Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

Tư duy mới về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 

Quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh trong Văn kiện Đại hội XIII là những định hướng chiến lược xác định vị trí, vai trò, mục tiêu, sức mạnh, phương thức, giải pháp thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đồng thời, là quan điểm xuyên suốt, nhất quán, có sự kế thừa từ các kỳ Đại hội trước và được Đại hội XIII bổ sung, phát triển, làm sâu sắc thêm nhiều nội dung quan trọng.

Trong tổng thể đường lối phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, việc tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, là “kim chỉ nam” trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tư duy về quốc phòng, an ninh, đối tác, đối tượng, bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển mới và ngày càng hoàn thiện, là nguyên nhân chủ yếu góp phần làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tạo nên vị thế, uy tín, tiềm lực, sức mạnh mới cho đất nước. Đó còn là kết quả của quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm, truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới. Mặt khác, tư duy đó hình thành trên cơ sở nhận định, đánh giá, dự báo chính xác, khách quan, khoa học sự vận động phát triển của tình hình thế giới, khu vực, trong nước; gắn bảo vệ Tổ quốc với xây dựng, đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế và phát triển đất nước.

Xuyên suốt chặng đường 35 năm đổi mới đất nước, đường lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc đã không ngừng được bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội, kể từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986), đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội XIII của Đảng đã dành nhiều tâm huyết, trí tuệ để thảo luận, thống nhất giải quyết một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc hơn, tiếp tục khẳng định rõ hơn; đồng thời, bổ sung và phát triển nhiều nội dung quan trọng, trực tiếp hoàn thiện tư duy mới về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tập trung ở những vấn đề cơ bản:

Một là, tiếp tục khẳng định rõ vị trí, vai trò trọng yếu, thường xuyên của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa quan điểm từ các kỳ Đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” (1). Sự khẳng định vị trí này là định hướng chính trị đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị trong củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh theo chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Mặt khác, đó là cơ sở quan trọng để thống nhất nhận thức và hành động trong toàn xã hội, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, chống phá, mưu toan hạ thấp vai trò quốc phòng, an ninh của các thế lực thù địch. Cùng với sự khẳng định đó, Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” (2). Đây là căn cứ để định vị mối quan hệ và mức độ ưu tiên giải quyết đối với từng lĩnh vực. Theo đó, trong những năm tới, phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trung tâm, được ưu tiên nhưng không vì thế mà xem nhẹ nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Bởi vì củng cố quốc phòng, an ninh trực tiếp tạo lập môi trường hòa bình, ổn định chính trị, là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế - xã hội. Ngược lại, kinh tế - xã hội phát triển, thế và lực của đất nước được nâng lên mới có đủ các điều kiện cần thiết để đầu tư, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh. Đây cũng chính là nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng, phát triển đất nước với bảo vệ Tổ quốc của Đảng ngày càng sâu sắc hơn, khăng khít hơn trong tiến trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam.

Hai là, mục tiêu của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được bổ sung toàn diện hơn, cụ thể hơn và sâu sắc hơn. Kế thừa tư duy của Đảng về xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc từ các kỳ Đại hội trước và xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đó là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (3). Như vậy, tư duy của Đảng về xác định nội hàm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc tiếp tục khẳng định và đặt các phương diện tự nhiên - lịch sử với chính trị - văn hóa, xã hội và lợi ích quốc gia - dân tộc, môi trường hòa bình, ổn định… trong một chỉnh thể thống nhất biện chứng, không tách rời nhau; thực hiện nội dung này là cơ sở, điều kiện, tiền đề, kết quả để thực hiện nội dung khác và ngược lại. Tuy nhiên, trong tình hình mới, nhằm ứng phó kịp thời với các mối đe dọa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đang nổi lên ngày càng gay gắt, nhất là nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và bảo đảm xã hội ổn định, Đại hội XIII đã coi trọng và nhấn mạnh vấn đề bảo vệ an ninh, an toàn là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của đất nước và trong cuộc sống của người dân. Do đó, Đại hội XIII đã bổ sung, phát triển toàn diện và sâu sắc hơn nội hàm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, gồm cả bảo vệ “an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh”. Đây là quan điểm nhân văn, tiến bộ của Đảng, luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn thời gian qua, nhất là trong ứng phó với thảm họa thiên tai, lũ lụt, phòng, chống đại dịch COVID - 19 với tinh thần “không để ai tụt lại phía sau” là những minh chứng rõ nét cho sự phát triển tư duy này.

Ba là, phương châm, phương thức bảo vệ Tổ quốc được bổ sung, phát triển hoàn thiện phù hợp với tình hình thực tiễn. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, những khó khăn, thách thức trong bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển” (4). Điều này một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam là luôn kiên định, giữ vững nguyên tắc chiến lược, không nhân nhượng, thỏa hiệp về độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc trong bất cứ điều kiện nào, hoàn cảnh nào, với bất cứ đối tượng nào. Tuy nhiên, về sách lược luôn linh hoạt, mềm dẻo, kiên trì giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở bảo đảm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế; có đối sách thích ứng với từng đối tượng, từng tình huống cụ thể trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”. Đây là tư duy biện chứng, linh hoạt, sáng tạo và để thực hiện phương châm đó, phải kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với đấu tranh quốc phòng, an ninh ngay trong thời bình để ngăn chặn từ sớm, đẩy lùi từ xa những nhân tố có thể dẫn đến đột biến, bất lợi mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng, tạo cớ gây xung đột, chiến tranh. Theo đó, về phương thức, phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh phi vũ trang, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, toàn diện, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, Đảng ta nhấn mạnh phải coi trọng phương thức đấu tranh phi vũ trang và phát triển, hoàn thiện quan điểm “tự bảo vệ” trong điều kiện mới, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với bảo vệ Tổ quốc, lấy xây dựng để bảo vệ, bảo vệ để xây dựng, xây dựng đến đâu phải tự bảo vệ và được bảo vệ vững chắc đến đó.

