Thứ Năm, 10 tháng 8, 2023

CÁC NƯỚC TÂY PHI LÀM CUỘC CÁCH MẠNG ĐÁNH ĐUỔI THỰC DÂN PHÁP - VÙNG LÊN HỠI CÁC NÔ LỆ Ở THẾ GIAN!

 


Ở Việt Nam lâu nay vẫn nghe Trương Huy San và rất nhiều người ra rả luận điệu “Việt Nam đánh đuổi Pháp là đánh đuổi nền văn minh nhân loại”. Họ quên rằng, chính cha ông họ là nạn nhân của người Pháp khi chúng xâm lược và cai trị nước ta từ năm 1858 cho đến khi bị đánh đuổi năm 1954. Nước Pháp có lịch sử xâm lược và đô hộ suốt hàng trăm năm lịch sử và họ làm giàu trên máu xương của đồng loại, bóc lột, vơ vết tài nguyên của các dân tộc bị áp bức. Việt Nam ta đã tổn thất biển máu, non xương để chiến đấu và chiến thắng người Pháp, xây dựng đất nước hòa bình, độc lập và phát triển như hôm nay. Vậy mà đám hậu bối được thừa hưởng thành quả cách mạng của cha ông lại phán xét cha ông rằng “đánh đuổi Pháp là đánh đuổi nền văn minh nhân loại”. Đúng là gia môn bất hạnh! Thứ nghiệt súc vô ơn!
Trong thế kỷ XXI, nhiều quốc gia ở châu Phi vẫn đang rên xiết dưới chế độ thực dân kiểu mới. Hãy nghe những gì mà các vị lãnh đạo của Pháp nói: Năm 1987, Tổng thống Pháp François Mitterrand từng tuyên bố: “Nếu không có châu Phi, Pháp sẽ không có lịch sử trong thế kỷ XXI”. Năm 2008, Tổng thống Pháp Jacques Chirac cũng công nhận: “Nếu không có châu Phi, nước Pháp sẽ trượt xuống thứ hạng của thế giới thứ ba.”. Có thể nói, nước Pháp giàu có và sự hoa lệ của Paris được xây bằng máu, nước mắt của các dân tộc thuộc địa.
Có 14 nước châu Phi vẫn phải có nghĩa vụ với Pháp, ràng buộc bởi một Hiệp ước thuộc địa, quy định phải nộp 85% ngân sách dự trữ của họ vào ngân hàng trung ương Pháp, dưới sự kiểm soát của Bộ trưởng Tài chính Pháp. Cho đến nay, Togo và 13 nước châu Phi khác vẫn phải trả nợ thực dân cho Pháp. Các nhà lãnh đạo châu Phi từ chối điều đó sẽ bị giết hoặc trở thành nạn nhân của một cuộc đảo chính. Những người tuân theo sẽ được Pháp hỗ trợ và khen thưởng, bằng cuộc sống xa hoa trong khi người dân của họ phải chịu đựng đói nghèo cùng cực trong nỗi tuyệt vọng. Đó là một hệ thống tàn ác, đến mức thậm chí Liên minh châu Âu cũng phải lên tiếng tố cáo, nhưng Pháp không có động thái nào, không bao giờ chịu nhượng bộ để thay đổi chế độ thuộc địa trá hình đó, khi mà nó đem lại lợi ích to lớn từ châu Phi về cho nước Pháp.
Theo đánh giá của Liên Hợp quốc, hơn 40 triệu đàn ông, phụ nữ và trẻ em đang là nô lệ thời hiện đại ở Tây Phi, trong đó Eritrea, Burundi, Cộng hòa Trung Phi, Nigeria và Cộng hòa Dân chủ Congo có số lượng cao nhất, chiếm hơn 1/4 tổng số nạn nhân trong khu vực. Phần lớn bị ép buộc lao động trong các mỏ khoáng sản hoặc phá rừng lấy gỗ, số khác bị cưỡng bức hôn nhân hoặc bóc lột tình dục...
Niger đã trở thành quốc gia mới nhất ở Tây Phi với quân đội lên nắm quyền kiểm soát, sau Burkina Faso, Guinea, Mali và Chad - tất cả đều thuộc cộng đồng Pháp ngữ (Francophonie) châu Phi. Đây là quốc gia khai thác uranium lớn thứ 7 thế giới, nhưng 1/4 lượng uranium mà họ sản xuất được được đưa tới châu Âu, đặc biệt là Pháp, để phục vụ các nhà máy điện hạt nhân tại đây. Dù vậy, quốc gia này vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới và phải nhận hàng trăm triệu USD cứu trợ mỗi năm. Khoảng 40% trong số 24,4 triệu dân Nige sống trong cảnh nghèo đói cùng cực với mức thu nhập dưới 2,15 USD mỗi ngày…
Và bây giờ các nước Tây Phi đã nhất tề đứng lên chống Pháp, yêu cầu người Pháp rời khỏi đất nước và mang về Pháp “nền văn minh nhân loại”, thứ mà họ đã cho Tây Phi suốt hai thế kỷ qua. “Chúng tôi muốn Nga giúp chúng tôi về an ninh và lương thực. Lực lượng Wagner có thể đảm bảo an ninh hiệu quả hơn Pháp, trong khi Moskva có thể cung cấp công nghệ để cải thiện nền nông nghiệp của chúng tôi” - Lời của những người tham gia cách mạng. Pháp, Mỹ và NATO đang sa lầy, tiến thoái lưỡng nan trong việc ủng hộ Zelensky trong cuộc chiến ở Ukraine và đây là cơ hội ngàn năm để các nước bị Pháp cai trị đứng lên, lật đổ bọn xâm lược, đô hộ và bè lũ tay sai.
Dân tộc ta bị Pháp xâm lược và đô hộ gần 100 năm, nhờ sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ vĩ đại đã dẫn dắt cả dân tộc kháng chiến và đánh bại người Pháp, xây dựng cơ đồ to đẹp như hôm nay. Chúng ta đã làm được và cầu mong người Tây Phi cũng sẽ thành công. Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian, vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn. Sục sôi nhiệt huyết trong tâm đầy chứa rồi. Quyết phen này sống chết mà thôi. Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành. Toàn nô lệ vùng đứng lên đi. Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa, bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình. Đã đến lúc người Pháp phải trả lại độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết dân tộc cho các nước bị áp bức../.
P/s: Hình ảnh thứ nhất là cuộc đảo chính lật đổ chính quyền bù nhìn thân Pháp ở Niger. Hình 2 thứ hai và 3 là sự tương phản giữa Paris hoa lệ và đất nước Niger.
ST

CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM MONG MUỐN TĂNG 5-6% LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG NĂM 2024


Ngày 9/8, Hội đồng Tiền lương Quốc gia họp phiên thứ nhất năm 2023 để thảo luận, thương lượng về phương án điều chỉnh lương tối thiểu vùng năm 2024. Cuộc họp được chủ trì bởi ông Lê Văn Thanh, Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Chủ tịch Hội đồng Tiền lương Quốc gia.
Là thành viên Hội đồng Tiền lương Quốc gia đầu tiên phát biểu, trình bày quan điểm tại phiên họp, ông Lê Đình Quảng, Phó trưởng Ban Chính sách, pháp luật Tổng LĐLĐ Việt Nam, đã dẫn số liệu kết quả khảo sát tình hình đời sống, việc làm, tiền lương của người lao động năm 2023 cho Ban Chính sách - Pháp luật và Viện Công nhân và Công đoàn phối hợp thực hiện để cho thấy bức tranh đời sống của công nhân lao động.
Ông Lê Đình Quảng cho biết, chúng tôi chia sẻ những khó khăn mà doanh nghiệp đang phải đối mặt, vì vậy mong muốn điều chỉnh tiền lương tối thiểu năm 2024 để bù đắp chỉ số trượt giá để duy trì tiền lương thực tế cho người lao động, với mức đề xuất tăng 5-6%.
Theo ông Quảng, trong bối cảnh hiện nay, đời sống người lao động gặp rất nhiều khó khăn, nhất là hơn một năm qua, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng cao so với trước đây. Tuy nhiên trong các yếu tố để xem xét điều chỉnh mức lương tối thiểu thì khả năng chi trả của doanh nghiệp cũng rất quan trọng. Rõ ràng trong điều kiện hiện nay, điều này cần được xem xét để vừa đảm bảo động viên người lao động làm việc có năng suất, chất lượng, làm sao để tiền lương thực sự là động lực cải thiện điều kiện làm việc, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, nhưng cũng hài hòa với khả năng chi trả. Đó là bài toán phải tính rất kỹ.
Kết quả khảo sát với gần 3.000 lao động ở 4 vùng với các loại hình doanh nghiệp do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thực hiện cho thấy có 17,3% công nhân lao động được khảo sát phải thường xuyên vay nợ dẫn đến 3,1% trong số đó thường xuyên bị đe dọa, khủng bố và 45,2% người vay nợ có tâm trạng lo lắng bất an.
Có 52,3% người lao động có làm thêm giờ, số ngày làm thêm giờ trung bình 1 tháng là 10,71 ngày; số giờ làm thêm trung bình 1 ngày là 1,75 giờ. Bên cạnh đó, có 76,2% người lao động tham gia khảo sát “tình nguyện” làm thêm giờ để kiếm thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống./.
Báo Đại Đoàn Kết
Có thể là hình ảnh về 13 người và văn bản

VẤN ĐỀ CẤP BÁCH QUYẾT ĐỊNH SỨC MẠNH CỦA ĐẢNG, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

 

