Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

Nhận diện, đấu tranh với biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân - từ chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân của Đảng ta hiện nay

 TCCS - Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân nói riêng; Người đã đưa ra nhiều chỉ dẫn quan trọng về chống chủ nghĩa cá nhân. Trong bối cảnh mới, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng lớn lao của quần chúng nhân dân.

Hội Chữ thập đỏ tỉnh Hòa Bình triển khai chương trình “Chung tay vì sức khỏe cộng đồng” tổ chức phiên chợ nhân đạo, nhằm giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn_Ảnh: TTXVN

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân

Bản chất của chủ nghĩa cá nhân

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, đặc thù đối tượng để chỉ rõ, nêu ví dụ hoặc đưa ra những so sánh phù hợp mô tả, giúp mọi người hiểu thế nào là chủ nghĩa cá nhân. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thuật ngữ chủ nghĩa cá nhân, Người so sánh “chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc”(1), “là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác”(2); “là kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội”(3)... Mặt khác, Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa cá nhân là tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, tách rời, coi thường và đối lập với lợi ích chung của tập thể, cộng đồng, xã hội; thể hiện tập trung ở khuynh hướng cực đoan, làm cho lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, cộng đồng, trái ngược với yêu cầu chăm lo đến lợi ích cá nhân chính đáng; sẵn sàng “đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc”(4) và “chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”(5).

Như vậy, chủ nghĩa cá nhân là hệ thống quan điểm, thái độ, hành vi của chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu lợi ích của chủ thể ấy trên cơ sở tuyệt đối hóa vai trò và lợi ích cá nhân, tách rời và đối lập, làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng, xã hội.

Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

Qua nhiều tác phẩm, bài phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cá nhân, bởi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân rất đa dạng, biến hóa “muôn hình vạn trạng”. Tổng hợp các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể khái quát biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng 10 “căn bệnh” sau:

1- Bệnh quan liêu: nghĩa là trong công việc thì trọng hình thức mà không xem xét toàn diện, không vào sâu vấn đề, không sát với công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng.

 2- Bệnh tham lam: “bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”(6), trong những trường hợp nhất định thường sinh ra tham ô, lãng phí, đây là một thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”, là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân.

3- Bệnh lười biếng: “không chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ”(7) và còn là lười suy nghĩ, ngại làm việc, lười đổi mới, sáng tạo,...

4- Bệnh kiêu ngạo: những người mắc bệnh này thường nghĩ rằng cái gì họ cũng biết, cũng làm được, dẫn đến coi thường tổ chức “xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng”(8).

5- Bệnh hiếu danh: theo Người, “những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”(9).

6- Bệnh “hữu danh vô thực”: loại bệnh này có biểu hiện là “làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch”(10).

7- Bệnh cận thị: nghĩa là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng, “không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ”(11).

8- Bệnh tị nạnh: nghĩa là luôn so sánh hơn thiệt giữa mình với người khác, luôn đòi hỏi sự bình đẳng nhưng thực chất họ “không hiểu rằng: Người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng”(12).

9- Bệnh xu nịnh: biểu hiện của căn bệnh này là “trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu(13); “theo gió bẻ buồm, không có khí khái”(14).

10- Bệnh a dua và kéo bè kéo cánh: biểu hiện của căn bệnh này là chỉ dùng những người bảo vệ lợi ích của mình (dù không có tài); ham dùng người nhà, anh em quen biết, bè bạn; những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực,...

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thứ bệnh trên đều do một thứ “vi trùng độc” là chủ nghĩa cá nhân sinh ra; tất cả cán bộ, đảng viên mắc các loại bệnh này là sa vào chủ nghĩa cá nhân và đều có tội với Đảng, với nhân dân.

Sự cần thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân

Trước tiên, chống chủ nghĩa cá nhân nhằm mục tiêu xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng thời, phát hiện và loại bỏ “căn bệnh” này khỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trước yêu cầu phát triển của cách mạng, nếu cán bộ, đảng viên không được giáo dục, tổ chức tốt, không tự rèn luyện tốt thì sẽ nảy sinh những tiêu cực, thoái hóa xuất phát từ chính chủ nghĩa cá nhân. Do vậy, “để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng”(15), chúng ta phải kịp thời phát hiện và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm: “chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”(16). Vì vậy, để xây dựng và hoàn thiện giá trị đạo đức cách mạng thì nhất thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, đồng thời nuôi dưỡng, bồi đắp tinh thần tập thể.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu “chống”, mà còn phải “trừ bỏ, quét sạch, tiêu diệt” chủ nghĩa cá nhân. “Xây” và “chống” có mối quan hệ hữu cơ với nhau ở chỗ xây dựng đạo đức cách mạng đi đôi với đấu tranh loại bỏ và chống ảnh hưởng xấu của chủ nghĩa cá nhân; xây dựng đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa gắn liền với việc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và các tàn dư tư tưởng. Người phân tích, ví như chúng ta mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới, thì trước khi kê vào phòng, cần phải quét dọn nhà cửa sạch sẽ đã. Do đó, phải “quét sạch” hết chủ nghĩa cá nhân ra khỏi tư tưởng của từng cán bộ, đảng viên thì mới có thể xây dựng được đạo đức cách mạng, con người mới.

Thứ hai, chống chủ nghĩa cá nhân góp phần xây dựng xã hội mới tốt đẹp, đúng bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cần xây dựng xã hội mới, một xã hội “cần, kiệm, liêm, chính”. Xuất phát từ mục tiêu của cách mạng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận diện kẻ thù nguy hiểm nhất, trực tiếp nhất là chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, “chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(17). Nói cách khác, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa... Muốn thành người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phải chống chủ nghĩa cá nhân”(18), bởi chủ nghĩa xã hội hướng tới giải phóng con người khỏi áp bức, bất công và xây dựng nền dân chủ thật sự gắn với sự công bằng, văn minh vì lợi ích chân chính của cộng đồng.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) chỉ rõ: “nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở... Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(19). Đây chính là những biểu hiện tập trung nhất của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do đó, chủ nghĩa cá nhân chính là kẻ địch “nội xâm” của những người cộng sản, là “kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”(20).

Quán triệt quan điểm về chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều văn bản quan trọng để cụ thể hóa chủ trương của Đảng về công tác xây dựng Đảng(21). Để thực hiện tốt quyết tâm chính trị đó, trên cơ sở quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, Đảng và Nhà nước ta trong thời gian tới cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản trong thời gian tới:

Nhóm giải pháp về tổ chức đảng

Trước tiên, “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”(22). Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân chỉ thực sự hiệu quả khi mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng, đường lối của Đảng; tiêu chuẩn, tư cách đạo đức của người cộng sản. Yêu cầu đặt ra là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải chú trọng công tác giáo dục nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên qua tổ chức học tập chính trị kết hợp với rèn luyện trong thực tiễn. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị(23); việc quán triệt phải song song với tuyên truyền sâu, rộng để cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính chất quan trọng của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, từ đó tạo ra sự đồng thuận, quyết tâm, tự giác đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân ở mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”(24) nhằm tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc và có lý, có tình. Đồng thời, Đảng ta cần phát huy vai trò của nhân dân trong hoạt động giám sát, lên án và phê bình cán bộ, đảng viên có biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; có cơ chế khuyến khích việc phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân; làm tốt công tác tiếp nhận, xử lý thông tin và bảo vệ người tố cáo.

Thứ ba, thực hiện “sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”(25) và “kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh”(26). Bởi, chi bộ là tổ chức tế bào của Đảng, tạo thành nền tảng của Đảng, là nơi thể hiện đầy đủ các mặt hoạt động và sức chiến đấu của Đảng. Do đó, yêu cầu đặt ra trong sinh hoạt chi bộ là mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Mỗi đảng viên phải chịu sự quản lý của chi bộ, tham gia sinh hoạt chi bộ nghiêm túc dù ở bất kỳ cương vị công tác nào. Đồng thời, việc thi hành kỷ luật Đảng phải nghiêm minh, tránh bao che hoặc trù dập, trả thù lẫn nhau; kiên quyết sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phần tử cơ hội, thực dụng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân.

Thứ tư, để chống chủ nghĩa cá nhân thì “công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(27), nhằm thể hiện tính răn đe đối với cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Vì vậy, công tác kiểm tra phải được tiến hành một cách có tổ chức, bài bản và khoa học. Không để tạo ra “vùng cấm”, không “ưu tiên” bất cứ cá nhân và tổ chức nào, không mắc “bệnh thành tích”, “bệnh hình thức” trong kiểm tra. Để công tác kiểm tra của Đảng phát huy hiệu quả, cần chú trọng kiểm tra, đánh giá năng lực, phẩm chất đạo đức người đứng đầu trong công tác lãnh đạo, quản lý; đồng thời, tiến hành kiểm tra, đánh giá thái độ tích cực của cán bộ, đảng viên với công việc, với nhân dân; kiểm tra, đánh giá kết quả tu dưỡng đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao của cán bộ, đảng viên.

