Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

Nhận diện, đấu tranh loại bỏ những mầm mống quan điểm sai trái nảy sinh trong cán bộ, đảng viên

Đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) là những người trực tiếp tuyên truyền,  đưa nghị quyết, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân. Hơn ai hết, đây là những người phải nắm chắc, hiểu sâu nguyên tắc của Đảng và đường lối, chủ trương của Đảng để tuyên truyền đúng, đủ đến các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, do xuất phát từ căn bệnh chủ nghĩa cá nhân, muốn co kéo giành lợi ích, cơ hội tốt cho mình, nên vẫn còn một bộ phận CB, ĐV đã không nói đúng, viết sai, thông tin tuyên truyền những nội dung không chính xác nhằm phục vụ mục đích cá nhân của mình, đó là quan điểm sai trái, cần kiên quyết vạch trần, bác bỏ.

Nguyên nhân và những biểu hiện

Một trong những biểu hiện dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của CB, ĐV hiện nay, đó là tuyệt đối hóa vai trò của ý chí bản thân trong cải tạo thực tiễn, đốt cháy giai đoạn, bất chấp quy luật khách quan. Khi thực tiễn không đáp ứng được yêu cầu ý chí chủ quan của mình, thì có biểu hiện “bất mãn, buông xuôi”, nói và viết không đúng với nghị quyết, đường lối của Đảng, bị các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tiếp cận, dụ dỗ qua nhiều hình thức khác nhau, như mời gọi tham gia các diễn đàn bất mãn xã hội trên không gian mạng, xem các video “chiến tranh tâm lý” ngụy tạo dưới vỏ bọc kênh tin tức. Từ đó, từng bước lôi kéo những CB, ĐV này viết “tâm thư, kiến nghị, góp ý, thư ngỏ…”, khi không được các cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết hoặc chấp nhận ý kiến đề nghị đó, thế là họ quay sang phủ định lý tưởng phấn đấu mà mình đã theo đuổi “phủ nhận sạch trơn” toàn bộ sự nghiệp, thành quả cách mạng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, có những phát ngôn, hành động gây ảnh hưởng tiêu cực đến dư luận xã hội.

Về mức độ, có thể do trình độ, nhận thức, vai trò và vị trí công tác, nên cấp độ biểu hiện ở những CB, ĐV có quan điểm sai trai trái này cũng có sự thể hiện sự khác nhau. Nhưng điểm chung nhất ở những CB, ĐV này là, cấp độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tăng dần, biểu hiện rõ nhất là khi truyền đạt đường lối, chủ trương, chính sách, khi phát biểu ý kiến thì tán đồng, nhưng khi triển khai công tác cụ thể thì làm ngược lại. Không chịu học tập, nghiên cứu hệ thống lý luận để luận giải, giải quyết những vấn đề đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn đặt ra, nhưng lại tỏ ra hiểu “thiên kinh vạn quyển”, cái gì cũng tỏ ra hiểu biết, giỏi hơn người khác nên trong truyền đạt, trò chuyện chỉ coi ý kiến mình là đúng, chỉ có cách diễn đạt của mình mới nói được bản chất chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Đặc biệt hiện nay, nhờ công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển, những CB, ĐV này chỉ thiên về thích đọc, xem trên mạng, sưu tầm trên mạng, từ đó mang các thông tin trên mạng nói lại cho người khác nghe, không có phân tích, không có kiểm chứng, rồi tranh thủ lồng quan điểm, ý kiến cá nhân, làm cho người nghe phân tâm, thậm chí gây hoang mang, dao động. 

Còn đối với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mà CB, ĐV này thường thể hiện là bên ngoài thì có vẻ trung thành tuyệt đối, xem đó là nền tảng lý luận gốc, nhưng khi vận dụng vào thực tiễn, nói và viết thì phủ nhận hầu như toàn bộ thành tựu, chỉ tô đậm mặt yếu kém, tiêu cực trong quản lý, điều hành nền kinh tế cũng như các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Từ đó phủ định sạch trơn những giá trị lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ định toàn bộ thành tựu của chủ nghĩa xã hội, phủ nhận ý nghĩa to lớn của các cuộc kháng chiến chống xâm lược cùng các thành tựu của nhân dân ta trong đổi mới và hội nhập hiện nay. 

Có thể khẳng định, nguyên nhân nảy sinh quan điểm sai trái của CB, ĐV có nhiều, song tựu chung lại là đa phần những CB, ĐV này đều mắc phải các bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, mà thành ra kiêu ngạo, tự tách mình khỏi tập thể, đề cao chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ, vun vén cho lợi ích bản thân và gia đình là nguyên nhân trực tiếp khiến cho tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chạy chức, chạy quyền nảy sinh. 

Hơn nữa, việc xử lý kỷ luật những CB, ĐV có quan điểm sai trái có lúc, có nơi chưa kịp thời, việc đánh giá, sàng lọc CB, ĐV còn chưa được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Ở một số nơi, người đứng đầu tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị còn thiếu sự chủ động, kiên quyết trong việc sàng lọc, loại bỏ những CB, ĐV thoái hóa, biến chất ra khỏi tổ chức. Vì thế, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thêm phức tạp, khó lường.

Phải đề cao vai trò của cấp ủy trong quản lý đảng viên

Thời gian qua, trên một số trang mạng, các thế lực thù địch, phản động không chỉ thường xuyên đăng tải theo kiểu thổi phồng, xuyên tạc, bịa đặt, những vụ việc tiêu cực ở Việt Nam, mà chúng còn tìm cách cắt ghép hình ảnh, phát ngôn của CB, ĐV viên thể hiện chính kiến không đồng tình trước một vấn đề nào đó, rồi đăng tải lên mạng xã hội và “bình luận”, chụp mũ cho rằng đó là “bất đồng nội bộ”, rồi cổ vũ phong trào “viết đơn xin ra khỏi Đảng”. 