Thời gian qua, công tác xây dựng Đảng về đạo đức đã có bước phát triển về nhận thức và thực tiễn, nhưng trên thực tế chưa có sự thống nhất về khái niệm và nội dung của vấn đề. Vậy, xây dựng Đảng về đạo đức bao hàm những nội dung gì? Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng về đạo đức được xác định ra sao?
Lĩnh vực quan trọng được Đảng đặc biệt quan tâm
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về công tác xây dựng Đảng, trong đó có những nội dung định hướng, chỉ đạo công tác xây dựng Đảng về đạo đức. Tại Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, nội dung “xây dựng Đảng về đạo đức” là một nội dung độc lập, đặt ngang hàng với “xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ”. Bởi vậy, trong thời gian qua, Đảng ta đã ban hành các quy định về nêu gương đối với cán bộ, đảng viên, nhất là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Điều đó cho thấy, công tác xây dựng Đảng về đạo đức là lĩnh vực quan trọng được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Xây dựng Đảng về đạo đức là xây “cái gốc”, bảo đảm cho xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ đi đúng hướng và có hiệu quả.
Phát biểu tại Hội thảo, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Vũ Thanh Mai khẳng định, cùng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ, xây dựng Đảng về đạo đức được xác định có vai trò quan trọng; nhằm giữ vững và làm cho mỗi cán bộ, đảng viên luôn suốt đời phấn đấu hy sinh vì mục tiêu lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân, hiện thực hóa bản chất cách mạng chân chính của Đảng.
Về mặt nhận thức, trong thời kỳ đổi mới, nhất là từ nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, công tác xây dựng Đảng về đạo đức ngày càng được Đảng ta coi trọng và nhấn mạnh. Nhiệm kỳ Đại hội XII, lần đầu tiên cụm từ “Xây dựng Đảng về đạo đức” chính thức được đưa vào Văn kiện và khẳng định mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Về mặt thực tiễn, Đảng ta đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai nhiều phong trào, nhiều cuộc vận động, kết hợp việc tổ chức học tập nâng cao nhận thức, rèn luyện và thực hành đạo đức, coi trọng việc nêu gương. Đồng thời, kiên trì, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống trong Đảng. Từ năm 2003 đến nay, Đảng ta đã ban hành 06 chỉ thị, kết luận về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; 03 quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên...
Trong thời gian qua, công tác xây dựng Đảng về đạo đức tuy đã có bước phát triển về nhận thức và thực tiễn nhưng trên thực tế chưa có sự thống nhất về khái niệm, nội dung. Có người cho rằng, xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng môi trường trong sạch, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và hoàn thiện những quy định, chuẩn mực đạo đức; đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội, gắn với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nhưng cũng có quan niệm, xây dựng Đảng về đạo đức là hoạt động chủ động của Đảng về mặt giáo dục, rèn luyện, hành động thực tiễn để bồi đắp, củng cố những phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng với vai trò đội tiên phong, người lãnh đạo, Đảng cầm quyền.
Nhận thức đúng để tự giác tu dưỡng
Nội dung của công tác xây dựng Đảng về đạo đức được thể hiện trên hai phương diện: Đạo đức của Đảng, của tổ chức đảng; Đạo đức của cán bộ, đảng viên. Đối với phương diện thứ nhất, phải xây dựng, chỉnh đốn để Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”. Muốn thực hiện được điều này cần giữ vững bản chất của Đảng, xây dựng các quy định, quy chế trong Đảng, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên để cán bộ, đảng viên có cơ sở, căn cứ thực hiện.
Phân tích khái niệm “công tác xây dựng Đảng về đạo đức”, tham luận của một số đại biểu đã chỉ ra rằng, đây chính là toàn bộ hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên nhằm hình thành, củng cố và phát triển những giá trị đạo đức tốt đẹp, thái độ, hành vi chuẩn mực của mỗi tổ chức đảng và đảng viên, phù hợp với những giá trị đạo đức tiến bộ của dân tộc và nhân loại, để Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiền phong ưu tú nhất của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
Cùng với đó, phải xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh; có lối sống trong sáng, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; thật sự là “đày tớ” trung thành của nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý trọng. Nội bộ Đảng phải dân chủ, đoàn kết thống nhất, thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc, không nể nang, bao che khuyết điểm của nhau, thường xuyên tự soi, tự sửa. Ngoài ra, Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng, lắng nghe nhân dân. Tổ chức đảng và đảng viên thực hiện đúng nguyên tắc Đảng, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Đối với vấn đề xây dựng đạo đức của cán bộ, đảng viên: trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần phân định giải quyết phù hợp mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích và xác định các tầng mức ưu tiên đối với cán bộ, đảng viên trong cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp chung và cho bản thân. Theo đó, lợi ích quốc gia, dân tộc cần phải đặt lên hàng đầu, tiếp sau đó là lợi ích của tập thể, cơ quan, đơn vị và cuối cùng là lợi ích của cá nhân cán bộ, đảng viên.
Đồng thời, tăng cường nêu gương trong cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cần thật sự tiên phong, gương mẫu thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; nói đi đôi với làm; không tham nhũng, lãng phí; dũng cảm bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai. Xây dựng tác phong, lối sống giản dị, quan tâm, gần gũi với quần chúng, thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân dân.
Bên cạnh việc phân tích làm rõ kết quả đạt được (như việc triển khai các chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, nhất là về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên tham gia và có những kết quả tích cực; xuất hiện những mô hình hay, cách làm sáng tạo, điển hình người tốt, việc tốt có sức lan tỏa...), Hội thảo cũng đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng Đảng về đạo đức trong thời gian qua. Điển hình là việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ; chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân. Thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên chưa trở thành nền nếp, hiệu quả chưa cao...
Thực tiễn cách mạng những năm qua và công cuộc đổi mới hiện nay cho thấy, sự nghiệp cách mạng muốn giành thắng lợi đòi hỏi phải có những con người có đức, có tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Riêng về khía cạnh đạo đức, đó phải là những người có tinh thần yêu nước, thương dân; đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, trước hết. Sự phát triển đất nước hiện nay còn đòi hỏi những con người trong xã hội - trước hết là cán bộ nắm giữ các cương vị trong hệ thống chính trị - phải là những người không để các “căn bệnh” quan liêu, tham nhũng, tiêu cực... xâm nhập, khống chế; đồng thời dám đấu tranh chống lại các tiêu cực đó.
Để hình thành được các chuẩn mực đạo đức, không phải diễn ra trong “một sớm, một chiều” mà phải trải qua một quá trình tu dưỡng lâu dài, bền bỉ. Xét đến cùng thì việc nhận thức đúng để từ đó tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là yếu tố quan trọng nhất hình thành nên chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Nói cách khác, một nền đạo đức mới chỉ có thể xây dựng trên cơ sở sự tự giác tu dưỡng đạo đức của mỗi người. Đây cũng là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt chú trọng trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình.
Cho đến nay, những tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn có giá trị vô cùng to lớn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước; vẫn vẹn nguyên ý nghĩa và giá trị thời sự trong công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Bởi vậy, rèn luyện và thấm nhuần văn hóa đạo đức cho cán bộ, đảng viên đang trở thành vấn đề cấp bách, quyết định sức mạnh của Đảng trong giai đoạn mới./.
Báo Pháp luật
Có thể là hình ảnh về 6 người, xe độc mã, bánh xe wagon, xe wagon, toa hành khách và văn bản

Thứ Tư, 9 tháng 8, 2023

MỘT SỐ NHẬN THỨC VỀ HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đổi mới theo hướng hiện đại và hội nhập sâu rộng, khi con đường phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao đã được xác định rõ, các vấn đề về giá trị, hệ giá trị văn hoá được đặt ra và nói tới hằng ngày trong các diễn ngôn chính trị, văn hoá, xã hội, đặc biệt là xuất hiện thường xuyên và liên tục trong các văn kiện, nghị quyết quan trọng của Đảng trong hơn hai thập kỷ qua. 


1. Giá trị, hệ giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác với tự nhiên, xã hội, sự sáng tạo này là liên tục và đến lượt mình - hệ giá trị văn hoá - lại trở thành yếu tố cơ sở, nền tảng, chuẩn mực chi phối phương châm, triết lý sống cũng như từng hành vi của con người. Như vậy, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của hệ giá trị văn hoá.


Giá trị, hệ giá trị văn hoá được hình thành trên cơ sở học (văn hoá hoá), con người được dạy bằng nhiều con đường khác nhau và thông qua trải nghiệm trực tiếp của các cá nhân. Các cá nhân nhập tâm hoá hệ giá trị thông qua việc học/trải nghiệm này và các giá trị khi được nhập tâm trở thành tập tính (hành động, lựa chọn…) mà không phản tư tại sao lại hành động/lựa chọn như vậy, ví dụ như thắp hương ngày rằm, mùng một; mời nhau trước khi ăn cơm, dùng đũa khi ăn... 


Với cách hiểu như vậy, giá trị, hệ giá trị văn hoá có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hiện thực hoá mục tiêu “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; “Xây dựng hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” mà Đảng ta đã đề ra. 


2. Hệ giá trị được xem là cốt lõi, là nền tảng tạo nên diện mạo một nền văn hoá, bản sắc văn hoá. Chính vì vậy, hiểu về các đặc điểm, tính chất của hệ giá trị văn hoá là cần thiết và giúp nhìn nhận rõ hơn về bản chất cùng những chiều tương tác của hệ giá trị trong các bối cảnh, môi trường cụ thể. 


Một là, hệ giá trị văn hoá luôn tồn tại là một hệ thống hay tạo nên hệ thống với nhiều yếu tố cấu thành. Bản thân hệ giá trị đã là sự kết nối, tổng hoà của nhiều giá trị, ví dụ hệ giá trị nhân ái bao gồm một chuỗi các yếu tố/giá trị cấu thành như đoàn kết, tương trợ, yêu thương, cảm thông, chia sẻ,… hay hệ giá trị vạn vật hữu linh là sự kết hợp của nhiều yếu tố/giá trị như niềm tin, đa thần, linh hồn, thiêng, hồn, vía, thờ cúng,… Trong hệ thống này, các yếu tố/giá trị không tồn tại riêng rẽ nhau mà luôn gắn kết với nhau, bổ trợ nhau tạo nên những mối quan hệ, những chiều tương tác trong một tổng thể hệ giá trị.


Tính hệ thống khiến cho hệ giá trị vừa có những liên kết nội tại song cũng vừa có những sự kết hợp với những hệ giá trị khác để cấu thành nên những tổng thể lớn hơn. Ví dụ, hệ giá trị nhân ái kết hợp với hệ giá trị anh hùng, dũng cảm, yêu nước tạo nên hệ giá trị ở quy mô lớn hơn, của cả một cộng đồng tộc người hay quốc gia...


Hai là, hệ giá trị mang tính tương đối khi chúng ta trải nghiệm một thực tế là mỗi một nền văn hoá đều có hệ giá trị riêng. Theo đó, mỗi cộng đồng, tộc người, mỗi nhóm xã hội đều có hệ giá trị riêng mà những hệ giá trị ấy được hình thành và duy trì, phát triển trong điều kiện cụ thể và đặc thù của chính cộng đồng tộc người hay nhóm xã hội đó. Vì vậy, khi nhìn nhận, đánh giá về bất cứ một giá trị, hệ giá trị nào cũng cần đặt nó trong bối cảnh sinh thái, lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của nó.  


