Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

 NÂNG TẦM QUAN HỆ ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - HOA KỲ

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden sẽ có chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam từ ngày 10-11/9/2023 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. 

Theo Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc Knapper, chuyến thăm gửi đi một thông điệp mạnh mẽ tới người dân hai nước về tầm quan trọng của mối quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ và sẽ làm sâu sắc thêm tình hữu nghị giữa hai nước.

Tháng 7/2015, lần đầu tiên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước, hai bên đã thông qua Tuyên bố về Tầm nhìn chung quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, khẳng định tiếp tục triển khai quan hệ sâu sắc, bền vững và thực chất, trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và thể chế chính trị, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Trong cuộc điện đàm hồi tháng 3 năm nay với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden khẳng định, Việt Nam là đối tác quan trọng; ủng hộ một Việt Nam “độc lập, tự cường và thịnh vượng”; tái khẳng định tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của Việt Nam; nhất trí rằng sự tôn trọng là một nền tảng quan trọng của quan hệ hai nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden đã nhắc lại lời mời thăm cấp cao lẫn nhau. Hai nhà lãnh đạo vui vẻ nhận lời và giao các cơ quan liên quan thu xếp vào thời gian phù hợp.

Phó Tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris trong chuyến thăm Việt Nam tháng 8/2021 khi tiếp xúc với các nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đều nhấn mạnh sự ủng hộ của Hoa Kỳ vì một Việt Nam hùng mạnh, độc lập và thịnh vượng.

“Tất cả những gì chúng tôi làm với Việt Nam đều dựa trên niềm tin của chúng tôi vào một Việt Nam hùng mạnh, độc lập, thịnh vượng và kiên cường. 

Mọi việc chúng tôi làm với Việt Nam đều dựa trên niềm tin chung về toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền, tôn trọng hệ thống chính trị của nhau. Và đây là những quan điểm chung của cả hai bên. Niềm tin chung đó đã được làm sâu sắc hơn trong 10 năm qua và tôi tin rằng trong 10 năm tới, nó sẽ tiếp tục được củng cố”, bà Kamala Harris khẳng định.

Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc Knapper ngày 6/9 khẳng định, chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden đến Việt Nam sắp tới là “sự kiện lịch sử quan trọng”, thể hiện sự coi trọng của Hoa Kỳ với Việt Nam, đồng thời cho thấy “sự trân trọng mà chúng tôi muốn thể hiện với Tổng Bí thư”. “Việc Tổng thống Joe Biden đến Việt Nam từ ngày 10-11/9 là cách tốt nhất để thể hiện tầm quan trọng mà chúng tôi nhìn nhận đối với mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ”, Đại sứ Marc Knapper nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, Đại sứ cũng đề cao mối quan hệ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lần đầu gặp ông Joe Biden, khi đó là Phó Tổng thống, trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm 2015 theo lời mời của Tổng thống Barack Obama. Trong buổi chiêu đãi ở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 7/7/2015, ông Joe Biden đã đọc bản tiếng Anh của hai câu thơ trong Truyện Kiều khi nâng ly chúc mừng quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ cùng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

“Tôi nghĩ Phó Tổng thống Joe Biden khi đó và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tìm thấy sự đồng điệu. Họ xây dựng quan hệ rất tốt ngay từ đầu, cùng dẫn những câu thơ trong Truyện Kiều. 

Hai lãnh đạo cũng thường xuyên trao đổi thư trong những năm tiếp theo và có cuộc điện đàm quan trọng hôm 29/3”, Đại sứ Marc Knapper nói thêm; đồng thời bày tỏ tin tưởng chuyến thăm “sẽ rất tích cực và đặc biệt thành công”, cho người dân hai nước thấy chính quyền hai bên đánh giá mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ quan trọng như thế nào.

Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Dũng cho biết, từ khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, hai nước luôn duy trì trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao đều đặn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhiều lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đã đi thăm Hoa Kỳ.

Tổng thống Joe Biden sẽ là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 5 đến thăm Việt Nam kể từ ngày 11/7/1995, thời điểm hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Kể từ cột mốc quan trọng này đến nay, mỗi đời Tổng thống Hoa Kỳ đều sang thăm Việt Nam. 

Các Tổng thống đương nhiệm từng tới thăm Việt Nam trước ông Joe Biden bao gồm: Tổng thống Bill Clinton (thăm tháng 11/2000), Tổng thống George W. Bush (thăm tháng 11/2006), Tổng thống Barack Obama (thăm tháng 5/2016). Trong đó, riêng Tổng thống Donald Trump thăm Việt Nam hai lần. Lần một là vào tháng 11/2017, khi ông đến Việt Nam dự Hội nghị cấp cao APEC. Thời điểm đó ông Trump là Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên thăm Việt Nam ngay trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ Tổng thống. Lần hai là vào tháng 2/2019, khi ông sang Việt Nam dự Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên.

Các cuộc trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc duy trì đà và tạo thêm xung lực cho quan hệ giữa hai nước. 

Tháng 2/2023, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Catherine Tie đã đến thăm Việt Nam. Theo sau là một loạt chuyến thăm Việt Nam của các quan chức cấp cao Hoa Kỳ như chuyến thăm của Giám đốc Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ Rochelle P. Walensky, Tổng Giám đốc Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) Samantha Power, Ngoại trưởng Antony Blinken cũng như Bộ trưởng Nông nghiệp Thomas Vilsack và mới nhất là chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Tài chính Janet Yellen.

Bên cạnh đó, Hoa Kỳ đã có đoàn đại biểu Quốc hội cấp cao gồm thành viên thuộc hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đại diện cho cả Thượng viện và Hạ viện thăm Việt Nam. Một phái đoàn doanh nghiệp Hoa Kỳ lớn nhất từ trước đến nay cũng đã có mặt tại Việt Nam trong tháng 3 năm nay…

Theo Đại sứ Marc Knapper, “tất cả các chuyến thăm này cho thấy Hoa Kỳ quan tâm trở lại ở mức độ rất cao trong mối quan hệ với Việt Nam. Hoa Kỳ rất tin tưởng vào tình hữu nghị với Việt Nam và mong muốn làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ giữa hai nước”.

Kể từ khi thiết lập khuôn khổ quan hệ Đối tác toàn diện tháng 7/2013, mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ phát triển sâu rộng, hiệu quả và thực chất trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, ngoại giao, kinh tế - thương mại đến văn hoá, giáo dục, khoa học - công nghệ, y tế, quốc phòng - an ninh, giao lưu nhân dân.

