Thứ Ba, 15 tháng 8, 2023

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA


Ngày 16 tháng 8
“Giữ gìn hòa bình là nhiệm vụ chung của toàn dân. Mỗi người dân Việt Nam phải là một chiến sĩ hăng hái đấu tranh cho hòa bình”.
Câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi Đại hội nhân dân Việt Nam bảo vệ hòa bình”, Bác viết ngày 16 tháng 8 năm 1958, Báo Nhân dân đăng trên số 1618, ngày 17 tháng 8 năm 1958.
Trong suốt tiến trình xây dựng và bảo vệ đất nước, dân tộc Việt Nam phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống lại các thế lực ngoại xâm để giành và bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trải qua nhiều cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, với biết bao mất mát, hy sinh, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam nhận rõ giá trị của hòa bình, độc lập, tự do. Bởi vậy yêu chuộng hòa bình là một trong những truyền thống nổi bật, là nét đẹp văn hóa tiêu biểu và cũng là trách nhiệm, nghĩa vụ cao cả của mỗi người dân Việt Nam.
Nhận thức sâu sắc quy luật dựng nước phải đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam, đã được Đảng, Nhà nước, nhân dân ta phát triển thành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; kế tục truyền thống yêu chuộng hòa bình, giữ vững ý chí độc lập, tự do, thấm nhuần lời Bác Hồ dạy, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta luôn nhất quán với chủ trương: “Giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện địa hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo của Đảng quân đội và dân ta đã đoàn kết, anh dũng đấu tranh giành thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc, thực dân xâm lược, giải phóng đất nước, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả. Ngày nay, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế… Quân đội ta đã cử cán bộ làm nhiệm vụ quốc tế tại các phái bộ của Liên Hợp quốc thể hiện trách nhiệm quốc tế của quân đội và nhân dân Việt Nam với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các bất ổn và thách thức về an ninh hướng tới xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định và thịnh vượng. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân ra sức thi đua huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, không ngừng nâng cao chất lượng và sức mạnh tổng hợp của quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần xây dựng và bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và quốc tế./.
Sách Hồ Chí Minh, Toàn tập

PHÒNG NGỪA TỪ SỚM, TỪ XA, CẢ NGỌN LẪN GỐC

 

Tác phẩm “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với mục tiêu, phương châm, quan điểm chỉ đạo cụ thể.
Cuốn sách đã chỉ rõ những kết quả tích cực trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cùng với nỗ lực xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Những kết quả đó gắn liền với vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; với các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được khẳng định, phát huy hiệu quả trên thực tế, được cụ thể hóa, thể chế hóa thành các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nhiều cách làm sáng tạo, khoa học, bài bản, chắc chắn đã trở thành những bài học kinh nghiệm quý có thể xem là những đúc kết lý luận, định hướng cho hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Tuy nhiên, từ nhiều vụ việc sai phạm của cán bộ, đảng viên (cả những cán bộ cấp cao, giữ cương vị quan trọng) từ Trung ương đến nhiều địa phương cho thấy tính chất phức tạp, cam go của mặt trận này. Đặc biệt là từ vụ án “chuyến bay giải cứu” vừa được xử gần đây, quá trình và các hành vi phạm tội của những cán bộ có chức, có quyền đã gây phẫn nộ trong dư luận xã hội. Mặt khác thêm một lần chỉ rõ: Tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Tham nhũng trên một số lĩnh vực vẫn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, xảo trá, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng, tiêu cực vẫn là một trong những “kẻ thù hung ác”, nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta…
Thiết nghĩ, từ ý nghĩa lý luận thực tiễn của tác phẩm, các cấp ủy cần quán triệt, tiếp tục bổ sung cụ thể hóa thành những chương trình, kế hoạch hành động và quyết tâm thực hiện. Đặc biệt, phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng; đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, từ đó nâng cao trách nhiệm, ý thức tu dưỡng, rèn luyện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thực tiễn.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm, là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng; nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh về kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm, và kiên quyết làm. Kỷ luật một vài người để cứu muôn người; và sẽ còn phải tiếp tục làm quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới theo tinh thần Bác Hồ đã dạy: “Cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cái cây”.
Trong bối cảnh hiện nay, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cần nắm chắc hơn tình hình cán bộ, công chức, đảng viên thuộc diện mình quản lý; phòng ngừa, ngăn chặn từ cơ sở những sai phạm đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên. Phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm, từ xa, cả ngọn lẫn gốc. Cần luôn quán triệt, thực hiện nghiêm tư tưởng chỉ đạo và quan điểm: “Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, và không chịu sự tác động, sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào”.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: KÍNH GỬI QUỐC HỘI XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH, BỞI VÌ NÓ LIÊN QUAN ĐẾN VẬN MỆNH CỦA ĐẢNG, CỦA CHẾ ĐỘ VÀ CỦA TỔ QUỐC!

Kính gửi QUỐC HỘI!
CẦN HỦY BỎ CHƯƠNG TRÌNH 2018 VÀ CHỈ SỬ DỤNG MỘT BỘ SÁCH GIÁO KHOA TRONG CẢ NƯỚC!
Chương trình 2018 được làm bằng 80 triệu USD vay của TB. Họ chỉ cho vay với điều kiện phải để cho NMT làm chủ biên, các thành viên phải được sự kiểm soát của họ? Ôi thôi! Còn gì là sự tự chủ của một nền giáo dục!
Dù tốn kém bao nhiêu cũng phải hủy bỏ chương trình 2018 và sách giáo khoa của những tên phản cách mạng, chống CNXH và sự độc quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam!

MỘT CÂU HỎI KHÔNG LỜI ĐÁP!
Mỗi ngày, tôi lại tự hỏi và đi tìm câu trả lời. Nhưng cứ mịt mù, không thể giải đáp nổi câu hỏi này: Tại sao Việt Nam mang danh là một nước XHCN, đi theo con đường Bác Hồ đã lựa chọn lại học theo chương trình giáo dục của những tên phản Đảng, chống lại sự độc quyền lãnh đạo của Đảng, chống CNXH như Đỗ Ngọc Thoòng, Trần Đình Sử, Nguyễn Minh Thuyết? Thậm chí có Đảng viên còn cho con sang Mỹ,Anh học,mua nhà ở Mỹ, kết hôn với người Mỹ? Tiền ấy lấy đâu ra với đồng lương 17triệu đồng/ tháng? Họ rắp tâm phản bội con đường Bác Hồ đã lựa chọn hay cài cắm " hạt giống đỏ" vào Mỹ và NATO, chuẩn bị cho một cuộc "đại cách mạng XHCN" ở Mỹ và NATO? Hay họ lừa bịp,coi đại đa số người dân là những con bò bị dắt mũi?
Mà Mỹ là ai? Kẻ kích động và gây chiến tranh khắp thế giới từ trước đến nay. Kẻ đã đem quân xâm lược Việt Nam,rải chất độc hóa học lên cơ thể Việt Nam,bắn chết mấy triệu người Việt Nam?
Tha thiết mong các bạn quan tâm đến Giáo dục, đến tương lai của chế độ, đến vận mệnh dân tộc ủng hộ ,chia sẻ và lên tiếng mạnh mẽ.
KÍNH GỬI QUỐC HỘI QUYỀN LỰC CAO NHẤT HÃY NHANH CHỐNG ĐỪNG CHẦN CHỪ VỚI GIÁO DỤC KHỎI HỐI KHÔNG KỊP NGƯỜI DÂN THA THIẾT MONG CẦU!


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHÍNH QUYỀN CỦA AI?

         Những đám tuyên truyền chống nhà nước ta, chẳng phải chúng ngu dốt không biết gì đâu, thực ra chúng biết hết đấy, nhưng muốn lôi kéo một bộ phận dân chúng không có nhận thức tốt, không hiểu thấu đáo để về hùa với chúng mà thôi.