Bốn là, lực lượng, sức mạnh quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được khẳng định toàn diện, phù hợp và được quan tâm đầu tư xây dựng vững mạnh. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế” (5). Sự phát triển tư duy về lực lượng, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trên không chỉ là sự kế thừa, phát triển truyền thống quý báu của dân tộc: luôn phát huy cao độ ý chí, lòng tự hào, tự tôn dân tộc tạo nên sức mạnh vô địch đánh đuổi ngoại xâm, mà còn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh có những diễn biến phức tạp mới; đồng thời, đó là sự cụ thể hóa quyết tâm chính trị mà Đại hội XIII của Đảng xác định là “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại” (6) để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trước hết, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định rõ cội nguồn sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc được huy động từ nguồn lực của toàn dân, được tổ chức chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt; xây dựng sức mạnh tổng hợp cả về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Trong đó, sức mạnh bên trong, sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng; sự quản lý, điều hành có hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước; sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc; sự trung thành, vững mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân là những nhân tố quyết định. Kết hợp chặt chẽ sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tạo thành sức mạnh tổng hợp. Trong đó, việc khai thác nguồn lực bên ngoài và tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi để bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa rất quan trọng, đặt ra yêu cầu đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong việc tích cực, chủ động triển khai đường lối, chiến lược đối ngoại nhằm tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền để nhân dân trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ, hiểu đúng về đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đặt ra yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện cả về lực lượng, tiềm lực và thế trận trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cả ở trong và ngoài nước. Trong xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh, coi trọng xây dựng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân. Tập trung xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh vững mạnh, chú trọng các tiềm lực chính trị tinh thần, văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, luôn coi trọng quy tụ “ý Đảng, lòng dân”, “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân” (7) tạo thành sức mạnh, thực hiện “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để giữ vững và phát huy vai trò là nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,... vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ” (8). Tập trung xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội và công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Thực hiện phương hướng đó, trong công cuộc đổi mới, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đã có sự trưởng thành vững chắc, được xây dựng vững mạnh toàn diện theo đúng kế hoạch, lộ trình để từng bước tiến lên hiện đại. Trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghiệp 4.0), nhiều nước trong khu vực và trên thế giới gia tăng đầu tư cho quốc phòng và những diễn biến mới của tình hình đã tạo áp lực không nhỏ đối với nước ta về tăng cường quốc phòng, an ninh, hiện đại hóa quân đội, công an nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Vì vậy, Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng trên là đúng đắn, phù hợp với khả năng của nền kinh tế và trình độ khoa học - công nghệ của đất nước, vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài, vừa đáp ứng sự mong mỏi, nguyện vọng chính đáng và giải đáp những băn khoăn, vướng mắc trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an và nhân dân ta.

Cùng với xây dựng lực lượng quân đội, công an, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn nhấn mạnh: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở” (9). Đây là việc cụ thể hóa quan điểm của Đảng về sức mạnh tổng hợp và lực lượng toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc; phản ánh sâu sắc tính chất toàn dân, toàn diện của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; thể hiện tư duy sáng tạo, bước đột phá của Đảng, đáp ứng yêu cầu khách quan về xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Năm là, bổ sung, hoàn thiện hệ thống giải pháp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa theo hướng tăng tính chủ động và khả thi, không để đất nước bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn phải đương đầu với sự thôn tính, xâm lăng của các thế lực ngoại bang lớn mạnh. Chính vì vậy, “lo giữ nước từ khi nước chưa nguy, trị nước từ khi chưa loạn” là tư tưởng lớn và là truyền thống quý báu của dân tộc. Kế thừa kinh nghiệm, truyền thống ấy và xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, phát triển và nâng lên tầm cao mới thành kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tinh thần đó thể hiện tập trung trong hệ thống các chiến lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; luôn thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến, kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt, giữ trong ấm, ngoài êm, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” (10). Trên cơ sở đó, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục làm sâu sắc hơn bằng việc xác định chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố có thể gây đột biến, bất lợi; đồng thời, luôn chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống. Như vậy, đến Đại hội XIII của Đảng, tư duy chiến lược của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm nghĩa là về thời gian phải bảo vệ từ trước, chủ động phòng ngừa, tích cực chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ vững chắc Tổ quốc ngay trong thời bình, khi đất nước chưa có chiến tranh, nguy biến. Bảo vệ Tổ quốc từ xa nghĩa là về không gian phải chủ động bảo vệ từ bên ngoài biên giới lãnh thổ của đất nước. Do đó, phải không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống; giải quyết tốt những vấn đề bức xúc nảy sinh trong dư luận, củng cố sự đồng thuận xã hội, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh… là những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Sáu là, phát triển, hoàn thiện lý luận, nghệ thuật, khoa học, cơ chế, chính sách, thực hiện các chiến lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự, an ninh, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình hình mới. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống” (11). Cùng với đó, phải “xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội” (12). Đồng thời, “tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác” (13). Trong thời gian tới, cần đặc biệt coi trọng bổ sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh. Luôn bám sát yêu cầu nhiệm vụ để tiếp tục đổi mới, phát triển tư duy phù hợp và hiệu quả hơn nhằm nâng cao hiệu quả thu hút, đào tạo nhân lực, cơ chế huy động các nguồn lực cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quán triệt và thực hiện tư duy mới của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định các giải pháp: Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc bất di, bất dịch, là cơ sở nền tảng để Quân đội nhân dân, Công an nhân dân giữ vững bản chất cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, không chỉ biết đánh thắng kẻ thù trong chiến tranh xâm lược mà còn giỏi đấu tranh phi vũ trang, sắc bén trên mặt trận chính trị, tư tưởng, thực hiện tốt chức năng và “nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, công an. Hai là, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; ở từng địa phương, vùng, miền, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể. Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ, công chức, viên chức và cho toàn dân, phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Chú trọng giáo dục, nâng cao nhận thức thống nhất về đối tác, đối tượng; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác cách mạng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết dân tộc, vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc. Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, có chất lượng cao và luôn sẵn sàng chiến đấu thắng lợi. Thường xuyên quan tâm chăm lo, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, công an. Năm là, tích cực, chủ động nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, an ninh, nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. Tăng cường hợp tác quốc phòng, quân sự với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công việc nội bộ của nhau. Mở rộng phạm vi, quy mô tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, an ninh mạng và các hoạt động khác./.      

Trần Đức Tiến

Thượng tá, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

-----------------------

(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (11), (12), (13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà nội, 2021, t. I, tr. 156, 110, 156, 156-157, 155-156, 14, 157, 157-158, 158, 159, 158-159, 160
(10) Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16-4-2018, của Bộ Chính trị, về Chiến lược quốc phòng Việt Nam

Tapchicongsan.org.vn

Chữa “bệnh” ngại học lý luận chính trị ở sinh viên

 

Chỉ khi chất lượng, hiệu quả học tập LLCT nâng lên, đội ngũ sinh viên hôm nay là tầng lớp trí thức ngày sau mới thực sự vừa “hồng” vừa “chuyên”, toàn tâm toàn ý đóng góp công sức, trí tuệ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bài 1: Kim chỉ nam cho sinh viên lập thân, lập nghiệp

LLCT được xem là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng. Với sinh viên-những người trẻ tuổi đang tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, hình thành nhân cách, rèn luyện bản lĩnh chính trị thì các môn học LLCT càng đặc biệt quan trọng. Chỉ khi có LLCT vững vàng mới tạo bệ phóng vững chắc cho sự phát triển năng lực cá nhân và sự nghiệp trong tương lai.

“Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”

Đây là nhận định minh triết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của lý luận được Người viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947). Lý luận nói chung và LLCT nói riêng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận; rồi lại đem nó chứng minh với thực tế mới thực sự chắc chắn, chân chính.