Cán bộ, đảng viên hướng dẫn đồng bào Pa Dí ở xã Tung Chung Phố, huyện biên giới Mường Khương, tỉnh Lào Cai kỹ thuật trồng quýt cho giá trị kinh tế cao_Ảnh: TTXVN 

Nhóm giải pháp về sự tự ý thức rèn luyện của cán bộ, đảng viên

Trước tiên, mỗi cán bộ, đảng viên cần xác định một cách rõ ràng trong nhận thức, “phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”(28) và “phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”(29). Mỗi cán bộ, đảng viên không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc, cho nhân dân; nếu khi lợi ích chung của Đảng, của Tổ quốc mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân thì sẵn sàng hy sinh lợi ích của cá nhân; kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên “phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”(30). Bởi lẽ, Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và cả dân tộc. Đảng chỉ có sức mạnh nếu giữ vững được mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Muốn làm cho quần chúng phấn khởi, tin tưởng, người đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân; không lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai.

Thứ ba, cán bộ, đảng viên “phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”(31). Mỗi cán bộ, đảng viên cùng với đạo đức cách mạng còn phải có năng lực và trình độ, vì có năng lực mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phải ra sức học tập nâng cao hiểu biết về đường lối, chủ trương của Đảng và trình độ chuyên môn; có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn, lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải đi đôi với hành.

Nhóm giải pháp bảo đảm về điều kiện, môi trường làm việc

Trước tiên, huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an sinh xã hội. Bởi, kinh tế - xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống được bảo đảm, nguồn vốn tích lũy không ngừng tăng cao là điều kiện thuận lợi để hạn chế sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân hiệu quả. Để huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế; phát triển kinh tế nhanh và bền vững, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân...

Thứ hai, xây dựng và triển khai thực hiện quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức công vụ của cán bộ, đả#ng viên. Các chuẩn mực và quy tắc ứng xử công vụ cần được xây dựng theo hướng hài hòa giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, tăng cường tính công tâm và thanh liêm trong giải quyết công vụ; đồng thời, xây dựng quy định về xử lý kỷ luật. Các quy tắc đạo đức phải hướng vào điều chỉnh việc nhận quà biếu, cấm hối lộ và các hình thức lạm dụng công quyền để thu vén lợi ích cá nhân.

Thứ ba, xây dựng môi trường làm việc thân thiện, đoàn kết, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ, đảng viên yên tâm công tác, rèn luyện và phấn đấu. Xây dựng và phát huy lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam. Kịp thời ngăn chặn thông tin sai trái tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhất là trên không gian mạng. Tăng cường quản lý và định hướng thông tin, kịp thời ngăn chặn thông tin xấu, độc, thông tin cổ xúy lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân trên không gian mạng.

Thứ tư, phải “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín với nhân dân”(32).

1- Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đủ sức ngăn chặn các hành vi lạm quyền, chuyên quyền, sử dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân. Xây dựng chế độ giám sát quyền lực thông qua các hình thức: chế độ giám sát của Hội đồng nhân dân, chế độ giám sát trong nội bộ Đảng, chế độ giám sát trong bộ máy nhà nước; có cơ chế khuyến khích người phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện chủ nghĩa cá nhân bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân.

2- Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường và nâng cao hiệu quả việc lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài... Nâng cao chất lượng công tác đánh giá đúng, chính xác chất lượng cán bộ để biết đâu là cán bộ tốt, đâu là cán bộ yếu kém, vi phạm để sàng lọc; nếu vi phạm nghiêm trọng thì loại bỏ. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”.

3- Xây dựng chế tài đủ mạnh đối với hành vi cố ý “không làm” của các cơ quan công quyền, của đội ngũ cán bộ, đảng viên có quyền quyết định chính sách khi họ có đủ thông tin về một chính sách có lợi cho đất nước, cho nhân dân, nhưng cố tình trì hoãn hoặc không quyết định vì mục đích vụ lợi cá nhân, lợi ích nhóm./.