Đây là một trong những thủ đoạn thâm độc mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị thường sử dụng để chống phá Đảng, Nhà nước, nhằm tách rời, đối lập giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa. Sự tác động đó dẫn đến một bộ phận CB, ĐV có tư tưởng, lập trường, bản lĩnh chính trị không vững vàng dễ nảy sinh các quan điểm sai trái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là điều không thể tránh khỏi. 

Chính vì vậy, nếu cấp ủy các cấp có sự theo dõi, quan tâm sát sao, phát huy tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nghiêm khắc trong quản lý, rèn luyện, đánh giá chất lượng cán bộ và đảng viên, thì “mầm mống” nảy sinh quan điểm sai trái trong CB, ĐV rất khó xảy ra. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết đối với cấp ủy, tổ chức Đảng là phải quản lý chặt chẽ CB, ĐV trong cả lời nói và việc làm, cũng như khi tham gia mạng xã hội, bởi vì những thông tin trên mạng xã hội rất khó kiểm soát, kiểm chứng về mức độ tin cậy. 

Do đó, khi tham gia các diễn đàn này, bất kỳ một bình luận, phát ngôn nào của CB, ĐV cũng dễ trở thành chủ đề bàn luận, thậm chí bị các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá. Nên trách nhiệm trước hết thuộc về cấp ủy các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và đặt ra các yêu cầu, quy chế về việc “nói, viết, phát ngôn” tham gia mạng xã hội đối với mọi CB, ĐV sinh hoạt ở chi bộ mình. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường phổ biến, quán triệt, nâng cao ý thức tuân thủ ý thức kỷ luật của Đảng cho CB, ĐV; kịp thời ngăn chặn, xử lý khi có CB, ĐV có những biểu hiện trái quan điểm, đường lối, quy định của Đảng và Nhà nước. 

Cùng với việc siết chặt quản lý, phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những cá nhân có phát ngôn, quan điểm không đúng với chức năng, nhiệm vụ của mình; không đúng với đường lối, quan điểm của Đảng để giữ nghiêm nguyên tắc, kỷ luật của Đảng.

Đồng thời, mỗi CB, ĐV phải nâng cao bản lĩnh, tinh thần cảnh giác cách mạng, kịp thời nhận diện và đấu tranh trực diện chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, lợi dụng chống phá; nhất là khi tham gia các diễn đàn, mạng xã hội trên môi trường internet, từng CB, ĐV cần có nhận thức đúng đắn, không bị các thế lực thù địch, phản động dụ dỗ, lôi kéo, cài bẫy trong các bình luận, phát ngôn, làm tổn hại đến uy tín, thanh danh của Đảng. Vì thực tiễn cho thấy, không phải các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị muốn làm gì thì đều làm được, nếu một khi các tổ chức Đảng và CB, ĐV nêu cao tinh thần cảnh giác và tích cực đấu tranh với các quan điểm sai trái, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu bản thân cá nhân, tập thể phát hiện thấy mắc sai lầm, thì dũng cảm sửa chữa, kịp thời điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách phù hợp thực tiễn, đó chính là cơ sở quan trọng tạo nên sức mạnh nội sinh, làm thất bại mọi mưu toan, thủ đoạn của các thế lực thù địch xấu xa; ngăn chặn và đẩy lùi quan điểm sai trái, tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.

Bóc mẽ chiêu thức bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ nhằm mưu đồ “phi đảng hóa” Quân đội

Thời gian gần đây, lợi dụng một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, các thế lực thù địch, phản động ra sức rêu rao, vu cáo "Quân đội ta đã thoái hóa, biến chất...". Từ đó, chúng ra sức tuyên truyền rằng, “không cần phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vì vô nghĩa”.

Đây là một trong những chiêu thức nguy hiểm được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” trong Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội.  

Đủ chiêu trò xuyên tạc, bôi nhọ danh hiệu cao quý của Quân đội ta

Trong tâm thức Bộ đội Cụ Hồ và người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, vị lãnh tụ rất đỗi gần gũi, thân thương. Bác không chỉ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mà còn là lãnh tụ tinh thần, niềm tin yêu, biểu tượng cao quý, thiêng liêng, nguồn cội của sự quy tụ, tập hợp, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc; dẫn dắt quân và dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Nhờ có Bác, nhân dân ta có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc; đất nước ta có cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay.

Bộ đội ta rất vinh dự, tự hào được mang tên Bác kính yêu. Quân đội ta được thừa hưởng những tài sản đồ sộ và vô giá, được Bác trao truyền, để lại, luôn mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng, được cô đọng, kết tinh trong danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ trọn đời vì nước, vì dân. Vì lẽ đó, phẩm chất và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ mang giá trị biểu trưng độc đáo, đặc sắc, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của Quân đội và nhân dân ta.

Với tầm ảnh hưởng sâu rộng và sự lan tỏa ngày càng to lớn của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế, điều đó đã làm cho các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lo sợ, bất an. Họ hiểu rằng, chừng nào ở nước ta còn có Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì chừng ấy, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội không thể thực hiện được.