Nhiều lần Bác căn dặn mọi người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên khắc phục tình trạng kém lý luận, khinh lý luận và cũng đừng rơi vào lý luận suông. Những lời chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến LLCT thật gần gũi, dễ đi vào lòng người bởi chính Bác là tấm gương sáng về học tập, nghiên cứu và vận dụng LLCT để hậu thế noi theo. Người đã bôn ba khắp năm châu bốn biển tìm hiểu thực tế, tiếp xúc với bao học thuyết chính trị mới tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn.

Trở lại thời điểm đầu thế kỷ XX, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước, từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm của lịch sử đều lần lượt thất bại. Chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc với lý luận cách mạng của thời đại là Chủ nghĩa Mác-Lênin, Người mới nhận ra con đường cách mạng Việt Nam phải đi, đó là tiến hành cách mạng vô sản giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với tư duy độc lập, sáng tạo không rơi vào lý luận suông, không áp dụng lý luận cứng nhắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhiều lần vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đặc thù Việt Nam; đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, thống nhất đất nước, mang lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Ngày nay, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Cho nên việc học tập, nghiên cứu LLCT là để hiểu sâu sắc, đầy đủ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, người lao động có tư tưởng tiến bộ. Chỉ có trang bị đầy đủ về LLCT mới có thể tạo ra hành động cách mạng tích cực, hiệu quả như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Lý luận sở dĩ quan trọng là vì nó dạy ta hành động”.

Như vậy, việc học tập LLCT trước tiên là để cán bộ, đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Chỉ có nghiên cứu, học tập LLCT thực chất, với động cơ tích cực, trong sáng mới giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy khoa học, có phương pháp làm việc biện chứng; từ đó vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, hoàn thành công việc được giao phó.

Với tầm quan trọng của LLCT giải thích vì sao trong các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị nhiều năm qua luôn nhấn mạnh phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng LLCT. Đồng thời, nhận định biểu hiện nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT, lười học tập LLCT là một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị.

Sự cần kíp trong học tập LLCT của sinh viên

Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện nay nước ta có hơn 1,6 triệu sinh viên. Họ là những trí thức tương lai của đất nước, là tầng lớp kế cận đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần hiện thực hóa mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội lần XIII của Đảng đề ra đó là đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Mặt khác, một bộ phận sinh viên trong tương lai sẽ trưởng thành, rồi trở thành cán bộ, đảng viên nắm giữ các vị trí quan trọng, chủ chốt trong hệ thống chính trị và bộ máy Nhà nước.

Quan điểm nhất quán trong sự nghiệp giáo dục của Đảng ta là đào tạo thế hệ trí thức mới không chỉ giỏi chuyên môn nghiệp vụ, mà trước hết phải có đạo đức, có lòng yêu nước thiết tha, gắn bó với nhân dân, với chế độ, sẵn sàng góp sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Như vậy, bên cạnh đào tạo chuyên môn, học tập các môn LLCT (Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam) có vai trò quan trọng trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, củng cố niềm tin của sinh viên vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới đất nước. Từ đó, góp phần đào tạo sinh viên phát triển một cách toàn diện. Theo PGS, TS Phạm Văn Linh, Phó chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương: “Việc nắm vững nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước là điều hệ trọng với công dân Việt Nam nói chung, đặc biệt là sinh viên, những người mai sau sẽ trở thành đội ngũ cán bộ có trình độ cao. Lịch sử đã chứng minh, đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” luôn là một nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau”.

Thời gian ngồi trên giảng đường đại học cực kỳ quan trọng đối với sinh viên trong việc tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy và bản lĩnh chính trị. Từ điểm xuất phát này, sinh viên sẽ trưởng thành và bước sang chương mới cuộc đời với khát vọng lập thân, lập nghiệp. Nếu điểm xuất phát tốt, họ sẽ đạt được những bước đi vững chắc, có khả năng phát triển năng lực, sở trường trong tương lai.

Không ít sinh viên vẫn có suy nghĩ chỉ những ai muốn phấn đấu trở thành cán bộ, đảng viên trong tương lai thì mới cần học tốt các môn LLCT; nếu không thì xác định học “cho xong”. Đây là nhận thức sai lầm! Bởi lẽ, dù làm công việc gì đi nữa, cũng cần có kiến thức về chính trị, xã hội, nắm vững được chính sách, pháp luật, vận dụng trong công việc và đời sống. Chẳng hạn, một nghệ sĩ nếu nắm vững quan điểm chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về văn hóa văn nghệ sẽ có bản lĩnh chính trị, chắc chắn không sáng tác, phổ biến những tác phẩm nhạy cảm chính trị, vi phạm thuần phong mỹ tục; ứng xử văn hóa, có đạo đức nghề nghiệp, không làm ảnh hưởng tiêu cực đến danh tiếng của bản thân. Hay như một doanh nhân sẽ tìm thấy những yếu tố tích cực từ tư tưởng Hồ Chí Minh về thu hút, trọng dụng nhân tài để vận dụng vào thực tiễn tuyển trạch và quản trị nhân sự doanh nghiệp.

Không chỉ mang lại lợi ích để lập nghiệp mai sau, học tập LLCT còn giúp sinh viên lập thân, trở thành công dân gương mẫu, có trách nhiệm với cộng đồng, luôn tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Từ đó, trong suy nghĩ và hành động đều hướng đến các giá trị nhân văn cao đẹp; có lòng yêu nước nồng nàn; có tinh thần kiên định, vững vàng trước những biến động phức tạp của cuộc sống.

Đặc trưng của sinh viên là tuổi đời còn trẻ, khoảng từ 18 đến 25 tuổi. Bên cạnh ưu điểm có tri thức, năng động, dễ tiếp thu cái mới song tâm lý chưa ổn định, thiếu kinh nghiệm, chưa nhạy cảm với các vấn đề chính trị xã hội, dễ sa vào tệ nạn xã hội, bắt chước văn hóa lai căng nước ngoài. Nắm bắt điều này, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên kích động, lôi kéo, dụ dỗ sinh viên tiếp xúc các thông tin xấu độc, nhất là trên môi trường internet, nhằm làm giảm niềm tin của sinh viên đối với Đảng, Nhà nước; thậm chí một số sinh viên đã bị lợi dụng, tích cực hoạt động chống phá chế độ, gây bất ổn chính trị, an ninh trật tự. Cho nên, việc học tập các môn LLCT sẽ giúp sinh viên có lập trường tư tưởng kiên định, bản lĩnh chính trị vững vàng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Đất nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, nhiều tư tưởng, học thuyết, hệ giá trị, quan điểm cũng sẽ theo các cánh cửa giao thương, không gian mạng... mà ùa vào, tác động đến tâm tư, tình cảm và hành động của sinh viên. Do vậy, việc giáo dục LLCT cho sinh viên đại học nhằm tạo ra nền tảng kiến thức chính trị-xã hội vững vàng ngay từ giảng đường đại học là vô cùng quan trọng. Thông qua học tập các môn LLCT, sinh viên có nhận thức đúng đắn; có niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Từ đó, sẽ quyết định khuynh hướng, mục đích và hiệu quả hoạt động của sinh viên trong học tập, lao động; xây dựng lý tưởng cách mạng trong sáng, làm chủ bản thân, giàu lòng yêu quê hương, đất nước, xây dựng và củng cố vững chắc mục tiêu lý tưởng.