--------------------------

TÍNH TẤT YẾU XÂY DỰNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Đạo đức là yếu tố quan trọng cấu thành nền tảng tinh thần xã hội, là một trong những tiêu chí phản ánh sự tiến bộ, văn minh của chế độ xã hội, đồng thời tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống.
Mặc dù trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp, song đồng thời có tính dân tộc và tính nhân loại. Đạo đức của giai cấp tiến bộ, cách mạng thường đại diện cho đạo đức của dân tộc và nhân loại nói chung trong mỗi thời đại lịch sử cụ thể.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo, uy tín của mình bằng bản lĩnh, trí tuệ, sự nêu gương về đạo đức và phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên nối tiếp nhau qua nhiều thế hệ. Vì thế, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, khẳng định cơ đồ, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước ta.
Ở mỗi giai đoạn của sự nghiệp cách mạng, yêu cầu về phẩm chất, đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên mang những nét đặc thù riêng, gắn với nhiệm vụ cụ thể. Trong giai đoạn hiện nay, sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc đặt ra nhiều yêu cầu, nhiệm vụ mới, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tiếp tục nêu cao đạo đức cách mạng, thực sự tiên phong, gương mẫu bởi, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là những phẩm chất tiêu biểu, đặc trưng, ở mức cao hơn đại chúng, đồng thời đòi hỏi phải được thực hiện nghiêm túc, tốt hơn so với những người không phải cán bộ, đảng viên.
Những năm qua, việc xây dựng các chuẩn mực đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên được Đảng ta đặc biệt chú trọng. Trên cơ sở đó, Chính phủ và các ban, bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương cũng đã tiến hành xây dựng, công bố, tổ chức thực hiện các chuẩn mực về đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử... gắn với các cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương. Thực tế cho thấy, tuy đã có nhiều quy định về chuẩn mực đạo đức ở các cấp độ khác nhau, song còn khá dàn trải, đôi khi chồng chéo, khó nhớ, khó kiểm tra, đánh giá và cũng chưa có sự nhất quán, thông suốt từ Trung ương đến địa phương, gây nhiều khó khăn trong triển khai thực hiện.
Việc xây dựng, ban hành hệ chuẩn mực đạo đức cách mạng đảm bảo tính đồng bộ, dễ nhớ, dễ thực hiện, làm căn cứ cho việc triển khai thực hiện ở tất cả các ban, bộ, ngành, địa phương trên toàn quốc, đáp ứng nhiệm vụ cách mạng trong bối cảnh mới là điều có ý nghĩa thiết thực, xuất phát từ những yêu cầu cơ bản sau:
Một là, xuất phát từ yêu cầu tự tu dưỡng đạo đức cá nhân, hoàn thiện tư cách người cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phục vụ nhân dân trong giai đoạn mới.
Trước thực trạng đạo đức xã hội diễn biến phức tạp, nhất là tình trạng tha hóa đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; sự tự rèn luyện bản thân có phần bị xem nhẹ thì vấn đề tu dưỡng đạo đức cá nhân theo những chuẩn mực đạo đức cách mạng đang đặt ra như một yêu cầu bức thiết đối với cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền hiện nay.
Mỗi cán bộ, đảng viên thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng sẽ có dũng khí vượt qua thách thức của cuộc sống để cống hiến; gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, không rụt rè, lùi bước, gặp thuận lợi và thành công vẫn khiêm nhường, không sa vào hưởng thụ, quan liêu, kiêu ngạo, hủ hóa. Mặt khác, sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc rèn luyện, tu dưỡng theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng có ảnh hưởng tích cực, to lớn đến quần chúng nhân dân; ngược lại, sẽ có ảnh hưởng tiêu cực và để lại những hậu quả không nhỏ, bởi “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
Xây dựng các chuẩn mực đạo đức cách mạng không chỉ là căn cứ để cán bộ, đảng viên rèn luyện, tự điều chỉnh nhận thức và hành vi ứng xử trong công việc và cuộc sống hằng ngày. Đó còn là cơ sở cho việc giáo dục đạo đức cách mạng, hình thành đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài, đủ uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
Vì thế, Văn kiện Đại hội XIII xác định: “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày”.
Hai là, xuất phát từ yêu cầu xây dựng Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh”; phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời làm căn cứ cho việc đánh giá cán bộ, đảng viên; ngăn ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; qua đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Những năm qua, công tác xây dựng Đảng về đạo đức có nhiều chuyển biến tích cực, được nhân dân đồng tình, tin tưởng. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương có những quy định riêng về các chuẩn mực đạo đức gắn với đặc điểm, nhiệm vụ cụ thể, làm căn cứ cho việc rèn luyện, phấn đấu và đánh giá, quản lý cán bộ, đảng viên.
Tuy nhiên, Văn kiện Đại hội XIII cũng đã chỉ rõ: “công tác xây dựng Đảng về đạo đức vẫn còn có những hạn chế”; “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp”. Hiệu quả thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên chưa cao, chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng.
Điều đó đòi hỏi phải xây dựng các chuẩn mực đạo đức cách mạng thống nhất, phù hợp với điều kiện và yêu cầu mới để từng cán bộ, đảng viên định hình mục tiêu rèn luyện, phấn đấu, đồng thời là căn cứ để các cấp ủy Đảng đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, đảng viên một cách hiệu quả, thiết thực.
Mặt khác, xây dựng được các chuẩn mực đạo đức cách mạng và qua sự tự giác tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ đảng viên sẽ không ngừng lan tỏa các chuẩn mực đạo đức ấy trong toàn xã hội, nêu cao tính tiền phong gương mẫu của người cán bộ cách mạng trong điều kiện mới; là cơ sở để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng thông qua tấm gương điển hình của mỗi cán bộ, đảng viên.
Ba là, xuất phát từ yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, góp phần đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực.
Đạo đức và pháp luật hỗ trợ nhau để hướng con người và xã hội đến cái đúng đắn, tốt đẹp. Nếu thiếu đạo đức thì ngay trong công tác xây dựng pháp luật, hiệu quả sẽ không cao, chất lượng của các đạo luật cũng sẽ hạn chế, tính nhân văn của pháp luật dưới chế độ mới không được bảo đảm. Đồng thời, có pháp luật nhưng không có đạo đức, người ta sẽ tìm cách lách luật, thậm chí cố tình vi phạm, bất chấp pháp luật. Do đó, đạo đức có vai trò quan trọng nâng cao chất lượng và tính hiệu quả của pháp luật, góp phần hiện thực hóa pháp luật trong cuộc sống.
Mặt khác, pháp luật cũng chỉ quy định và bao quát trong một giới hạn, một phạm vi nhất định nào đó mà không thể vươn tới mọi phương diện và mọi quan hệ vốn rất đa dạng và phức tạp của cuộc sống. Vì thế, đạo đức góp phần hỗ trợ, bổ sung cho pháp luật khi hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, hoàn thiện; nó góp phần điều chỉnh những lĩnh vực, những mối quan hệ mà pháp luật không hoặc chưa vươn tới. Do đó, nhà nước pháp quyền thượng tôn pháp luật nhưng không xem nhẹ, coi thường đạo đức.
Trước thực tế “Tham nhũng trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với biểu hiện ngày càng tinh vi; tình trạng nhũng nhiễu người dân, doanh nghiệp vẫn còn khá phổ biến, gây bức xúc trong xã hội... Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ” (Văn kiện Đại hội XIII) thì việc xây dựng các chuẩn mực đạo đức cách mạng và giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng sẽ có ý nghĩa thiết thực, khơi dậy lòng tự trọng, thức tỉnh lương tâm và danh dự cá nhân, góp phần ngăn ngừa, hạn chế và từng bước đẩy lùi nguy cơ tham nhũng, tiêu cực, xây dựng môi trường lành mạnh, vì sự tiến bộ của mỗi cá nhân và toàn xã hội.
Bốn là, xuất phát từ yêu cầu định hướng hình thành nền đạo đức mới trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu hội nhập quốc tế, góp phần khắc phục những hiện tượng lệch chuẩn, vô chuẩn về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta đang trong quá trình xây dựng, chưa hoàn thiện, với tất cả sự đa dạng, đầy mâu thuẫn của nó tác động sâu sắc đến đạo đức con người Việt Nam nói chung, đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng. Nó vừa tạo tiền đề cho sự hình thành các chuẩn mực đạo đức mới, song mặt khác, những yếu tố nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng nuôi dưỡng và cổ vũ cho những nhận thức và hành vi lệch chuẩn, vô chuẩn về đạo đức.
Tình hình trên đặt ra nhiệm vụ bức thiết về việc phải sớm xây dựng hệ chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng trong bối cảnh mới.
Trên cơ sở thống nhất nhận thức và hành động của toàn thể cán bộ, đảng viên về chuẩn mực đạo đức cách mạng sẽ đẩy lùi những nhận thức sai trái, vô chuẩn, lệch chuẩn khiến cho một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, ảnh hưởng đến uy tín, thanh danh của Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ, qua đó góp phần khơi dậy ý thức tự giác nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện sai trái, lệch lạc trong đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay phải dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; vừa chứa đựng những giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã được sàng lọc, kiểm chứng trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước; vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa đạo đức của thời đại gắn với nhu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng nước ta trong thời kỳ mới.
Theo đó, những chuẩn mực đạo đức cách mạng cơ bản của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay phải xoay quanh những chuẩn mực cốt lõi: Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; nhân, nghĩa, trí, dũng; cần, kiệm, liêm, chính; chí công vô tư; đoàn kết, trách nhiệm; dân chủ, kỷ cương; tiên phong, gương mẫu.
Những chuẩn mực trên không biệt lập mà có mối quan hệ biện chứng, gắn kết thành một thể thống nhất, tạo nên hệ chuẩn mực đạo đức cách mạng, tiêu biểu cho tư cách của người cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở của hệ chuẩn mực đó, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với từng đối tượng và yêu cầu, nhiệm vụ, công việc cụ thể.
Mặt khác, hệ chuẩn mực đó cũng không đóng kín, bất biến mà đòi hỏi phải không ngừng được bổ sung thêm những chuẩn mực và nội dung mới, với sức sống mới, gắn với yêu cầu của đất nước và thời đại trong từng giai đoạn cụ thể./.
St