Mỗi cá nhân có thể lựa chọn giá trị hay chính là lựa chọn phương châm sống, triết lý sống cho mình hoàn toàn khác với cá nhân khác hoặc khác với số đông. Do điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử cũng như điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội khác nhau nên quá trình sáng tạo văn hoá ở mỗi cộng đồng, quốc gia là khác nhau và hệ giá trị được hình thành và vận hành trong các cộng đồng, quốc gia đó cũng theo các quá trình và phương thức khác nhau. Kết quả là những giá trị hệ giá trị được biểu hiện ra không giống nhau. Ví dụ, giá trị làng Việt truyền thống Bắc bộ là khép kín kiểu “trong họ ngoài làng”, cố kết, co cụm trong khi làng Việt Nam bộ lại mở, phóng khoáng, năng động; giá trị canh tác nông nghiệp truyền thống Bắc bộ là thâm canh, trong khi ở Nam bộ là quảng canh. Giá trị ứng xử của người Việt vùng châu thổ Bắc Bộ là coi trọng mồ mả, ngày giỗ trong khi nhiều dân tộc thiểu số bỏ mồ mả, không làm giỗ... 


Chính vì hệ giá trị văn hoá mang tính tương đối, nên khó có thể có một hệ giá trị văn hoá nào có thể thống trị và trở thành hệ giá trị mang tính định hướng cho toàn bộ xã hội. Sự khác nhau, sự mở rộng, bổ sung, thay thế hay mâu thuẫn, trái ngược nhau trong sự tồn tại của hệ giá trị văn hoá đều là bình thường và hợp quy luật. 


Ba là, mỗi vùng sinh thái, vùng văn hoá, mỗi địa phương, tộc người, nhóm người sáng tạo và duy trì các hệ giá trị văn hoá khác nhau tạo nên tính đa dạng của hệ giá trị văn hoá ở Việt Nam. Sự đa dạng luôn thể hiện ở đủ các góc cạnh, phương diện của hệ giá trị văn hoá, cả trong điều kiện hình thành và trong quá trình sáng tạo, duy trì, phát triển, bổ sung, bồi đắp, làm mới các hệ giá trị, trong các mối quan hệ tương tác, tiếp nối, kế thừa của các hệ giá trị và trong cả sự giao lưu, tiếp biến văn hoá giữa các hệ giá trị qua các thời kỳ.


Hệ giá trị văn hoá được hình thành và bồi đắp từ nhiều nguồn khác nhau (từ truyền thống văn hoá, từ truyền thông đại chúng, từ những cá nhân trong vai trò là những biểu tượng,…) và bằng nhiều con đường khác nhau (qua môi trường gia đình, xã hội, qua giáo dục trong nhà trường và qua các trải nghiệm cá nhân...). Vì vậy, hệ giá trị văn hóa luôn đa dạng, đa chiều và đa ý nghĩa.


Hệ giá trị luôn tồn tại trong sự đa dạng khi một nhóm, một cộng đồng, một tộc người, một quốc gia có thể tồn tại nhiều hệ giá trị khác nhau tạo ra nhiều chuẩn mực, triết lý sống khác nhau mà mỗi chuẩn mực, triết lý lại có cách vận hành riêng để tồn tại và chi phối cuộc sống con người...


Có thể khẳng định rằng, đa dạng giá trị, đa dạng nguồn hình thành giá trị, đa dạng cách vận hành giá trị, đa dạng ý nghĩa, đa dạng hình thức thể hiện giá trị là những đặc điểm nổi bật khi nhìn vào hệ giá trị văn hoá.


Bốn là, do hệ giá trị là tương đối và đa dạng nên không có một hệ giá trị nào tồn tại mãi mãi mà luôn có sự thay đổi, thay thế, bổ sung hay sáng tạo mới; cũng không có sự đồng nhất trong hệ giá trị mà các hệ giá trị luôn tồn tại đa dạng, đan cài nhau trong các mối quan hệ tương tác, tương liên, với những sự kết nối chặt chẽ và đa chiều.


Vì hệ giá trị văn hoá luôn thay đổi theo sự thay đổi của lịch sử, của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội nên các hệ giá trị đã từng tồn tại trong truyền thống có thể không còn tồn tại trong hiện tại hoặc vẫn tồn tại nhưng đã có sự thay đổi về nội hàm hay sự mở rộng về trường nghĩa, sự thay thế về cách biểu đạt. Ví dụ, giá trị chuẩn mực của người phụ nữ truyền thống là “công, dung, ngôn, hạnh”, trong xã hội đương đại đã có sự thay đổi theo những giá trị chuẩn mực mới như: trí tuệ, năng động, sáng tạo, khéo léo, linh hoạt,… Giá trị chuẩn mực của mối quan hệ con cái với cha mẹ trong gia đình truyền thống là: quyền của cha mẹ, bổn phận của con cái, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, trong xã hội đương đại chuẩn mực này đã thay đổi theo hướng quyền của con cái, bổn phận của cha mẹ, cha mẹ không áp đặt mà tôn trọng lựa chọn của con cái,… Giá trị yêu nước, theo thời gian và đặc thù lịch sử, đã luôn được tích hợp, thay đổi, bổ sung những trường nghĩa mới, khi đất nước bị xâm lược, yêu nước là tham gia chiến đấu đánh đuổi giặc ngoại xâm, thời kỳ tái thiết đất nước, yêu nước là dốc sức xây dựng đất nước, đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, thời kỳ đổi mới yêu nước là làm giàu cho đất nước và hiện nay giá trị yêu nước được bổ sung nhiều trường nghĩa mới như: “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là yêu nước, hay trong cuộc chiến chống dịch bệnh COVID-19 “ở nhà là yêu nước”...


Hệ giá trị không bất biến mà luôn thay đổi, song sự thay đổi này không triệt để theo hướng là thay thế, xoá bỏ mà các hệ giá trị có thể song song tồn tại, vừa duy trì các giá trị truyền thống, vừa sáng tạo các giá trị mới, các giá trị mới có thể kế thừa, hội nhập, tích hợp các giá trị truyền thống. Chính vì thế, các hệ giá trị không đồng nhất mà mỗi hệ giá trị có “toạ độ” riêng trong đời sống xã hội, chuyển tải những trường nghĩa của cộng đồng, nhóm, tộc người, quốc gia sản sinh ra và nuôi dưỡng nó.   Hiện nay, nhiều hệ giá trị truyền thống đã thay đổi theo hướng thích ứng với bối cảnh mới, nhiều hệ giá trị mới đang được hình thành và vận hành trong xã hội như dân chủ, bình đẳng, hội nhập, khoan dung, cạnh tranh...


Năm là, vì hệ giá trị văn hoá rất đa dạng, mang tính tương đối, không bất biến, không đồng nhất nên hệ giá trị văn hoá tồn tại ở nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau, có hệ giá trị mang tính chung, tính phổ quát, có hệ giá trị mang tính riêng, tính đặc thù của từng nhóm, từng cộng đồng, từng tộc người, từng quốc gia, có hệ giá trị tồn tại trong một không gian rộng, một thời gian dài với số đông người lựa chọn nhưng cũng có hệ giá trị lại chỉ tồn tại trong một không gian hẹp, một thời gian ngắn với chỉ một nhóm người lựa chọn. 


Các hệ giá trị mang tính phổ quát thường được nhắc tới là chân, thiện, mỹ, là yêu nước, nhân ái, đoàn kết, khoan dung, sáng tạo... Những hệ giá trị này thường được đông đảo các nhóm, cộng đồng, tộc người, quốc gia chia sẻ, điều đó có nghĩa những hệ giá trị này có ở nhiều nền văn hoá song nội hàm, trường nghĩa cùng sự sắp đặt theo tầm quan trọng của các hệ giá trị này lại có sự khác nhau giữa các nhóm, cộng đồng, tộc người, quốc gia và đây chính là tính đặc thù của hệ giá trị văn hoá.


Tính phổ quát của hệ giá trị khiến cho văn hoá Việt Nam có thể chia sẻ, hội nhập, đối thoại dễ dàng với nền văn hoá thế giới, trong khi đó tính đặc thù của hệ giá trị lại khiến cho văn hoá Việt Nam “hội nhập mà không hoà tan”, giữ được hồn cốt dân tộc, làm giàu bản sắc văn hoá. Tính phổ quát và tính đặc thù của hệ giá trị không tạo ra mâu thuẫn mà cùng tồn tại như hai mặt của một vấn đề, một giá trị riêng lẻ cũng có thể vừa có tính phổ quát, vừa có tính đặc thù và chính thuộc tính này lại thúc đẩy mạnh mẽ hơn tính đa dạng và tương đối của hệ giá trị văn hoá. 


3. Hệ giá trị văn hoá hình thành trong tư duy của con người, thể hiện ra bằng triết lý, chuẩn mực, phương châm sống và có chức năng cơ bản là định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi cũng như những quan hệ xã hội, theo đó hệ giá trị là một hệ thống phức tạp của những chiều tương tác, quan hệ, tác động, ảnh hưởng, du nhập, giao lưu...


Trong bối cảnh xã hội đương đại với sự gia tăng của toàn cầu hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, hệ giá trị văn hoá ở Việt Nam ngày càng trở nên phức tạp với sự cùng tồn tại của hệ giá trị truyền thống, hệ giá trị mới, hệ giá trị phổ quát, hệ giá trị đặc thù, hệ giá trị cốt lõi, hệ giá trị phái sinh... Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, xung đột giá trị, thậm chí khủng hoảng giá trị, “sốc” giá trị cũng đã xảy ra càng làm gia tăng thêm tính phức tạp nhưng cũng làm lộ rõ sự cần thiết nhìn nhận lại việc xây dựng hệ giá trị văn hoá hiện nay. 


Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII với Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (1998) đã ghi dấu mốc quan trọng khi đề cập đến giá trị văn hoá, khẳng định sự cần thiết phải “sáng tạo nên những giá trị văn hoá mới”. Từ đây, vấn đề giá trị, hệ giá trị văn hoá luôn được đề cập trong các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng - từ Đại hội IX đến Đại hội XIII.


