. Ở Mỹ, người ta đề cao chủ nghĩa cá nhân, ở Việt Nam ta thì “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Rõ ràng là khác nhau như ngày và đêm, như nước với lửa vậy làm sao mà hòa hợp với nhau được?
Viết tới đây tôi lại nhớ đến bộ phim “Ba chàng ngự lâm pháo thủ - Les trois mousquetaires” của Pháp do nhà văn Alexandre Dumas “cha”, viết kịch bản. Trong đó có câu, “Một người vì mọi người, mọi người vì một người” (Un pour tous, tous pour un). Không biết câu khẩu hiệu mà Việt Nam ta thường kêu gọi “mọi người vì…” có xuất phát từ đây không?
Tự do, dân chủ hay nhân quyền là gì thì phải được nhân dân quốc gia đó chấp nhận, chứ còn ép người ta uống thứ thuốc của nước khác đem đến, có khi sau khi bị ép buộc đưa vào miệng, người ta lại nhổ ra, chẳng may trúng mặt kẻ ép người ta uống. Tôi muốn nói đến một quốc gia nhỏ bé trên dẫy núi Himalaya – Bhutan với dân số chưa tới 1 triệu người, thu nhập bình quân đầu người chỉ có 1.800 USD/năm (bằng một nửa của Việt Nam ta). Thế mà chính quốc gia này lại giữ ngôi đầu bảng trong những nước hạnh phúc nhất thế giới. Còn trong số các nước công nghiệp phát triển thì Phần Lan là quốc gia dẫn đầu, trong khi đó, giàu có như nước Mỹ cũng chỉ ở thứ 15/30. Như vậy mới thấy rằng, nhiều tiền chưa chắc đã hạnh phúc.
Trong một quốc gia cũng có những nền văn hóa khác nhau, nơi này thì do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, nơi khác lại được thiên nhiên ưu đãi nên tạo thành tính cách con người khác nhau và văn hóa ứng xử cũng khác nhau. Các dân tộc sinh sống ở miền núi, cũng có nền văn hóa khác nhau. Như dân tộc Vân Kiều ở Quảng Trị vẫn giữ chế độ mẫu hệ. Vậy nói kêu gọi “giải phóng” hoặc bình đẳng giới thì “giải phóng” ai đây? Người phụ nữ hay người đàn ông? Rồi đồng bào Mán đỏ ở Lào Cai lại có phong tục đi tìm chồng tìm vợ vào mỗi phiên chợ, vậy ta áp dụng văn hóa nào. Tiêu chuẩn tự do, dân chủ, nhân quyền là gì?
Cho nên, xin đừng ai cứ nhất mực phải đòi cho được cái thứ tự do, dân chủ, nhân quyền phương tây. Đó là thể hiện sự thiếu hiểu biết. Đơn giản như trong cách ăn trong mỗi bữa cũng đã khác nhau rồi. Người phương tây dùng nĩa, thìa để ăn, trong khi người phương đông lại dùng đũa, có dân tộc lại ăn bốc. Đã một lần tôi đi Sri Lanka, ngồi ăn chung mâm với một ông bộ trưởng của nước nọ, tôi rất ngạc nhiên vì ông ấy vẫn ăn bốc. Đó là văn hóa, không thể đồng nhất được. Phải tôn trọng sự khác biệt nếu sự khác biệt đó không đe doạ đến sự tồn vong của quốc gia, như thế mới thực sự là tự do, dân chủ và nhân quyền.
Nhưng các bác làm công tác văn hóa ơi. Văn hóa không phải chỉ là phim ảnh, kịch cọt, báo chí đâu đấy nhé. Văn hóa ứng xử trên đường, ở nhà, trong đời sống của con người và với đất nước nữa, nhưng tôi cứ thấy thiếu thiếu cái gì ấy các bác ạ./.
Hình trong bài: Phụ nữ Vân Kiều lao động chính của gia đình (trên); Mhững cô gái Bhutan (dưới).
Ngày 10/08/2023
Ngã Thị Dã