MUÔN VÀN TÌNH THƯƠNG YÊU BÁC HỒ DÀNH CHO THIẾU NIÊN VÀ NHI ĐỒNG

 Chúng ta ai cũng qua tuổi thiếu niên, hẳn không bao giờ quên tình cảm yêu thương, những lời ân tình của Bác Hồ. Trong muôn vàn tình thương yêu dành cho thiếu niên, nhi đồng, Người từng nói: “Tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Tất cả trẻ em Việt Nam đều là con của tôi”. Tình cảm, sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của Người qua những bức thư, lời dạy, bài viết gửi đến thiếu niên, nhi đồng cả nước nhân dịp Tết Thiếu nhi, Ngày khai trường, Tết Trung thu… mãi mãi khắc sâu, trở thành tài sản vô giá đối với các thế hệ măng non Việt Nam.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm đặc biệt, sự quan tâm sâu sắc cho các cháu thiếu niên, nhi đồng. Với Người, “trẻ em như búp trên cành” cần được chăm sóc tận tình, chu đáo về mọi mặt. Tình yêu thương của Bác Hồ dành cho thiếu niên, nhi đồng là tình cảm yêu thương vô bờ bến, là một tình cảm sâu sắc, rộng lớn xuất phát từ niềm tin rằng các cháu sẽ trở thành lớp người tiếp tục sự nghiệp của cha ông, những người trực tiếp xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh, văn minh. Niềm tin, sự quan tâm của Bác được thể hiện phần nào qua những vần thơ, bức thư chan chứa tình cảm Người viết cho thiếu niên, nhi đồng, với lời lẽ ân cần, trìu mến, chí tình. Người căn dặn các cháu phải ngoan ngoãn, đoàn kết, thi đua, học tập, lao động, chú ý rèn luyện cả về nhân cách và thể lực để trở thành công dân có sức khỏe và tiến bộ. Người đã đặt niềm tin yêu vào những chủ nhân tương lai của đất nước, rằng:
“… Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu…”.
Trong mỗi giai đoạn của cách mạng cũng như của cuộc đời đầy cống hiến và hy sinh của mình, trẻ em luôn là lớp “công dân đặc biệt” được Bác dành sự quan tâm sâu sát. Chăm lo cho thế hệ trẻ, cho trẻ em thể hiện trong phong cách sống, trong đạo đức, trong tầm nhìn chiến lược và khoa học của Người. Trong Di chúc của mình, Bác Hồ 2 lần nhắc đến nhi đồng. Đoạn mở đầu, Bác viết:
“Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp 2 miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”.
Ở đoạn kết, Bác lại viết:
“Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng”.
Tình thương yêu trẻ luôn thường trực trong Bác. Xúc động biết bao khi đọc bài viết của Bác trước lúc từ biệt thế giới này để gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin và các vị cách mạng đàn anh khác, Bác viết:
“Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ... Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.
Là một nhà giáo dục vĩ đại, Bác Hồ coi trọng việc giáo dục thế hệ trẻ không chỉ ở nội dung mà cả phương pháp dạy học và giáo dục. Nói chuyện với lớp cán bộ đào tạo mẫu giáo, Bác nhắc nhở:
“... Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ như trồng cây non. Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này cháu trở thành người tốt”. Bà Lê Thu Trà kể rằng: Trong một lần bà chuẩn bị cho Bác một bài báo về tình hình công tác thiếu nhi, có đoạn: “ ... Song còn một số ít cháu hư vì chưa được chăm sóc, dạy dỗ đến nơi đến chốn” đọc đến đây Bác dừng lại, nét mặt đăm chiêu, Bác nói: “Nói các cháu hư thì nó sẽ hư mãi. Với các cháu không nên khẳng định là các cháu hư mà nói là các cháu chậm tiến. Chậm tiến tức là chưa tiến bộ, mà chưa tiến bộ, được sự chỉ bảo dìu dắt, giúp đỡ, các cháu sẽ tiến bộ”.
Còn nhớ trong thư Bác Hồ gửi Hội nghị cán bộ phụ trách thiếu nhi tháng 11-1949, Bác căn dặn: “Giáo dục các cháu… phải giữ toàn vẹn tính cách vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hoá ra những người “già sớm”. “Trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần cho chúng học, ở trong nhà, ở trường học, ở xã hội chúng đều vui, đều học... Giáo dục thiếu nhi là một khoa học. Vậy các bạn phải cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm để tiến bộ mãi”.
Về nội dung giáo dục ở các cấp học, Bác nhắc nhở nhiều lần:
“Cần chú trọng hơn nữa về mặt đức dục; Dạy cho các cháu đạo đức cách mạng, biết yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu khoa học, yêu lao động và người lao động, thật thà, dũng cảm, sẵn sàng tham gia lao động và bảo vệ Tổ quốc”.
Ngày 15-5-1961, nhân kỷ niệm 20 năm thành lập đội Thiếu niên Tiền phong, Bác Hồ gửi thư chúc mừng các cháu, trong thư Bác âu yếm dạy các cháu thực hiện 5 điều:
“Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào;
Học tập tốt, lao động tốt;
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt;
Giữ gìn vệ sinh;
Thật thà, dũng cảm”.
Bác căn dặn: Mai sau, các cháu sẽ là chủ của nước nhà, cho nên ngay từ lúc này các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Năm 1964 sau khi Bác nghe bà Lê Thu Trà báo cáo về tình hình thiếu nhi, Bác nói: “Thời gian qua các cháu làm được nhiều việc tốt, nhiều cháu được Bác khen thưởng huy hiệu của Bác. Động viên khen thưởng các cháu là việc nên làm, cần phải làm. Nhưng được khen nhiều các cháu cũng dễ sinh tự kiêu, tự mãn, vì vậy Bác muốn thêm hai chữ “khiêm tốn” vào điều 5, thành: Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”. Bác nói tiếp: “Ba điều trên 6 chữ, hai điều dưới chỉ có 4 chữ, nay thêm hai chữ khiêm tốn và điều 5, còn điều 4 chỉ có 4 chữ: “giữ gìn vệ sinh” mới giữ gìn vệ sinh thôi chưa đủ, với các cháu cần phải giữ gìn vệ sinh thật tốt. Bác thêm hai chữ “thật tốt” vào điều 4”. Như vậy 5 điều của Bác đều có 6 chữ, đủ nghĩa và để các cháu dễ nhớ.
Những điều Bác dạy về nhi đồng, về việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ toát lên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.
2. Thực hiện tư tưởng và Di chúc của Bác Hồ về vị trí, vai trò của thiếu niên, nhi đồng trong đời sống xã hội, Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Hiến pháp, Luật, hàng trăm văn bản để bảo vệ quyền trẻ em. Các văn bản trên tạo thành hệ thống cơ sở pháp lý quan trọng không chỉ khẳng định vai trò chủ thể độc lập của trẻ em trong xã hội, dành cho trẻ em mọi ưu tiên, mọi sự che chở, bảo vệ cao nhất, mà còn là cơ sở để gia đình, các cơ quan, tổ chức có liên quan và Nhà nước có những hoạt động, chính sách phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của trẻ em. Nhà nước đã chi những khoản tiền rất lớn để chăm sóc, giáo dục trẻ em từ khi còn trong bào thai cho đến khi trưởng thành, việc chăm sóc, giáo dục trẻ em còn là một phong trào xã hội rộng lớn mang lại hiệu quả thiết thực và vô cùng quan trọng.
Trong giai đoạn 2011-20212 có nhiều tổ chức, cá nhân hiến đất để xây dựng trường mầm non. “Nhiều già làng, trưởng bản xem việc phổ cập giáo dục mầm non trẻ em là một niềm tự hào. Nhiều bà con ở vùng sâu, vùng xa, tuy kinh tế không phải tốt lắm nhưng đã bán cả nhà và đất để xây trường. Hay nhờ sự chung tay, góp sức của toàn xã hội, phụ huynh tổ chức nấu ăn ở những nơi không có cô cấp dưỡng, để cố gắng huy động các cháu học được 2 buổi/ngày ở vùng khó khăn”. Tổng kết đề án giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi được Chính phủ phê duyệt năm 2010, đến nay mạng lưới trường lớp mầm non được củng cố, mở rộng và phân bố đến hầu hết các địa bàn dân cư xã, phường, thôn, bản. Mỗi phường xã có ít nhất 1 trường mầm non công lập. Cả nước hiện có 15.461 nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non. Trong đó, 12.281 trường công lập (tỷ lệ 79,4%), 3.180 trường ngoài công lập (tỷ lệ 20,6%) với 200.262 nhóm/lớp. Tổng số trường tăng khoảng trên 2.600 trường so với năm 2010. Tổng số trẻ mầm non được đến trường là 5.306.501 trẻ em, đạt tỷ lệ 66,2% (tăng 1.535.018 trẻ so với năm học 2010-2011). Trong đó có 873.654 trẻ nhà trẻ, đạt tỷ lệ huy động 28% (tăng 297.845); 4.432.847 trẻ mẫu giáo, đạt 90,5% (tăng 1.271.418), 1.637.266 trẻ mẫu giáo 5 tuổi, đạt tỷ lệ 99,6% (tăng 333.489).
Đội ngũ giáo viên mầm non (GVMN) được nâng cao cả về số lượng và chất lượng, chế độ chính sách được bảo đảm. Toàn ngành hiện có 364.776 GV, tăng 148.072 GV so với trước; tỷ lệ giáo viên/lớp đạt 1,82 GV/lớp. Sự đổi mới của chương trình GDMN, sự nâng cao về chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đã chuẩn bị cho trẻ về thể chất, tâm lý, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm, kỹ năng xã hội. Nhờ đó, trẻ vào lớp 1 mạnh dạn, tự tin, ham hiểu biết, thích đi học.
Ngoài ra, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm dần qua các năm, tỷ lệ thừa cân béo phì được khống chế. Trẻ em mẫu giáo có hoàn cảnh khó khăn được Nhà nước hỗ trợ tiền ăn trưa. Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ khuyết tật được quan tâm phát hiện sớm, can thiệp sớm và học hòa nhập, góp phần nâng cao tỷ lệ huy động trẻ em đến trường.
Xã hội ta luôn dành những điều kiện tốt nhất để trẻ em vui chơi, học hành. Hằng năm nước ta có tháng hành động vì trẻ em, trong đó có chứa những thông điệp của chương trình “Bảo vệ trẻ em; an toàn hôm nay, bền vững tương lai”; Trẻ em tham gia các diễn đàn “Trẻ em với quyền trẻ em”... Thực tế có rất nhiều em đã trưởng thành và có nhiều đóng góp trong phong trào “Cháu ngoan Bác Hồ” mà điển hình là những tấm gương được biểu dương, tôn vinh trong Đại hội “Cháu ngoan Bác Hồ” hằng năm.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn những yếu kém trong công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Thật đau lòng khi còn nhiều nguy cơ như trẻ em chưa được chăm sóc sức khỏe tốt; trẻ em bị bóc lột và lạm dụng kể cả lạm dụng tình dục; trẻ em lang thang, hư hỏng vì bị bạo hành, ngược đãi và những bất hạnh khác…
Bác đã đi xa, nhưng lòng yêu thương và những lời dạy của Người vẫn luôn đồng hành cùng thiếu niên, nhi đồng mọi thời đại. Lời dạy “Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người” của Bác Hồ đã, đang và sẽ tiếp tục được toàn Đảng, toàn dân ta học tập, làm theo với phương châm “trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”! Nhớ ơn Bác, toàn thể thiếu niên, nhi đồng Việt Nam nguyện cố gắng học tập, tu dưỡng và rèn luyện thật tốt, trở thành con ngoan, trò giỏi để xứng đáng với danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ” như sinh thời Người hằng mong./.
St

NHÌN LẠI 5 LẦN TỔNG THỐNG MỸ THĂM VIỆT NAM: NGƯỜI GẢY ĐÀN BẦU, NGƯỜI ĂN BÚN CHẢ

 Tính đến nay, đã có 4 vị Tổng thống Mỹ với 5 lần thăm Việt Nam. Các Tổng thống Mỹ đương nhiệm từng tới thăm Việt Nam gồm: Tổng thống Bill Clinton (tháng 11/2000), Tổng thống George W. Bush (tháng 11/2006), Tổng thống Barack Obama (tháng 5/2016), Tổng thống Donald Trump (11/2017 và 2/2019).