Vì vậy, để bảo tồn “sự sống” của mình, các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta đã cấu kết với nhau, tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ, xóa bỏ vai trò, sức mạnh và tầm ảnh hưởng to lớn của Quân đội ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một trong những chiêu thức xảo quyệt nhất mà các thế lực thù địch ráo riết thực hiện là xuyên tạc, bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Mục đích của chiêu trò này nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội ta.

Đây là chiêu thức họ đã và đang rắp tâm thực hiện nhằm hủy hoại thanh danh, uy tín, vị thế của Bộ đội Cụ Hồ; làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, tước bỏ công cụ bạo lực sắc bén, chỗ dựa vững chắc nhất, tin cậy, trung thành nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Chiêu thức nguy hiểm này được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” thông qua mưu đồ “phi đảng hóa” Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội đã xuất hiện cuối những năm 90 của thế kỷ 20 ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Về bản chất, “phi đảng hóa” hay “phi chính trị hóa” Quân đội chỉ là tên gọi khác nhau nhưng cùng mục đích là tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội ta từ xa lạ đến xa lìa nhân dân, trở nên cô lập, bị vô hiệu hóa bởi mắc mưu “diễn biến hòa bình”.

Điều đó cho thấy, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai hiện tượng có chung bản chất, thể hiện sự công khai chống phá trắng trợn với tính chất nguy hại vô cùng to lớn của việc thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, hướng lái Quân đội ta chỉ “tuân theo pháp luật”, chỉ phục vụ Tổ quốc, không phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội ta cũng giống như quân đội Liên Xô rơi vào tình trạng “lầm đường lạc lối”, mất sức chiến đấu, trở thành đội quân vô dụng, cho dù có đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại nhưng không thể bảo vệ được Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, không thể bảo vệ thành quả cách mạng của Liên Xô.

Để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, đối lập phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngày nay với phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Chúng rêu rao rằng, sau khi Cụ Hồ đi vào “thế giới vĩnh hằng”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã chiếm thế thượng phong”, trở nên “độc quyền, toàn trị”, thì theo đó, hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cũng dần bị “biến dạng, méo mó, không còn thiêng liêng như trước đây”. Thậm chí có kẻ xuyên tạc rằng, ngày nay, Bộ đội Cụ Hồ “chỉ còn lại là cái bóng không hồn”, “một cái tên gọi hồi tưởng của quá khứ” vì Quân đội nhân dân Việt Nam “bị nền kinh thế thị trường nuốt chửng, lợi ích vật chất chi phối và chủ nghĩa cá nhân đã bao phủ bóng đen lên Bộ đội Cụ Hồ”(?!).

Những kẻ xấu đã “vơ đũa cả nắm”, lấy hiện tượng quy về bản chất, lấy ví dụ cụ thể để đơm đặt, thêu dệt thành sự việc phổ biến, cố tình thổi phồng, khoét sâu khuyết điểm của một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, để vu cáo, nói xấu Quân đội ta...

Giải quyết song hành hai nhiệm vụ “xây” và “chống” để giữ vững hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

Với những chiêu thức nêu trên, các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta muốn thực hiện mục tiêu kép đó là: Làm suy yếu bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta; dọn đường cho âm mưu bạo loạn lật đổ, “cách mạng màu”, thực hiện “diễn biến hòa bình”; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Điều ảo tưởng của họ chỉ có thể diễn ra và đạt được mục đích khi họ thực hiện thành công thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội, xuyên tạc, bôi đen phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức sâu sắc sự cần thiết phải đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội ta. Bài học kinh nghiệm về xây dựng quân đội trên thế giới kể từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu từ những năm 90 của thế kỷ 20 luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta hãy đề cao cảnh giác, không cho phép các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ dưới mọi hình thức; không được phép để xảy ra hiện tượng “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội trước mọi tình huống.  

Việc đấu tranh, làm thất bại âm mưu "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch nhất thiết phải gắn chặt với việc bền bỉ giữ vững, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Điều đó đặt ra vô cùng cấp bách, cần thiết đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam; đặc biệt quan tâm hơn nữa nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Đây là nhiệm vụ “xây” trong mối quan hệ mật thiết với “chống”, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự khẳng định “còn Đảng còn mình”, “còn Bộ đội Cụ Hồ là còn chân lý, niềm tin và lẽ phải”, bởi nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia, dân tộc và uy tín, vị thế, danh dự Bộ đội Cụ Hồ.

Đây cũng là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ bức thiết hàng đầu của công tác tham mưu, đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, góp phần đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” được hiện thực hóa trong cuộc sống. 

Có thể nói rằng, “xây” đi đôi với “chống” vừa là áp lực, đồng thời là động lực để Quân đội ta hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Kết quả thực hiện nhiệm vụ này được quy định bởi chất lượng, hiệu quả phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội trong tình hình mới. Sự non kém của mặt này sẽ làm suy giảm mặt kia và ngược lại.

Cho nên, giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai nhiệm vụ song hành, chung một mục tiêu, làm cho Quân đội ta luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cái gốc vững chắc nhất, vũ khí sắc bén nhất, tạo nên sức mạnh nội sinh vô cùng mạnh mẽ để Quân đội ta bách chiến, bách thắng trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trong tình hình mới.

Vì sao các thế lực thù địch lại thường viện dẫn quyền con người khi nói đến những vụ việc về chính trị, xã hội ở Việt Nam?