 Để phục vụ cho loạt bài này, trong tháng 12-2021, nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã tiến hành một cuộc khảo sát với 3.020 sinh viên trên cả nước. Trả lời câu hỏi về lợi ích của các môn LLCT, hầu hết sinh viên sau khi học xong đều thể hiện nhận thức tích cực về lợi ích của các môn học đối với bản thân, đó là: Góp phần hình thành thế giới quan khoa học, nhân cách và lý tưởng sống (66,8%); giúp nâng cao ý thức, trách nhiệm với đất nước (64,2%); vận dụng để giải quyết các vấn đề thực tiễn (44,1%)... Song, nghịch lý là khi được hỏi về mức độ yêu thích với từng môn học cụ thể, câu trả lời “Bình thường” đều chiếm tỷ lệ hơn 50%.

(còn nữa)

HOÀNG HOÀNG - THU HÀ

Qdnd.vn

Văn hóa tâm linh và phòng, chống mê tín, dị đoan

 

Một trong những trăn trở của không ít cán bộ, đảng viên hiện nay là tham gia đời sống tâm linh như thế nào cho phù hợp, để không vi phạm Điều 19 của Quy định số 37-QĐ/TW “về những điều đảng viên không được làm”: “Mê tín, hoạt động mê tín, ủng hộ hoặc tham gia các tôn giáo bất hợp pháp hoặc lợi dụng các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng để trục lợi”.

Ranh giới giữa hoạt động tâm linh với hoạt động mê tín, dị đoan thường rất mỏng manh. Định hình được ranh giới ấy, cán bộ, đảng viên sẽ thấy thoải mái, tự tin hơn trong tham gia các hoạt động tâm linh...

Mỗi dịp Tết đến, những ai là con dân nước Việt đều cảm nhận rõ ràng không khí linh thiêng của ngày Tết. Thời khắc giao thừa, thắp nén hương thơm dâng lên bàn thờ tiên tổ, ai cũng cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, may mắn, hạnh phúc. Những người cựu chiến binh dẫn theo con cháu đến nghĩa trang liệt sĩ, nhớ về những đồng đội từng hy sinh cho mình được sống, cảm thấy như đồng đội vẫn đang ở đâu đó trên những tầng mây cao vời vợi dõi theo mình, dẫn dắt mình tránh những tai ương, vận hạn.

Đến vãn cảnh khu tưởng niệm các danh nhân, anh hùng dân tộc, đền, miếu, chùa chiền, có ai không xúc động khi dâng hương tưởng nhớ các bậc tiền nhân có nhiều công lao với quê hương, đất nước, khấn cầu các vị thánh thần phù hộ cho quốc thái, dân an, gia đình và bản thân mình an khang, gặp nhiều phúc lộc... Rõ ràng, những hoạt động tâm linh kể trên là rất phổ biến trong đời sống hiện nay, mang lại những giá trị tinh thần cao cả, có tác dụng hướng con người đến chân-thiện-mỹ mãnh liệt.

Tuy nhiên, cũng có không ít những hoạt động tâm linh của cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả những cán bộ (hoặc vợ con của cán bộ) giữ những vị trí lãnh đạo, quản lý rất quan trọng gây phản cảm trong nhân dân. Đó là những lễ dâng sao, giải hạn rình rang với chi phí hàng trăm triệu đồng, những buổi “gọi hồn, thỉnh vong”, hầu đồng, yểm bùa, cầu cúng, hóa vàng mã... hoành tráng với những niềm tin mù quáng vào số mệnh, thần thánh, ma quỷ.

Trước đây, đã có thời kỳ chúng ta cho rằng, người đảng viên với thế giới quan của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không được phép tham gia hoạt động tâm linh. Nhiều người còn cho rằng, tâm linh là “mảng tối”, là mặt tiêu cực trong ý thức con người, nơi chưa được chân lý khoa học soi sáng; cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học-công nghệ (KHCN) thì đời sống tâm linh sẽ ngày càng bị thu hẹp.

Nhưng thực tế hơn 35 năm đổi mới vừa qua cho thấy, đất nước ta càng phát triển, dân trí càng lên cao, KHCN đã và đang có những bước phát triển rất nhanh thì đời sống tâm linh của nhân dân nói chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng càng phong phú, đa dạng.

Vậy, đứng vững trên nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề cán bộ, đảng viên tham gia hoạt động tâm linh như thế nào? Có thể thấy, dù KHCN có phát triển đến mấy thì những nỗi đau do thiên tai, nhân tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông... vẫn xảy ra.

Thậm chí, sẽ có những người ngẫu nhiên gặp phải rất nhiều tai ương, thiếu may mắn, “họa vô đơn chí”... Với mỗi người, khi gặp phải những nỗi đau quá sức chịu đựng như vậy thì sự giúp đỡ, động viên của cơ quan, đơn vị, hàng xóm, người thân là không đủ, họ cần có niềm tin vào một phép màu, một sự cứu rỗi trong tâm hồn để vượt qua. Rõ ràng, hoạt động tâm linh mang bản tính lịch sử tự nhiên, có tác dụng xoa dịu, bù đắp những mất mát, khổ đau; một loại “thuốc” tinh thần đặc biệt đối với con người.

Do đó, hoạt động tâm linh là một nhu cầu văn hóa tinh thần đặc biệt của con người, trong đó có cán bộ, đảng viên. Hơn nữa, đời sống tâm linh còn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử, trở thành văn hóa tâm linh, “sợi dây neo” giữ hồn cốt dân tộc. Người cộng sản mang trong mình chủ nghĩa yêu nước, không thể thiếu “sợi dây neo” đó trong phẩm chất, tâm hồn mình. Lênin từng chỉ rõ: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.

Với tinh thần đó, người đảng viên cộng sản Việt Nam không chỉ tìm hiểu về đời sống tâm linh của dân tộc mình, mà phải thực sự tham gia một cách tích cực vào hoạt động đó, để lọc bỏ những yếu tố mê tín, dị đoan, kế thừa và phát triển văn hóa tâm linh trở thành giá trị cốt lõi của nền văn hóa mới, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Các Mác từng nói rằng: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”; đó là một câu nói rất có giá trị khoa học. Thuốc phiện, nếu được sử dụng hợp lý, đúng lúc, đúng chỗ, luôn là một liều thuốc quý; nhưng nếu sử dụng thái quá, lại trở thành độc dược đối với con người.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa IX của Đảng ta khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) quy định: “1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”.