Tháng 11/2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton có chuyến thăm chính thức Việt Nam. Ông là Tổng thống Mỹ đầu tiên tới Việt Nam, 25 năm sau khi chiến tranh kết thúc.
Tháng 11/2006, Tổng thống Mỹ khi đó là ông George W. Bush và phu nhân đã có chuyến thăm chính thức tới Việt Nam, thu hút sự quan tâm lớn của dư luận hai nước. Chuyến thăm của ông Bush được đánh giá có vai trò quan trọng trong việc giúp Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO.
Sau đó 10 năm, Tổng thống da màu đầu tiên của Mỹ - ông Barack Obama có chuyến thăm Việt Nam vào tháng 5/2016. Chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama là một chuyến đi lịch sử, đánh dấu hai thập niên bình thường hóa quan hệ.
Tổng thống Mỹ Donald Trump đến Việt Nam ngày 10/11/2017. Ông dự Hội nghị Cấp cao APEC tại Đà Nẵng, sau đó đến Hà Nội, thăm cấp Nhà nước.
Tổng thống Mỹ Donald Trump là Tổng thống đầu tiên mà trong nhiệm kỳ hai lần đến Việt Nam. Ở lần thứ hai tháng 2/2019, ông tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-Triều Tiên tại Hà Nội.
Ông Joe Biden sẽ là Tổng thống Mỹ thứ 5 thăm Việt Nam. Đây là lần đầu tiên một tổng thống Mỹ nhận lời mời của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC - HÀNH TRÌNH MANG TẦM THỜI ĐẠI CỦA LÃNH TỤ NGUYỄN ÁI QUỐC

 Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước của vùng đất xứ Nghệ “địa linh nhân kiệt” giàu truyền thống cách mạng, với trí thông minh và sự mẫn cảm về chính trị, ngay từ nhỏ cậu bé Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra cảnh đất nước lầm than đắm chìm trong nô lệ. Thuở ấu thơ được bê nước hầu cha và các bạn của cha đàm đạo việc nước, Nguyễn Tất Thành đã sớm có những suy nghĩ khác biệt về tư tưởng so với nhiều người bạn cùng trang lứa và cả với một số bậc cha chú đương thời về con đường cứu nước.

Ý chí quyết định đi ra nước ngoài tự mình tìm con đường cứu nước, cứu dân đã hình thành trong tư tưởng của người thiếu niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Năm 1905, Nguyễn Tất Thành được cha là ông Nguyễn Sinh Huy (tức ông Nguyễn Sinh Sắc) xin cho theo học lớp dự bị Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh. Tại ngôi trường này, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” và tìm thấy sức hấp dẫn của những mỹ từ đó mà người Pháp đã tuyên truyền. Đi đâu, đến nước nào để tìm con đường cứu nước, cứu dân là những câu hỏi luôn đau đáu trong suy nghĩ của Nguyễn Tất Thành. Và Người đã tìm được câu hỏi trả lời từ chính trong cuộc sống xã hội mà Người đã trải qua. Người muốn tìm hiểu xem cái gì ẩn giấu đằng sau nhiều mỹ từ ấy. Người đã nung nấu ý chí ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác làm ăn ra sao, nhất là xem họ “tổ chức và cai trị như thế nào” rồi sẽ về giúp dân, giúp nước. Độc lập cho Tổ quốc, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho Nhân dân là mục đích, là “ham muốn tột bậc” của Người, là nguồn gốc và động lực sâu xa để ngày 5-6-1911 người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Sài Gòn ra nước ngoài, thực hiện cuộc hành trình vĩ đại tìm đường cứu nước, cứu dân.
Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành đã lên tàu Admiral Latouche-Tréville rời Sài Gòn đi Mác-xây (Pháp). Người đã đi nhiều nước, tiếp xúc nhiều nền văn hóa ở nhiều quốc gia, dân tộc khác nhau. Đi đến đâu Người cũng hòa mình vào phong trào quần chúng nhân dân lao động, chứng kiến nhiều cảnh người nô lệ, hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân và nhận ra đâu là bạn, đâu là thù.
Trong suốt cuộc hành trình tìm đường cứu nước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã trải qua gần 30 quốc gia của 4 châu lục, phải làm rất nhiều nghề cực nhọc khác nhau để kiếm sống, Người đã luôn tự học tập, học hỏi trong bất cứ hoàn cảnh nào và luôn quan sát, độc lập suy nghĩ để tìm ra lời giải cho riêng mình. Hành trình tìm đường cứu nước của Người có những đặc điểm riêng biệt khác với các thế hệ tiền bối và cũng tạo lập ra những nét đặc sắc riêng trong nhận thức, tư tưởng so với các thanh niên, trí thức du học phương Tây cùng thời.
Với hành trang là chủ nghĩa yêu nước - nhân văn Việt Nam và khát vọng giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, trải qua thực tiễn học tập, nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh cách mạng phong phú ở nhiều nước, Người đã nhận thấy vấn đề giải phóng dân tộc và giải phóng con người là một nhu cầu tất yếu và cấp thiết không chỉ ở Việt Nam mà với tất cả các dân tộc thuộc địa và nhân dân lao động bị áp bức trên trên toàn thế giới.
Tháng 7-1920, Người được đọc bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của V.I.Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo (Pháp). Người lập tức đã bị cuốn hút và đã đọc đi, đọc lại nhiều lần. Qua lăng kính của chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người đã tìm thấy ở đó con đường đúng đắn giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân. Đây là sự kiện mang tính bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc vì nó đã đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử và Người đã vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu phong kiến và các nhà hoạt động cách mạng có xu hướng tư sản đương thời.
Nhiều nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh đều có chung quan điểm, một trong những điểm nổi trội và độc đáo nhất của Người so với nhiều danh nhân văn hóa khác trên thế giới là ở chỗ Người đánh giá cao chủ nghĩa dân tộc. Hồ Chí Minh luôn coi chủ nghĩa dân tộc là động lực của đất nước. Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam được sinh ra từ lòng yêu nước muôn đời, rồi qua hàng ngàn năm thử thách, kết tinh thành chủ nghĩa yêu nước, trở thành một văn hóa vĩnh hằng của dân tộc.
Từ tình thương yêu con người đã trở thành khát vọng giải phóng con người, Nguyễn Ái Quốc luôn nung nấu và theo đuổi ý chí tìm đường giải phóng không chỉ cho dân tộc mình mà còn với mọi tầng lớp cùng khổ trên khắp các châu lục. Từ chủ nghĩa yêu nước dân tộc chân chính, Nguyễn Ái Quốc đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa cộng sản.
Xác định con đường của cách mạng Việt Nam đi theo Chủ nghĩa Mác - Lênin là điểm khác về chất của Người so với nhiều nhân vật yêu nước cùng thời. Khi nước nhà mất độc lập cũng là truyền thống yêu nước có điều kiện thể hiện rõ ràng nhất, sinh động nhất, nhưng yêu nước nhiệt thành thì không chỉ có duy nhất là Nguyễn Ái Quốc. Có chí lớn đánh đuổi giặc ngoại xâm, lấy lại đà chấn hưng cho dân tộc Việt Nam không phải chỉ có riêng ở Người. Bằng sự dấn thân và trải nghiệm của cá nhân Người, Người đã khước từ phong trào Đông Du, Duy Tân để tìm thấy ở Chủ nghĩa Mác- Lênin con đường cứu nước và con đường phát triển cho dân tộc một cách đúng đắn.
Với ý chí kiên cường và nghị lực phi thường, sau 30 năm bôn ba vất vả để tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm được đường đi cho dân tộc theo đi, Người đã về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Từ một nước thuộc địa nửa thuộc địa không có tên trên bản đồ thế giới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện, dân tộc Việt Nam đã đứng lên làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám mùa Thu 1945, nở hoa, độc lập, kết trái tự do, làm nên thắng lợi của 2 cuộc kháng chiến trường chinh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giành độc lập cho dân tộc, thống nhất non sông.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ của lịch sử đã là thực tiễn sinh động minh chứng hùng hồn con đường mà Nguyễn Ái Quốc tìm ra, giới thiệu cho lịch sử và để lịch sử lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn. Lịch sử đã chứng minh một cách rõ ràng tính cách mạng và khoa học con đường mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy không chỉ đã khai thông sự bế tắc đường lối giải phóng dân tộc mà còn giải quyết đúng đắn, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các vấn đề trọng yếu nhất của cách mạng Việt Nam. Sứ mệnh lịch sử của dân tộc Việt Nam đã trao cho Người với trách nhiệm là người tìm đường, người mở đường và là người dẫn đường cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam sau nhiều phen sóng gió, thăng trầm của lịch sử.
Tròn 110 năm (5-6-1911 - 5-6-2021) Ngày người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh rời Sài Gòn ra nước ngoài thực hiện cuộc hành trình vĩ đại mang tầm thời đại: cứu nước, cứu dân. Lịch sử ngày càng lùi xa nhưng với tất cả những cống hiến lớn lao của Người trong hành trình đặc biệt đó vì nước, vì dân đã trở thành một tài sản tinh thần to lớn và vô giá của dân tộc Việt Nam.
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, lịch sử đã đặt ra cho dân tộc hai nhiệm vụ cấp bách cần phải giải quyết là đánh đuổi thực dân Pháp để giành lại độc lập cho dân tộc và canh tân đất nước. Hai nhiệm vụ này gắn bó chặt chẽ với nhau, quan hệ biện chứng và hỗ trợ cho nhau không thể tách rời. Tuy nhiên, trong quan hệ giữa 2 vấn đề này thì giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ cấp bách, phát triển đất nước là nội dung quan trọng nhưng mục tiêu này chỉ có thể được thực hiện có hiệu quả khi dân tộc được giải phóng, đất nước được độc lập, nhân dân được tự do. Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đó có công lao vô cùng to lớn trong việc tìm ra con đường giải phóng dân tộc khỏi sự thống trị của chủ nghĩa thực dân.
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân Việt Nam kiên trì, kiên định con đường Người đã tìm ra và lựa chọn, ra sức vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người để đưa sự nghiệp cách mạng của Người để lại vươn những tầm cao mới, thực hiện mong muốn cuối cùng của Người là “đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”./.
St