 

Ngày nay, các thế lực thù địch và tay sai của chúng đang tích cực thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" nhằm chuyển hóa xã hội hiện hữu sang con đường tư bản chủ nghĩa. Thế nên họ thường lợi dụng QCN-một giá trị được cộng đồng quốc tế thừa nhận, Việt Nam tôn trọng và ghi nhận… với suy nghĩ rằng điều này sẽ được người dân hoan nghênh và cộng đồng quốc tế ủng hộ họ. Mặt khác, họ xuyên tạc khái niệm QCN nhằm khuyến khích và trấn an người dân khi lợi dụng internet, mạng xã hội một cách thiếu thận trọng, nhất là với tuổi trẻ. Họ tuyên truyền rằng QCN là quyền không có bất cứ hạn chế nào; mọi hành vi chống chế độ một cách “ôn hòa”, “bất bạo động” là hợp pháp; cơ quan chức năng trấn áp tội phạm là “vi phạm QCN”… Với giọng điệu của các thế lực thù địch như trên dẫn đến một số người dân ngộ nhận về QCN, vi phạm pháp luật, rơi vào vòng lao lý.

Như thông tin đại chúng đã đưa, các cơ quan chức năng ở các tỉnh, thành phố: Bình Thuận, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh… đã truy tố, xét xử một số người tham gia biểu tình gây rối trật tự công cộng ngày 10-6-2018. Khi đối diện với pháp luật và các cơ quan chức năng… họ đều khai rằng: Chỉ làm theo, nghe theo lời kêu gọi biểu tình phản đối dự án Luật Đặc khu, Luật An ninh mạng… của một số kẻ khác vì nghĩ rằng đi biểu tình là “yêu nước”, là “bảo vệ QCN”… Đáng tiếc, họ quên rằng: Tất cả các quyền đều đi kèm với nghĩa vụ, trước hết là nghĩa vụ tôn trọng pháp luật.

Việc Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh vừa đưa ra xét xử Will Nguyễn (20-7-2018) là một bằng chứng thể hiện rõ quan điểm của Việt Nam về QCN. Còn nhớ trước phiên tòa, trên internet, mạng xã hội đã có nhiều thông tin dự báo về mức án dành cho Will Nguyễn, có kẻ nói: “Hà Nội phải trả tự do không có điều kiện cho Will Nguyễn (vì Hoa Kỳ đang gây sức ép)”; có người cho rằng mức án tối thiểu của Will Nguyễn nằm trong khung hình phạt từ 2 đến 7 năm tù giam… Nhưng rút cuộc, tòa đã tuyên phạt Will Nguyễn trục xuất (có hiệu lực ngay khi tòa tuyên án).

Như vậy là tất cả những dự đoán đều sai, Will Nguyễn không được “trả tự do vô điều kiện”, hoặc bị tù “từ 2 đến 7 năm” mà đã nhận được một bản án thấp nhất trong khung hình phạt về hành vi gây rối trật tự công cộng. Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ ngày nay đã có những thay đổi lớn. Hai nhà nước đã trở thành đối tác toàn diện (bao gồm cả an ninh, quốc phòng) trên cơ sở nguyên tắc hai bên tôn trọng thể chế, pháp luật của nhau. Bởi vậy có thể nói, bản án dành cho Will Nguyễn không chịu bất cứ một sức ép nào. Đồng thời bản án đã thể hiện rõ quan điểm QCN và tinh thần nhân đạo, khoan dung của Nhà nước Việt Nam. Cũng phải nói thêm rằng, Will Nguyễn được nhận bản án đó còn vì trước tòa, Will Nguyễn đã thật thà thừa nhận tội lỗi của mình và còn bày tỏ vẫn muốn được trở về Việt Nam, đóng góp sức lực cho việc xây dựng đất nước./.

TRƯỜNG TỒN    

 

Quân đội ta là quân đội của dân do dân và vì dân.

 

Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ, chúng ta còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình thế giới, khu vực và trong nước còn nhiều diễn biến phức tạp; hội nhập, hợp tác quốc tế của Việt Nam ngày càng phát triển và mở rộng; mối quan hệ của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế rất đa dạng, đặc biệt âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta ngày càng tinh vi và quyết liệt hơn. Chúng xuyên tạc lịch sử, đảo lộn tính chất chính nghĩa cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm của nhân dân ta; kích động gây mâu thuẫn giữa quân đội với nhân dân, giữa quân đội với công an, giữa cán bộ với chiến sĩ trong quân đội, nhằm làm phai nhạt bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp và phủ nhận những cống hiến, hy sinh lớn lao của quân đội ta đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc; truyền bá vào quân đội lối sống thực dụng, thờ ơ chính trị, nhằm “pha loãng”, làm nhạt dần bản chất cách mạng của quân đội ta, tạo điều kiện cho hệ tư tưởng tư sản thẩm thấu vào đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội v.v...

Quân đội ta ra đời từ phong trào cách mạng của dân tộc, chiến đấu hi sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hơn 75 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam luôn được giữ vững và phát triển. Tuy nhiên, trước những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, một bộ phận cán bộ chiến sĩ Quân đội ta ở những mức độ nhất định đã có những biểu hiện sao nhãng chính trị, suy giảm đạo đức lối sống... Những hiện tượng này đã và đang gây tác hại không nhỏ đến bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong giai đoạn cách mạng mới.