Như vậy, từ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta đều công nhận và bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cũng là thừa nhận và tạo điều kiện cho văn hóa tâm linh hoạt động và phát triển. Về phương diện nhận thức và hành động, cán bộ, đảng viên khi tham gia đời sống tâm linh phải xem đó là hoạt động bày tỏ tình cảm thiêng liêng, niềm tin linh thiêng, là sự biết ơn của người đang sống đối với những người thân đã mất, đối với danh nhân, anh hùng liệt sĩ được nhân dân suy tôn làm thánh, làm thần, làm thành hoàng...; là sự thấu cảm về giá trị văn hóa và đạo đức của các biểu tượng tôn giáo.

Đó là những điều tốt đẹp, cao cả mà ai cũng khát khao, trông đợi, hướng về. Đi ngược lại mục đích tốt đẹp đó, hoạt động tâm linh, buôn thần, bán thánh... để cầu “vinh thân, phì gia”, cầu chạy tội, cầu che mắt các cơ quan công quyền khi làm những việc trái pháp luật, trái đạo lý... là những hành vi đáng phê phán, cần đấu tranh, loại bỏ.

Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lối sống thực dụng, coi trọng vật chất, chạy theo đồng tiền là một nguy cơ lớn. Để ngăn ngừa cái xấu, cái ác, ngăn ngừa lối sống thực dụng, Đảng, Nhà nước ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, tác dụng giáo dục lẽ sống hướng thiện của hoạt động văn hóa tâm linh là không thể phủ nhận.

Đó cũng là con đường giáo dục chân-thiện-mỹ, giáo dục truyền thống dân tộc rất hiệu quả. Niềm tin vào sự tích “con Rồng, cháu Tiên”, niềm tin vào hồn thiêng sông núi, niềm tin vào linh khí tổ tiên... khi hòa quyện vào niềm tin cộng sản sẽ tạo thành sức mạnh tinh thần to lớn trong mỗi cán bộ, đảng viên để thực hiện khát vọng hùng cường, thịnh vượng, đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

HỒNG CHUYÊN

Qdnd.vn

Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong cục diện thế giới hiện nay


Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, thế giới có nhiều thay đổi sâu sắc. Cùng với sự dịch chuyển trọng tâm quyền lực, các nước lớn cạnh tranh gay gắt, thực hiện can thiệp linh hoạt hơn, kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau để xác lập vị thế. Trong bối cảnh đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” trên nhiều phương diện ngày càng tinh vi hơn. Nhận diện đúng và vạch trần bộ mặt mới của chiến lược này có ý nghĩa định hướng chiến lược trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam hiện nay.

Cục diện quan hệ quốc tế mới - nguyên nhân của sự điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình”

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự(1). Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”, có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Ngay từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này, “diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt trên ngăn chặn”.

Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực đối đầu bị phá vỡ, lợi thế tạm thời nghiêng về phía các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhân loại đang dần bước vào thời kỳ hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Đây là lúc các thế lực thù địch rút kinh nghiệm, quá trình tiến hành và chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những bước điều chỉnh cơ bản về phương thức, thủ đoạn cho phù hợp với những thay đổi mới của tình hình, khoét sâu thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ yếu thông qua “thẩm thấu hòa bình”, “ngoại giao thân thiện”, hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại... để “hoàn thành nốt mục tiêu” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, xác lập lại trật tự thế giới mới do các nước tư bản lãnh đạo, chi phối.

Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”(2). Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc.

Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay

Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng, nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải do sự chống phá từ bên ngoài (?!). Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là “ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng cách mạng. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, nhất là trong trường hợp số đông quần chúng nhân dân bị mê hoặc, tin theo lời hứa hão huyền bằng các khẩu hiệu lòe bịp, bị “sập bẫy” giương sẵn của các trung tâm quyền lực, các tổ chức phản động quốc tế luôn rắp tâm “đục nước béo cò”, tạo cớ can thiệp, chống phá.

Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.

Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm... thì đó là “cơ hội vàng” để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm, đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”; ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”.

Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

Từ sự ra đời của học thuyết chính trị “phản kháng phi bạo lực” (phản kháng hòa bình)(3), ngay lập tức, các “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” phương Tây coi đó là “bảo bối thần kỳ”, “công cụ hữu hiệu” để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia trong không gian hậu Xô-viết thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” vào những năm 2004 - 2006; sau đó thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi vào năm 2011 với cái tên mĩ miều “Mùa xuân Ả rập”. Đó không có gì khác là bạo loạn phi vũ trang bắt nguồn từ “diễn biến hòa bình”, là “kỹ năng lật đổ” thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh - một “dị bản” của việc kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Và hiện nay, “dị bản” ấy tiếp tục được “hoàn thiện”, phát triển thành một kịch bản dựng sẵn với “công thức” lật đổ qua các bước: Một là, hình thành các hoạt động “phản kháng mềm” trong nội bộ đối phương do sự cộng hưởng theo các phương tiện truyền thông; kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, “bất tuân dân sự”, đi ngược lại chính sách hiện hành, chống đối chính phủ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất ổn. Hai là, nội công ngoại kích, bên trong thì biểu tình, bạo động; bên ngoài thì tập hợp đồng minh, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... đồng loạt gây sức ép trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền đương thời phải từ chức, giải tán. Ba là, tạo cớ để can thiệp, tiến hành bạo loạn trực tiếp lật đổ chính quyền nhưng núp dưới danh nghĩa “bảo vệ người dân”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ”, “vì công lý”... Bốn là, cài cắm lực lượng đối lập, nhanh chóng tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử; công khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của họ. Điểm mấu chốt trong kịch bản này là họ cố tình “bới móc”, lôi ra điểm yếu trong bộ máy cầm quyền của đối phương; thậm chí không ngần ngại thêm thắt, bịa đặt các khuyết điểm; sẵn sàng gán tất cả những sai trái, tiêu cực trong xã hội; châm ngòi cho làn sóng chống đối trong nước và làm cho bộ máy ấy dường như đã biến chất, “lỗi thời, không phù hợp”, do đó sẽ bị thay thế và đó là “lẽ thường tình” theo đúng quy luật(?!). Cho nên, một bộ máy cầm quyền thân cận do họ dựng lên nhưng lại được “hợp pháp hóa” thông qua một cuộc bầu cử theo luật định vô cùng tinh vi và họ luôn tự hào coi đây là sản phẩm sáng tạo của “công nghệ lật đổ” thông qua biểu tình, đảo chính bằng mô hình “bạo lực đường phố”. Theo đó, có tới “198 hành động phản kháng phi bạo lực”(4), nhưng trong đó bao hàm cả các hành động vô nhân đạo, bị pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như làm tiền giả, in sao tài liệu giả, cướp bóc, ám sát, khủng bố... chứ không hoàn toàn phi bạo lực và không loại trừ sau đó sẽ lan rộng, bùng phát thành một kiểu dạng “chiến tranh lai ghép”(5) mới

Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng.