Một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy quan hệ giữa hai nước là kinh tế. Thương mại hai chiều Việt Nam và Hoa Kỳ đã tăng hơn 5 lần, từ 25 tỷ USD năm 2012 lên gần 140 tỷ USD vào năm 2022, nếu tính từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ thì tăng hơn 300 lần. Hoa Kỳ trở thành đối tác thương mại và thị trường xuất khẩu số một của Việt Nam, đồng thời, Việt Nam đã vươn lên vị trí đối tác thương mại lớn thứ 7 của Hoa Kỳ. Đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam liên tục tăng, trong khi đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam vào Hoa Kỳ cũng đang trở thành xu thế. Tháng 3/2023, Hoa Kỳ đưa phái đoàn gồm hơn 50 doanh nghiệp tới Việt Nam, điều này phản ánh niềm tin của các công ty Hoa Kỳ vào chính trị và kinh tế Việt Nam, bất chấp những trở ngại được dự báo trong năm nay về kinh tế Việt Nam cũng như toàn cầu.

Trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 7, Bộ trưởng Tài chính Yellen đánh giá, Việt Nam là đối tác ngày càng quan trọng với Hoa Kỳ. Bộ trưởng Yellen đã nhấn mạnh Việt Nam là một giao điểm quan trọng trong chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu, được chứng minh bởi các khoản đầu tư lớn của doanh nghiệp công nghệ Hoa Kỳ vào Việt Nam như Công ty Amkor Technology hay Tập đoàn Intel, với nhà máy lắp ráp và kiểm định chíp lớn nhất thế giới được đặt tại TP Hồ Chí Minh.

Về giáo dục, hợp tác song phương cũng ghi nhận sự phát triển vượt bậc. Theo báo cáo của Open Doors về trao đổi giáo dục quốc tế được tổ chức này công bố tháng 11/2022, năm học 2021-2022, Hoa Kỳ có 948.000 sinh viên quốc tế đến từ hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó, số sinh viên quốc tế người Việt là 20.713 người.

Thông tin về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Joe Biden, Thư ký báo chí Nhà Trắng Karine Jean-Pierre nhấn mạnh: “Lãnh đạo hai nước sẽ thảo luận về các cơ hội để thúc đẩy phát triển kinh tế, tập trung vào công nghệ và đổi mới, mở rộng quan hệ đối thoại nhân dân thông qua trao đổi giáo dục cũng như các chương trình phát triển lực lượng lao động, chống biến đổi khí hậu và tăng cường hòa bình, thịnh vượng, ổn định trong khu vực”.

Còn Phó Tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris trong cuộc tiếp xúc với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhân dịp dự Hội nghị Cấp cao ASEAN 43, cũng nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Joe Biden theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và tin tưởng chuyến thăm sẽ đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ giữa hai nước; góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ hai nước lên tầm cao mới vì hòa bình, hợp tác, phát triển./.


 HIỀN TÀI GẮN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA QUỐC GIA, DÂN TỘC

“Xây dựng đất nước lấy dạy học làm đầu, tìm lẽ trị bình, tuyển nhân tài làm gấp” (Chiếu khuyến học của vua Quang Trung do Ngô Thì Nhậm soạn). Thực tế cho thấy, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào muốn phát triển đều phải chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, nhân tài. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn khi giáo dục đang trở thành ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam do khoa học cùng với đội ngũ trí thức đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của đất nước ngày nay.

Gương sáng của người xưa

Lê Thánh Tông (1442 - 1497) là một vị minh quân đã đưa Đại Việt đến thời kỳ hoàng kim của chế độ phong kiến mà người đời vẫn lưu truyền về thời “Hồng Đức thịnh trị”. Trong thời gian trị vì từ năm 1460 đến năm 1497, ông đã đề xuất nhiều cải cách trong hệ thống quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dục và luật pháp. Giúp sức cho vị vua hiền này trong việc trị quốc là “lương tướng” Thân Nhân Trung.

Thân Nhân Trung (1419 - 1499), người xã Yên Ninh, huyện Yên Dũng (nay là thôn Yên Ninh, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Ông là một thành viên trong hội Tao Đàn Nhị thập bát tú, được vua Lê Thánh Tông mời vào hoàng cung dạy học cho các hoàng tử, làm tới chức Lại bộ Thượng thư, Chưởng Hàn lâm viện kiêm Đông các đại học sĩ, Nhập nội phụ chính và Tế tửu Quốc Tử giám.

Thân Nhân Trung được vua Lê Thánh Tông tin dùng trong việc tuyển chọn và đào tạo nhân tài. Các kỳ thi hương và thi hội ông đều đóng góp tích cực, nhà vua giao cho Thân Nhân Trung xem xét bài vở của các thí sinh để trình lên bình duyệt.

Năm 1493, Thân Nhân Trung giữ chức Hàn lâm viện thừa chỉ, Đông các đại học sĩ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám. Với trọng trách này, Thân Nhân Trung phải đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn nữa để đảm bảo sự phát triển của sự nghiệp nhân tài quốc gia.

Vâng mệnh vua Lê Thánh Tông, Tao Đàn Phó Đô Nguyên súy Thân Nhân Trung đã soạn bài văn bia "Đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442)" vào năm Hồng Đức thứ 15 (1484): “Lập bia đá đề danh dựng ở cửa hiền quan, khiến kẻ sĩ chiêm ngưỡng, hâm mộ hứng khởi, rèn luyện danh tiết, hăng hái giúp đỡ nhà vua”. TS. Đào Thị Thúy Anh cho rằng, việc khắc bia đề danh tiến sĩ đã làm thiêng liêng hóa việc học: "Viết tên tiến sĩ lên đầu tượng linh ngao là nghi thức tiến sĩ được nhập thân vào thế giới thần linh. Điều đó cho thấy, nho sinh khi đỗ tiến sĩ không còn là người thường nữa mà trở thành kẻ tôi tớ trung thần bảo vệ, phò Vua”.

Trong bài văn bia này, Thân Nhân Trung đã khéo léo vận dụng kiến thức của tiền nhân, đề cao nguyên khí quốc gia trong việc lựa chọn, sử dụng nhân tài của các bậc đế vương và đưa ra một chân lý vĩ đại: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết. Bởi vì kẻ sĩ có quan hệ lớn với quốc gia, cho nên được quý chuộng...”.