Qua văn kiện của các kỳ Đại hội và Cương lĩnh xây dựng đất nước qua các thời kỳ, Đảng ta đã từng bước định hình rõ nhiệm vụ sáng tạo, hoàn thiện, đúc kết, nghiên cứu, triển khai xây dựng hệ giá trị văn hoá. Theo đó, hệ giá trị văn hoá mang tính khái quát được đề cập là: Dân tộc, Nhân văn, Dân chủ, Pháp quyền và Khoa học và 7 đặc tính cơ bản được xác định là những chuẩn mực giá trị của con người Việt Nam: Yêu nước, Nhân ái, Nghĩa tình, Trung thực, Đoàn kết, Cần cù, Sáng tạo.


Hệ giá trị văn hoá là một phương diện quan trọng của một nền văn hoá và thể hiện rõ nhất bản sắc văn hoá. Hệ giá trị văn hoá đã và đang được thực hành đa dạng, sống động trong đời sống xã hội, việc gọi tên, đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hoá là vô cùng quan trọng, giúp cho chúng ta có những nhìn nhận bao quát hơn, đầy đủ hơn và phát huy được hiệu quả hơn chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh của hệ giá trị văn hoá. Hơn nữa, việc xây dựng hệ giá trị văn hoá còn thể hiện mong muốn, khát vọng của chúng ta về những hệ giá trị tốt đẹp sẽ được thực hành phổ biến tạo nên sự phát triển phồn vinh và bền vững cho xã hội.


Từ góc độ nghiên cứu về văn hoá và con người Việt Nam, đã có nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam. Các giá trị, hệ giá trị được các nhà nghiên cứu xem là những giá trị, hệ giá trị truyền thống, đã có sẵn trong văn hoá, con người Việt Nam mà họ chỉ tổng kết lại, chỉ rõ ra và phân tích những biểu hiện của chúng. 


Trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hệ giá trị cần xây dựng để phù hợp với bối cảnh xã hội đương đại. Chẳng hạn như, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm nhấn mạnh hệ giá trị định hướng cốt lõi hiện nay gồm: Dân chủ và Pháp quyền; Nhân ái và Yêu nước; Trung thực và Bản lĩnh; Trách nhiệm và Hợp tác. Trong công trình xuất bản gần đây, tác giả Nguyễn Ngọc Thiện và Từ Thị Loan đề xuất hai phương án xác định hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam, phương án thứ nhất gồm 5 giá trị (Yêu nước, Trách nhiệm, Kỷ luật, Sáng tạo, Trung thực); phương án thứ hai gồm 7 giá trị (Yêu nước, Trách nhiệm, Kỷ luật, Sáng tạo, Trung thực, Đoàn kết, Nhân ái)...


Có thể nhận thấy, cả tên gọi các hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam được xem là đã có sẵn và các hệ giá trị được xác định là cần xây dựng đều là các mỹ từ, nghe rất hay, rất quen thuộc, tạo cảm giác như chúng ta đã có hết rồi song thực tế lại không hẳn như vậy. Dường như những khái quát này vẫn chưa ghi nhận/phản ánh được những hệ giá trị văn hoá đa dạng mà các nhóm địa phương, tộc người trên cả nước đang thực hành trong thực tế cuộc sống thường ngày của họ. Điều này khiến cho các hệ giá trị văn hoá được xác định vẫn chưa thực sự gắn với thực tiễn, chưa đi vào cuộc sống mà chủ yếu tồn tại trên sách vở, trong các văn bản chính sách, trên các diễn đàn và các diễn ngôn truyền thông, tuyên truyền.


Hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực giá trị con người Việt Nam mà Đảng ta xác định chính là xác định việc xây dựng để có được những hệ giá trị đó, là khát vọng, là mục tiêu muốn đạt được mà không phải là những hệ giá trị có sẵn hay đang được thực hành phổ biến trong cả xã hội.


Nếu hiểu rõ hệ giá trị văn hoá mang tính hệ thống với nhiều yếu tố cấu thành và các yếu tố cấu thành này luôn gắn kết với nhau theo những trật tự nhất định và những tương tác đa chiều thì chúng ta sẽ hiểu không thể “nhặt” riêng một hệ giá trị nào ra khỏi tổng thể để đưa nó lên thành hệ giá trị phổ quát hay cốt lõi mà bỏ qua các giá trị có tính tương liên với nó. Ví dụ, muốn xây dựng hệ giá trị nhân ái, hài hoà với tự nhiên nhưng lại muốn xoá bỏ cúng rừng, chống mê tín dị đoan, bê tông hoá đồng loạt hệ thống tưới tiêu, xây dựng các công trình chặn dòng chảy của các con sông hoặc xả thải thẳng ra sông...


Nếu hiểu rõ hệ giá trị văn hoá mang tính tương đối, tính đa dạng thì việc xây dựng hệ giá trị văn hoá sẽ luôn phải tôn trọng tối đa bối cảnh đặc thù và sự lựa chọn giá trị của các chủ thể văn hoá ở các nền văn hoá khác nhau và không có hệ giá trị nào được xem là thống trị, lấn át hoàn toàn các hệ giá trị khác. 


Nếu xem hệ giá trị văn hoá là không bất biến, không đồng nhất thì chúng ta xác định được việc xây dựng hệ giá trị cho một giai đoạn lịch sử nhất định và các hệ giá trị chúng ta đang xây dựng không phủ nhận hay xoá bỏ các hệ giá trị đã và đang có. Ngay cả khi hệ giá trị chúng ta đang xây dựng đã định hình và duy trì trong đời sống đương đại thì cũng không nên tuyệt đối hoá hệ giá trị ấy, cũng không áp đặt một mô hình hệ giá trị ấy cho tất cả và luôn cần tôn trọng sự đa dạng các hình thức và phương thức thực hành hệ giá trị ấy của các nhóm, cộng đồng, tộc người. 


Nếu quan tâm đúng mức hơn đến tính thực tiễn của hệ giá trị văn hoá thì chúng ta sẽ khắc phục được sự chung chung, hô hào, hình thức trong xây dựng hệ giá trị văn hoá. Tính thực tiễn ở đây là hệ giá trị văn hoá phải được xây dựng từ thực tiễn và rồi phải được thực hành sâu rộng trong thực tiễn, trở thành lối sống, thói quen, tập tính hàng ngày của con người. Chỉ như vậy, việc xây dựng hệ giá trị văn hoá mới được xem là đạt hiệu quả.


Tạp chí Tuyên giáo

TRUYỀN THÔNG INDONESIA ĐƯA TIN ĐẬM NÉT VỀ BÀI PHÁT BIỂU CHÍNH SÁCH CỦA CHỦ TỊCH QUỐC HỘI VƯƠNG ĐÌNH HUỆ

Theo phóng viên TTXVN tại Jakarta, truyền thông Indonesia đưa tin đậm nét về bài phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tại Đối thoại chính sách với chủ đề "Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Indonesia gắn kết bền chặt, cùng nhau phấn đấu vì một châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương năng động, bao trùm hòa bình, hợp tác và phát triển".


Hãng thông tấn chính thức Antara cho biết, phát biểu tại sự kiện do Cộng đồng Chính sách đối ngoại Indonesia (FPCI) tổ chức ngày 5/8, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá cao việc Indonesia là nước ASEAN đi đầu trong tìm kiếm các giải pháp hòa bình, vì hòa bình và hợp tác.


Antara dẫn lời Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết sự tương đồng văn hóa, tư tưởng lập quốc, sự cận kề địa lý và những liên hệ lịch sử gần gũi, cùng những điểm đồng khát vọng về hòa bình là chất keo tự nhiên gắn kết 2 dân tộc Việt Nam và Indonesia, mang lại những giá trị vượt thời gian.


Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá Indonesia là đất nước của những tư tưởng mạnh mẽ vượt tầm khu vực, trong đó tư tưởng về độc lập, tự chủ, tự cường, không liên kết là triết lý đối ngoại của Indonesia và được nhiều quốc gia chia sẻ.


Khẳng định Indonesia và Việt Nam chia sẻ mối quan hệ văn hóa sâu sắc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhắc lại từ thế kỷ thứ VII, hai nước đã có sự giao lưu và kết nối về văn hóa, thương mại, ngôn ngữ và cả nhân chủng học giữa các vương quốc cổ đại Việt Nam và Indonesia, đồng thời lưu ý hai nước cùng chia sẻ nền nông nghiệp lúa nước phát triển lâu đời, bên cạnh những đặc điểm kiến trúc tương đồng.


Theo Antara, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam nhấn mạnh Indonesia là người bạn tình nghĩa cũng như láng giềng tốt, luôn đồng hành cùng Việt Nam. Indonesia là nước đầu tiên ở Đông Nam Á thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1955. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng thống Sukarno chia sẻ tầm nhìn về thế giới hòa bình và phát triển.


Trong bài viết “Chủ tịch Quốc hội Việt Nam ca ngợi quan hệ lâu đời với Indonesia, khuyến khích hợp tác đa lĩnh vực trong thế kỷ XXI”, tờ Republik Merdeka (Cộng hòa Độc lập) nhắc lại ý kiến của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, theo đó, trên cơ sở sự gần gũi về địa lý và lịch sử, Indonesia và Việt Nam cần tiếp tục phấn đấu vì nguyện vọng chung nhằm kiến tạo hòa bình và ổn định ở khu vực, nhất là trong thế kỷ XXI vốn được coi là thời kỳ quan trọng đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương.


Theo Republik Merdeka, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập an ninh và thịnh vượng chung cho tất cả các quốc gia trên thế giới, phù hợp với tư tưởng của Indonesia là tiếp tục tìm kiếm các giải pháp hòa bình. Nhằm đạt được mục tiêu này và trong nỗ lực tăng cường quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khuyến khích hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và Indonesia như kết nối về chính trị, an ninh, kinh tế, thương mại, văn hóa - xã hội và giao lưu nhân dân. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nêu rõ: “Hợp tác đa ngành có ý nghĩa rất quan trọng đối với Châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương và mang lại an ninh, thịnh vượng cho khu vực. Hai nước cần đoàn kết để đạt được các mục tiêu chung trong thời đại ngày nay”.