Chính quyền nhà nước Việt Nam do duy nhất đảng Cộng sản lãnh đạo, có phải là một nhà nước độc tài không? Để hiểu rõ vấn đề này, thì chúng ta phải xem xét coi, nhà nước này phục vụ cho quyền lợi của ai? Các vị đứng đầu đảng Cộng sản, đứng đầu quốc hội, đứng đầu chính phủ có đại diện hoặc bản thân có phải là những nhà tài phiệt không? Khẳng định một điều là KHÔNG! Duy nhất một điều là tất cả bộ máy nhà nước đều chỉ nhằm mục đích phục vụ nhân dân.

Thứ nhất, Chính quyền nhà nước Hợp chủng quốc H.oa K.ỳ gồm toàn những nhà tư bản, có thể nói họ cũng là chính quyền phục vụ, nhưng là phục vụ giới tinh hoa của M.ỹ, trong đó có các tập đoàn tài phiệt trên tất cả các lĩnh vực, họ nắm toàn bộ tài nguyên của quốc gia. Họ mới là người chủ đích thực của nước M.ỹ, còn người dân M.ỹ là những người làm công ăn lương. Thu nhập của họ mà cao, đương nhiên họ cũng sẽ trả cho người làm thuê mức thù lao cao. Nói gọn một câu, chỉ có một phần trăm dân số M.ỹ là nhà giàu, song lại làm chủ chín mươi chín phần trăm tài nguyên của nước M.ỹ.

Ngay đến một quốc gia còn duy trì ngôi vị hoàng đế, như Nhật, Thái, Thụy điển vân vân cũng chẳng thể gọi đó là thể chế quân chủ độc tài như thời chế độ phong kiến đâu. Thời phong kiến, bất cứ thứ gì dưới gầm trời và trên cương vực của trẫm là của trẫm, các quan cũng như thần dân, một khi có hành động hay lời nói phạm thượng là “trảm”, đạo quân thần là, “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Cho nên những cái loa phương tây cứ rót vào tai mọi người, rằng “độc đảng là độc tài”, là nói bậy, chỉ những người thiếu hiểu biết mới nghe theo chúng.

Thứ hai, vì sao tài nguyên thiên nhiên của nước M.ỹ không bằng của nước N.ga và Trung quốc, song nước này lại là một nước giàu có? Phải công nhận, chính quyền M.ỹ từng thời kỳ đều có chung một cách hành xử với thế giới. Đó là,

Có “đục nước mới béo cò”. M.ỹ không bao giờ muốn trái đất này được bình yên. Có hai cái lợi mà M.ỹ nhắm đến, thế giới càng “đại loạn” thì M.ỹ càng giữ vững ngôi “đại trị”. Điểm lại, từ ngày lập quốc đến nay, M.ỹ đã gây ra bao nhiêu cuộc chiến tranh? Nếu M.ỹ không trực tiếp tham chiến như ở Việt Nam, Afghanistan thì M.ỹ cũng mượn tay người khác làm cho đại loạn. Tiếp đến, nhờ có các cuộc chiến tranh ấy, nền công nghiệp chiến tranh của M.ỹ mới phát triển mạnh. Nếu không có chiến tranh thì sản phẩm (vũ khí) của tập đoàn Raytheon, một tập đoàn quốc phòng và hàng không vũ trụ đứng đầu thế giới sẽ tiêu thụ đi đâu?

Có dối trá mới làm cho nước M.ỹ giàu có. Thời gian một năm qua, tất cả chúng ta đều nghe thấy chính quyền M.ỹ sẽ cung cấp cho Ukr hết loại vũ khí này đến loại vũ khí khác. Song, M.ỹ không trực tiếp bán cho Ukr. Đó là cái khôn của M.ỹ, quân đội Ukr là nơi tiêu thụ vũ khí, nhưng các nước trong khối N.ato, vừa là nơi cung cấp vũ khí và cũng là nơi tiêu thụ vũ khí. Sau đó, một khi kho vũ khí của các nước này bị hao hụt, cần bổ sung, thì lại mua của M.ỹ. Như vậy M.ỹ vẫn bán được vũ khí mà không bị mang tiếng là người trực tiếp dính líu và cuộc chiến.

Trong số trên 2.000 vũ khí hạng nặng như xe tăng, xe bọc thép, các loại pháo mà phương tây đã chuyển cho Ukr, các bạn có biết M.ỹ đã đóng góp bao nhiêu không? Gần đây mới chuyển cho Ukr một ít bom chùm, đạn chùm. Vậy thôi! Vì sao ư? Như trên tôi đã nói rồi, M.ỹ không cung cấp mà vẫn là nhà cung cấp lớn nhất, vì các nước đồng minh thiếu hụt bao nhiêu thì lại mua của M.ỹ để bù vào bấy nhiêu. Ngay cả việc M.ỹ hứa cung cấp máy bay F16 cho anh hề, song vẫn thòng một câu, “M.ỹ đồng ý để các nước đồng minh chuyển F16 cho U-cà”, rồi sau đó thì sao? Thì mua của M.ỹ mà bổ sung cho đủ. Thế là M.ỹ được tiếng lại vừa được miếng”. Khôn như con vàng của lão Hạc ở làng Vũ Đại!

Đọc đến đây, các bạn đã rõ chính quyền M.ỹ gây sự trên thế giới để phục vụ cho ai rồi chứ gì? Các nước đồng minh trước đây không được mua năng lượng từ N.ga, mà phải mua từ M.ỹ; mỗi nước phải trích ra 2% GDP của nước đó để chi cho quốc phòng, thực tế là để mua vũ khí M.ỹ và nuôi khoảng 200.000 lính M.ỹ đóng thường trực trên nước họ. Đám lính M.ỹ này chẳng khác gì thanh gươm treo lơ lửng trên đầu giới tinh hoa các nước đồng minh. Nếu có bất kỳ ai trong giới tinh hoa đó có ý phản chủ, thì thanh gươm đó sẽ rơi xuống “phập” đầu kẻ phản bội M.ỹ.

Vậy thì ai được lợi và ai bị thiệt? Hôm rồi mình coi trên TV thấy đám lãnh đạo các nước trong khối N.ato họp nhau tại Vilnius, mới nhận ra rằng, trong đám này chẳng có tên nào đại diện cho nhân dân lao động cả. Toàn giới nhà giàu không hà! Mà giới nhà giàu ấy, giàu lên được cũng nhờ M.ỹ cho nên, bố bảo họ cũng không dám làm trái ý M.ỹ. Dân thiếu năng lượng song chúng hắn không thiếu; dân bị mức độ lạm phát tăng, nhưng chúng hắn chẳng bị gì cả; dân tức khí lên rồi tập trung nhau lại để biểu tình phản đối, song họ vẫn bỏ ngoài tai, vẫn đi nghe ca nhạc bình thường.

Đấy, một quốc gia độc lập là như vậy đó. Trông đám người trong giới tinh hoa trong cuộc họp ở Vilnius thì sang trọng lắm, đĩnh đạc lắm, tự tin lắm, song bộ não của họ đã được lập trình để phục vụ cho nước M.ỹ, chứ không phải phục vụ nhân dân họ.

Có ai cắc cớ hỏi rằng, tại sao ở Việt Nam không có biểu tình? Đám ba que xỏ lá thì bảo tại sống dưới chế độ độc tài thì làm gì có biểu tình. Còn những người tử tế Việt Nam chúng ta thì bảo, có ai làm đổ bát cơm của chúng tao đâu mà phải biểu tình? Chính quyền là của nhân dân, không lẽ chúng tao biểu tình, hóa ra chúng tao tự vả vào mặt chúng tao à? Đồ ngu!
Ảnh: Lạc lõng giữa những kẻ hiểm độc./.
Yêu nước ST.

PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ "NỘI CHIẾN"

 

Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ và tay sai có phải là cuộc “nội chiến” giữa hai miền Nam - Bắc do xung đột về ý thức hệ như những luận điệu xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị? Thực tiễn lịch sử khẳng định, đây là cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai nhằm giành độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất đất nước. Không ai có thể bác bỏ được.
👉
Một số quan điểm sai trái, thù địch về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Có thể điểm lại một số luận điệu xuyên tạc chủ yếu sau của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị:
- Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hiếu chiến, muốn gây chiến tranh thôn tính miền Nam, từ đó, đổ lỗi 21 năm chiến tranh với hàng triệu người của hai miền thiệt mạng là lỗi của bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là “tay sai” của Liên Xô, Trung Quốc. Kháng chiến chống Mỹ là thực hiện mưu đồ của Liên Xô, Trung Quốc “muốn đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.
- Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một “con bài” trong cuộc “mặc cả” giữa các nước lớn là Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ.
- Việt Nam chỉ là chiến trường thử nghiệm vũ khí của Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc.
- Nếu Việt Nam Cộng hòa được xem là con rối, là bù nhìn, là ngụy, do Hoa Kỳ giật dây thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng chỉ là “con rối” trong tay Liên Xô, Trung Quốc...
- Chiến tranh Việt Nam là cuộc nội chiến tương tàn giữa hai miền Nam - Bắc do sự khác biệt về lý tưởng cộng sản và không cộng sản; trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, người Mỹ không hề muốn cai trị người Việt Nam, người Mỹ can thiệp vào Việt Nam là vì “thế giới tự do”.
Với sự phát triển của công nghệ thông tin, những luận điệu trên đang tràn lan trên internet, được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị rêu rao lặp đi lặp lại, âm mưu lừa bịp, xuyên tạc để phục vụ mưu đồ đen tối của chúng.
Thực tế lịch sử khẳng định, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975 không phải là “nội chiến”, mà là cuộc chiến tranh yêu nước, nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn nội bộ dân tộc Việt Nam.
👉
Chiến tranh xâm lược Việt Nam 1954 - 1975 trước hết và căn bản khởi phát từ lợi ích bên trong của đế quốc Mỹ, từ chiến lược toàn cầu của Mỹ mà căn nguyên sâu xa là xuất phát từ bản chất chế độ chính trị cường quyền.
Với mưu đồ xâm lược, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết (tháng 7-1954), đế quốc Mỹ đã thực hiện phá hoại công cuộc hòa bình, thống nhất nước Việt Nam. R.S. Mắc Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng Quốc phòng, một trong những kiến trúc sư hàng đầu của Mỹ về chiến tranh Việt Nam, đã nhắc đến quan điểm của Ai-xen-hao được thể hiện qua diễn văn của J.F. Ken-nơ-đi (công bố năm 1956), rằng “Việt Nam là hòn đá tảng của Thế giới tự do ở Đông Nam Á. Đó là con đẻ của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó, không thể phớt lờ những nhu cầu của nó”. Trong bối cảnh lịch sử mới, Việt Nam có vị trí quan trọng đối với Mỹ: Nơi thử thách vai trò, sức mạnh to lớn của một đế quốc hàng đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, là sự tiếp tục và cao nhất chính sách thực dân mới của Mỹ, thực hiện “Học thuyết Truman” (năm 1947) nhằm bảo đảm “an ninh quốc gia” và “bao vây chủ nghĩa cộng sản”. Một nhà nghiên cứu trong bài viết “Chiến tranh Việt Nam là gì?”, đăng trên báo The New York Times, ngày 26-3-2018, đưa ra nhận xét: “Cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam không phải là một cuộc xung đột cục bộ, cô lập, không liên quan đến an ninh quốc gia của Mỹ, mà là một cuộc chiến không thể tách rời với ưu tiên cao nhất của quốc gia - cuộc chiến chống Cộng sản trên toàn cầu trong chiến tranh lạnh”; “các nhà hoạch định chính sách cảnh báo rằng nếu miền Nam Việt Nam rơi vào tay chủ nghĩa Cộng sản, các nước láng giềng chắc chắn sẽ lần lượt gục ngã, lần lượt như một hàng quân cờ domino”.
Từ năm 1950, Mỹ chính thức can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Phái bộ cố vấn viện trợ quân sự Đông Dương (MAAG) của Mỹ bắt đầu viện trợ quân sự cho Pháp, từ 52 tỷ phrăng lên tới 751 tỷ phrăng năm 1954, chiếm 73,9% chi phí chiến tranh. Tiếp đó, Mỹ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hành tổ chức quân đội, chính quyền mới, tiến hành bầu cử riêng rẽ ở miền Nam Việt Nam (đầu năm 1955), lập ra cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa”, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ.
Chính giới Mỹ đã đặt “vấn đề Việt Nam” vào trong luận thuyết của “chiến tranh lạnh”. Dùng biện pháp chiến tranh để thôn tính miền Nam Việt Nam, Mỹ không chỉ nhằm áp đặt ách thống trị chủ nghĩa thực dân mới, mà còn nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc. Ngoài ra, Mỹ còn tính toán tới lợi ích kinh tế mà các tập đoàn tư bản công nghiệp, tài chính hùng mạnh của Mỹ thu được qua cuộc chiến này; đồng thời, tính toán tới sự răn đe đối với Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc. Mục tiêu chiến lược toàn cầu và lợi ích của giới tư bản Mỹ, vì vậy, là các nhân tố quyết định hành động chiến tranh và thúc đẩy chiều hướng leo thang chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.
Đế quốc Mỹ (và cả thực dân Pháp trước đó) tìm cách lôi kéo đồng minh, đẩy mạnh xây dựng quân đội và chính quyền tay sai, vừa mua chuộc, lôi kéo (rêu rao Mỹ chỉ là đồng minh), vừa uy hiếp và khi cần thì cũng không ngần ngại tổ chức đảo chính, thủ tiêu những chính trị gia không vâng lời, nhằm giữ quyền lãnh đạo của mình... Mặt khác, Mỹ coi trọng việc xây dựng cơ sở xã hội, dựa vào các thế lực thù địch, những phần tử phản động đội lốt tôn giáo, vừa tạo chỗ đứng, tạo thế hợp pháp ở bên trong để che giấu bộ mặt thực dân, vừa tích cực tổ chức huấn luyện đội quân viễn chinh, lập các căn cứ, khối liên minh quân sự ở bên ngoài... Khi tất cả các thủ đoạn không đạt được mục tiêu đề ra, hoặc kém hiệu quả, Mỹ đẩy tới hành động quân sự, dùng biện pháp chiến tranh là chủ yếu. Tháng 2-1962, Mỹ thành lập Bộ tư lệnh viện trợ Hoa Kỳ ở Việt Nam, đến tháng 7-1965, đổi thành Bộ tư lệnh lục quân Hoa Kỳ tại Việt Nam, trực tiếp chỉ huy đội quân viễn chinh Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân đồng minh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mỹ đã tiêu tốn vào cuộc chiến 676 tỷ USD; cử 6,6 triệu lượt quân tham chiến; huy động 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân; trên 72 nghìn quân các nước đồng minh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Với những vũ khí mới nhất, với khối lượng lớn bom đạn, chất độc hóa học, chất độc da cam, quân đội Mỹ đã tiến hành càn quét, đốt phá, và giết hại nhiều dân thường. Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã tiến hành 19.905 phi vụ, phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học. Cùng với việc đưa quân vào miền Nam, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại vô cùng khốc liệt đối với miền Bắc Việt Nam.
Đế quốc Mỹ áp đặt phương thức thống trị thực dân kiểu mới, giấu mặt, cai trị trá hình, nuôi dưỡng và dựng lên chính quyền bù nhìn từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu. Từ năm 1955 đến năm 1961, đế quốc Mỹ đã viện trợ cho chính quyền miền Nam Việt Nam 7 tỷ USD. Những năm 1955 - 1956, Mỹ chi 414 triệu USD xây dựng các lực lượng thường trực quân đội Việt Nam Cộng hòa gồm 170.000 người và lực lượng cảnh sát với 75.000 người. 80% ngân sách quân sự của chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ viện trợ. Trong giai đoạn 1962 - 1974, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa 21.336 triệu USD (bao gồm cả viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự).
Một thực tế rõ ràng là, tuy Mỹ coi lực lượng tay sai ở miền Nam Việt Nam là những người “quốc gia chủ nghĩa”, nhưng chưa bao giờ thực sự coi trọng những lực lượng này. Mỹ chỉ xem họ như những quân cờ trên bàn cờ chiến lược của mình. Một khi quân cờ nào không còn hữu dụng nữa thì Mỹ sẵn sàng thay thế, vứt bỏ họ. Một học giả Mỹ đánh giá: “Quan hệ đồng minh Mỹ - Diệm là một sản phẩm của tính toán địa chính trị của Mỹ thời chiến tranh lạnh”, và “việc Mỹ can thiệp sâu vào Đông Dương xuất phát từ các quan ngại về sự bành trướng Xô-viết”. Ngay những quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn cũng nhận thức được thân phận làm tay sai cho Mỹ của mình, và nhận ra cuộc chiến này là cuộc chiến của người Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam: “Ông Mỹ luôn luôn đứng ra làm sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê”. Giới chóp bu của chế độ Sài Gòn chỉ được tự do trong giới hạn mà Mỹ cho phép. Cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa” là chính quyền do người Mỹ dựng lên, nuôi dưỡng và điều khiển để phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Ngay cả sau năm 1973, khi quân đội Mỹ và đồng minh phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, thì mục tiêu phục vụ cho quyền lợi của người Mỹ của chính quyền và quân đội Sài Gòn ở miền Nam vẫn không hề thay đổi. Tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu - lực lượng tưởng chừng được Mỹ ủng hộ nhất quán nhất, cuối cùng cũng cay đắng thừa nhận trong phát biểu từ chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 21-4-1975, rằng: Mỹ là một đồng minh “thất hứa, thiếu công bằng, thiếu chính nghĩa, vô nhân đạo đối với một đồng minh đang chịu đau khổ, trốn tránh trách nhiệm của một đại cường quốc”. Một nghiên cứu nước ngoài chỉ rõ: “Nếu không có sự can thiệp của Mỹ, thật khó có thể tưởng tượng rằng miền Nam Việt Nam đã ra đời hoặc nếu có thì sẽ tồn tại được bao lâu”.