Thứ tư, đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong.

Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam(6). Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.

Việt Nam vẫn là trọng điểm chống phá của “diễn biến hòa bình”

Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.

TRẦN ĐỨC TIẾN - LƯU MẠNH HÙNG

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

---------------------

(1) Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 303
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I,
tr. 30 - 31
(3) Học thuyết này dựa trên nội dung cuốn sách “Từ độc tài đến dân chủ” (From dictatorship to democracy) do Giên Sáp-pơ - một nhà hoạt động xã hội ở Mỹ, Giáo sư Đại học Massachusettes Dartmouth (Mỹ) viết về phong trào dân chủ ở Mi-an-ma năm 1993 sau khi bà A-ung San Su Ky, lãnh tụ phe đối lập, Chủ tịch Đảng Liên minh quốc gia vì dân chủ Mi-an-ma bị chính quyền cầm tù
(4) “198 methods of nonviolent action” - Đây cũng là một cuốn sách đã xuất bản của Giên Sáp-pơ
(5) Một dạng thức chiến tranh mà chủ thể tiến hành sử dụng chủ yếu các biện pháp phi quân sự được hỗ trợ bằng hành động quân sự với mục đích lật đổ chính quyền đương nhiệm của một quốc gia không cùng quỹ đạo; bắt đầu bằng “diễn biến hòa bình” tạo bất ổn, gây biến động, bạo loạn, khủng bố, xung đột, nội chiến, can thiệp quân sự... và kết thúc bằng hành động xâm lược quy mô lớn 
(6) Theo số liệu thống kê của Cục Bảo vệ an ninh quân đội, hiện nay, các thế lực thù địch đang sử dụng trên 40 đài phát thanh, truyền hình; 400 tờ báo và tạp chí tiếng Việt; 66 nhà xuất bản để tuyên truyền chống phá Việt Nam

Tapchicongsan.org.vn

Nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước Việt Nam

 

Trong quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước luôn chú ý lợi dụng vấn đề tôn giáo, coi đây là một trong những mũi tiến công chủ đạo nhằm thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Do đó, việc nhận diện và đấu tranh với hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Tính đến tháng 9/2021, Việt Nam có 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với gần 26 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước. Ngoài ra, còn có khoảng 140 tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân với khoảng 1 triệu tín đồ, đa phần sinh hoạt tại gia hoặc thuê, mượn địa điểm sinh hoạt tôn giáo, không có cơ sở thờ tự. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước luôn nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả hết sức quan trọng, được dư luận trong nước và quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Hệ thống chính sách, pháp luật về tôn giáo được kịp thời bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và phù hợp với những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Các tổ chức tôn giáo được tạo thuận lợi trong hoạt động và ngày càng phát triển về mọi mặt; đồng bào các tôn giáo ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, gắn bó, đồng hành với dân tộc. Một số lễ trọng của các tôn giáo lớn như: Lễ Phật đản, Lễ Giáng sinh… đã trở thành lễ hội chung của đông đảo nhân dân, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch không chấp nhận thực tế trên và chúng ráo riết tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt, những năm gần đây, lợi dụng chính sách đối ngoại và chính sách tôn giáo của ta ngày càng cởi mở hơn, các đối tượng gia tăng lợi dụng vấn đề tôn giáo để tạo sức ép từ bên ngoài, tìm cách gây mất ổn định an ninh chính trị ở bên trong, nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nổi lên hiện nay là một số hoạt động sau:

Một là, tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền tự do tôn giáo. Lợi dụng tính chất nhạy cảm của tôn giáo và một số hạn chế, thiếu sót của chính quyền các địa phương trong công tác tôn giáo, thời gian qua, các thế lực thù địch cùng với bọn phản động trong và ngoài nước đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng cho rằng, hệ thống chính sách pháp luật về tôn giáo của Việt Nam không tương đồng với luật pháp quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo; thậm chí, chúng còn trắng trợn xuyên tạc việc xây dựng, ban hành quy định pháp luật về tôn giáo là "thòng lọng" đối với hoạt động của các tôn giáo; xuyên tạc việc xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, hành chính, dân sự… liên quan chức sắc, tín đồ tôn giáo là "đàn áp tôn giáo". Một số cá nhân, tổ chức bên ngoài nhiều lần đơn phương đưa ra cái gọi là "Báo cáo", "Phúc trình" thường niên về tình hình tôn giáo quốc tế; trong đó có nhiều nội dung sai sự thật về tình hình, kết quả công tác tôn giáo tại Việt Nam, qua đó gây áp lực đòi ta phải thay đổi chính sách pháp luật về tôn giáo, lấy vấn đề "tự do tôn giáo" làm điều kiện trong đàm phán hợp tác, đầu tư phát triển tại Việt Nam.

Đáng chú ý, những năm gần đây, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực thông tin, truyền thông, một số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để tán phát, chia sẻ nhiều tài liệu có nội dung vu cáo Đảng, Nhà nước "đàn áp tôn giáo"; công kích số chức sắc, tín đồ tôn giáo tiến bộ, yêu nước, tham gia các tổ chức chính trị - xã hội; kêu gọi các nước lấy vấn đề tự do tôn giáo để làm điều kiện trong việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác song phương cũng như đa phương, qua đó tìm cách can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam. Đặc biệt, có chức sắc còn công khai đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam, tuyên truyền, cổ xúy quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cho rằng "tự do tôn giáo" là quyền, không chịu sự quản lý của Nhà nước, đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang và xây dựng xã hội dân sự Việt Nam theo mô hình các nước phương Tây.

Hai là, lợi dụng các vấn đề tiêu cực trong xã hội, các vụ việc phức tạp liên quan tôn giáo để kích động chức sắc, tín đồ gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, bên cạnh những thành tựu là cơ bản, không tránh khỏi một số hạn chế, khiếm khuyết trong công tác điều hành, quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực như: kinh tế, y tế, môi trường, giáo dục, đất đai, tư pháp…

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước đã và đang ráo riết triển khai nhiều chiến dịch tuyên truyền nhằm thổi phồng các tiêu cực trong xã hội, quy chụp mọi tồn tại, hạn chế hiện nay là do sai lầm trong công tác lãnh đạo của Đảng, yếu kém trong công tác điều hành, quản lý của Chính phủ; từ đó, chúng móc nối, lôi kéo, kích động chức sắc, tín đồ các tôn giáo tổ chức các cuộc tập trung đông người tuần hành, biểu tình với danh nghĩa bảo vệ cuộc sống của người dân, bảo vệ người yếu thế để chống chính quyền; tăng cường phát triển lực lượng chống đối trong các tôn giáo, tạo thế liên tôn, liên kết trong - ngoài nhằm âm mưu tiến hành các cuộc tập dượt cho "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" tại Việt Nam.