Republik Merdeka dẫn lời Chủ tịch Vương Đình Huệ nhấn mạnh rằng 2 nước cần đề cao ứng xử phù hợp với các nguyên tắc của Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Theo ông, 10 nguyên tắc của Hội nghị Bandung năm 1955 - như cùng chung sống hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền - cũng cần được sử dụng như kim chỉ nam quan trọng cho 2 nước trong việc thiết lập hợp tác và vượt qua các thách thức chung. Bằng cách thực hiện những nguyên tắc này, ông hy vọng rằng Indonesia và Việt Nam có thể thúc đẩy hơn nữa hợp tác song phương ngày càng mạnh mẽ.


Trong khi đó, tờ Pikiran Rakyat (Tư tưởng Nhân dân) và tờ Indoraya (Indonesia Vĩ đại) trích lời Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá cao vai trò của Indonesia - với tư cách là quốc gia hàng đầu ASEAN có khả năng tìm kiếm giải pháp hòa bình và hợp tác giữa các nước - và kêu gọi các nước ASEAN nhanh chóng tìm kiếm giải pháp hòa bình./.



Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu tại Diễn đàn Quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Indonesia.

LAI CHÂU: BỘ ĐỘI TÍCH CỰC GIÚP DÂN KHẮC PHỤC HẬU QUẢ MƯA LŨ


Trong những ngày qua, trên địa bàn huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu có mưa to cục bộ kéo dài, gây sạt lở đất, đá làm thiệt hại đến tính mạng, tài sản của nhân dân và các công trình hạ tầng.

Theo báo cáo nhanh của UBND huyện Than Uyên, mưa lũ khiến 4 người tử vong, 3 người bị thương. Cụ thể, tại xã Tà Mung có 2 người tử vong gồm ông Lường Văn Ơn (sinh năm 1972, bản Tà Mung) và cháu Mùa A Sử (sinh năm 2019, tại bản Nậm Mở). Xã Khoen On có 2 người tử vong và 3 người bị thương (2 người tử vong là bà Lò Thị Đinh, sinh năm 1967, ở bản Chế Hạng và thi thể nam thanh niên khoảng 18 tuổi được phát hiện tại suối Nậm Mở, khu vực bản Nà Kè chưa xác định được danh tính).


Cùng với đó, mưa lũ khiến 8 người bị mắc kẹt ở giữa hai điểm sạt lở thuộc khu vực giáp ranh giữa xã Mường Kim và xã Hố Bốn. Hiện 8 người đã được di chuyển an toàn về xã Hố Bốn, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.


Mưa lũ gây thiệt hại lớn về nhà cửa, tài sản của nhân dân các xã: Mường Cang, Khoen On, Mường Kim, Tà Hừa, Tà Mung; gây sạt lở và vùi lấp khoảng hơn 140ha lúa ruộng, rau màu, ao cá… Giá trị thiệt hại ước khoảng hơn 8 tỷ đồng.


Ngoài ra, mưa lũ cũng làm sạt lở các công trình giao thông, đường quốc lộ, đường nội đồng, đường liên bản, trôi cầu tạm và gãy, hỏng hoàn toàn đoạn mương, tuyến bờ kè rọ đá suối Nậm Kim, kênh thủy lợi… Ước thiệt hại khoảng hơn 30 tỷ đồng.


Ngay sau khi thiên tai xảy ra, Ban CHQS các huyện: Than Uyên, Sìn Hồ, Nậm Nhùn, Bộ CHQS tỉnh Lai Châu đã cử cán bộ, chiến sĩ phối hợp với chính quyền địa phương và nhân dân giúp vận chuyển đồ của các hộ dân có nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn.


Theo đó, đã di dời người và tài sản của 1 hộ dân tại bản Nà Kế, xã Hồng Thu, huyện Sìn Hồ và 3 hộ dân tại bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn đến nơi an toàn. Các hộ dân còn lại đang tiếp tục được theo dõi, tuyên truyền, vận động di chuyển khi có tình huống xấu xảy ra.


Tin, ảnh: HOÀNG TRƯỜNG - Báo QĐND

Ảnh: Cán bộ, chiến sĩ Ban CHQS huyện Than Uyên giúp vận chuyển đồ của các hộ dân có nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn tại xã Tà Mung, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Những cựu chiến binh với tinh thần "Cựu nhưng không cũ"

Trong chiến tranh, họ là những người xông pha nơi chiến trường, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, nhiều người bị thương, trở thành thương, bệnh binh, không ít người dù không bị thương nhưng sức khỏe giảm sút hoặc bị nhiễm chất độc hóa học… Về với thời bình, những con người ấy vẫn cống hiến hết mình cho cộng đồng, chung tay xây dựng phát triển kinh tế. Tiếp nối truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, những người cựu chiến binh luôn thể hiện bản lĩnh, tinh thần "tàn nhưng không phế", là tấm gương sáng trong đời thường... Những cựu chiến binh với tinh thần cựu nhưng không cũ - 1 Để có cái nhìn bao quát hơn về câu chuyện những cựu chiến binh, thương binh trở về quê hương vượt qua muôn vàn khó khăn vươn lên làm kinh tế, tạo việc làm cho nhiều người, phóng viên Dân trí đã có cuộc phỏng vấn Thiếu tướng Trần Đình Hướng, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Hội, Trưởng ban Kinh tế Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Những cựu chiến binh với tinh thần cựu nhưng không cũ - 3 Được biết, những năm qua, Thường trực Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Hội Cựu chiến binh các cấp, rất tích cực tuyên truyền, vận động hội viên phát huy ý chí tự lực, tự cường, không cam chịu đói nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng. Từ đó đã đưa phong trào "Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi" vào nền nếp, phát triển hiệu quả, có sức lan tỏa sâu rộng toàn xã hội. Ông có thể khái quát kết quả phong trào này ở các địa phương? - Trong những năm qua, nhất là từ năm 2016 đến nay, trước không ít khó khăn từ thiên tai, dịch bệnh, Thường trực Trung ương Hội và Hội Cựu chiến binh các cấp luôn bám sát chủ trương, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cấp ủy, chính quyền, tuân thủ pháp luật. Chúng tôi đã tăng cường tuyên truyền, vận động hội viên phát huy tinh thần "cựu nhưng không cũ", tự lực, tự cường, không cam chịu đói nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng. Từ đó đã đưa phong trào "Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi" vào nền nếp, có sức lan tỏa sâu rộng, hiệu quả. Đồng thời, các cấp Hội luôn chủ động tổ chức học tập, nâng cao nhận thức cho hội viên về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ và địa phương; xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế nâng cao đời sống, giảm nghèo nhanh và bền vững, vươn lên làm giàu hợp pháp của Hội. Những cựu chiến binh với tinh thần cựu nhưng không cũ - 5 Các cấp Hội đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, vận động hội viên phát huy tiềm năng, thế mạnh, tranh thủ nguồn lực và chính sách hỗ trợ của Trung ương, địa phương để xây dựng, phát triển mô hình sản xuất, kinh doanh phù hợp, có năng suất. Từ đó tạo ra các sản phẩm chất lượng, cạnh tranh cao, gắn với bảo vệ môi trường, kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh trên các địa bàn. Chúng tôi phối hợp hướng dẫn các doanh nghiệp do Cựu chiến binh làm chủ, tranh thủ thời cơ, môi trường thuận lợi, phát huy lợi thế, tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi, khoa học và công nghệ, thị trường, sản xuất sản phẩm hàng hóa có giá trị gia tăng cao; đẩy mạnh thương mại nội địa, xuất khẩu, hội nhập kinh tế quốc tế,... Các cấp Hội định kỳ sơ kết, tổng kết, tổ chức rút kinh nghiệm, phổ biến, nhân rộng điển hình, mô hình tốt; kịp thời biểu dương, khen thưởng, động viên khích lệ, tôn vinh các tập thể và cá nhân đạt thành tích xuất sắc. Thông qua phong trào, nhiều mô hình giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi được xây dựng và nhân rộng, như: tỉnh Hội Bến Tre, có mô hình "5+1" (5 hội viên khá hoặc giàu giúp 1 hội viên thoát nghèo) đã được nhân rộng trong cả nước. Tỉnh Hội Gia Lai có mô hình: "2 xóa, 3 giúp" (xóa nghèo, xóa nhà dột nát; giúp công sức, giúp vốn, giúp việc làm) đã nhân rộng ra khu vực Tây Nguyên. Nhiều Hội cấp xã, phường xây dựng các câu lạc bộ: "Cựu chiến binh giúp nhau phát triển kinh tế"; "Cựu chiến binh đoàn kết giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế hiệu quả". Nhiều địa phương có mô hình: "Góp vốn xoay vòng"; "Góp vốn xoay vòng, chuyển đổi cây trồng"; VAC, VACR, trang trại, gia trại chuyên canh; Trồng rừng, bảo vệ rừng; Sản xuất, chế biến nông, lâm, hải sản,… Bên cạnh đó, các mô hình là: "Tổ hợp tác, Hợp tác xã", Tổng công ty, Công ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn,… được nhiều cựu chiến binh làm chủ, phát triển.

CÁI GỐC CỦA VĂN HÓA.

Đôi khi tôi viết một vấn đề gì đó, đọc lại mới thấy mình “rất phạm thượng”, đôi khi lại thấy mình rất vô duyên vì cứ “múa rìu qua mắt thợ”. Như hình đại diện trên facebook, tôi đã bộc lộ cái mong muốn của tôi là, “được chiêm nghiệm những sự việc xảy ra quanh mình” để rồi từ đó tạo cho riêng mình một nhận thức về sự việc đó qua con mắt của một anh công nhân. Thế thôi. Chính vì thế, nếu có ai đọc các bài viết của tôi, hoàn toàn chẳng có chút lý luận nào, vì có biết gì đâu mà viết! 


Hôm nay bàn về chuyện “cái gốc của văn hóa”, hay nói đúng hơn, phải là “văn hóa là cái gốc”. Khi còn tại thế, cụ Hồ đã nói “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, và để khai triển tư tưởng Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Phú Trọng đã có một bài nói về văn hóa, trong đó có câu, “văn hóa còn thì dân tộc còn; văn hóa mất thì dân tộc mất”. Trong bài này tôi không nói về sự tồn vong của dân tộc, mà tôi muốn nói, văn hóa là cái gốc của mọi vấn đề.


Một điều tôi có thể chiêm nghiệm được, đó là các dân tộc có nền văn hóa khác nhau thì cái “nội hàm” (hay là gì đó mà tôi không tìm được từ thích hợp) cũng khác nhau. 