Từ tất cả những điều đã trình bày trên đây, có thể thấy rõ rằng, đế quốc Mỹ đã chống lại sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam, chống lại tất cả những ai ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và mong muốn độc lập, hòa bình, thống nhất của Việt Nam. Rõ ràng, đế quốc Mỹ đã chà đạp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, và vì thế, trở thành đối tượng đấu tranh trước hết trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam.
👉
Tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam
Cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 là cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đồng thời đấu tranh nhằm loại bỏ những thế lực đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc và nguyện vọng nhân dân. Trên bình diện quốc tế, đó là một bộ phận của cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nhằm khẳng định và bảo vệ quyền tự quyết của dân tộc mình. Trong bối cảnh của cuộc “chiến tranh lạnh”, cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của cuộc đối đầu quyết liệt giữa phe tư bản chủ nghĩa và phe xã hội chủ nghĩa.
Nhằm đạt mục tiêu hòa bình, thống nhất đất nước, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhân dân Việt Nam đã nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tháng 6-1955, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với chính quyền Sài Gòn, nhưng không được đáp ứng. Tháng 7-1956, sau khi yêu cầu đàm phán không được chính quyền Ngô Đình Diệm trả lời, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu các đồng chủ tịch Hội nghị Giơ-ne-vơ tổ chức một cuộc hội nghị mới. Các yêu cầu đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục được phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì nêu lên, nhưng đều bị từ chối.
Chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man các phong trào hòa bình, bắt bớ, truy bức, giết hại những người yêu nước ở khắp miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1959, 466.000 người cộng sản và người yêu nước bị bắt, 400.000 người bị tù đày và có 68.000 người bị giết hại. Một báo cáo của Việt Nam Cộng hòa năm 1960 đưa ra con số những người cộng sản bị bắt giữ từ năm 1954 là 48.200 người; một công bố năm 1961 ghi nhận tổng số người bị bắt giữ và thiệt mạng dưới bàn tay lực lượng an ninh chính quyền Sài Gòn lên tới trên 60.000 người.
Đối diện với tình hình trong nước, quốc tế vô cùng khó khăn, phức tạp, những năm 1954 - 1959, Đảng Lao động Việt Nam vẫn kiên trì đấu tranh bằng phương pháp hòa bình để thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định hòa bình, thống nhất nước nhà là nguyện vọng tha thiết, phải tranh thủ mọi thời cơ để thống nhất một cách hòa bình. Đấu tranh vũ trang chỉ buộc phải thực hiện khi không còn con đường nào khác. Quyết tâm thực hiện thống nhất đất nước được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960): “Dân tộc ta là một, nước Việt Nam là một. Nhân dân ta nhất định sẽ vượt tất cả mọi khó khăn và thực hiện kỳ được “thống nhất đất nước, Nam, Bắc một nhà””.
Trong bối cảnh phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bất đồng, xuất hiện chủ nghĩa xét lại, tâm lý sợ Mỹ, ngại đối đầu với Mỹ, biểu hiện ở xu hướng hòa hoãn, chung sống hòa bình, thủ tiêu đấu tranh vũ trang..., Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân trên cả hai miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự nghiệp chính nghĩa bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là động lực cơ bản có sức cuốn hút mạnh mẽ và tập hợp lực lượng rộng lớn - toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tạo thành khối đoàn kết thống nhất trong cuộc đấu tranh chung.
Ở miền Nam, năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Tháng 6-1969, tại Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Đây là cơ quan quyền lực tập trung cao nhất đại diện cho cách mạng miền Nam, là thể hiện ý chí của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đại diện cho ý chí, nguyện vọng thống nhất của toàn thể nhân dân miền Nam Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam. Chính phủ có nhiệm vụ đoàn kết nhân dân miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ, lật đổ chính quyền tay sai, đưa miền Nam Việt Nam phát triển theo con đường độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, phồn vinh, tiến tới thống nhất đất nước. Chính phủ cách mạng lâm thời là một đối trọng với chính quyền Sài Gòn tại Hội nghị Pa-ri, làm thất bại âm mưu xưng danh “đại diện hợp pháp duy nhất” cho miền Nam của Mỹ và chính quyền tay sai. Dưới ngọn cờ chính nghĩa của Chính phủ cách mạng lâm thời, các phong trào vận động nhân dân, trí thức đã kết thành một sức mạnh rộng lớn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, vì một mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đến cuối năm 1972, Chính phủ cách mạng lâm thời được 30 nước trên thế giới chính thức công nhận, với tư cách là đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam.
Dù phải chịu tác động bởi mâu thuẫn, bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế khi đó, nhưng Việt Nam vẫn giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; xử lý các mối quan hệ một cách đúng đắn, mềm dẻo; coi trọng, kiên trì vấn đề đoàn kết quốc tế. Quan điểm nhất quán của Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tranh thủ sự ủng hộ và viện trợ cao nhất của các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, nhưng không lôi kéo các nước xã hội chủ nghĩa vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Từ khoảng giữa năm 1972, viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam đều bị cắt giảm mạnh. Việt Nam nhận thức được sự chuyển dịch trong quan hệ tam giác giữa ba cường quốc là Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc. Trong khi khai thác mặt tích cực của các nước ủng hộ công cuộc kháng chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn đề cao cảnh giác, hạn chế tối đa mặt tiêu cực trong mối quan hệ đó. Vì thế, khi hai nước lớn giảm dần sự viện trợ, Việt Nam vẫn kiên quyết giữ vững mục tiêu của mình.
Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ hơn sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, vạch trần tội ác xâm lược của kẻ thù được che giấu dưới mọi hình thức, để thức tỉnh lương tri nhân loại tiến bộ. Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược, hình thành từ cuối năm 1964, đã nhanh chóng mở rộng, phát triển mạnh mẽ từ khi đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam và tiến hành dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc. Đó là lực lượng chính trị hùng hậu, đã tác động sâu sắc đến chính sách và thái độ hiếu chiến của nhiều chính phủ trên thế giới đối với vấn đề chiến tranh Việt Nam. Chưa bao giờ trên thế giới xuất hiện một phong trào ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của một dân tộc lại có quy mô rộng lớn như phong trào quốc tế ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước.
Việc Mỹ áp đặt chế độ thống trị thuộc địa kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, gây chiến tranh tàn phá đất nước Việt Nam, là cuộc chiến tranh xâm lược đối với một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và trực tiếp là từ hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc Việt Nam.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhận được sự ủng hộ, giúp sức của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân chủ, tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, nhưng đó thực sự là cuộc chiến đấu của chính bản thân nhân dân Việt Nam, không có sự tham gia trực tiếp của nước ngoài. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước là thắng lợi của tư duy chiến lược độc lập, tự chủ, sáng tạo, của sách lược ứng xử khôn khéo, kiên quyết và hiệu quả của Đảng Lao động Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Lịch sử cuộc chiến tranh đã lùi xa, việc nhận thức đúng bản chất của nó cho phép mỗi người dân Việt Nam, dù trước đây đứng ở phía bên nào của cuộc chiến, cũng có quyền tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Những ai cho rằng trong cuộc trường chinh giải phóng, thống nhất, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam có yếu tố “nội chiến” thì thực chất, đó chỉ là sự cố tình đánh tráo khái niệm, ngoảnh mặt làm ngơ trước sự thật lịch sử, sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức lịch sử, xuyên tạc một trong những trang lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc./.
Theo Tạp chí Cộng sản.