HIỀN TÀI GẮN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA QUỐC GIA, DÂN TỘC

 “Xây dựng đất nước lấy dạy học làm đầu, tìm lẽ trị bình, tuyển nhân tài làm gấp” (Chiếu khuyến học của vua Quang Trung do Ngô Thì Nhậm soạn). Thực tế cho thấy, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào muốn phát triển đều phải chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, nhân tài. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn khi giáo dục đang trở thành ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam do khoa học cùng với đội ngũ trí thức đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của đất nước ngày nay.

Gương sáng của người xưa
Lê Thánh Tông (1442 - 1497) là một vị minh quân đã đưa Đại Việt đến thời kỳ hoàng kim của chế độ phong kiến mà người đời vẫn lưu truyền về thời “Hồng Đức thịnh trị”. Trong thời gian trị vì từ năm 1460 đến năm 1497, ông đã đề xuất nhiều cải cách trong hệ thống quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dục và luật pháp. Giúp sức cho vị vua hiền này trong việc trị quốc là “lương tướng” Thân Nhân Trung.
Thân Nhân Trung (1419 - 1499), người xã Yên Ninh, huyện Yên Dũng (nay là thôn Yên Ninh, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Ông là một thành viên trong hội Tao Đàn Nhị thập bát tú, được vua Lê Thánh Tông mời vào hoàng cung dạy học cho các hoàng tử, làm tới chức Lại bộ Thượng thư, Chưởng Hàn lâm viện kiêm Đông các đại học sĩ, Nhập nội phụ chính và Tế tửu Quốc Tử giám.
Thân Nhân Trung được vua Lê Thánh Tông tin dùng trong việc tuyển chọn và đào tạo nhân tài. Các kỳ thi hương và thi hội ông đều đóng góp tích cực, nhà vua giao cho Thân Nhân Trung xem xét bài vở của các thí sinh để trình lên bình duyệt.
Năm 1493, Thân Nhân Trung giữ chức Hàn lâm viện thừa chỉ, Đông các đại học sĩ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám. Với trọng trách này, Thân Nhân Trung phải đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn nữa để đảm bảo sự phát triển của sự nghiệp nhân tài quốc gia.
Vâng mệnh vua Lê Thánh Tông, Tao Đàn Phó Đô Nguyên súy Thân Nhân Trung đã soạn bài văn bia "Đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442)" vào năm Hồng Đức thứ 15 (1484): “Lập bia đá đề danh dựng ở cửa hiền quan, khiến kẻ sĩ chiêm ngưỡng, hâm mộ hứng khởi, rèn luyện danh tiết, hăng hái giúp đỡ nhà vua”. TS. Đào Thị Thúy Anh cho rằng, việc khắc bia đề danh tiến sĩ đã làm thiêng liêng hóa việc học: "Viết tên tiến sĩ lên đầu tượng linh ngao là nghi thức tiến sĩ được nhập thân vào thế giới thần linh. Điều đó cho thấy, nho sinh khi đỗ tiến sĩ không còn là người thường nữa mà trở thành kẻ tôi tớ trung thần bảo vệ, phò Vua”.
Trong bài văn bia này, Thân Nhân Trung đã khéo léo vận dụng kiến thức của tiền nhân, đề cao nguyên khí quốc gia trong việc lựa chọn, sử dụng nhân tài của các bậc đế vương và đưa ra một chân lý vĩ đại: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết. Bởi vì kẻ sĩ có quan hệ lớn với quốc gia, cho nên được quý chuộng...”.
Câu nói nổi tiếng này đến nay vẫn là một huấn thị, kim chỉ nam cho quan điểm trọng dụng người hiền tài gắn liền với sự hưng thịnh của đất nước. GS. Vũ Ngọc Khánh nhận định: “Chính Thân Nhân Trung đã lần đầu tiên ở nước ta và có lẽ là cả trên thế giới vào thời điểm này đề ra một luận điểm về vai trò của trí thức trong xã hội. Đây là một quan niệm độc đáo, không theo công thức mà lại rất có ý vị triết học”.
Sức mạnh của tri thức trong xây dựng và bảo vệ đất nước
Người hiền tài là những người có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, bản tính hiền lương, học thức uyên sâu và bản lĩnh, tài năng hơn người. Nguyên khí là khí chất ban đầu, trong sạch, vững mạnh, làm nên sự sống còn và phát triển của mọi sự vật. Hiền tài cũng là sự kết hợp tinh hoa của truyền thống dân tộc, khí thiêng của đất trời, sông núi. Hiền tài là nguồn lực tinh hoa nhất của mỗi dân tộc. Khi đất nước thái bình, thịnh trị thì nhiều người hiền tài cũng phát lộ, được trọng dụng, như người xưa từng nói rằng: "Địa linh sinh nhân kiệt".
Hiền tài và vận mệnh của đất nước có mối quan hệ chặt chẽ và lâu dài. Người hiền tài có vai trò quyết định đến sự thịnh trị, suy vi của một quốc gia. Mỗi một hiền nhân đều là một vì sao sáng chói về tài năng và đạo đức. Trong bất kỳ thời đại nào, hiền tài vẫn là những người quan trọng, nắm giữ và thực hiện các trọng trách mà đất nước giao phó. Trong khi đất nước bị nạn ngoại xâm, họ đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bề cõi, giải phóng non sông “gấm vóc”.
Các hiền nhân lừng danh như Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, vua Quang Trung... xung phong, xông pha trận mạc, giết giặc lập công và giữ yên bờ cõi, được nhân dân lưu danh sử sách, nhắc nhớ. Trong thời bình, họ đóng góp rất lớn về giáo dục, kinh tế, ngoại giao và văn hóa, góp sức mình xây dựng đất nước mang lại cuộc sống thái bình và phồn thịnh cho nhân dân.
Do đó, việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài là cần thiết để đất nước phát triển vững bền và thịnh vượng, đồng thời đề ra trách nhiệm của trí thức trước thời cuộc: “Kẻ sĩ được khắc tên vào tấm đá này, thật may mắn biết bao. Cho nên phải đem lòng trung nghĩa tự hẹn với mình, làm sao để danh xứng với thực, theo điều sở học mà làm nên sự nghiệp to lớn, vinh quang”.
Việc trọng dụng người tài có tác dụng to lớn trong việc phát huy truyền thống hiếu học của người Việt, đồng thời thúc đẩy ý chí vươn lên trong học tập, góp phần nâng cao dân trí của người dân và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước xuyên suốt nhiều thế kỷ.
Di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám và hệ thống văn từ, văn chỉ trải dài trên khắp cả nước như là biểu tượng của trí tuệ, trọng dụng người có học trong văn hóa Việt Nam. Việc các triều đại chăm lo học hành và thi cử để đào tạo, lựa chọn nhân tài là một truyền thống đáng tự hào của dân tộc Việt Nam, thể hiện quan điểm đúng đắn về đào tạo nguồn lực con người như câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”./.
St


NÓNG GIẬN LÀ BẢN NĂNG, TĨNH LẶNG MỚI LÀ BẢN LĨNH

 Tham gia mạng xã hội bạn đừng giận dữ vì những điều nhỏ nhặt. Sự giận dữ giống như bạn cầm hòn than nóng ném vào người khác nhưng chính bạn mới là người bị bỏng. Bạn không thể chặn những con sóng nhưng bạn có thể học cách làm thế nào để lướt sóng. Bạn muốn là kim cương nhưng bạn không biết muốn trở thành kim cương phải trải qua áp lực 5.88 triệu tấn, nhiệt độ 1.300 °C. Không chịu được thì mãi mãi bạn chỉ là than đá.