Kiên định lập trường và nguyên tắc đường lối của Đảng về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa về xây dựng nền quốc phòng toàn dân nền an ninh nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, gắn quốc phòng với an ninh và đối ngoại; quan điểm xây dựng thể trận lòng dân trong bảo vệ Tổ quốc. Đấu tranh giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, đối với Lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân, tăng cường vai trò của công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội và công an; kiên quyết chống các quan điểm phi chính trị hóa” quân đội và công an dưới mọi hình thức và quan điểm xây dựng quân đội chuyên nghiệp nhà nghề trái với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân xa lạ với bản chất Bộ đội Cụ Hồ. Giải quyết tốt các vấn đề đối ngoại, không tạo sơ hở để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc chống phá chia rẽ Việt Nam với các nước, hoặc tạo cớ để nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, kiên trì, khó khăn, phức tạp.

CÔNG NHÂN

Đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh

Phản biện xã hội là một biện pháp để mở rộng dân chủ, tranh thủ trí tuệ xã hội, từ đó hoàn thiện chính sách, tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội. Thế nhưng hiện nay đang có một số cá nhân, tổ chức đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh, càn quấy. Do đó cần phân biệt rõ thế nào là phản biện xã hội mang tính xây dựng và thế nào là đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh, từ đó ngăn chặn hiện tượng nguy hiểm này.

Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng ý kiến đóng góp

Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay luôn luôn coi trọng ý kiến đóng góp phê bình, kiến nghị với Đảng và Nhà nước về các vấn đề quốc kế dân sinh của mọi tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ: “Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân”; “Phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”... Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò tự quản của nhân dân”...

Phản biện xã hội là một hình thức, một biện pháp cụ thể thể hiện quyền của nhân dân và ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với công việc chung của đất nước; thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân; thể hiện lòng tin của Đảng, Nhà nước đối với trình độ chính trị, mức độ hiểu biết của nhân dân về lãnh đạo và quản lý. Đây cũng là minh chứng cho thấy Nhà nước ta thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Trong đời sống chính trị-xã hội của một đất nước luôn tồn tại nhu cầu cá nhân đưa ra những quan điểm, chính kiến của mình, cũng như cơ quan nhà nước lựa chọn, tranh thủ ý kiến, nhận xét của các tổ chức, cá nhân, xã hội để đưa ra những quyết sách đúng đắn, kịp thời, hợp lý nhất trong quá trình nhận diện và giải quyết các vấn đề cuộc sống đặt ra. Phản biện xã hội về thực chất là người dân, các tổ chức chính trị-xã hội, xã hội-nghề nghiệp góp sức với Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng các chủ trương, chính sách, chuẩn bị các quyết định về chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. 

Đó được hiểu là sự nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến khẳng định những nội dung đúng đắn của chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình, dự án, đề án, đồng thời phát hiện những điểm chưa chính xác, chưa phù hợp với đời sống xã hội và lợi ích chính đáng của nhân dân để kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung cho chính xác, phù hợp. Trong phản biện xã hội, bên phản biện không chỉ phản bác mà còn tán đồng, đề xuất những ý kiến sửa đổi, bổ sung có luận cứ chứng minh kèm theo nhằm làm cho dự án, kế hoạch đưa ra được đầy đủ, hoàn thiện hơn, góp phần tạo ra và bảo đảm sự đồng thuận xã hội, sự đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Phân biệt rõ giữa xây dựng và phá hoại

Phản biện xã hội khác với phá bĩnh xã hội. Phản biện xã hội để tìm ra và góp ý tìm cách sửa chữa cái sai, góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng chính sách, quyết định, giải pháp cho vấn đề cần giải quyết, vì lợi ích chung, sự tiến bộ. Ngược lại, phá bĩnh xã hội về bản chất là hành vi và lời nói mang tính phá hoại vì lợi ích riêng, lợi ích nhóm, song giả danh phản biện, giả danh cái tốt, cái tiến bộ để cố ý gây rối, phá phách trực tiếp cốt làm hỏng công việc hoặc mất trật tự xã hội chung, vùi dập con người, phủ nhận chính sách, phủ nhận sự phát triển của tập thể và đất nước... 

Phá bĩnh xã hội là công cụ sở trường của nhiều trang mạng, các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, cơ hội chính trị, luôn tìm mọi cách tán phát những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu khống và chụp mũ, đả kích, nói xấu mang tính chống đối, lật đổ, xuyên tạc sự thật nhằm gây nghi ngờ, chia rẽ đoàn kết, phá hoại lòng tin, sự đồng thuận xã hội trong nước, trong Đảng và bôi nhọ, hạ uy tín của Đảng, Nhà nước hoặc của doanh nghiệp Việt Nam cả trong nước và trên trường quốc tế.

Đặc điểm chung nổi bật của việc phá bĩnh xã hội là nhân danh phản biện xã hội để bình luận tùy tiện, suy diễn, xỏ xiên, quy kết với quan điểm cá nhân, tựu trung lại là nói xấu Đảng, phản đối chế độ và chính sách hiện hành, phủ nhận thành tựu và sự phát triển của đất nước; thậm chí, nhiều kẻ còn cài cắm ngụ ý, qua đó khoe khoang và khéo thể hiện mình là người thông minh, cấp tiến, vì dân, vì nước...

Tiêu biểu cho các lực lượng chuyên hoạt động theo cách thức này là những tổ chức, cá nhân ở nước ngoài như: “Liên minh dân tộc Việt Nam” do Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu; “Đảng Vì dân” do Nguyễn Công Bằng và Trịnh Thị Ngọc Anh cầm đầu, v.v...

Chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại đất nước

Một sự việc thể hiện rõ sự xuyên tạc trắng trợn, chua ngoa và lộ liễu là ngày 10-6-2023, trang tin "Chân trời mới Media" và trang RFA đăng bài viết với tiêu đề: “Nhóm lợi ích” lớn nhất và nguy hiểm nhất... Trong đó, tác giả đã quy kết ý kiến của một đại biểu Quốc hội đề nghị Chính phủ dùng 130.000 tỷ đồng cắt lỗ cho EVN là ý kiến đã được sự đồng thuận chung của cả Quốc hội là biểu hiện của lợi ích nhóm và bản chất thể chế hiện hành. Tác giả bài viết đã cố tình đánh lừa người đọc, bởi thông lệ chung trong nghị trường của tất cả các nước trên thế giới là luôn có sự đa dạng ý kiến, thậm chí ý kiến ngược chiều nhau. Có vậy mới cần hình thức bỏ phiếu để thông qua quyết sách quốc gia, quyết định theo đa số phiếu...

Trên thực tế, ngay tại Quốc hội, ý kiến trên đã không được tiếp thu vì thiếu căn cứ pháp lý. Vậy mà tác giả bài viết đã cố tình "đánh lận con đen", quy kết xỏ xiên, đầy kích động rằng: “Bất kể các “nhóm lợi ích” hành xử trắng trợn đến thế nào thì tất cả vẫn vô can, bởi ngoài lợi ích riêng tư, các “nhóm lợi ích” này đều tận tình bảo vệ quyền lực-“lợi ích” nền tảng của “nhóm lợi ích” lớn nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam”. Ở đây, sự suy luận vô lý đã bị đẩy lên cao trào, bộc lộ rõ mục đích của tác giả bài viết là nhân danh phản biện để chống phá Đảng, chế độ và Nhà nước Việt Nam.

Đáng chú ý là các thế lực thù địch không chỉ đội lốt phản biện xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước mà còn muốn dìm các doanh nghiệp Việt Nam. Ví dụ, ngày 18-2-2023, Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh VinFast thông báo triệu hồi để kiểm tra, khắc phục miễn phí lô 2.781 xe VinFast được sản xuất tại Nhà máy VinFast ở Hải Phòng trong khoảng thời gian từ tháng 9-2022 đến tháng 2-2023, thuộc hai phiên bản xe VF8, do phát hiện có lỗi lắp ráp linh kiện có thể làm giảm tác dụng của phanh phía trước.

Vậy mà chỉ hai ngày sau, trên trang Facebook tổ chức Việt Tân đã tán phát bài viết với tựa đề: “Nguy hiểm quá”, trong đó đưa ra ý kiến bình luận kiểu phá bĩnh rằng: “Nếu bị lỗi phanh trong khi xe đang chạy trên đường, có thể dẫn đến tai nạn chết người. Nguy hiểm quá!” và nhận định tùy tiện: “VinFast không xong rồi!...”. Trên thế giới, việc thu hồi sản phẩm để sửa chữa là bình thường trong ngành sản xuất ô tô, kể cả ở Nhật Bản, Mỹ và các nước châu Âu. Chỉ là một dịch vụ hậu mãi đơn thuần gắn với một lỗi kỹ thuật được công ty chủ động phát hiện và sửa chữa vì quyền lợi của khách hàng mà bị bóp méo thành dấu hiệu của sự phá sản. Liệu Việt Tân có dám đăng những bình luận kiểu đó với các hãng xe nước ngoài khác hay không? Hay họ sợ bị kiện ra tòa và dễ mất tiền to vì đặt điều vu khống, "dìm hàng” doanh nghiệp?

Ở trong nước, một số tổ chức tự xưng, trái pháp luật như: “Hội Nhà báo độc lập”; “Văn đoàn độc lập Việt Nam”... cũng ưa chuộng cách thức mượn danh phản biện xã hội để tuyên truyền cho các mục tiêu chính trị sai trái của mình.

Gần đây, lợi dụng chủ trương góp ý dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), đã xuất hiện một số trang web, blogger tham gia “góp ý” theo kiểu cố ý bẻ cong sự thật, làm cho người dân hiểu sai từ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” thành “đất đai là độc quyền sở hữu của Nhà nước”, coi đó là cội nguồn của đầu cơ, tham nhũng đất đai. Thậm chí, họ còn xuyên tạc rằng việc sửa luật như “đẽo cày giữa đường”, “càng sửa càng mù mờ”, càng dễ thao túng, rằng Luật Đất đai chỉ giúp làm “sân chơi” cho giới chủ bất động sản đứng sau quan chức, từ đó cố tình kích động hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bên cạnh đó, ngay trong các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước cũng có một số người ngộ nhận, tự cho mình là người “phản biện”, có tư tưởng “tiến bộ”, lấy danh nghĩa phản biện xã hội, thông qua các “thư ngỏ”, “kiến nghị” gửi các cấp, các ngành, gửi các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đăng tải trên mạng xã hội, blog, website cá nhân, trả lời phỏng vấn của các đài, báo nước ngoài... để nêu ý kiến cá nhân về những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương. Trong đó, họ cố tình miệt thị, công kích, bóp méo sự thật và xuyên tạc chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thổi phồng những tồn tại, hạn chế của đời sống xã hội, từ đó tuyệt đối hóa tự do, dân chủ, thậm chí quy chụp cực đoan rằng mọi hạn chế và tiêu cực trong đời sống kinh tế-xã hội nước ta đều có chung nguyên nhân là sự trì trệ về chính trị và “do độc Đảng”.

Tỉnh táo nhận diện những kẻ giả danh

Có thể thấy, việc nhận diện và ngăn chặn sự lợi dụng phản biện xã hội để phá bĩnh xã hội, chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội, phản động, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ... là cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng Đảng cũng như giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Để làm việc đó, cần quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc và hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 26-10-2022 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội.