NHỮNG TRẬN ĐÁNH, TRẬN THẮNG NỔI TIẾNG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM TRẬN NHƯ NGUYỆT - 1077

 

Như Nguyệt là tên của một bến đò và là tên chung của một đoạn sông Cầu gắn với trận đánh nổi tiếng của quân đội nhà Lý dưới sự chỉ huy của danh tướng Lý Thường Kiệt. Dòng sông có chiều dài 290km bắt nguồn từ núi Văn Ôn, chảy qua biết bao làng mạc, để rồi khi chảy đến ngã ba Xà, nơi hợp lưu của sông Cà Lồ chảy vào sông Cầu, dòng sông là minh chứng duy nhất để kể lại cho muôn đời về trận đánh hào hùng, về phòng tuyến trên sông Như Nguyệt, nơi đánh đuổi 10 vạn quân bắc Tống.
Trận Như Nguyệt là một trận đánh lớn, mang tính quyết định của cuộc Chiến tranh Tống – Việt (1075 – 1077), và là trận đánh cuối cùng của triều Tống – Trung Quốc trên đất Đại Việt. Trận chiến diễn ra trong nhiều tháng, kết thúc bằng chiến thắng vẻ vang của quân Đại Việt ta và đại bại của quân Tống, đánh bại hoàn toàn mưu đồ xâm lược nước ta của giặc, buộc chúng phải thừa nhận nước Đại Việt ta.
Bối cảnh: Nhà Tống, Trung Quốc vào thế kỷ 11 có ý định xâm lược Đại Việt để mở rộng lãnh thổ, nhằm giải quyết một số khó khăn về đối nội và đối ngoại. Nhà Lý sớm nhận ra ý định này của nhà Tống nên đã thực hiện một chiến dịch đánh đòn phủ đầu vào cuối năm 1075 đầu năm 1076, phá hủy các căn cứ hậu cần chuẩn bị cho chiến tranh của nhà Tống. Nhưng Nhà Tống vẫn quyết tâm tiến hành chiến tranh, vua Tống Thần Tông cử Quách Quỳ chỉ huy chuẩn bị đánh Đại Việt.
Trước binh lực mạnh của nhà Tống, Lý Thường Kiệt quyết định chọn chiến lược phòng thủ: ông dùng các đội quân của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi phía bắc nhằm quấy rối hàng ngũ của quân Tống. Các tướng Lưu Kỹ, phò mã Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ An đem quân chặn bước tiến quân Tống ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, đồng thời chặn thủy quân của nhà Tống từ Quảng Đông xuống… Lý Thường Kiệt lui quân về phía nam Sông Cầu. Lý Thường Kiệt đã huy động binh lính và nhân dân xây dựng một phòng tuyến trên sông Như Nguyệt để biến nơi đây là nơi diễn ra trận đánh quyết định của cả cuộc chiến.
Tương quan lực lượng:
Quân Tống huy động khoảng 100.000 quân chiến đấu, 10.000 ngựa, 200.000 dân phu, đồng thời có sự hỗ trợ từ lực lượng thủy binh. Chỉ huy là Quách Quỳ và phó chỉ huy là Triệu Tiết cùng với nhiều tướng khác được điều về từ miền bắc Tống.
Bộ phận quân chủ lực của nhà Lý gồm thủy binh và bộ binh phòng thủ và chiến đấu tại sông Như Nguyệt có 60.000 quân và một số lực lượng không tham gia trực tiếp vào trận đánh dùng để hãm chân và quấy rối tiếp vận phía sau khoảng trên 15.000 quân.
Chiến trường:
Đoạn sông Như Nguyệt mà Lý Thường Kiệt chọn lựa xây dựng phòng tuyến có vị trí mang tính chiến lược: con sông chặn mọi đường trên bộ có thể dùng để tiến quân vào Thăng Long. Vì địa thế quan trọng này, Lý Thường Kiệt quyết định lập một phòng tuyến tại đây nhằm đánh một trận chiến lược.
Chiến lũy của phòng tuyến được xây dựng bằng đất có đóng cọc tre dày mấy tầng làm dậu. Dưới bãi sông được bố trí các hố chông ngầm tạo thành một phòng tuyến rất vững chắc. Quân của nhà Lý đóng thành từng trại trên suốt chiến tuyến, mà quan trọng nhất là ba trại ở Như Nguyệt, Thị Cầu, Phấn Động. Quân chủ lực do chính Lý Thường Kiệt chỉ huy đóng ở phủ Thiên Đức, một vị trí có thể cơ động chi viện nhiều hướng và khống chế mọi ngả đường tiến về Thăng Long.
Quân Tống dưới sự chỉ huy của Quách Quỳ tiến tới bờ bắc sông Như Nguyệt thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh mà vua Tống đã đề ra. Quách Quỳ không hề biết rằng cánh thủy quân do Dương Tùng Tiên chỉ huy đã bị thủy quân Đại Việt do Lý Kế Nguyên chỉ huy đã chặn đánh quyết liệt, liên tục tập kích hơn 10 trận. Đặc biệt với thảm bại tại sông Đông Kênh, thủy quân Tống buộc phải rút lui.
Sau một khoảng thời gian chờ đợi không thấy thủy quân đến hội sư, Quách Quỳ tổ chức vượt sông mà không có sự hỗ trợ của thủy quân. Tuy nhiên vì trước trại của Quách Quỳ tại Thị Cầu có một trại quân mạnh của nhà Lý án ngữ nên không dám cho quân vượt sông ở Thị Cầu. Cùng lúc, tướng Miêu Lý đóng tại Như Nguyệt báo với Quách Quỳ rằng quân Lý đã trốn đi và xin lệnh đem binh vượt sông. Trúng kế nhà Lý, Quách Quỳ chấp nhận và tướng Vương Tiến bắc cầu phao cho đội xung kích của Miêu Lý vượt sông. Miêu Lý định tiến nhanh về Thăng Long nhưng đến vùng Yên Phụ, Thụy Lôi thì bị nhà Lý phục kích, bao vây, và chặn đánh dữ dội và bị diệt gần hết. Thất bại của Miêu Lý đã làm cho Quách Quỳ hết sức tức giận.