Câu nói nổi tiếng này đến nay vẫn là một huấn thị, kim chỉ nam cho quan điểm trọng dụng người hiền tài gắn liền với sự hưng thịnh của đất nước. GS. Vũ Ngọc Khánh nhận định: “Chính Thân Nhân Trung đã lần đầu tiên ở nước ta và có lẽ là cả trên thế giới vào thời điểm này đề ra một luận điểm về vai trò của trí thức trong xã hội. Đây là một quan niệm độc đáo, không theo công thức mà lại rất có ý vị triết học”.

Sức mạnh của tri thức trong xây dựng và bảo vệ đất nước

Người hiền tài là những người có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, bản tính hiền lương, học thức uyên sâu và bản lĩnh, tài năng hơn người. Nguyên khí là khí chất ban đầu, trong sạch, vững mạnh, làm nên sự sống còn và phát triển của mọi sự vật. Hiền tài cũng là sự kết hợp tinh hoa của truyền thống dân tộc, khí thiêng của đất trời, sông núi. Hiền tài là nguồn lực tinh hoa nhất của mỗi dân tộc. Khi đất nước thái bình, thịnh trị thì nhiều người hiền tài cũng phát lộ, được trọng dụng, như người xưa từng nói rằng: "Địa linh sinh nhân kiệt".

Hiền tài và vận mệnh của đất nước có mối quan hệ chặt chẽ và lâu dài. Người hiền tài có vai trò quyết định đến sự thịnh trị, suy vi của một quốc gia. Mỗi một hiền nhân đều là một vì sao sáng chói về tài năng và đạo đức. Trong bất kỳ thời đại nào, hiền tài vẫn là những người quan trọng, nắm giữ và thực hiện các trọng trách mà đất nước giao phó. Trong khi đất nước bị nạn ngoại xâm, họ đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bề cõi, giải phóng non sông “gấm vóc”.

Các hiền nhân lừng danh như Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, vua Quang Trung... xung phong, xông pha trận mạc, giết giặc lập công và giữ yên bờ cõi, được nhân dân lưu danh sử sách, nhắc nhớ. Trong thời bình, họ đóng góp rất lớn về giáo dục, kinh tế, ngoại giao và văn hóa, góp sức mình xây dựng đất nước mang lại cuộc sống thái bình và phồn thịnh cho nhân dân.

Do đó, việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài là cần thiết để đất nước phát triển vững bền và thịnh vượng, đồng thời đề ra trách nhiệm của trí thức trước thời cuộc: “Kẻ sĩ được khắc tên vào tấm đá này, thật may mắn biết bao. Cho nên phải đem lòng trung nghĩa tự hẹn với mình, làm sao để danh xứng với thực, theo điều sở học mà làm nên sự nghiệp to lớn, vinh quang”.

Việc trọng dụng người tài có tác dụng to lớn trong việc phát huy truyền thống hiếu học của người Việt, đồng thời thúc đẩy ý chí vươn lên trong học tập, góp phần nâng cao dân trí của người dân và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước xuyên suốt nhiều thế kỷ.

Di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám và hệ thống văn từ, văn chỉ trải dài trên khắp cả nước như là biểu tượng của trí tuệ, trọng dụng người có học trong văn hóa Việt Nam. Việc các triều đại chăm lo học hành và thi cử để đào tạo, lựa chọn nhân tài là một truyền thống đáng tự hào của dân tộc Việt Nam, thể hiện quan điểm đúng đắn về đào tạo nguồn lực con người như câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”./.