Cần chủ động công khai, minh bạch thông tin và giải trình nhanh, đúng đắn, chính xác về những chủ trương, chính sách, bảo đảm thông tin chính thống giữ vai trò chủ đạo, làm căn cứ thẩm định và định hướng dư luận, phản bác kịp thời thông tin từ những kẻ phá bĩnh, càn quấy. Khi nhận thấy trường hợp đội lốt phản biện có dụng ý xấu, cần phải làm rõ động cơ, mục đích để có biện pháp xử lý phù hợp; có chế tài xử lý việc lợi dụng góp ý, phản biện nhằm gây rối xã hội.

Đồng thời cần tăng cường công tác quản lý nội bộ, đấu tranh và xử lý đối với biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, phẩm chất, năng lực, uy tín giảm sút, thiếu gương mẫu, gây mất đoàn kết, cục bộ, bè phái, cơ hội...

Mỗi người dân cần tỉnh táo, thận trọng, trang bị cho mình “bộ lọc” và thông tin cần thiết giúp nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng phản biện xã hội để gây nhiễu thông tin, chống phá đất nước của các thế lực thù địch, phản động. Đặc biệt, cần chú ý trước những thông tin không rõ nguồn, được viện dẫn rất vu vơ, mơ hồ, xuất phát từ các ý kiến của những người mượn danh phản biện, các “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến” vốn có thành kiến, có âm mưu, hành động chống phá Đảng, Nhà nước.

Phẩm chất đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị

 

Tình yêu thương và lòng khoan dung đối với mọi người, hết lòng vì con người. Khổng Tử đã từng răn dạy: Mình muốn lập thân thì cũng muốn người lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng muốn người thành đạt, điều gì mình không muốn thì đừng đem đối xử với người. Nói cụ thể hơn, cách tốt nhất để nâng cao uy tín của người lãnh đạo, quản lý là người đó suốt đời phấn đấu, hy sinh, đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người. Làm được như thế thì nhất định sẽ được mọi người yêu mến, quý trọng và giúp đỡ.

Sống ngay thẳng, trung thực, giản dị, phấn đấu thực hiện tốt: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nhân, nghĩa, trí, dũng. Điều quan trọng là hiểu mình và hiểu người, biết khước từ mọi cám dỗ đời thường, biết chế ngự lòng tham và sự si mê đồng tiền, si mê quyền lực, không mưu cầu danh lợi, không thu vén, tư túi cá nhân. Bởi đó là con đường ngắn nhất để giết chết cái tâm, cái đức, cái tài, đưa sự nghiệp tiêu vong, làm cho mọi người oán trách.

Suốt đời học tập, rèn luyện, tu dưỡng để nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết, thấy cái xấu phải tránh, biết việc nên làm thì gắng làm, đồng thời giúp mọi người học tập, rèn luyện để mở mang tri thức, nâng tầm hiểu biết. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trên giao, không bị tụt hậu, lạc hậu. Các nhận định, quyết định, chủ trương, chính sách, giải pháp, biện pháp đề xuất mới chuẩn xác, đạt hiệu quả, hợp lòng dân, tránh được sai lầm, tổn thất.

Biết khen chê, thưởng phạt người dưới quyền một cách công minh, thấu tình, đạt lý, biết thuyết phục mọi người, làm cho mọi người “tâm phục, khẩu phục, trí phục”, biết hướng thiện và làm cho họ luôn tin tưởng vào lẽ sống và con đường đi mà người lãnh đạo đã chỉ dẫn, làm cho họ yêu đời và tự tin hơn, biết làm việc, biết sống với mọi người sao cho có tình, có nghĩa, có thuỷ, có chung. Người lãnh đạo, quản lý còn phải biết tổ chức tự phê bình và phê bình nhằm giúp cho con người và tổ chức trở nên vững vàng hơn, tốt hơn, đẹp hơn. Từ đó, phát hiện, lựa chọn và nuôi dưỡng nguồn kế cận, kế tiếp cho Đảng, cho dân, “như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”.

CÔNG NHÂN

“Phẩm chất bộ đội cụ Hồ” tiếp quản 16 tấn vàng sau ngày giải phóng

 

Trong ký ức về nhiệm vụ đặc biệt ấy, ông Hoàng Minh Duyệt không bao giờ quên được khoảnh khắc khi cùng nhóm kiểm kê, đặt chân vào tầng hầm dự trữ của Ngân hàng Quốc gia, bởi đây là lần đầu tiên trong đời, ông nhìn thấy vàng nhiều đến thế. 1.234 thỏi vàng nguyên chất, mỗi thỏi nặng khoảng 12-14kg, tất cả đều khắc số hiệu và tuổi vàng. Ngoài ra còn có ngoại tệ, các đồng tiền vàng cổ, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau. Tất cả đều được đặt trong những chiếc tủ sắt đặt trong hầm chứa.

 "Khi tiếp quản Ngân hàng Quốc gia, tay sờ, mắt thấy số lượng vàng và tiền rất quý giá. Nhưng anh em chúng tôi không hề có ý nghĩ lấy đồng xu cắt bạc trong đó làm của riêng"- ông Duyệt nói.