Điển hình như, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016, một số chức sắc cực đoan trong Công giáo với sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động bên ngoài đã tổ chức cho hàng ngàn giáo dân tuần hành, biểu tình gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, chiếm giữ quốc lộ, tỉnh lộ… Các hoạt động này đã gây tình hình phức tạp nghiêm trọng về an ninh trật tự, trực tiếp xâm hại đến hoạt động bình thường của chính quyền cơ sở, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền.

Đặc biệt, những năm gần đây, trước tình hình tranh chấp, khiếu kiện và vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng liên quan tôn giáo diễn ra phức tạp, một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo đã lợi dụng chiêu bài "bảo vệ quyền lợi của giáo hội" để kích động số đông quần chúng tín đồ gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, gây ảnh hưởng để việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều địa phương. Thậm chí, nhiều vụ việc bị "chính trị hóa", "quốc tế hóa", từ vụ việc khiếu kiện đất đai đơn thuần đã trở thành điểm nóng về an ninh trật tự, điển hình như vụ 178 Nguyễn Lương Bằng, 42 Nhà Chung (Hà Nội), vụ giáo xứ Cồn Dầu (Đà Nẵng), vụ chùa Liên Trì (TP. Hồ Chí Minh)… đã bị các thế lực thù địch lợi dụng can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam.

Ba là, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc để kích động tư tưởng ly khai, tự trị. Lợi dụng một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu…, thời gian qua các thế lực thù địch và bọn phản động lập ra nhiều tổ chức núp bóng dưới danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, lôi kéo đồng bào dân tộc; để từ đó, dùng thần quyền, giáo lý chi phối họ tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

Điển hình như: tại Tây Nguyên, năm 1999, số đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ đã tuyên bố thành lập cái gọi là “Nhà nước Đềga”, đồng thời chúng móc nối với số đối tượng phản động trong các dân tộc thiểu số ở hai tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai lập ra cái gọi là “Tin lành Đề ga” để lôi kéo, tập hợp đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên tham gia “Nhà nước Đề ga” dưới ngọn cờ tôn giáo và dân tộc để kích động ly khai thành lập nhà nước cho người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; tại Tây Nam Bộ, số đối tượng phản động tăng cường sử dụng Internet, báo, đài nhằm kích động tư tưởng “ly khai” vào vùng đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, lập “Chính phủ Khmer Krôm lưu vong”, tiến đến thành lập “Nhà nước Khmer Krôm” trên vùng đất Tây Nam Bộ…; tại vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, số đối tượng phản động, cốt cán hoạt động “Nhà nước Mông” chủ trương phát triển cơ sở trong đạo Tin lành để tập hợp lực lượng, ráo riết móc nối, lôi kéo số chức sắc, số cầm đầu các điểm nhóm đạo Tin lành tham gia thành lập “Nhà nước Mông” tự trị…

Trên cơ sở nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước nói trên, thời gian tới để góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, các ban ngành chức năng và cấp ủy, chính quyền các địa phương cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tăng cường công tác tuyền truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Đảng, Nhà nước để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, tuân thủ nghiêm pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo cũng như quy định khác liên quan. Công tác tuyên truyền cần được tiến hành thường xuyên, liên tục và với nhiều hình thức đa dạng, đi vào đời sống của người dân.

Hai là, tiếp tục quan tâm củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo để chủ động phát hiện những sơ hở, thiếu sót và kịp thời có biện pháp khắc phục. Tổ chức tốt việc nắm bắt tâm tư, giải quyết những nguyện vọng chính đáng của đồng bào chức sắc, tín đồ các tôn giáo.

Ba là, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, nhất là địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo. Phải coi đây là một công tác trọng tâm, cơ bản đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, sự điều hành quản lý của chính quyền và huy động được các ngành, các cấp cùng tham gia.

Bốn là, thực hiện tốt công tác tranh thủ chức sắc, người có uy tín trong các tôn giáo nhằm thúc đẩy xu hướng hoạt động tôn giáo thuần túy, tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng dân tộc. Chú trọng phát huy vai trò của chức sắc, người có uy tín trong tôn giáo trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước và góp phần giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong tôn giáo.

Năm là, kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.

Thiếu tá Đỗ Xuân An, Cục An ninh nội địa, Bộ Công an

Cand.com.vn

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ trong Quân đội

 

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ Quân đội nói chung, đội ngũ sĩ quan trẻ nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh. Điều đó đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp toàn quân, cần có nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quan trọng này.

Đội ngũ sĩ quan trẻ là lực lượng “rường cột” kế tục sự nghiệp cách mạng trong Quân đội, hay nói cách khác, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ này. Đảng ta đã chỉ rõ, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “giặc nội xâm” đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đội ngũ sĩ quan trẻ, ít nhiều cũng có những biểu hiện suy thoái như Đảng ta đã chỉ ra. Tuy nhiên, sự suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ thường hay biểu hiện trước và có khả năng làm trầm trọng suy thoái về tư tưởng chính trị và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi, họ là thế hệ trẻ, đang cần tiếp tục được rèn luyện về nhân cách. Đạo đức, lối sống là điều căn bản, gốc của nhân cách mà bị suy thoái, thì khi đó con người cũng dễ đánh mất mình. Khi giá trị làm người đã không giữ được thì sĩ quan trẻ rất dễ ngả nghiêng, dao động về lập trường tư tưởng và bị dụ dỗ, mua chuộc, từ đó suy thoái, biến chất là điều khó tránh khỏi.

Suy thoái về đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là trạng thái suy giảm và sa sút dần về phẩm chất đạo đức, xuống cấp về lối sống, lệch lạc trong nhận thức và thực hành các giá trị chuẩn mực đạo đức, lối sống, không tương xứng với chuẩn mực, yêu cầu nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”. Biểu hiện sự suy thoái của đội ngũ cán bộ này cũng là những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra, nhưng thường biểu hiện và có nguy cơ trầm trọng hơn ở những mặt, như: sống thực dụng, ích kỷ, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn của đồng đội, háo danh, thổi phồng thành tích, che dấu khuyết điểm, “chạy chức”, “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, quân phiệt, quan liêu, thiếu sâu sát đơn vị, lười biếng, ngại khổ, ngại khó, ngại rèn luyện, v.v.