Sau thất bại này, Quách Quỳ nhận ra quân nhà Lý không bỏ bất cứ đoạn nào trên phòng tuyến, nên không dám vượt sông mà không có thủy binh. Vì thủy binh quân Tống đã bị chặn lại ngoài biển nên không tiến vào được, buộc Quách Quỳ phải tổ chức đợt tấn công lần hai. Lần này, quân Tống dùng một lực lượng mạnh hơn nhiều so với lần trước và đóng bè lớn để vượt sông. Quân Tống ồ ạt đổ sang bờ Nam nhưng chúng vấp phải các đợt phải công mãnh liệt của quân nhà Lý, số binh tiếp viện lại không qua sông kịp nên quân bị vỡ trận và thiệt hại nặng nề phá sản ý định đánh nhanh thắng nhanh của nhà Tống.
Nhận thấy quân Tống lâm vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan, ngày càng hoang mang vì chờ mãi thủy binh không thấy đâu, nhưng lại không dám rút lui vì đó là một sự nhục nhã và tội lớn với triều đình nhà Tống. Quân Tống vẫn còn mạnh, cố thủ ở bờ bắc Như Nguyệt. Lý Thường Kiệt nhận ra đây là thời cơ tốt để tổ chức tiến công, ông nghiên cứu cách bố phòng của quân Tống và tổ chức các đợt tấn công theo kiểu tập kích chia cắt quân Tống.
Đầu tiên, ông mở một đợt tấn công vào quân của Quách Quỳ đang đóng ở Thị Cầu nhằm kéo sự chú ý của toàn bộ quân Tống về hướng này dù biết rằng Quách Quỳ có một khối quân khá lớn và bố phòng rất cẩn thận. Ông lệnh cho hai tướng Hoằng Chân và Chiêu Văn dùng 400 chiếc thuyền chở khoảng 2 vạn quân từ Vạn Xuân tiến lên Như Nguyệt. Đoàn thuyền vừa đi vừa phô trương thanh thế nhằm kéo sự chú ý của toàn bộ quân Tống về hướng họ.
Quân nhà Lý đổ quân lên bờ bắc tấn công thẳng vào doanh trại quân Tống và chiếm ưu thế, đẩy quân Tống vào sâu, buộc quân Tống phải huy động hết lực lượng và đem cả đội thân quân ra đánh. Tất cả các thuộc tướng cao cấp của Quách Quỳ như Yên Đạt, Trương Thế Cự, Vương Mẫn, Lý Tường, Diên Chủng đều có mặt trong chiến địa. Khi mọi sự chú ý của quân Tống đều đổ dồn về phía trại quân Quách Quỳ, thì Lý Thường Kiệt đích thân dẫn đại quân đánh vào doanh trại của Triệu Tiết.
Triệu Tiết đóng tại bắc Như Nguyệt trên một khu vực tương đối rộng và quang đãng, bố trí theo kiểu dã chiến không lũy tường tổ chức phòng ngự tạm. Đại quân của Lý Thường Kiệt tập kích, quân của Triệu Tiết nhanh chóng bị đánh bại, thương vong trên một nửa quân số đến gần hết.
Kết quả 02 đợt tấn công này đã khiến quân Tống đại bại. Quân Tống mất tổng cộng 8 vạn quân và 8 vạn phu. Toàn bộ chi phí chiến tranh ngốn mất 5.190.000 lạng vàng. Thất bại này đã làm cho nhà Tống mất hẳn ý chí xâm lược Đại Việt.
Đây là chiến thắng lớn nhất và là trận chiến ác liệt nhất kể từ sau trận Bạch Đằng năm 938 của dân tộc Việt trong việc chống phương Bắc xâm lược. Chiến thắng này đã đánh dấu sự thành công nhiều chiến thuật chiến tranh phòng thủ và chủ động tấn công của danh tướng Lý Thường Kiệt trước một nước lớn hơn nhiều lần.
Ngày nay, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng ta đã thực hiện chủ trương chiến lược: xây dựng tỉnh (thành phố) thành khu vực phòng thủ vững chắc, tạo cơ sở nền tảng cho việc củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Xét ở góc độ nào đó, có thể khu vực phòng thủ hiện nay có đặc điểm và nội dung khác với tuyến phòng thủ trước đây, nhưng cần khẳng định có sự kế thừa về tư tưởng, nghệ thuật quân sự. Vì thế, nghiên cứu tuyến phòng thủ sông Như Nguyệt là cần thiết, nhằm tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử hiện nay. Thực tiễn cho thấy, các khu vực phòng thủ đã và đang được xây dựng ngày càng vững chắc, đáp ứng tốt yêu cầu bảo vệ địa phương, bảo vệ Tổ quốc trong thời bình và thời chiến. Điều quan trọng là, quá trình xây dựng khu vực phòng thủ là quá trình quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân của Đảng, phục vụ phương thức kết hợp chặt chẽ tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương với tác chiến của các binh đoàn chủ lực; kết hợp hoạt động tác chiến rộng khắp, thường xuyên với các hoạt động tác chiến tập trung quy mô vừa và nhỏ; quán triệt tư tưởng tích cực tiến công, tích cực và chủ động vận dụng linh hoạt và kết hợp các hình thức chiến đấu tiến công (phản công) và phòng ngự; kết hợp chặn đánh địch ở phía trước, diệt vu hồi và đổ bộ đường không với trấn áp địch gây bạo loạn ở phía sau; bằng mọi biện pháp đánh phá giao thông, vận chuyển hậu cần, kỹ thuật của địch, lấy vật chất của địch bổ sung cho ta; kết hợp đấu tranh quân sự với các hình thức đấu tranh khác; kết hợp tác chiến với địch vận; vừa chiến đấu vừa sản xuất tại chỗ, vừa tác chiến vừa củng cố, xây dựng lực lượng tại chỗ, duy trì sức mạnh tác chiến lâu dài.

"HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI": CÂU NÓI TRUYỀN CẢM HỨNG NHẤT CỦA LÊNIN


V.I.Lênin hiểu rõ tầm quan trọng của trí tuệ, Người cho rằng trí thức chính là “niềm tự hào vĩ đại của nhân loại”. Chính vì vậy, vị lãnh tụ vĩ đại đã có một câu nói rất nổi tiếng, đó là: “Học, học nữa, học mãi”.
Nguồn học là vô tận và con người đứng trước kiến thức rộng lớn của nhân loại lại trở thành một loài sinh vật bé nhỏ, nó giống như hạt cát giữa sa mạc rộng lớn. Kiến thức là vô tận, nếu con người chúng ta cứ sống mãi trong khuôn phép, cứ tự cho mình là tài giỏi thì quả thật là thiệt thòi. Chính vì chúng ta không tiếp thu là tạo cơ hội cho người khác giỏi hơn mình.
Học như một cánh cửa kì diệu nhưng không có chiếc chìa khóa nào để mở nó ra, vậy học cũng là đang dần dần chế tạo ra chiếc “chìa khóa” đó và khám phá mọi điều ở bên trong cánh cửa, đó là kiến thức và sự thành công. Nhà bác học Charles Robert Darwin cũng từng nói "Bác học không có nghĩa là ngừng học”.
Như chúng ta thấy có những cụ già, những người đã lớn tuổi nhưng ngày ngày vẫn đọc sách, vẫn ngâm nga những câu thơ trong những cuốn sách thời xưa. Học không chỉ là tính toán mà nó còn là đọc và chiêm nghiệm. Họ tuổi già sức yếu nhưng điều đó không có nghĩa là họ dừng lại mọi con đường đi đến với kiến thức.
Nhưng ngược lại, bên cạnh những người ngày đêm miệt mài với sách vở với trau dồi rèn luyện cho bản thân thì cũng không ít những người lại chây lười, tự cao tự đại không muốn tiếp thu của ai một điều gì và luôn tự cho mình là đúng.
Câu nói của Lênin mặc dù trải qua bao nhiêu thời gian nhưng nó vẫn luôn là một câu nói đầy động lực cho bất cứ một con người nào. "Học, học nữa, học mãi" để luôn là người linh hoạt và hiểu biết để bắt kịp với thời đại. Mỗi loại kiến thức đều giúp ta mở rộng hiểu biết về một lĩnh vực riêng.
Như kiến thức toán học giúp chúng ta tính toán dễ dàng, kiến thức văn học giúp ta có hiểu biết về ngôn từ, cách biểu đạt, kiến thức địa lí giúp chúng ta biết thêm về những miền đất mới, con người mới... Còn rất nhiều lĩnh vực khác nữa với nhiều điều thú vị, hấp dẫn.
Trong mỗi một câu chuyện hay mỗi một lời nói đều ẩn chứa một phần của kiến thức, chúng ta chỉ cần biết hợp những điều mà mắt thấy tai nghe, sự hiểu biết của chúng ta lại thì sẽ có được một khái niệm, một chân lí, một định lí nào đó rồi hãy khắc ghi lại, sẽ có lúc chúng ta cần vận dụng đến. Chính những vốn kiến thức từ bé, tu luyện bồi dưỡng dần cùng thời gian, nó sẽ kết lại thành một khối kiến thức giúp ích cho ta về hiện tại và cả về sau, nó giúp chúng có thể thành đạt trong cuộc sống.
Trong thời đại khoa học ngày nay, nhu cầu về học tập là rất cấp thiết. Và để theo kịp xã hội và cách thích nghi với đời sống văn minh thì lại càng cấp thiết hơn. Cứ mỗi giờ trôi qua, mỗi ngày trôi qua thì lượng kiến thức lại càng nhiều, do đó chúng ta cần phải luôn luôn học. Đó chính là ý nghĩa của ý thứ hai “học nữa”.
Thế giới kiến thức là rất rộng lớn, để tiếp thu, tìm hiểu được hết mọi kiến thức thì chắc hẳn là không thể, thậm chí cả đời người cũng không xong, bởi vậy ngoài việc “học nữa”, thì còn phải “học mãi”.
Biểu tượng thế giới vì nhân quyền thế kỷ 20 - Tổng thống Nam Phi N. Mandela từng nói: “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới”. Bill Gates - Chủ tịch tập đoàn phần mềm khổng lồ Microsoft nói: “Nhà trường chỉ cho chúng ta chiếc chìa khóa tri thức, học trong cuộc sống là công việc cả đời”.
Hay tục ngữ Việt Nam có câu: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn". Tất cả đều cho thấy rằng, mục đích của việc học tập là đổi mới con người, đổi mới xã hội, bởi kiến thức khoác lên cho dân tộc, cho thế giới một bộ áo văn minh, hiện đại mà mỗi chúng ta chính là người được hưởng thành quả ấy.
Câu nói “Học, học nữa, học mãi” của Lênin chính là chân lí của học tập. Câu nói trên chính là một lời khuyên, một định hướng đúng đắn trong cuộc sống. Có học mới có được kiến thức, có được kiến thức mới có thể có hành trang để bước vào đời.
Cái “học” ở đây không đơn thuần là tiếp nhận kiến thức khoa học mà nó còn là tiếp nhận kiến thức đạo đức, lí lẽ, biết phân biệt tốt xấu. Nó còn thể hiện cần học ở mọi lúc, mọi nơi, mọi phương diện.

CÁCH MẠNG THÁNG 8, MỐC SON CHÓI LỌI CỦA DÂN TỘC


Cách mạng Tháng Tám - Cuộc Cách mạng thần kỳ của dân tộc Việt Nam đến nay vừa tròn 78 năm. Những người cùng thời với sự kiện lịch sử trọng đại này và lớp hậu sinh sẽ mãi mãi khắc ghi. Bởi từ đây, toàn dân Việt Nam có một sự đổi đời thật kỳ diệu và ngoạn mục. Từ đây, người dân Việt Nam được sống dưới mái nhà chung tự do, không còn phải chịu kiếp nô lệ, lầm than, một cổ ba tròng dưới ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và chế độ phong kiến mục ruỗng. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công được coi là một kỳ tích của Việt Nam trong thế kỷ XX, mở ra một trang sử vẻ vang chói lọi vào bậc nhất, đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Cách mạng tháng Tám chính là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp nhất của một dân tộc anh hùng bất khuất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân nhất tề nổi dậy theo cách mạng đánh Pháp, đuổi Nhật. Cách mạng Tháng Tám thành công đã đập tan chính quyền của thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Cách mạng Tháng Tám thành công là nhờ có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đảng đã vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Chúng ta đã chớp đúng thời cơ, kết hợp một cách hài hòa giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, tiến lên giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh chóng. Một số mốc quan trọng trong cuộc Tổng khởi nghĩa là: Từ ngày 14 đến ngày 18/8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận các tỉnh miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam... Ngày 19/8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và ở Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu... Ngày 25/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân. Khi nói về cuộc Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng, đây là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. Dù mới 15 tuổi với hơn 5.000 đảng viên nhưng Đảng ta xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đủ sức lãnh đạo nhân dân đập tan ách thống trị của thực dân đế quốc, phong kiến. Không gì quý hơn độc lập tự do. Bao nhiêu năm dưới ách thống trị, kìm kẹp của kẻ thù là bấy nhiêu năm mất tự do. Thậm chí đến cả đi lại cũng phải khép mình. Chính vì vậy, khi cách mạng nổ ra, cả dân tộc Việt Nam nhất tề đứng dậy đánh đuổi giặc ngoại xâm giành lấy chính quyền và hoàn toàn làm chủ cuộc đời.
Kỷ niệm 78 năm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, chúng ta càng phải ra sức phấn đấu để giữ gìn và phát triển thành quả to lớn cuộc cách mạng do chính Đảng ta, nhân dân ta làm nên. Một dân tộc từng gan dạ và luôn hướng tới độc lập, tự do thì không dễ gì để cho kẻ thù khuất phục. Việt Nam có một vị trí địa lý cực kỳ quan trọng ở khu vực Đông Nam châu Á, một đất nước rất giàu tiềm năng về tài nguyên, phong phú về khoáng sản và có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng về an ninh – quốc phòng. Chính vì vậy, thực dân Pháp không từ bỏ dã tâm và chúng đã quay lại xâm lược nước ta một lần nữa.
Truyền thống Cách mạng Tháng Tám đã trở thành động lực cho dân tộc Việt Nam, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Cả nước đứng lên tiếp tục 9 năm cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và đã giành thắng lợi vinh quang bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Truyền thống Cách mạng Tháng Tám còn tiếp tục phát huy cao độ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chúng ta là những người chiến thắng, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Từng bước đưa Việt Nam đổi mới, phát triển, hội nhập với khu vực và trên thế giới.
Kỷ niệm 78 năm Cách mạng Tháng Tám thành công trong điều kiện cả nước đang thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa, từng bước xóa đói giảm nghèo, tiến tới dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Trong bước đi lên của đất nước cũng còn nhiều chông gai phía trước. Trên thế giới vẫn chưa bình yên, vẫn còn có những cuộc chiến tranh cục bộ. Thiên tai, lũ lụt, động đất, sóng thần diễn ra thường xuyên làm ảnh hưởng đến cục diện kinh tế thế giới, ảnh hưởng không nhỏ đến chúng ta. Rồi vấn đề Biển Đông vẫn xảy ra tranh chấp. Những thế lực thù địch luôn rình rập chống phá chúng ta trên nhiều phương diện, bằng nhiều thủ đoạn tinh vi “Diễn biến hòa bình” ở mọi nơi, mọi lúc, mọi chỗ. Chúng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền chống phá cách mạng nước ta. Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam vẫn đang tỏa sáng. Một đất nước rất ổn định về chính trị, nền kinh tế vẫn ở trên đà tăng trưởng và phát triển, an ninh, quốc phòng được củng cố vững chắc.
Theo quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố mới đây, Việt Nam đã lấy lại được sự ổn định kinh tế vĩ mô. Xuất khẩu đang tiến triển rất tốt. Thị trường tài chính bình ổn trở lại. IMF nhấn mạnh: Việt Nam có những tiến bộ đáng kể trong ổn định kinh tế, thúc đẩy cải cách trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước. Đời sống của nhân dân ở mọi miền về cơ bản là ổn định, trật tự xã hội được đảm bảo. Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia trên thế giới được đánh giá là thanh bình và hạnh phúc. Có cuộc sống thực tế của hôm nay, chúng ta càng không thể quên thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bởi vì, có Cách mạng Tháng Tám mới có một Việt Nam đổi mới, phát triển và hội nhập.
Sự kiện lịch sử trọng đại này còn mãi mãi vang vọng không những hôm nay mà còn mãi về sau trong từng người dân Đất Việt.
Kỷ niệm 78 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và những sự kiện lớn của đất nước, chuẩn bị cho một bước đi mới trong tương lai ngày càng ổn định vững chắc hơn trên con đường hội nhập, công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thực sự là mốc son chói lọi trong sử vàng của dân tộc Việt Nam./.
Nguồn: Quốc phòng Việt Nam