TÁC PHẨM "ĐƯỜNG CÁCH MỆNH" VỚI VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC – GIAI CẤP CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam nhiều di sản vô cùng quý báu, một trong những di sản đó là tác phẩm “Đường Cách mệnh”.
Tác phẩm là kết quả tập hợp những bài giảng của Người dùng trong các lớp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) vào những năm 1925, được Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông tập hợp, in thành sách “Đường Cách mệnh” vào năm 1927. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu, hàm chứa giá trị lý luận, thực tiễn to lớn và sâu sắc, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, trong việc kết hợp phong trào công nhân và yêu nước với chủ nghĩa Mác, tạo lập các tiền đề tư tưởng, lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tác phẩm “Đường cách mệnh” ra đời trong bối cảnh phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản các nước trên thế giới phát triển mạnh mẽ, phong trào giải phóng dân tộc ở trong nước đã xuất hiện nhiều tổ chức yêu nước mang sắc thái chính trị khác nhau, thực tiễn lịch sử đòi hỏi phải có một tổ chức kiểu mới, có đường lối, tổ chức đúng đắn, chặt chẽ thì mới lãnh đạo cách mạng đi đến thành công. Do đó, Tác phẩm có ý nghĩa và vai trò như “kim chỉ nam” cho đường lối của cách mạng Việt Nam. Một trong những nội dung cơ bản của Tác phẩm đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vận dụng linh hoạt và sâu sắc trong lãnh đạo cách mạng, đó là vấn đề giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp của cách mạng.
TƯ TƯỞNG CỐT LÕI CỦA VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC – GIAI CẤP
Tác phẩm “Đường Cách mệnh” với vấn đề giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp là kết tinh sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc Việt Nam và tính nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng, Đảng ta luôn nhận thức về sự thống nhất nói trên. Tác phẩm đã thể hiện rất rõ và sâu sắc tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, thực chất là vấn đề giải phóng và phát triển dân tộc; vấn đề giai cấp, thực chất là vấn đề giải phóng các giai cấp, tầng lớp khỏi tình trạng áp bức bóc lột, đem lại cơm ăn áo mặc, tự do hạnh phúc cho nhân dân.
Trong điều kiện đất nước bị xâm lược, vấn đề giai cấp luôn được Hồ Chí Minh đặt trong mối quan hệ biện chứng với vấn đề dân tộc. Lợi ích của giai cấp thống nhất chặt chẽ với lợi ích dân tộc và lợi ích dân tộc thống nhất với lợi ích quốc tế. Điều đó có nghĩa là chỉ có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”(1). Khi đất nước giành được độc lập rồi thì giải phóng giai cấp chính là phải từng bước xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới xây dựng cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc thật sự cho tất cả mọi người. Người cho rằng, sau khi giành được độc lập dân tộc rồi, mà nhân dân lao động vẫn chưa được giải phóng, “không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2). Đây là vấn đề nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc - giai cấp thể hiện sâu sắc trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”.
Theo Hồ Chí Minh, việc giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp là yêu cầu khách quan để đi đến sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp; quốc gia và quốc tế, là cơ sở để huy động mọi nguồn lực của dân tộc cho thắng lợi của cách mạng. Tư tưởng này được Người đúc rút từ các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, từ Cách mạng Mỹ (1776) đến Cách mạng Pháp (1789), từ Công xã Pari (1871) đến Cách mạng Tháng mười Nga (1917). Trong quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tư tưởng này đã được Người và Đảng ta giải quyết thành công mối quan hệ đó và được chứng minh qua thực tiễn giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.
TÁC PHẨM “ĐƯỜNG CÁCH MỆNH” VỚI VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC – GIAI CẤP TRONG CÁC GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG
Giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp vô sản có mối quan hệ biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện rất rõ trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”. Trong nội dung giải phóng dân tộc bao hàm nội dung giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Sự nghiệp giải phóng dân tộc càng tiến hành triệt để và thắng lợi bao nhiêu thì sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng xã hội càng thuận lợi bấy nhiêu. Giai cấp vô sản được hoàn toàn giải phóng cả về chính trị và kinh tế thì độc lập sẽ vững bền hơn bao giờ hết. Xác định cách mạng Việt Nam “đi tới xã hội cộng sản” được ghi trong Cương lĩnh của Đảng là một định hướng đúng, phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp. Đặt cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội làm cho quan điểm Hồ Chí Minh mang tính toàn diện và triệt để.
Dưới góc độ giải phóng, độc lập dân tộc mới chỉ là cấp độ đầu tiên. Giải phóng về mặt chính trị tự bản thân nó chưa phải là công cuộc giải phóng hoàn toàn, độc lập dân tộc là tiền đề đầu tiên để tiến lên chủ nghĩa xã hội, đưa con người đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Những thiếu sót và thất bại của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu (cũ), cũng như những khó khăn của Việt Nam từ sau 1975 đó cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, cũng như việc lựa chọn con đường và bước đi cụ thể, phù hợp với khả năng và điều kiện của từng nước.
Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của loài người khi bước vào thế kỷ XXI. Song, việc xử lý mối quan hệ giữa các dân tộc, giai cấp và nhân loại trong xu thế này đang trở thành một vấn đề vừa có tính thời sự cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài đối với mỗi quốc gia - dân tộc. Đối với Việt Nam, để giữ vững chủ quyền, độc lập dân tộc và xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố dân tộc, giai cấp, nhân loại trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... trong quá trình hội nhập quốc tế. Muốn vậy, Đảng, Nhà nước và nhân dân cần kiên định nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đường lối nhất quán và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Do vậy, việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp và quốc tế được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo vào các giai đoạn cách mạng của nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam phải hết sức sáng tạo, phải tùy thuộc vào tình hình cụ thể của đất nước.
Do ở phương Đông, dân tộc được hình thành sớm, ý chí tinh thần dân tộc cao, phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc mạnh mẽ nên Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chủ nghĩa dân tộc được Hồ Chí Minh xem là động lực to lớn của người Việt Nam và khi chủ nghĩa dân tộc thắng lợi dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân sẽ thống nhất với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.
Đường lối cách mạng của Việt Nam được vận dụng sâu sắc từ tư tưởng của Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”. Qua đó cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta từ năm 1930 đến nay đã rất coi trọng việc bồi dưỡng tinh thần dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi áp bức bất công, giải phóng dân tộc, thực hiện quyền tự quyết dân tộc theo lập trường giai cấp công nhân. Qua các giai đoạn cách mạng, đường lối xuyên suốt và nhất quán cách mạng Việt Nam là: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Để đảm bảo cho sự nghiệp đổi mới, trong tất cả các văn kiện của Đảng luôn khẳng định mục tiêu cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Điều kiện cơ bản đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng là trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và cũng có nghĩa là trung thành với lợi ích cơ bản lâu dài của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và lợi ích dân tộc.
Sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp khi tiến hành công cuộc đổi mới ở Việt Nam được thể hiện trong sâu sắc Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân, với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”(3). Như vậy, tư tưởng đoàn kết dân tộc và xem việc phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc là động lực phát triển đất nước hiện nay chính là sự quán triệt và vận dụng quan điểm lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào Việt Nam.
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐÊ GIẢI QUYẾT QUAN HỆ DÂN TỘC – GIAI CẤP TRONG TÁC PHẨM “ĐƯỜNG CÁCH MỆNH” PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN MỚI
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung phát triển năm 2011), Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Mặt khác, thể hiện những quan điểm cụ thể trong giải quyết quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội Việt Nam: “các giai cấp, các tầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(4). Cũng trong Cương lĩnh này, vấn đề quan hệ các dân tộc (với nghĩa các tộc người) cũng được khẳng định: Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng tiến bộ.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã rút ra 6 bài học chủ yếu của 10 năm đổi mới. Trong đó bài học đầu tiên là: “Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(5).
Cùng với bài học đã nêu là mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả dân tộc, để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên, giành những thành tựu to lớn hơn, cần thực hiện tốt hơn nữa việc mở rộng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, cả ở trong nước và ở nước ngoài, phát huy dân chủ, động viên tối đa sức mạnh của toàn thể dân tộc.
Đặc biệt, trong Đại hội IX, một luận điểm mang tầm khái quát lý luận lớn của Đảng về quan hệ giai cấp, lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: “Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng”(6). Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục thể hiện nhiều quan điểm mới của Đảng trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc. Trước hết, Đảng tiếp tục khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng trước những khó khăn, thách thức và những biến động bất lợi trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế: Đảng ta đã giữ vững bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, “kim chỉ nam” cho hành động của Đảng. Kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Tiếp tục công cuộc đổi mới trong Văn kiện Đại hội XI, XII của Đảng, đặc biệt là trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng tiếp tục thể hiện những quan điểm mới, sáng tạo khi vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết các quan hệ dân tộc - giai cấp - quốc tế đó là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội… Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”(7).
Tiếp tục các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VII đến Đại hội XII về giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp trong thời kỳ mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng năm 2021 khẳng định quan điểm chỉ đạo: “Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng… Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”(
😎
.
Kiên định đường lối đổi mới của Đảng, trong thời gian tới phải tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, phát huy truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng. Đây là nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, muốn vậy, phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng. Làm được như vậy là Đảng ta đã thực hiện được ý nguyện trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc... phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(9).
Tác phẩm “Đường Cách mệnh” nói chung và tư tưởng về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp và vấn đề quốc tế trong Tác phẩm là một sáng tạo lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tác phẩm “Đường Cách mệnh” đến nay vẫn giữ nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đó là bài học quý, đòi hỏi Đảng ta cần phải vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện mới của đất nước trong quá trình hội nhập sâu rộng quốc tế trên tất cả các lĩnh vực, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay./.
ST

LỄ ĐÓN CHÍNH THỨC TỔNG THỐNG HOA KỲ JOE BIDEN THĂM CẤP NHÀ NƯỚC TỚI VIỆT NAM.


Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Joe Biden đã đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10 - 11/9/2023.
Chiều 10/9, Lễ đón chính thức Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden được tổ chức trọng thể tại Phủ Chủ tịch theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Lễ đón.
Tham dự Lễ đón có: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lê Minh Hưng; Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái; Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Lê Hoài Trung; Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn; lãnh đạo thành phố Hà Nội, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Văn phòng Tổng Bí thư... Đông đảo các cháu thiếu nhi Thủ đô Hà Nội đã chào đón Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden và các thành viên trong Đoàn.
Đúng 16 giờ 50 phút, đoàn xe chở Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden tiến vào Phủ Chủ tịch. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chào đón Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden. Hai bên giới thiệu các quan chức có mặt tại Lễ đón. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mời Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden bước lên bục danh dự. Quân nhạc cử quốc thiều hai nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden duyệt đội danh dự Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đây là lần đầu tiên một Tổng thống Hoa Kỳ thăm cấp Nhà nước theo lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Chuyến thăm diễn ra đúng dịp kỷ niệm 10 năm hai nước xác lập Quan hệ Đối tác toàn diện. Đây cũng là sự tiếp nối truyền thống trong gần 30 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ.
* Ngay sau Lễ đón, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam và Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Hoa Kỳ tiến hành Hội đàm, tại Trụ sở Trung ương Đảng.
Nguồn: TTXVN

THÁI ĐỘ, TRÌNH ĐỘ, HAY ĐỨC ĐỘ ?


Dạo gần đây, câu nói “thái độ hơn trình độ” dường như trở nên khá phổ biến. Có không ít người bình luận, phân tích mối quan hệ hoặc so sánh ý nghĩa, giá trị “cao - thấp”, “hơn - kém” giữa chúng và trong nhiều trường hợp, thường ghi nhận, đánh giá cao yếu tố “thái độ” trong việc quyết định sự thành công của một cá nhân.
Nhưng tất cả điều đó đều xuất phát từ quan điểm cá nhân!
Từ góc độ công tác cán bộ, đặc biệt là trong việc nhìn nhận, đánh giá cán bộ, giữa thái độ và trình độ, yếu tố nào là quan trọng hơn?
Thái độ, theo nghĩa mà chúng ta thường hiểu, là cách một người bộc lộ suy nghĩ, quan điểm, tình cảm, cá tính, hay cách phản ứng, cư xử của người đó đối với người khác và với sự việc, hiện tượng xung quanh. Trong mọi mối quan hệ, thái độ, cách ứng xử của mỗi người là rất quan trọng. Thái độ, cách ứng xử của người cán bộ trong các mối quan hệ công việc lại càng quan trọng, bởi nó tác động trực tiếp đến quá trình xử lý công việc, khả năng phối hợp công tác, xây dựng môi trường làm việc…, từ đó ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của họ và chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức. Tuy nhiên, xét đến cùng, thái độ của một người mà chúng ta nhìn vào để đánh giá trình độ, năng lực và nhân cách của họ, ở góc độ nào đó, nhiều khi chỉ là cái vỏ, là vẻ bề ngoài và đôi khi, có thể chỉ là sự “trưng trổ” mà chủ thể rắp tâm lựa chọn để cho người khác nhìn thấy, “cảm thấy”, không hề phản ánh đúng nội dung, bản chất bên trong.
Trình độ của một người, trên thực tế, không phải là “món quà trời ban”, không chỉ dựa vào sự may mắn hay tố chất bẩm sinh, mà phải trải qua quá trình không ngừng học hỏi, khổ công tích lũy, luyện rèn mới có được. Trình độ học vấn, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ cũng vậy. Không thể có cán bộ giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà chây ỳ, lười nhác trong công việc, học tập. Để đánh giá trình độ của cán bộ, không thể chỉ nhìn vào bằng cấp, hay bị dẫn dắt bởi những bài diễn văn “chém gió trên trời”, mà phải thông qua công việc, từ công việc.
So sánh thái độ của một cán bộ này với trình độ của một cán bộ khác, rõ ràng là không cùng một trường khái niệm và rất khập khiễng; càng không thể căn cứ vào yếu tố riêng biệt nào để ưu tiên trong đánh giá, sử dụng cán bộ. Tuy nhiên, khi nhìn vào hai yếu tố này ở mỗi cán bộ, nếu đủ tinh tường, khách quan và bao dung, chúng ta có thể thấy được bản chất đích thực, nhất là sự đức độ ở trong họ, để đánh giá thật đúng và toàn diện, làm căn cứ cho việc lựa chọn, sử dụng cán bộ một cách phù hợp, hiệu quả.
Trong đội ngũ cán bộ hiện nay, không khó để bắt gặp một số người rất thành công trong việc biểu hiện thái độ khiến nhiều người - nhất là cán bộ lãnh đạo cấp trên, những người có liên quan trực tiếp đến lợi ích và con đường thăng tiến của họ - cảm thấy đẹp lòng, yêu thích, được đánh giá là đúng mực, hòa nhã, khiêm nhường hay hăng hái, nhiệt tình, trách nhiệm..., nhưng đằng sau lại ngấm ngầm đổ việc cho đồng nghiệp một cách điệu nghệ, giảo hoạt hoặc tranh công, đổ lỗi, hạ uy tín của người khác… Lúc này, cái thái độ vốn được người khác yêu thích, ngợi khen, thực chất chỉ là kỹ nghệ biểu diễn ở mức độ “thượng thừa”, nhằm che đậy sự hãnh tiến, lười nhác, kém cỏi.
Việc dùng người, vẫn là câu chuyện muôn thuở, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, không phải của riêng quốc gia hay thể chế chính trị nào. Để sử dụng cán bộ thật đúng, thật hiệu quả, việc đánh giá cán bộ có ý nghĩa quyết định. Thiết nghĩ, trong đánh giá cán bộ, nên lấy đức làm gốc, làm tiêu chí quan trọng hàng đầu; cùng với đó, nên xuất phát từ yêu cầu, đặc thù vị trí công tác của họ thì mới soi chiếu, hiểu rõ trình độ, năng lực, thái độ của họ. Bản thân quá trình đánh giá cán bộ cũng là quá trình đánh giá đức độ, trình độ, năng lực và thái độ của chính những người làm công tác đánh giá cán bộ. Thông qua quá trình này, chúng ta có thể thấy liệu họ có thật sự đủ công bằng, chính trực, khách quan, công tâm và trình độ để đánh giá đúng cán bộ, phát hiện đúng hiền tài không, hay chỉ là kẻ “tự tư, tự lợi”, hẹp hòi, “cận thị”, vì tư ân, tư huệ hoặc tư thù, tư oán mà kéo bè, kết cánh, chỉ nhìn ra những anh em “quan hệ và tiền tệ”, sẵn sàng dìm người có tài năng bằng những lý do chung chung, khó định lượng hoặc bằng lý do “thái độ”(!)./.
Tạp chí Cộng sản