Đã có lần tôi viết, nền tự do dân chủ và nhân quyền của quốc gia khác nhau, dù có là nền dân chủ tổng thống, dân chủ nghị viện hay quân chủ lập hiến cũng vậy. Ngay hai quốc gia có nền dân chủ tổng thống như Mỹ và Nga cũng không giống nhau. Ở Mỹ, tổng thống không có toàn quyền quyết định các vấn đề của quốc gia và về thực chất họ không chịu trách nhiệm trước nhân dân, mà chịu trách nhiệm trước những thế lực đã đặt họ vào chiếc ghế tổng thống, mọi người gọi thế lực đó là “Deepstate”. Còn tổng thống của nước Nga, ông ấy có đủ quyền hành tối thượng, chịu trách nhiệm trước đất nước, trước dân tộc Nga về tất cả những gì mà ông ấy đã quyết định.


Một khi anh đã chịu trách nhiệm trước ai thì tự do, dân chủ và nhân quyền sẽ được đem đến cho đối tượng đó. Từ đó suy ra, đảng cầm quyền cũng vậy. Người ta nói độc đảng là độc tài – có nghĩa là một khi chỉ có một đảng lãnh đạo thì dân nước đó không có tự do, dân chủ và nhân quyền. Họ đã “lớn cái nhầm”. Vấn đề là phải coi đảng ấy phục vụ cho ai, đem quyền lợi đến cho đối tượng nào? Vậy thôi.


Quay trở lại chuyện cái gốc văn hóa. Vấn đề này lớn lắm đó, vì văn hóa của một dân tộc được thể hiện trên mọi lĩnh vực hoạt động, nó len lỏi vào từng ngõ ngách của xã hội, vì thế mới có câu “văn hóa còn thì dân tộc còn” là vậy.


Văn hóa Mỹ đề cao chủ nghĩa vị kỷ, có thể nói một cách thô thiển là “vơ mọi thứ vào cho mình”. Một khi những người lãnh đạo đất nước có thêm thói dối trá, lừa lọc, tham lam thì chủ nghĩa vị kỷ được đẩy lên đến nấc thượng thừa. Ông cựu tổng thống Donald Trump với khẩu hiệu “nước Mỹ trên hết”, đó là chủ nghĩa vị kỷ, song ông ấy không (hoặc chưa thể hiện) thói dối trá… nên chưa gây ra một cuộc chiến tranh nào. Còn ông già Biden thì có đủ cả các thói hư tật xấu nên mới lôi kéo cả khối NATO đối đầu với nước Nga. Kết cục, giới tài phiệt Mỹ thì giàu lên mà dân các nước đồng minh của Mỹ thì nhận được một cuộc sống khó khăn hơn trước.


Chủ nghĩa vị kỷ, là một nền văn hóa không chỉ mong muốn áp đặt lên quốc gia khác, mà ngay trong nước Mỹ, thứ chủ nghĩa đó đã đề cao lối sống “cá lớn nuốt cá bé”. Ngay từ khi người Anglo Saxon chiếm đất của người da đỏ bản địa, chiếm đoạt tất cả tài nguyên của họ, tạo nên những tập đoàn công, nông nghiệp, tài chính do những ông chủ da trắng điều hành. Quyền tự do chiếm đoạt ấy được dành cho giới tinh hoa, còn người dân bản địa và những người từ quốc gia khác di cư đến Mỹ biến thành những kẻ làm thuê, phụ thuộc vào những nhà giàu chỉ chiếm 1% dân số Mỹ. Đó là tự do, dân chủ và nhân quyền của Mỹ, đó cũng là văn hóa Mỹ. 


Văn hóa phương đông (như có lần tôi đã viết) khác hẳn với văn hóa phương tây. Một khi các nền văn hóa khác nhau thì khái niệm về tự do, dân chủ, nhân quyền cũng khác nhau. Những người cầm quyền Mỹ không thể áp đặt tiêu chuẩn và khái niệm về ba thứ quyền này cho bất kỳ nước nào khác. Ở Mỹ, người ta đề cao chủ nghĩa cá nhân, ở Việt Nam ta thì “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Rõ ràng là khác nhau như ngày và đêm, như nước với lửa vậy làm sao mà hòa hợp với nhau được? 


Viết tới đây tôi lại nhớ đến bộ phim “Ba chàng ngự lâm pháo thủ - Les trois mousquetaires” của Pháp do nhà văn Alexandre Dumas “cha”, viết kịch bản. Trong đó có câu, “Một người vì mọi người, mọi người vì một người” (Un pour tous, tous pour un). Không biết câu khẩu hiệu mà Việt Nam ta thường kêu gọi “mọi người vì…” có xuất phát từ đây không?


Tự do, dân chủ hay nhân quyền là gì thì phải được nhân dân quốc gia đó chấp nhận, chứ còn ép người ta uống thứ thuốc của nước khác đem đến, có khi sau khi bị ép buộc đưa vào miệng, người ta lại nhổ ra, chẳng may trúng mặt kẻ ép người ta uống. Tôi muốn nói đến một quốc gia nhỏ bé trên dẫy núi Himalaya – Bhutan với dân số chưa tới 1 triệu người, thu nhập bình quân đầu người chỉ có 1.800 USD/năm (bằng một nửa của Việt Nam ta). Thế mà chính quốc gia này lại giữ ngôi đầu bảng trong những nước hạnh phúc nhất thế giới. Còn trong số các nước công nghiệp phát triển thì Phần Lan là quốc gia dẫn đầu, trong khi đó, giàu có như nước Mỹ cũng chỉ ở thứ 15/30. Như vậy mới thấy rằng, nhiều tiền chưa chắc đã hạnh phúc. 


Trong một quốc gia cũng có những nền văn hóa khác nhau, nơi này thì do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, nơi khác lại được thiên nhiên ưu đãi nên tạo thành tính cách con người khác nhau và văn hóa ứng xử cũng khác nhau. Các dân tộc sinh sống ở miền núi, cũng có nền văn hóa khác nhau. Như dân tộc Vân Kiều ở Quảng Trị vẫn giữ chế độ mẫu hệ. Vậy nói kêu gọi “giải phóng” hoặc bình đẳng giới thì “giải phóng” ai đây? Người phụ nữ hay người đàn ông? Rồi đồng bào Mán đỏ ở Lào Cai lại có phong tục đi tìm chồng tìm vợ vào mỗi phiên chợ, vậy ta áp dụng văn hóa nào. Tiêu chuẩn tự do, dân chủ, nhân quyền là gì?


Cho nên, xin đừng ai cứ nhất mực phải đòi cho được cái thứ tự do, dân chủ, nhân quyền phương tây. Đó là thể hiện sự thiếu hiểu biết. Đơn giản như trong cách ăn trong mỗi bữa cũng đã khác nhau rồi. Người phương tây dùng nĩa, thìa để ăn, trong khi người phương đông lại dùng đũa, có dân tộc lại ăn bốc. Đã một lần tôi đi Sri Lanka, ngồi ăn chung mâm với một ông bộ trưởng của nước nọ, tôi rất ngạc nhiên vì ông ấy vẫn ăn bốc. Đó là văn hóa, không thể đồng nhất được. Phải tôn trọng sự khác biệt nếu sự khác biệt đó không đe doạ đến sự tồn vong của quốc gia, như thế mới thực sự là tự do, dân chủ và nhân quyền.


Nhưng các bác làm công tác văn hóa ơi. Văn hóa không phải chỉ là phim ảnh, kịch cọt, báo chí đâu đấy nhé. Văn hóa ứng xử trên đường, ở nhà, trong đời sống của con người và với đất nước nữa, nhưng tôi cứ thấy thiếu thiếu cái gì ấy các bác ạ./.


Hình trong bài: Phụ nữ Vân Kiều lao động chính của gia đình (trên); Mhững cô gái Bhutan (dưới).

Ngày 10/08/2023

Ngã Thị Dã

Học Bác cách làm việc "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng"