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ là vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài. Cấp bách bởi vì sự suy thoái này làm hư hỏng đội ngũ sĩ quan trẻ, từ đó làm cho hoạt động của bộ máy chỉ huy, tổ chức đảng trong Quân đội suy yếu: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”1. Đây cũng là vấn đề lâu dài, bởi vì không phải làm một lần là xong. Và sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là việc làm thường xuyên, như “rửa mặt” hàng ngày. Hơn nữa, đấu tranh với những hư hỏng, suy thoái trong mỗi con người có lúc còn khó hơn chống giặc ngoại xâm, vì nó là kẻ thù vô hình ở trong chính bản thân mỗi chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh: “Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi. Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không trông thấy”2. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, đối với nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ những giá trị gần gũi, như: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tiền bạc, lợi ích kinh tế có sức thu hút và quan tâm hàng đầu, đôi khi còn trên cả các giá trị tinh thần. Những mặt trái của nó đã, đang làm giới trẻ, trong đó có đội ngũ sĩ quan trẻ có xu hướng quá đề cao giá trị vật chất và xem nhẹ giá trị đạo đức, tinh thần. Những tiêu cực đó làm cho lối sống tự do cá nhân cực đoan, thực dụng, thích hưởng thụ vượt quá khả năng bảo đảm của gia đình, xã hội ngày càng nảy nở. Đội ngũ sĩ quan trẻ, nếu không nghiêm túc rèn luyện đạo đức, lối sống sẽ rất dễ bị những tác động tiêu cực trên chi phối. Để chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ, cần thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là một trong những nội dung cơ bản của công tác bồi dưỡng cán bộ. Tuy nhiên, trong thực tế đôi khi vì quá nhấn mạnh yêu cầu về năng lực chuyên môn của đội ngũ sĩ quan trẻ mà công tác giáo dục đạo đức, lối sống chưa được coi trọng đúng mức, đặc biệt là lĩnh vực thực hành đạo đức. Việc thực hành đạo đức, lối sống chuẩn mực đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ phải tự nguyện, tự giác chứ không chỉ xuất phát bằng mệnh lệnh. Khi đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ đạt tới chuẩn mực, thì suy nghĩ, lời nói và hành động luôn thống nhất với nhau; luôn đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc, Nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; hết lòng, hết sức thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong khi đó, những phẩm chất này không phải lúc nào cũng tự nhiên, có sẵn mà phải thông qua giáo dục, rèn luyện; do đó, thực hiện tốt giải pháp này càng có ý nghĩa quan trọng. Để đạt hiệu quả trong giáo dục, lãnh đạo, chỉ huy mỗi đơn vị phải xây dựng được môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh để tạo dư luận tích cực trong đấu tranh, phê phán những hành vi đạo đức, lối sống thiếu chuẩn mực của đội ngũ sĩ quan trẻ. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; bởi, nó là kẻ thù của đạo đức cách mạng, là căn nguyên của sự suy thoái đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ. Do đó, cần phải thường xuyên, kiên trì lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tấm gương tích cực để cổ vũ, lan tỏa những hành vi đạo đức, lối sống chuẩn mực.

Hai là, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình. Đây là vũ khí sắc bén, nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Khéo sử dụng tự phê bình và phê bình là phương cách tốt nhất để rèn luyện đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Tuy nhiên, đó là vấn đề liên quan đến phẩm chất, nhân cách và lợi ích của con người nên rất nhạy cảm, dễ làm tổn thương đồng chí, đồng đội. Thậm chí, trong thực tiễn, có một số người còn bao biện, cho rằng, tự phê bình và phê bình là cần thiết, nhưng nên “nhẹ nhàng”, “nhân văn”, thông cảm, “vuốt ve nhau”, bởi ai chẳng có lúc va vấp,… nên dễ dàng cho qua những sai lầm, vi phạm đạo đức, lối sống của đồng đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”3. Đại đa số sĩ quan trẻ được sinh hoạt, rèn luyện trong các tổ chức đảng. Vì vậy, thường xuyên, kiên trì thông qua tự phê bình và phê bình thẳng thắn, trung thực là phương cách tốt nhất để đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Tự phê bình và phê bình trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ chỉ có hiệu lực, hiệu quả khi cấp trên, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cấp ủy các cấp tự giác nêu gương về đạo đức, lối sống. Nếu người đứng đầu và cấp ủy không gương mẫu, không đặt lợi ích của tập thể lên trên hết, trước hết thì tự phê bình và phê bình dễ bị biến tướng trở thành nơi nịnh bợ cấp trên, “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh hoặc lợi dụng phê bình để trù dập, hạ bệ lẫn nhau.

Ba là, làm tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ. Với ưu điểm được đào tạo cơ bản, nhanh nhạy với sự phát triển khoa học, kỹ thuật và trong tương lai nhiều sĩ quan trẻ sẽ tiếp tục trưởng thành, nắm giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy cao cấp trong Quân đội. Do đó, thông qua thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần thường xuyên bồi dưỡng đạo đức, lối sống cho đội ngũ sĩ quan trẻ. Cương quyết không bổ nhiệm sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đặc biệt là suy thoái về đạo đức, lối sống lên vị trí cao hơn.

Về cơ bản, đội ngũ sĩ quan trẻ có khát vọng cống hiến, năng nổ, nhiệt tình công tác. Thực hiện tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ chính là động lực cơ bản, quan trọng để họ phấn đấu, cống hiến và tự rèn luyện đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, do tuổi đời còn trẻ, chưa trải qua nhiều gian khổ, nên khi gặp khó khăn, một bộ phận dễ nản chí. Do đó, cần phải tiếp tục rèn luyện, thử thách đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Kịp thời đề xuất quy hoạch, tạo điều kiện phát triển cho sĩ quan trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng thời, có cơ chế, biện pháp bảo vệ sĩ quan trẻ dám nghĩ, dám làm, tiên phong trong công tác.

Bốn là, thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, giám sát đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là nội dung rất quan trọng, xuyên suốt trong ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức, lối sống đối với đội ngũ sĩ quan trẻ; bởi nó thể hiện sự chủ động của cấp ủy, chỉ huy các cấp, lấy phòng ngừa là chính. Khi chủ động phát hiện, ngăn ngừa hành vi suy thoái đạo đức, lối sống sẽ góp phần hạn chế tổn thất, ngăn ngừa sự suy thoái của đội ngũ sĩ quan trẻ khi sự vi phạm còn nhỏ, mới hình thành. Quá trình kiểm tra, giám sát cần gắn việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ sĩ quan trẻ với cam kết của bản thân trong chấp hành kỷ luật, quy định về cán bộ, đảng viên của Đảng, cũng như thực hiện chỉ tiêu các phong trào thi đua của Quân đội và đơn vị. Khi phát hiện, sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội cần xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, tuyệt đối không bao che, dung túng cho hành vi vi phạm. Đó cũng là biện pháp để chủ động ngăn ngừa đẩy lùi sự suy thoái từ sớm, từ xa, đưa hoạt động xây dựng chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào thực chất, đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, tổng hợp nhiều biện pháp. Quá trình đó, đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ và cấp ủy, chỉ huy các cấp phải nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đặc biệt là phòng, chống sự suy thoái đạo đức, lối sống. Khi giữ được đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh thì những khuyết điểm, sự suy thoái khác sẽ ít dần đi.

Thiếu tướng, PGS, TS. KIM NGỌC ĐẠI, Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị
__________________