CHUYẾN THĂM LỊCH SỬ, MỞ RA MỘT CHƯƠNG MỚI TRONG QUAN HỆ VIỆT-MỸ


Giới quan sát, chuyên gia trong và ngoài nước đã dùng những từ "lịch sử" hay "chưa có tiền lệ" để nói về chuyến thăm cấp nhà nước Việt Nam từ ngày 10 đến 11-9 của Tổng thống Mỹ Joe Biden theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Đây là lần đầu tiên một tổng thống Mỹ đến thăm Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cũng là lần đầu tiên, cả Tổng thống và Phó Tổng thống Mỹ cùng thăm Việt Nam trong một nhiệm kỳ. Đây cũng là sự tiếp nối truyền thống trong gần 30 năm quan hệ Việt Nam-Mỹ, đó là các đời Tổng thống Mỹ đương nhiệm đều thăm Việt Nam.
Chuyến thăm càng có ý nghĩa hơn khi diễn ra đúng dịp kỷ niệm 10 năm hai nước xác lập quan hệ Đối tác toàn diện (2013-2023).
"Chuyến thăm thể hiện Mỹ coi trọng thể chế chính trị của Việt Nam, coi trọng vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và lãnh đạo Việt Nam", Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc khẳng định như vậy với báo chí hôm 8-9.
Chuyến thăm cho thấy hai bên đều rất coi trọng nhau trong chính sách đối ngoại của mình và trong chính sách đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương nói riêng.
Đây cũng là cột mốc rất quan trọng trên hành trình nỗ lực chung của hai nước để hiện thực hóa mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong bức thư tháng 2-1946 gửi Tổng thống Mỹ Harry Truman, đó là Việt Nam có quan hệ hợp tác đầy đủ với Mỹ.
Theo số liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam, trong gần 30 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ, thương mại hai nước có sự phát triển vượt bậc, hết sức ấn tượng. Năm 1995, thương mại hai chiều mới đạt 450 triệu USD thì đến năm 2022 đã đạt 123 tỷ USD.
Việt Nam đã vươn lên rất nhanh chóng, trở thành đối tác thương mại lớn thứ 7 của Mỹ và trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ trong ASEAN. Cũng từ năm 2022, Mỹ đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với con số 100 tỷ USD.
Về đầu tư, Mỹ luôn luôn là một trong những nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam. Tính đến năm 2022, đã có hơn 11 tỷ USD đầu tư trực tiếp từ Mỹ vào Việt Nam, đó là chưa kể đầu tư thông qua chi nhánh của công ty Mỹ từ các nước thứ ba.
Không chỉ Mỹ đầu tư vào Việt Nam mà gần đây, một số doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư sang Mỹ với số vốn lên đến hàng tỷ USD, góp phần tạo hàng nghìn công ăn việc làm cho người lao động Mỹ.
Trả lời câu hỏi của báo chí về mục đích, ý nghĩa chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Joe Biden tới Việt Nam, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc Knapper cho biết: Chính sách của Mỹ đối với Việt Nam trong nhiều năm qua là dựa trên sự tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền và thể chế chính trị của nhau. Việt Nam và Mỹ cùng chia sẻ quan điểm tiếp cận đối với một số vấn đề quốc tế, trong đó có Biển Đông. Hai bên hoàn toàn nhất trí về tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982; giải quyết một cách hòa bình các vấn đề Biển Đông.
Về mối quan hệ trong tương lai, Đại sứ Marc Knapper nhấn mạnh, Mỹ cùng chia sẻ với những nỗ lực của Việt Nam để tới năm 2045, Việt Nam là nước có thu nhập cao và năm 2050 đạt mục tiêu phát thải ròng bằng không.
“Cũng chính vì vậy, chúng tôi rất mong chờ chuyến thăm của Tổng thống Mỹ tới Việt Nam để cho thấy tương lai của hai nước chúng ta có sự gắn kết với nhau và hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra” - Đại sứ Marc Knapper khẳng định.
Thật đáng tiếc, trước chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden, trên một số trang mạng xã hội đã loan tải thông tin thiếu trung thực, khách quan, xuyên tạc chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Thực tế thời gian qua, Việt Nam đã thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điều này thể hiện rõ trong các nghị quyết, văn kiện Đại hội Đảng và thực tiễn sinh động của đất nước. Trong gần 40 năm đổi mới, đường lối độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước ta đã góp phần quan trọng tạo môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện thuận lợi và tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Việc Việt Nam đón Tổng thống Biden thăm cấp nhà nước góp phần thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng.
Với đà phát triển toàn diện, sâu rộng của quan hệ hai nước, chuyến thăm của Tổng thống Biden chắc chắn sẽ tạo thêm khuôn khổ và động lực đưa quan hệ Việt Nam - Mỹ phát triển lên một tầm cao mới. Đây là tinh thần mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Biden đã thống nhất tại cuộc điện đàm cấp cao ngày 29-3-2023./.
ST