Học Bác cách làm việc "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng" Trong phong cách làm việc Hồ Chí Minh thì cách làm việc "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng" là một trong những nội dung đặc sắc nhất, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất giữa Đảng - Nhà nước - Nhân dân. Cách làm việc này xuất phát từ quan niệm: Nước ta là nước dân chủ, dân là chủ và làm chủ, cán bộ, đảng viên là "công bộc" của dân, luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết thảy. Học Bác cách làm việc Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng - 1 Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gặt mùa 1954. (Ảnh tư liệu). Quá trình lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, Hồ Chí Minh là lãnh tụ mẫu mực trong thực hành cách làm việc "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng" (1), trở thành tấm gương sáng để mọi cán bộ, đảng viên học tập và làm theo. Nhờ cách làm việc đó mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã "đưa chính trị vào giữa dân gian" một cách hiệu quả nhất; huy động được sức mạnh to lớn của toàn dân, làm nên những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó, cách làm việc "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng" của Hồ Chí Minh mang giá trị sâu sắc, phổ biến, có sức lan tỏa lâu bền và là tấm gương tiêu biểu cho các thế hệ cán bộ, đảng viên học tập và làm theo để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng mà họ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Thực hiện học và làm theo Bác về cách làm việc nêu trên, cán bộ, đảng viên hiện nay cần nắm thực chất về cách làm việc khoa học, sâu sát quần chúng của Người: "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng" là cách làm việc mà Bác lấy quần chúng làm điểm xuất phát đồng thời là mục đích của mọi chủ trương, chính sách. Bác viết: "Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải "từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng". Từ đó, Bác chỉ rõ: "Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc đều vì lợi ích của quần chúng" và yêu cầu cán bộ, đảng viên phải luôn xem xét, nhận thức rõ "cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng, thì phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại...". Theo đó thì cách làm việc nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải mạnh dạn đề nghị lên cấp trên mà đặt ra. "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng", là cách làm việc mà Bác đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải gần dân, đi sâu trong đời sống sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt của quần chúng nhân dân, luôn quan tâm và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. "Về sâu trong quần chúng" là yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thành tâm, tin yêu, tôn trọng quần chúng, học hỏi, cầu thị lắng nghe ý kiến góp ý, phê bình của quần chúng, phải khéo léo khơi gợi thì quần chúng mới bày tỏ thật ý kiến của mình. Bác căn dặn: "Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân thi hành" (2). Người khẳng định: "Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra". Do ý kiến và đề nghị lẻ tẻ của quần chúng, cán bộ, đảng viên phải khéo gom góp lại, sắp đặt lại cho có ngăn nắp, thứ tự, theo nghĩa tổng hợp, phân tích, khái quát rút ra kết luận để cùng quần chúng thực hiện. Vấn đề nào vượt quá thẩm quyền thì cán bộ "phải có gan đề nghị cấp trên" giải quyết. Các kết luận được tổng hợp từ nguyện vọng, ý kiến của quần chúng có giá trị quan trọng, trở thành cơ sở cho Đảng, Chính phủ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách. Trí tuệ của quần chúng là rất lớn, cán bộ, đảng viên cần đi sâu khai thác, học hỏi, song "học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng", "không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo" mà cần có chọn lọc. Thực chất đây là bước lựa chọn, tổng hợp, phân tích, khái quát nguyện vọng, ý kiến của quần chúng để hiện thực hóa thành đường lối lãnh đạo quần chúng. "Từ trong quần chúng ra". Về sâu trong quần chúng", cách làm việc đó của Bác cũng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải đi sâu phải nắm vững tình hình chất lượng của quần chúng, phân loại các mức hạng khác nhau để có biện pháp làm việc cho hiệu quả. Bác yêu cầu: "Phải chống bệnh chủ quan, tác phong quan liêu, đại khái. Phải xây dựng tác phong điều tra, nghiên cứu trong mọi công tác cũng như trong khi định ra mọi chính sách của Đảng, của Nhà nước". Bác nhấn mạnh: "Việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi đến chốn"(3). Cách làm việc như vậy cho phép cán bộ, đảng viên dựa chắc vào quần chúng để xây dựng kế hoạch cho sát, đúng, quan trọng hơn là giúp cho công tác tổ chức, động viên, huy động được tiềm năng, sức mạnh to lớn của quần chúng để thực hiện thắng lợi kế hoạch đề ra. "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng", đây cũng là cách mà Bác yêu cầu cán bộ, đảng viên phải tránh xa tệ quan liêu xa rời quần chúng. Với quan điểm cán bộ, đảng viên là: "Công bộc", "đày tớ thật trung thành của dân", Người luôn nghiêm khắc phê phán thói lên mặt làm "quan cách mạng", cửa quyền, mệnh lệnh, ức hiếp nhân dân theo kiểu "thích làm việc bằng giấy tờ, ngồi một nơi chỉ tay năm ngón, không chịu xuống địa phương kiểm tra công tác", việc gì cũng từ "trên dội xuống", dùng mệnh lệnh, chỉ thị để lãnh đạo, dẫn đến "những chỉ thị, nghị quyết cấp trên gửi xuống các địa phương có thực hiện được hay không, các đồng chí cũng không biết đến". Hệ quả của cái lối làm việc như vậy rất có hại. Nó làm cho chúng ta không đi sát phong trào, không hiểu rõ được tình hình bên dưới cho nên phần nhiều chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi, đến chốn. Từ đó Người chỉ rõ: "Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát". Công tác kiểm soát nếu được thực hiện tốt thì sẽ biết được ưu điểm, khuyết điểm của từng cá nhân và tập thể đơn vị, "mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết". Từ phân tích trên, có thể khái quát nội dung mà cán bộ, đảng viên cần học tập Bác về cách làm việc "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng", gồm 4 bước cơ bản sau: Bước 1: Từ nguyện vọng, sáng kiến của quần chúng khái quát thành các luận cứ khoa học, giữ vị trí là cơ sở xuất phát cho Đảng, Chính phủ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách. Bước 2: Đưa đường lối, chủ trương, chính sách trở lại về sâu trong quần chúng để chuyển thành nhận thức tự giác của quần chúng. Bước 3: Tổ chức, hướng dẫn quần chúng triển khai, hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách. Bước 4: Bám sát phong trào quần chúng để lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra; phát hiện và nhân điển hình tiên tiến; kịp thời tổng kết, rút ra bài học kinh nghiệm để bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách. Để thực hiện hiệu quả nội dung học tập và làm theo Bác về cách làm việc "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng" trong tình hình hiện nay, chúng ta cần thực hiện tốt một số biện pháp chủ yếu: Một là, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng của việc học tập và làm theo cách làm việc "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng" của Bác. Yêu cầu đặt ra phải làm cho mọi cán bộ, đảng viên thấu hiểu sâu sắc việc học tập và làm theo Bác về cách làm việc "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng", có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với củng cố tăng cường sự thống nhất giữa Đảng - Nhà nước - Nhân dân, góp phần xây dựng củng cố "thế trận lòng dân", phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Để nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, cấp ủy, chính quyền các cấp cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức như đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị; lồng ghép với sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể; gắn với các phong trào thi đua... Đồng thời, bản thân cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần chủ động tích cực nghiên cứu, học tập, nhận thức rõ thực chất nội dung, ý nghĩa của việc học tập và làm theo Bác về cách làm việc "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng" đối với sự nghiệp cách mạng nói chung cũng như đối với chức trách nhiệm vụ mà mình được Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó. Hai là, cán bộ, đảng viên phải nắm vững và vận dụng sáng tạo cách làm việc "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng" trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao. Để thực hiện tốt biện pháp này, mỗi cán bộ, đảng viên cần nắm vững nội dung thực chất và vận dụng sáng tạo trong học tập, nhất là làm theo cách làm việc quần chúng đó của Người, thông qua quy trình gồm 4 bước như đã trình bày trên. Trong điều kiện mới hiện nay, cần chú trọng mấy vấn đề sau: Về ban hành các quyết định lãnh đạo, quản lý theo thẩm quyền: Cán bộ, đảng viên theo chức trách, nhiệm vụ được phân công, phải luôn xuất phát từ nguyện vọng, ý kiến đồng thuận của đa số và lợi ích chính đáng của quần chúng. Để làm được điều đó, cán bộ, đảng viên phải sâu sát cơ sở, bám sát đời sống sản xuất, sinh hoạt của quần chúng; luôn biết lắng nghe ý kiến của cấp dưới và quần chúng; phải thực hành, mở rộng dân chủ, nhất là thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Bởi: "Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái và người khác cũng học theo" (4). Cán bộ, đảng viên phải luôn ghi nhớ lời căn dặn của Người đối cán bộ lãnh đạo, quản lý là phải "khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng". Về tuyên truyền đường lối chủ trương, chính sách: Do quan hệ lợi ích phức tạp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trình độ nhận thức của quần chúng không đồng đều, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải đi sâu trong quần chúng, kiên trì giải thích, thuyết phục với nhiều hình thức thích hợp với từng đối tượng quần chúng cụ thể. Qua đó chuyển nhận thức của quần chúng lên thành tự giác và tạo sự đồng thuận trong quần chúng đối với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Về lãnh đạo, chỉ đạo: Cán bộ, đảng viên phải thực sự bám sát, đi sâu trong phong trào quần chúng để tổ chức, kiểm tra, giám sát quá trình thực tiễn hóa đường lối, chủ trương, chính sách, các quyết định, kế hoạch; kịp thời phát hiện những vấn đề bất cập để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền. Đây là một mặt rất quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng: "Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng"(5). Trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực tiễn cán bộ, đảng viên cần nhạy bén phát hiện điển hình tiên tiến với những cách làm hay để động viên, khen thưởng và nhân điển hình tiên tiến để đẩy mạnh phong trào. Về tham mưu, đề xuất: Cán bộ, đảng viên trong quá trình tổ chức thực tiễn theo chức năng, nhiệm vụ được giao phải luôn nhạy bén phát hiện "cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng, thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại". Về tổng kết thực tiễn rút ra bài học: Cán bộ, đảng viên phải luôn bám sát phong trào quần chúng, từ thực tiễn phong trào quần chúng kịp thời rút kinh nghiệm, tổng kết các bài học để chỉ đạo thực tiễn tiếp theo, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước để bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách. Ba là, cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, tích cực đấu tranh chống những biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn quán triệt và thực hiện tốt lời căn dặn của Hồ Chí Minh là các tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải luôn tin vào quần chúng, coi trọng mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng, phải luôn thể hiện tinh thần phụ trách trước nhân dân. Đồng thời, Người nhiều lần phê phán tệ quan liêu, xa rời quần chúng, nhất là những cán bộ, đảng viên lên mặt "làm quan cách mạng", "quan nhân dân" không thấy mình là đầy tớ, người học trò của nhân dân. Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải luôn tự nghiêm khắc với bản thân mình, đối chiếu mình trong con mắt quần chúng; tích cực thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung 4, khóa XIII của Đảng, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biến mình thành đối lập với quần chúng, như Người cảnh tỉnh "làm thành một bức tường để tách rời Đảng và Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Chính phủ"(6) . Đó là nguy cơ Đảng tự đánh mất vai trò lãnh đạo cách mạng, nguy cơ mất còn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, "Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng", chính là cách thức làm việc giúp cho cán bộ, đảng viên trong hoạt động tổ chức lãnh đạo tránh được sai lầm, vấp váp. Bởi khi mà mọi suy nghĩ, mọi cách làm của cán bộ, đảng viên được bắt đầu từ ý kiến, nguyện vọng chính đáng của quần chúng được tập trung lại, được nghiên cứu phân tích kỹ lưỡng, khái quát thành những chủ trương, chính sách, phản ánh được lợi ích căn bản của quần chúng, rồi tuyên truyền để quần chúng hiểu rõ thì quần chúng sẽ tin và làm theo Đảng, Chính phủ. Người còn nhấn mạnh, cứ nhiều lần như vậy, rồi rút kinh nghiệm, bổ cứu, sửa chữa hệ thống hóa, thì "lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước". Nhận thức đầy đủ, sâu sắc cách làm đó có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó hiện nay cũng như trong các chặng đường tiếp theo của sự nghiệp cách mạng.