Tham gia mạng xã hội không phải cần sự mạnh mẽ mà chính là trí tuệ. Bạn không bao giờ biết được bạn mạnh mẽ như thế nào cho tới khi bạn không còn bất cứ một lựa chọn nào khác. Nếu cứ dừng lại để tâm đến những con ch.o s.u.a vu vơ ven đường thì biết bao giờ bạn mới đi đến đích?
Cuộc sống này không phải bất di bất dịch. Muốn tồn tại có lúc bạn phải làm sói, có lúc cũng nên làm cừu đừng tức giận khi tranh cãi. Nếu bạn đúng thì tức giận để làm gì? Nếu bạn sai thì bạn càng không có quyền tức giận. Tranh luận đúng sai một vấn đề nào đó trên mạng xã hội đôi lúc chỉ khác nhau ở cách nhìn. Nóng giận là bản năng, tĩnh lặng mới là bản lĩnh./.
St

CHIẾC MŨ CỐI VÀ CÂU CHUYỆN BI TRÁNG

 Đó chiếc mũ cối của liệt sĩ Bùi Đức Hưng-người chiến sĩ đã anh dũng ngã xuống trong trận đánh khốc liệt ở Đức Lập, tỉnh Quảng Đức (nay thuộc tỉnh Đắc Lắc). Ông Bùi Đức Dục đang thờ cúng liệt sĩ Bùi Đức Hưng không nén được xúc động, kể cho chúng tôi về sự hy sinh anh dũng của người chú hơn nửa thế kỷ trước.

Đồng chí Bùi Đức Hưng sinh năm 1939, trong một gia đình nghèo ở huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phú (nay là huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ). Mồ côi cha mẹ từ năm 6 tuổi, bà con thân thiết cũng đều nghèo khó nên Bùi Đức Hưng phải đi ở, chịu bao đắng cay, vất vả, rồi may mắn được một gia đình khá giả, hiếm muộn nhận làm con nuôi. Bùi Đức Hưng được cha mẹ nuôi cho đi học đến hết lớp 4. Sau khi lấy vợ và có con gái đầu lòng, ông đi làm công nhân tại Nông trường Tam Thắng (Tam Thanh, Vĩnh Phú) và được kết nạp Đảng.
Tháng 5-1967, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Bùi Đức Hưng để lại người vợ hiền và đứa con thơ lên đường vào Nam chiến đấu, được biên chế vào Đại đội 7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66, Sư đoàn 1. Đầu tháng 8-1968, đơn vị ông được lệnh tiến công quận lỵ Đức Lập, căn cứ Đắc Sắc thuộc tỉnh Đắc Nông. Quận lỵ Đức Lập nằm sát ngã ba Quốc lộ 14 và Quốc lộ 20, cách Sài Gòn gần 300km theo Quốc lộ 14. Sau gần 10 ngày chiến đấu vô cùng ác liệt, đơn vị Bùi Đức Hưng loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.000 tên địch, trong đó có 15 cố vấn Mỹ. Cùng với đó, đơn vị tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 20 đại đội, 18 trung đội địch; bắn rơi 14 máy bay (6 phản lực, 8 trực thăng); thu 31 súng các loại, một PRC25, 5 máy thu thanh... Tuy nhiên, về phía ta cũng chịu nhiều tổn thất, trong đó có sự hy sinh của Bùi Đức Hưng.
Hoàn cảnh hy sinh của đồng chí Bùi Đức Hưng hết sức oanh liệt và bi tráng. Đó là một trận chiến khốc liệt, không cân sức giữa ta và địch tại cứ điểm A-239, thuộc địa phận Đức Lập. Suốt 3 ngày đêm, bộ đội chiến đấu liên tục với đại đội quân viễn chinh Mỹ. Sau trận chiến đấu, người trực tiếp đấu súng với Bùi Đức Hưng là trung sĩ Mỹ John Wast bày tỏ sự khâm phục trước sự kiên cường, dũng cảm của người lính Bắc Việt. Khi ấy, John Wast lại gần, lật chiếc mũ cối lỗ chỗ vết đạn, xem mặt người lính đã đọ súng với mình. Viên trung sĩ Mỹ kinh ngạc khi thấy bên trong vành mũ của anh chiến sĩ gan góc lạ thường ấy có khắc dòng chữ tiếng Việt cùng hình con chim bồ câu sải rộng đôi cánh. Lúc này, John Wast mới bừng tỉnh, hóa ra, người lính cộng sản ở bên kia chiến tuyến cũng có tình yêu hòa bình lớn lao như bao người khác. Một người lính yêu nước, đáng được tôn vinh và trân trọng.
Ngay sau đó, John Wast quyết định mang chiếc mũ cối của người lính Việt Nam về Mỹ, gìn giữ như một kỷ vật trong chiến tranh để nhắc nhở về cuộc sống mà Wast may mắn có được trong lúc ông Hưng không còn nữa. 46 năm sau, Wast quyết định sang Việt Nam, tìm về quê hương người lính Bắc Việt dũng cảm năm xưa và trao lại cho gia đình chiếc mũ cối của liệt sĩ Bùi Đức Hưng.
Kể đến đây, đôi mắt ông Bùi Đức Dục bỗng đỏ hoe, giọng nghẹn lại: “Chú tôi là một chiến sĩ gan dạ, dũng cảm tuyệt vời. Chắc đến khi hết đạn, ông mới chịu ngã xuống...”.
Lặng ngắm chiếc mũ cối nhỏ bé mà có tới 11 vết đạn, cùng nhiều vết trầy xước, bong tróc, chúng tôi ai cũng dâng trào xúc động, cảm phục tinh thần chiến đấu ngoan cường, quả cảm của liệt sĩ Bùi Đức Hưng nói riêng, bộ đội ta nói chung. Quả thực, sự tàn khốc, hủy diệt cùng nỗi đau mất mát bởi chiến tranh gây ra không gì có thể bù đắp được. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh ấy, bộ đội ta vẫn rất lạc quan, yêu đời với khát vọng mong đất nước hòa bình đến cháy bỏng. Điều đó được thể hiện rõ thông qua nét khắc tài hoa của liệt sĩ Bùi Đức Hưng ở trong vành mũ cối với dòng chữ: Bùi Đức Hưng, bên cạnh là hình ảnh cây cọ vươn mình tỏa bóng, con chim bồ câu dang rộng đôi cánh…

CHUYỆN VỀ NGƯỜI ANH HÙNG 15 TUỔI, GIẤU BỐ MẸ XUNG PHONG NHẬP NGŨ

 Lê Đình Chinh sinh năm 1960, quê ở xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa), trú quán tại nông trường Sông Âm, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Anh nhập ngũ ngày 16/2/1975 khi đó vừa mới 15 tuổi. Mặc dù mới 15 tuổi, nhưng anh cao lớn, khỏe mạnh, anh còn là học sinh giỏi toàn diện của khối lớp 7, trường cấp 2 xã Nguyệt Ấn (huyện Ngọc Lặc) ngày ấy.