THÚC ĐẨY QUAN HỆ VIỆT NAM- HOA KỲ VÌ HOÀ BÌNH VÀ PHÁT TRIỂN


Hôm nay (10-9), Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đến Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10 đến 11-9 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Hoa Kỳ kỷ niệm 10 năm xác lập quan hệ đối tác toàn diện (2013-2023).
Sau 28 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, 10 năm triển khai quan hệ đối tác toàn diện, quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đã có những bước tiến dài, phát triển sâu rộng, thực chất, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực quan trọng, ở cả 3 cấp độ song phương, khu vực và quốc tế, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững tại khu vực và trên thế giới.
Nền tảng quan trọng cho sự phát triển của mối quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ là khẳng định của hai bên về các nguyên tắc cơ bản như: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.
Trên cơ sở đó, Việt Nam và Hoa Kỳ tiếp tục tăng cường quan hệ về chính trị, ngoại giao với các chuyến thăm cấp cao và các cấp thường xuyên giữa hai nước, qua đó tăng cường hiểu biết và làm sâu sắc hơn quan hệ song phương. Tháng 3-2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden đã có cuộc điện đàm quan trọng, định hướng và tạo động lực mạnh mẽ cho quan hệ hai nước thời gian tới. Các chuyến thăm, tiếp xúc, trao đổi, điện đàm cấp cao của lãnh đạo hai nước đã thúc đẩy đà phát triển quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thể chế chính trị của nhau.
Quan hệ kinh tế-thương mại được coi là lĩnh vực hợp tác thành công nhất, đã và đang trở thành trọng tâm, nền tảng, động lực phát triển cho quan hệ giữa hai nước. Hiện nay, Hoa Kỳ là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, là thị trường xuất khẩu đầu tiên của Việt Nam vượt mốc 100 tỷ USD. Kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước năm 2022 đạt hơn 123,86 tỷ USD, tăng 11% so với năm 2021. Về đầu tư, nhiều năm qua, Hoa Kỳ luôn là một trong những đối tác có đầu tư lớn nhất tại Việt Nam. Tính đến năm 2023, Hoa Kỳ là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 11/108 nước đầu tư tại Việt Nam với hình thức đầu tư đa dạng. Trong khi đó, hiện Việt Nam đã vươn lên vị trí đối tác thương mại lớn thứ 7 của Hoa Kỳ trên toàn thế giới; đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam vào Hoa Kỳ cũng đang trở thành xu thế.
Hợp tác nhân đạo, khắc phục hậu quả chiến tranh tiếp tục là ưu tiên cao trong quan hệ hai nước và đạt nhiều kết quả cụ thể. Chính quyền và Quốc hội Hoa Kỳ tiếp tục tăng ngân sách cho dự án tẩy độc sân bay Biên Hòa, hỗ trợ người khuyết tật ở các vùng bị nhiễm độc dioxin, viện trợ cho các dự án rà phá bom mìn, tìm kiếm, quy tập và giám định hài cốt bộ đội Việt Nam trong chiến tranh. Đến nay, các cơ quan của Việt Nam cũng đã phối hợp tìm kiếm, xác định và trao trả cho phía Hoa Kỳ hài cốt của 733 quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh.
Hợp tác giáo dục thời gian gần đây đạt được nhiều bước tiến tích cực với việc hai bên thúc đẩy hợp tác giáo dục-đào tạo, chuyển giao công nghệ. Hợp tác y tế và phục hồi kinh tế-xã hội sau đại dịch Covid-19 tiếp tục là điểm sáng trong quan hệ hai nước, đặc biệt trong việc hỗ trợ nhau về trang thiết bị y tế, tiếp cận vaccine, chia sẻ kinh nghiệm phòng, chống dịch bệnh và bảo hộ công dân.
Về hợp tác trong các vấn đề khu vực và quốc tế, hai bên tăng cường phối hợp tại các diễn đàn khu vực và các vấn đề toàn cầu, nhất là khi Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Joe Biden thể hiện sự coi trọng của Hoa Kỳ đối với Việt Nam và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chuyến thăm cũng đánh dấu lần đầu tiên cả Tổng thống và Phó tổng thống Hoa Kỳ thăm Việt Nam trong một nhiệm kỳ.
Việc Việt Nam đón Tổng thống Joe Biden thăm cấp Nhà nước là một trong những hoạt động nhằm triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, khẳng định Việt Nam nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, tiếp tục đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thế đan xen lợi ích, tăng độ tin cậy. Bên cạnh đó cũng khẳng định Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ với Hoa Kỳ, mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ giữa hai nước theo hướng hợp tác cùng có lợi, đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững ở khu vực và thế giới.
Chúng ta tin tưởng rằng, chuyến thăm lần này của Tổng thống Joe Biden sẽ tiếp tục góp phần xây dựng và củng cố tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác nhiều mặt, đưa quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đi vào thực chất, hiệu quả hơn.
QĐND