Phát huy vai trò Công đoàn trong học tập và làm theo Bác

Phát huy vai trò Công đoàn trong học tập và làm theo Bác Những năm qua, các cấp Công đoàn TP Mỹ Tho (Tiền Giang) luôn quan tâm, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động; qua "học tập" đã chuyển thành "làm theo". Từ nâng cao trách nhiệm, sáng tạo Thời gian qua, Liên đoàn Lao động TP. Mỹ Tho và các Công đoàn cơ sở trực thuộc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05 ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" theo chuyên đề toàn khóa "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc" giai đoạn 2021 - 2026; Hướng dẫn 06 ngày 16-8-2021 của Ban Tuyên giáo Thành ủy Mỹ Tho kết hợp chặt chẽ với các phong trào thi đua của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp như: Phong trào xây dựng người cán bộ, công chức "Trung thành, trách nhiệm, liêm chính, sáng tạo"; phong trào thi đua "Lao động giỏi, Lao động sáng tạo" gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao và gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. TP Mỹ Tho: Phát huy vai trò Công đoàn trong học tập và làm theo Bác - 1 Mô hình "Công đoàn đồng hành cùng người lao động vượt khó". Đồng thời, chú trọng đưa nội dung học tập chuyên đề vào trong chương trình, kế hoạch hành động của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong năm, nhất là triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng bộ thành phố và Nghị quyết đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2020 - 2025 đề ra. Các cấp Công đoàn thành phố còn đưa nội dung học tập các chuyên đề hằng năm vào sinh hoạt định kỳ hằng tháng của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, sinh hoạt tổ Công đoàn, sinh hoạt lệ kỳ Ban Chấp hành Công đoàn…; lựa chọn giải quyết vấn đề bức xúc, nổi cộm mà thực tiễn đặt ra, được đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động quan tâm như về tiền lương, thi đua - khen thưởng, tăng thu nhập…; tuyên truyền chuyên đề gắn với các hoạt động kỷ niệm ngày truyền thống, Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam, của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp mình; tổ chức tọa đàm, giao lưu… TP Mỹ Tho: Phát huy vai trò Công đoàn trong học tập và làm theo Bác - 2 Liên đoàn Lao động TP. Mỹ Tho trao học bổng cho học sinh vượt khó học giỏi. Việc tuyên truyền và nhân rộng các gương người tốt, việc tốt, gương điển hình tiêu biểu, mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả trong triển khai thực hiện Chỉ thị 05 đã tác động tích cực đến nhận thức và hành động của đông đảo cán bộ, công nhân, viên chức, lao động thành phố, qua đó xuất hiện những mô hình tốt, cách làm hay, những gương điển hình trong học tập và làm theo Bác. Đến tinh thần tương thân, tương ái Cùng với đó, các cấp Công đoàn thành phố tiếp tục nâng cao nhận thức của từng tập thể, từng đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động tinh thần tương thân, tương ái theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đưa nội dung học tập và làm theo Bác trở thành công việc thường xuyên, tích cực tham gia đóng góp của tổ chức Công đoàn từ thành phố đến cơ sở, trước hết là các cán bộ Công đoàn chủ chốt tại cơ sở, tất cả đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động trong việc thể hiện tinh thần tương trợ lẫn nhau. Cụ thể trong năm 2020, Liên đoàn Lao động thành phố thực hiện mô hình "Tương trợ Công đoàn". Theo đó, đoàn viên Công đoàn tự nguyện tham gia tương trợ bằng cách tự rà soát tại gia đình, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hoặc từ các tổ chức, cá nhân có các vật dụng, trang thiết bị cần thiết phục vụ cho nhu cầu, đời sống không sử dụng để đóng góp gửi về Liên đoàn Lao động thành phố. Thông qua đó, Liên đoàn Lao động thành phố sẻ chia lại cho các cá nhân, đoàn viên Công đoàn có nhu cầu sử dụng các vật dụng trên. Ngoài các vật dụng cần thiết như trên, các cá nhân, tổ chức có thể đóng góp quần áo cũ còn sử dụng chuyển về Liên đoàn Lao động thành phố để trao tặng cho đoàn viên, trao cho Hội từ thiện thành phố tặng những người có nhu cầu sử dụng. Qua triển khai thực hiện mô hình, Liên đoàn Lao động thành phố đã hỗ trợ được 118 lượt đoàn viên Công đoàn có hoàn cảnh khó khăn. Hay trong năm 2021, Liên đoàn Lao động thành phố thực hiện mô hình "Công đoàn đồng hành cùng người lao động vượt khó". Qua triển khai, các Công đoàn cơ sở trực thuộc đã tích cực vận động đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động tại đơn vị tham gia đóng góp, trao trực tiếp khoản hỗ trợ cho 2 đoàn viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với số tiền trên 90 triệu đồng. Ngoài ra, Liên đoàn Lao động thành phố còn gắn việc học tập và làm theo Bác với các phong trào thi đua; chăm lo đời sống cho công nhân, viên chức, lao động; vận động, hỗ trợ công đoàn viên gặp khó khăn. Theo đó, từ năm 2017 - 2022, các Công đoàn cơ sở đã kịp thời tổ chức thăm hỏi, giúp đỡ trên 11.800 lượt công đoàn viên ốm đau, hữu sự, với số tiền trên 4,4 tỷ đồng; tặng quà tết cho 900 lượt công nhân, viên chức, lao động có hoàn cảnh khó khăn trị giá trên 303 triệu đồng; xây dựng 11 "Mái ấm Công đoàn", với số tiền trên 370 triệu đồng; trao 525 suất học bổng cho con công nhân, lao động có hoàn cảnh khó khăn vượt khó học giỏi, với tổng trị giá trên 215 triệu đồng. Hằng năm, vào dịp Tết Nguyên đán, Liên đoàn Lao động thành phố phối hợp tổ chức Chương trình "Đón tết cùng công nhân - Mừng Đảng, mừng Xuân sum vầy" trao tặng trên 350 phần quà trị giá khoảng 120 triệu đồng; hỗ trợ 702 trường hợp đoàn viên khó khăn do ảnh hưởng dịch Covid-19, với tổng số tiền trên 1,3 tỷ đồng; tổ chức trao 2.500 "Túi an sinh Công đoàn" tổng trị giá 500 triệu đồng cho đoàn viên, người lao động khó khăn do ảnh hưởng dịch bệnh.

Có nên tăng lương tối thiểu vùng giữa thời điểm khó?

Có nên tăng lương tối thiểu vùng giữa thời điểm khó? Nhiều ý kiến nói cần tăng lương tối thiểu vùng từ 1-1-2024 vì đời sống người lao động đang rất khó khăn. Nhưng ý kiến khác cho rằng cốt lõi là tăng năng suất lao động, hiệu quả làm việc để gián tiếp tăng thu nhập cho người lao động. Công nhân làm việc trong nhà máy dệt tại TP.HCM - Ảnh: VŨ THỦY Công nhân làm việc trong nhà máy dệt tại TP.HCM - Ảnh: VŨ THỦY Ngày 9-8, Hội đồng Tiền lương quốc gia bước vào phiên họp chính thức đầu tiên, thảo luận phương án điều chỉnh lương tối thiểu vùng năm 2024. Mức đề xuất của các bên chưa được tiết lộ. Lương chưa tăng, giá cả đã tăng Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, bà Phạm Thị Thu Lan - phó viện trưởng Viện Công nhân và Công đoàn - cho biết các chi phí lương thực, thực phẩm đã tăng. Nếu lương không tăng, cuộc sống người lao động sẽ khó khăn hơn. Khảo sát gần 3.000 người lao động của cơ quan này công bố ngày 8-8 nêu rõ thu nhập trung bình gần 7,9 triệu song chi tiêu hơn 11,7 triệu đồng. "Thực tế một bộ phận người lao động có thu nhập cao hơn lương tối thiểu. Song nhiều doanh nghiệp tìm cách cắt giảm các khoản chi khác nên thu nhập của người lao động không tăng", bà Lan bày tỏ và mong lương tối thiểu tăng ít nhất 6-8%. Còn ông Lê Đình Quảng - phó trưởng Ban chính sách pháp luật (Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam), thành viên Hội đồng Tiền lương quốc gia - cho biết cơ quan này chưa nêu đề xuất cụ thể, mà tập trung thương lượng với các bên. Theo ông Quảng, tuy đời sống công nhân khó khăn song doanh nghiệp cũng phải tính toán điều chỉnh phương án chi trả, tăng năng suất, mở rộng đơn hàng… Lý giải thêm về đề xuất tăng lương, vị này nhận định chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, nên xem xét tăng khi nào hợp lý. "Thời gian tới, tiền lương tối thiểu cần làm đúng chức năng là mức thấp nhất bảo vệ những người yếu thế và căn cứ các bên thương lượng tiền lương", ông Quảng nói. Hỗ trợ thăm khám, tư vấn sức khỏe cho công nhân làm việc tại các khu chế xuất - khu công nghiệp ở TP.HCM - Ảnh: Q.L. Hỗ trợ thăm khám, tư vấn sức khỏe cho công nhân làm việc tại các khu chế xuất - khu công nghiệp ở TP.HCM - Ảnh: Q.L. Áp lực tăng chi phí cho doanh nghiệp Bà Nguyễn Thị Lan Hương - nguyên ủy viên Hội đồng Tiền lương quốc gia - cho rằng chưa nên tăng lương tối thiểu ngay bởi số doanh nghiệp rời thị trường rất lớn, nền kinh tế chưa phục hồi trong 6 tháng đầu năm. Bà Hương nói đa phần doanh nghiệp đã trả lương cao hơn mức tối thiểu nên không nhất thiết năm nào cũng tăng lương. Vấn đề gốc là tăng năng suất lao động, hiệu quả làm việc. Đây là cách gián tiếp tăng thu nhập cho người lao động. Bên cạnh đó, nếu lương quá cao, doanh nghiệp có thể cắt giảm lao động, tăng gánh nặng chi phí. Nhắc lại bài học quốc tế, bà Hương nêu nhiều nước không tăng lương cơ học cho người lao động, mà hỗ trợ qua "ba con đường" là tăng năng suất lao động, áp dụng thỏa ước lao động tập thể và luật hóa lương tối thiểu. Ngoài ra có nhiều người làm thêm việc phụ như lái xe công nghệ, bán hàng online nên việc quy định lương tối thiểu cũng không linh hoạt. Nêu ý kiến về tăng lương tối thiểu, bà Phạm Bảo Ân - phó giám đốc Công ty TNHH Sản xuất Duy Lợi (TP.HCM) - nói tăng lương tối thiểu chủ yếu sẽ tăng thêm chi phí doanh nghiệp về đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, bởi đa phần các doanh nghiệp đã trả lương cho người lao động cao hơn mức lương tối thiểu vùng. Trong đó các doanh nghiệp có vài ngàn lao động sẽ chịu áp lực về tăng chi phí rất lớn. Do đó cần cân nhắc mức tăng phù hợp trong thời điểm này.