Tết Ất Mão 1975 cận kề, anh giấu bố mẹ đi khám tuyển nghĩa vụ, xung phong lên đường nhập ngũ. Đúng ngày 16/2/1975, ăn Tết Ất Mão xong, anh khoác ba lô, mặc quần áo lính lên đường nhập ngũ. Hôm đó, bố mẹ đi họp ở nông trường, các em còn quá nhỏ, nên cậu không có người thân tiễn chân.
Sau thời gian huấn luyện ở Triệu Sơn (Thanh Hóa), Chinh được biên chế vào đại đội 6, tiểu đoàn 2, trung đoàn 12, Bộ tư lệnh Công an vũ trang nhân dân (nay là Bộ đội biên phòng). Đơn vị của anh được điều động vào chiến trường Tây Nam, tham gia nhiều trận đánh chống quân Pol Pot xâm phạm biên giới.
Trong một trận chiến với địch, Chinh bị thương và được đưa ra Bắc điều trị. Khi bình phục, anh xin trở lại đơn vị cũ tiếp tục sát cánh cùng đồng đội.
Một ngày năm 1978, Lê Đình Chinh gửi điện về cho bố mẹ. Anh viết: “Con đang ở Xuân Mai, nhắn bà ngoại (ở Thạch Thất - PV) để con xin phép về chơi một hôm”. Vợ chồng bà Chu liền xin nghỉ việc cùng các con nhỏ tức tốc xuống TP Thanh Hóa rồi bắt tàu hỏa lên đường đi gặp con.
Mấy hôm sau, đơn vị của Lê Đình Chinh được bí mật điều động lên Lạng Sơn, bảo vệ biên giới phía bắc. Tình hình biên giới Việt - Trung thời điểm này rất phức tạp.
Ngày 25/8/1978, Lê Đình Chinh đi thăm hỏi đồng bào thì gặp một nhóm quân Trung Quốc vượt biên giới sang Việt Nam hành hung cán bộ, phụ nữ và nhân dân địa phương. Lúc này, Chinh đang ở dưới chân đồi. Anh cùng đồng đội xông lên giải vây và cứu được một nữ cán bộ tên Thuận đang ngất xỉu. Nghe tiếng kêu thất thanh của một đồng đội, anh tiếp tục quay lại giải cứu.
Giữa vòng vây của địch, Lê Đình Chinh bị đá ném vào gáy, máu chảy ướt áo nhưng anh vẫn xông lên chiến đấu. Trước quân số đông của kẻ thù, cuối cùng người chiến sĩ trẻ ngã xuống.
Lê Đình Chinh hy sinh khi mới 18 tuổi, anh là người lính đầu tiên hy sinh ở biên giới phía Bắc trong cuộc chiến chống quân xâm lược giai đoạn đó. Ngày 30/8/1978, Chủ tịch nước đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Lê Đình Chinh.

NỮ ANH HÙNG "GIẢ TRAI ĐI ĐÁNH GIẶC" - MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

 Trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, có lẽ bà là trường hợp duy nhất cải nam trang đi đánh giặc. Từ một cô gái xinh đẹp, da trắng, tóc đen dài, bà phơi nắng, cắt tóc như con trai, gào thét cho vỡ giọng để có tiếng nói được ồm ồm như đàn ông.

Sinh ra trong một gia đình khá giả ở huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, Trần Thị Quang Mẫn được ba má cho ra tỉnh học trường tư thục. Khi đó, không ưa người Pháp, bà ghét luôn ngôn ngữ của họ nên không tha thiết với việc học lắm. Học hết lớp Nhứt, bà và người em về quê làm ruộng. Bà thường ra đồng thả trâu, bò, bày trò chơi trận giả với đám con nít xung quanh. Tính tình khảng khái như con trai, bà mê đọc sách sử, mê Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trung Trực, Phan Bội Châu…
Là phận gái nhưng trong bà luôn day dứt một điều. Đất nước bị xâm lược, đang cần người trẻ nhưng anh chị em bà không ai ra giúp nước. Ông ngoại bà vốn là người của Nguyễn Trung Trực, bị giặc Pháp giam cầm 18 năm ngoài Côn Đảo, các cậu bà hy sinh vì đất nước… Biết tính cha vốn không thích tham gia chính sự, bà “nhỏ to” với người em gái kế, hai chị em cắt máu ăn thề và lên kế hoạch trốn nhà theo kháng chiến. Ngón áp út bên tay trái của bà giờ vẫn còn hằn vết sẹo cắt máu ăn thề.
Mặc cho gia đình ngăn cản nhưng trước sau như một, thấy không lay chuyển được ý định của con gái, ông mang hết quần áo hai cô ra đốt và đuổi hai chị em đi. Người mẹ vừa khóc vừa chạy theo dúi cho bà mấy đồng bạc và xấp vải xô có sẵn trong nhà. Đến bây giờ bà vẫn còn nhớ như in lời mẹ dặn: “Hai chị em con đi phải cho thành danh. Nếu không thành hay hư hèn gì thì đừng có vác mặt về nhà, xấu hổ cha mẹ lắm”.
BẠI LỘ
Trước khi giả trai, gia đình bà có hứa hẹn gả bà cho một chàng trai ở huyện Phú Quốc. Hai người cũng qua lại thăm viếng vài lần. Từ ngày bà cải thành nam giới đi cách mạng, anh con trai tên Nguyễn Văn Bé đang đi bộ đội ở Tiểu đoàn 4010 tới lui không thấy, điều tra biết được bà đang ở Trung đoàn 124. Sau nhiều lần ông dò hỏi, thắc mắc, cuối cùng sự việc của bà bị bại lộ. “Anh” Trần Quang Mẫn trở lại là chị Trần Thị Quang Mẫn. Cả Trung đoàn bật ngửa vì trong suốt năm năm trời, không ai phát hiện ra chuyện “động trời” này.
Sau đó, đơn vị đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người. Lúc này, bà lên chức Đại đội trưởng Trung đoàn 124, ông giữ chức Đại đội phó. Năm 1952, ông hy sinh, để lại đứa con trai mới bốn ngày tuổi lại cho bà. Mười tuổi, con trai bà tiếp bước cha mẹ đi bộ đội, 15 tuổi người con trai duy nhất của ông bà hy sinh…
GIAI THOẠI
Có một giai thoại mà những người lính khi đó truyền nhau mãi. Vào năm 1974, trong một đợt hành quân, bà đã dùng dao rạch bụng cứu sống một đứa bé khi người mẹ bị bom dội chết.
Nghe tôi hỏi, bà chỉ tay lên tấm ảnh một người phụ nữ đang cười rạng rỡ bên đứa con trai bảo: “Nó đó!”.
Lúc đó, bà là Tiểu đoàn trưởng. Gặp đợt oanh kích của giặc, cả tiểu đoàn chui hầm tránh bom. Khi chui ra khỏi hầm, bà phát hiện một người phụ nữ mang thai gần đến ngày sinh bị trúng bom đã tắt thở. Thấy thai nhi chòi đạp dữ dội, không chần chừ bà móc con dao găm nhỏ luôn mang sẵn bên mình rạch bụng người mẹ cứu đứa con. Không đành lòng mang đứa nhỏ đi cho, bà gởi người quen gần đó nuôi vài tháng rồi nhận lại đứa bé gái nuôi dưỡng đến ngày hôm nay.
Cô gái được bà đặt tên là Ngọc Hân, tốt nghiệp Đại học, hiện đang làm ở Ngân hàng Công thương tại TP.HCM. Vì việc học của con gái, bà đã bán nhà ở Kiên Giang, lên TP.HCM mua nhà sinh sống từ năm 1993 tại quận Tân Bình.
Bà được Nhà Nước phong tặng nhiều Huân chương và danh hiệu cao quý: Huân chương chiến công, Huân chương kháng chiến, Huân chương Độc lập… và Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong đợt đầu tiên. Năm 1967, cùng với chị Út Tịch, bà được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang.
Tháng 4/1967, bà được ra Hà Nội gặp Bác Hồ, được Bác ưu ái tặng cho bà khẩu súng K54 làm kỷ niệm. Cuộc đời bà đã được nhà văn Bùi Hiển viết thành quyển sách “Cuộc đời tôi”. Bà suy nghĩ đơn giản rằng: “Hồi đó đi đánh giặc để giải phóng đất nước, mong cho đồng bào mình được sống trong cảnh thanh bình. Giờ ước nguyện đã thành sự thật, so với nhiều người khác, tôi may mắn còn sống đến ngày hôm nay. Đối với tôi như vậy đã mãn nguyện lắm rồi”

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN ĐẤU TRANH YÊU CẦU BỘ GD&ĐT PHẢI ĐƯA MÔN HỌC LỊCH SỬ LÀ MÔN HỌC BẮT BUỘC, THI BẮT BUỘC TRONG CHƯƠNG TRÌNH GDPT LÀ HOÀN TOÀN ĐÚNG ĐẮN!

     Xem lịch sử chỉnh sửa của bài báo (DÂN TRÍ) đến mấy lần về ý nghĩa lịch sử trọng đại của ngày Quốc khánh 2/9/1945 mà cũng chẳng ra hồn, phải gỡ bài đăng lại.
     Đến người viết báo cũng không biết ý nghĩa trọng đại của ngày Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập vào ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước VNDCCH, nay là CHXHCNVN thì thật quá đáng buồn và tắc trách cho một tờ báo chính thống, cũng như những người đứng đầu Bộ GD&ĐT, những người có trách nhiệm với lịch sử của Dân tộc ta...
     Đã đến lúc Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Hội Sử học VN cần khẩn trương đưa ra nghị quyết và ban hành chỉ thị Bộ GD&ĐT phải đưa ngay môn học Lịch sử là môn học bắt buộc, thi bắt buộc trong chương trình GD&PT để cứu lấy nền lịch sử của nước nhà!

Yêu nước ST.