ĐẠI TƯỚNG VĂN TIẾN DŨNG VÀ TRẬN ĐÁNH NỞ HOA TRONG LÒNG ĐỊCH


Trận đánh nở hoa trong lòng địch do Đại tướng Văn Tiến Dũng chỉ đạo ở thị xã Thái Bình (nay là TP Thái Bình) là trận chia lửa với Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, buộc Đại tướng Na-va, Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương phải điều quân ở Lào và quân tiếp tế cho Điện Biên Phủ về giữ các thành phố, tỉnh lỵ ở duyên hải và đồng bằng Bắc bộ.
Đại tướng Văn Tiến Dũng, gương mặt chữ điền, trông thật hiền. Nếu ông không mang hàm đại tướng thì hẳn chẳng ai nghĩ ông là nhà chỉ huy quân sự tài giỏi. Tính ông điềm đạm, ít nói. Các cấp chỉ huy trực tiếp dưới quyền ông, chưa thấy ông nổi nóng bao giờ. Hồi ông còn sống, khi tôi nhắc đến trận đánh mà ông gọi là xa xưa, ông cười tủm tỉm bảo:
- Thái Bình cũng như các thành phố, thị xã duyên hải ở đồng bằng Bắc bộ. Đánh vào không khó lắm. Nhưng rút lui làm sao cho an toàn lực lượng mới là khó. Vô cùng khó. Chỉ sai một ly, đi một dặm. Tuy địch ở chỗ mình tiến công đã bị tiêu diệt, nhưng lực lượng xung quanh hãy còn đông. Nó như cái ao bèo tấm. Nơi mình vừa tiêu diệt lực lượng địch thì bị khuyết, bị giãn ra. Nhưng chỉ sau ít phút, bèo ở xung quanh sẽ lập tức dồn vào, khỏa lấp. Do vậy lực lượng ta thoát chỗ nào đi đâu, đi hướng nào cũng chạm địch. Quân địch rất đông còn quân ta rất mỏng. Lực lượng không cân sức. Đánh trực diện, đánh công khai là dễ bị chúng tiêu diệt lắm.
Đại tướng đã có mấy năm làm sư ông trụ trì từ một ngôi chùa dưới huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông cũ để hoạt động cách mạng, bắt rễ với các tổ chức Đảng, do vậy khi vào thị xã Thái Bình tổ trinh sát của ông đã đóng giả sư thầy. Phải chọn được đường vào và đường ra thuận tiện nhất. Phải đánh dấu kỹ từng đoạn đường để anh em khỏi lạc, nhất là lúc rút ra. Phải nắm thật chắc lực lượng địch, người và phương tiện chiến tranh. Tóm lại là phải chuẩn bị kỹ lưỡng trước trận đánh và sau trận đánh.
Được cơ sở cho biết vợ tên tỉnh trưởng rất mộ đạo, rằm tháng Giêng thường đi lễ chùa cầu cho chồng qua hạn sao Kế Đô. Đồng chí Thịnh, dáng người nhỏ bé, gương mặt như con gái, chả có râu ria, học được thuật tướng số, đóng giả sư thầy. Dĩ nhiên đầu cũng cạo trọc. Sư Thịnh lân la đến gần dinh tỉnh trưởng. Đúng lúc vợ tên tỉnh trưởng đi lễ về. Chị ta vừa bước xuống nhà sư vờ đi qua. Chị ta chắp tay mô Phật. Nhà chùa đáp lễ. Rồi bảo:
- Ông nhà sắp có hạn nặng đấy.
Người vợ tỉnh trưởng hốt hoảng hỏi:
- Bạch thầy giải hạn ở đâu ạ?
- Tín chủ ở đâu cúng ở đó.
- Ở trong dinh tỉnh trưởng ạ.
- Thì cúng ở dinh.
Sư thầy đưa một số sư vãi đến cúng. Họ là bộ đội chủ lực thuộc đại đoàn Đồng Bằng và dân quân, du kích của cơ sở vào dinh tỉnh trưởng cúng giải hạn. Do đó họ đã trinh sát rõ đường đi lối lại trong dinh, phòng ở, phòng ngủ của tỉnh trưởng, các vọng gác. Tiếng tăm họ đồn sang chi khu quân sự. Họ cũng được mời sang làm lễ hộ.
Trở lại chuyện Đại đoàn Đồng Bằng. Trinh sát kỹ. Nắm lực lượng chắc. Đánh nhất định thắng. Nhưng rút ra như thế nào cho an toàn. Đó là bài toán không đơn giản đối với Đại đoàn trưởng Văn Tiến Dũng. Rút tại chỗ không an toàn. Lấy đâu ra hầm hào giấu hết hàng đại đội, tiểu đoàn quân. Địch càn quét sẽ lộ ra. Tỏa ra hai bên bờ sông Thái Bình cũng không an toàn. Thể nào địch cũng nghi và lùng sục. Chỉ còn cách rút ra cửa sông rồi tản vào bãi sú, bãi mía ven biển. Làm thế nào rút ra cửa sông vẫn an toàn lực lượng?
Đại đoàn trưởng Văn Tiến Dũng cho bộ đội bí mật thu gom những cây chuối ở hai bên bờ sông Thái Bình. Thời ấy, bèo tây còn trôi đầy mặt sông từng đám. Cây chuối ghép thành từng mảng. Mảng trên chồng lên mảng dưới. Có bè đến ba mảng chồng lên nhau. Ở khe mỗi cây chuối giáp nhau là bèo tây. Phải ghép khéo để cánh bèo không bị nát, rễ bèo thò hết xuống nước, mới không bị héo. Nhìn mảng chuối chỉ thấy những bèo là bèo. Ai cũng nghĩ đó là mảng bèo chứ không phải là cây chuối. Mỗi mảng có bao nhiêu người thì làm bấy nhiêu lỗ thông hơi. Để chắc chắn, Đại đoàn trưởng cho bộ đội ném lựu đạn, bắn các loại đạn vào mảng chuỗi hai tầng xem sức công phá của chúng đến đâu, bèo tây bị nát có lộ mảng chuối không? Và rốt cuộc bộ đội có an toàn không?
Mọi việc chuẩn bị cho trận đánh thật chu đáo. Đánh chắc. Thắng chắc. Rút quân an toàn.
Đùng giờ G. Đại đoàn trưởng hạ lệnh tiến công. Địch quá bất ngờ. Dinh tỉnh trưởng và chi khu đều nhanh chóng bị xóa sổ.
Khi quân ta rút lui an toàn xuống dưới các bè mảng bèo tây, địch mới hoàn hồn. Chúng điều động các đơn vị ở lân cận lùng sục hai bên bờ sông, vãi đạn vào các đám bèo tây và không bỏ sót một nhà nào trong thị xã. Chúng nghi nhà nào cũng có một vài căn hầm ẩn nấp của quân đội Việt Minh nên mới có khả năng “xuất quỷ nhập thần” như vậy.
Trong khi đó, những đám bèo tây vẫn lững lờ cuốn theo dòng nước về hạ nguồn. Tàu chiến địch đỗ ngoài cửa biển chiếu đèn pha sáng rực nhìn rõ từng cánh hoa bèo. Đèn sáng đến mấy cũng không thể nhìn rõ mảng chuối. Dù cánh bèo dập nát mà vẫn che kín mảng. Càng ra tới cửa biển, càng gần tàu địch, càng vào quá tầm bắn của địch ở trên tàu. Chúng cũng không dám thả lựu đạn, sợ tàu bị dính mảng mất an toàn.
Đêm cuối tháng. Trời tối đen. Đèn pha địch dù sáng đến mấy vẫn chỉ có thể chiếu được một phía lên thượng nguồn. Còn ba phía vẫn chìm trong bóng tối. Bộ đội thận trọng và lặng lẽ tản vào bãi sú và bò vào bãi mía rút dần về cơ sở an toàn tuyệt đối.
DƯƠNG DUY NGỮ - Báo QĐND
Đại tướng Văn Tiến Dũng. Ảnh tư liệu
Có thể là hình ảnh về 1 người