TRẢ LỜI CHẤT VẤN PHẢI ĐÚNG TRỌNG TÂM, ĐƯA RA GIẢI PHÁP THIẾT THỰC, HIỆU QUẢ, KHẢ THI

 

Chủ tịch Quốc hội đề nghị các Bộ trưởng nêu cao tinh thần trách nhiệm, trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm, làm rõ những chất vấn đại biểu Quốc hội nêu, đồng thời đưa ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả, khả thi, bảo đảm vừa khắc phục kịp thời, hiệu quả các yếu kém, hạn chế trước mắt, vừa tạo được chuyển biến thực chất, căn cơ và lâu dài đối với từng nội dung chất vấn.
Sáng 15/8, tại Nhà Quốc hội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức chất vấn và trả lời chất vấn đối với các nhóm vấn đề thuộc lĩnh vực của Bộ Tư pháp và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Tham dự phiên chất vấn, tại điểm cầu Nhà Quốc hội, có Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng; Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an Tô Lâm; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà…
Tại 62 điểm cầu tại địa phương, có các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, các đồng chí Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội công tác tại các địa phương...
Phát biểu khai mạc phiên chất vấn, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết, đây là phiên chất vấn thứ 4 được tổ chức tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV.
Trên cơ sở tổng hợp các nguồn thông tin, đề xuất của các Đoàn đại biểu Quốc hội, cân đối các lĩnh vực đã và đang được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiến hành giám sát chuyên đề, xuất phát từ tình hình thực tế và thống kê trả lời chất vấn trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định lựa chọn chất vấn đối với các nhóm vấn đề thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Phiên họp thứ 25.
Trong buổi sáng, Thường vụ Quốc hội chất vấn Bộ trưởng Tư pháp Lê Thành Long về việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; các giải pháp bảo đảm tiến độ, chất lượng và hồ sơ thủ tục các dự án, dự thảo Chính phủ trình Quốc hội; giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật, giải pháp kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật thuộc trách nhiệm của Chính phủ.
Bên cạnh đó là thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; giải pháp khắc phục tình trạng chậm ban hành, nội dung chồng chéo, mâu thuẫn và những hạn chế, sai phạm trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; thực trạng và giải pháp khắc phục hạn chế, bất cập, nâng cao hiệu quả công tác đấu giá tài sản, giám định tư pháp.
Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, đây đều là những vấn đề rất cấp thiết, được cử tri, nhân dân và các vị đại biểu Quốc hội đặc biệt quan tâm, gắn chặt với hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, góp phần hoàn thiện thể chế, đồng bộ hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Phiên chất vấn là dịp để nhìn nhận, đánh giá chính xác các hạn chế, vướng mắc, đề ra những giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng công tác lập pháp; xây dựng, triển khai hiệu quả Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm; hoàn thành các nhiệm vụ lập pháp tại Kết luận số 19 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 81 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đồng thời, nâng cao chất lượng giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật; bảo đảm sự ổn định, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, góp phần hoàn thiện thể chế phát triển, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.
Trong buổi chiều, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan đăng đàn trả lời chất vấn về các nhóm vấn đề: giải pháp tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu nông sản (thị trường đầu ra bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp không có đơn hàng, một số mặt hàng nông sản chủ lực bị rớt giá, thu nhập, đời sống của người nông dân bị ảnh hưởng...); hoạt động khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; giải pháp tháo gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC) đối với thủy sản; việc chuyển đổi mục đích sử dụng, thu hồi diện tích đất trồng lúa, bảo đảm an ninh lương thực và xuất khẩu gạo.
Chủ tịch Quốc hội nêu rõ, mặc dù lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có những nội dung được Quốc hội chất vấn tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV, tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay ngành nông nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới, việc tiếp tục chất vấn đối với lĩnh vực này là hết sức cần thiết với kỳ vọng sẽ có nhiều giải pháp hữu hiệu để giải quyết những khó khăn và tạo sự phát triển bứt phá cho ngành nông nghiệp thời gian tới.
Với thời gian chất vấn chỉ trong một ngày, các nhóm vấn đề chất vấn có phạm vi rộng, nhiều vấn đề đang gây bức xúc trong dư luận xã hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị các vị đại biểu Quốc hội đặt câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, đi thẳng vào vấn đề, tranh luận thẳng thắn, trách nhiệm, mang tính xây dựng.
Các Bộ trưởng cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm, làm rõ những chất vấn đại biểu Quốc hội nêu, đồng thời đưa ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả, khả thi, bảo đảm vừa khắc phục kịp thời, hiệu quả các yếu kém, hạn chế trước mắt, vừa tạo được chuyển biến thực chất, căn cơ và lâu dài đối với từng nội dung chất vấn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác điều hành lĩnh vực quản lý, đáp ứng yêu cầu, kỳ vọng của cử tri, nhân dân cả nước.
Kết thúc phiên chất vấn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ ban hành nghị quyết để làm cơ sở triển khai thực hiện và giám sát.
Ngay sau phát biểu khai mạc của Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành phiên chất vấn đối với nhóm vấn đề thuộc lĩnh vực trách nhiệm của Bộ Tư pháp./.
Theo Báo Nhân dân