 11 tháng, kể từ khi tiếp quản Ngân hàng Quốc gia cho đến khi bàn giao lại lại tài sản cho cán bộ phụ trách mới vào tháng 3/1976, công việc của những người lính trẻ trong khoảng thời gian này tuy có vẻ đơn giản nhưng trong thực tế hết sức hiểm nguy và đầy cám dỗ. Không chỉ xử lý sự quấy phá của tàn dư địch, lo lắng với nạn trộm cướp mà còn phải đối mặt với ma lực của đồng tiền. Việc 16 tấn vàng dự trữ của chế độ cũ cùng các tài sản khác được bảo quản nguyên vẹn chính là một điều ngoạn mục, minh chứng cho tình yêu đất nước và phẩm chất cao quý của người bộ đội cụ Hồ. Khẳng định rằng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, bom rơi đạn lạc hay đứng trước sự mê hoặc của vật chất, họ vẫn luôn giữ vững tinh thần, đặt lợi ích của nhân dân, của quốc gia lên trên lợi ích cá nhân. Cựu chiến binh Nguyễn Xuân Dũng – một chiến sĩ thuộc Đơn vị tiếp quản Ngân hàng Quốc gia năm ấy cho hay, trong đoàn quân tiếp quản, ai cũng một lòng hướng về Tổ quốc, lao động miệt mài và đầy trách nhiệm.

 "Hồi đó tất cả anh em trong đơn vị luôn tâm niệm giữ gìn tài sản quốc gia. Công tác bảo vệ là an toàn tuyệt đối, nội bất xuất ngoại bất nhập. Chỉ huy điều đi đâu cũng đi hết, không nề hà, bất kể đêm ngày để không xảy ra bất cứ điều gì"- ông Dũng kể.

 Đồng lòng với ông Hoàng Minh Duyệt và ông Nguyễn Xuân Dũng, người đồng đội Đặng Tài Ô chia sẻ: cả đơn vị khi ấy có thể nói là “ngồi trên một đống vàng”, nhưng sự trăn trở, niềm khao khát về một tương lai đủ đầy cho đồng bào còn nặng hơn số vàng 16 tấn kia gấp nhiều lần.

 "Khi biết ở dưới có vàng, bản thân thấy rằng đây là trọng trách rất nặng nề. Nhưng anh em cũng rất vui mừng sung sướng vì được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ bảo vệ huyết mạch kinh tế lớn của đất nước, đảm bảo tài sản được an toàn để góp phần giúp cho Nhà nước tiếp tục quản lý và phát triển đất nước sau khi hoàn toàn giải phóng"- ông Đặng Tài Ô nói. 

Sau giải phóng miền Nam, hoàn thành nhiệm vụ, những người lính năm ấy bây giờ mỗi người một nơi, dù hoàn cảnh khác nhau nhưng chắc chắn những ký ức về một thời hào hùng, về nhiệm vụ đặc biệt ngày đầu giải phóng vẫn luôn hiện diện trong tâm thức của những người lính cụ Hồ, của những người con Cách mạng. Câu chuyện về những người tiếp quản 16 tấn vàng năm xưa và phẩm chất của họ sẽ luôn được trân trọng, lan tỏa./.

CÔNG NHÂN

Phát triển đội ngũ trí thức trẻ phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức của nước ta.

 

Chủ động tích cực các biện pháp giáo dục chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam chân chính cho thế hệ trẻ, nhất là trí thức trẻ nhằm nâng cao khả năng miễn dịch trước sự xâm nhập của các thứ tư tưởng và văn hóa xấu độc từ bên ngoài vào.

Đây là giải pháp giữ vị trí quan trọng hàng đầu và có tầm chiến lược, bởi vì, trận địa chính trị tư tưởng đứng ở vị trí hàng đầu trong cuộc đấu tranh giai cấp đang diễn ra hết sức quyết liệt, trong thế giới hiện đại. Các thế lực thù địch, ý thức rất rõ điều này và chúng tiến hành cuộc tiến công về lý luận tư tưởng hết sức bài bản và quyết liệt, không hề khoan nhượng trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, mọi lúc, mọi nơi và mọi cấp độ chính trị, xã hội. Trí thức trẻ là điểm ngắm được các thế lực thù địch tính toán rất kỹ lưỡng và tiến hành có hiệu quả, như đã được phân tích ở trên. Thực hiện tốt giải pháp này nguyên khí của quốc gia, dân tộc cả ở hiện tại và tương lai sẽ được bảo vệ và phát huy lên một tầm cao mới. Nếu không tạo được khả năng miễn dịch cho thế hệ trẻ, đặc biệt là trí thức trẻ thì hậu quả thật khó lường.

Tăng cường các biện pháp vĩ mô và vi mô nhằm phát huy cao độ vai trò của đội ngũ trí thức nhất là trí thức trẻ nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang đứng trước những thời cơ mới, nhưng cũng không.ít thách thức đang đặt ra phía trước, trong đó có nguy cơ tụt hậu. Con đường ngắn nhất và nhanh nhất để tránh tụt hậu về kinh tế, chính trị, xã hội và cả về quân sự, đó là phải biết phát huy cao độ trí thông minh, sáng tạo của người Việt Nam. Chính sự thông minh và sáng tạo đã giúp cho dân tộc ta trường tôn, để rồi làm nên chiến thắng huy hoàng và vượt qua khủng hoảng kinh tế trở thành huyền thoại của lịch sử nhân loại trong thế kỷ XX, đang được viết tiếp trong thập niên đầu của Thế kỷ XXI. Hội nghị Trung ương 7 khóa X, Đảng ta khẳng định: “Đội ngũ trí thức đã đóng góp tích cực vào xây dựng những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước và giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đôi mới, trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài, sáng tạo những công trình có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, nhiều sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh; từng bước nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của đất nước vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới. Cùng với sự phát triển của đất nước, đội ngũ trí thức đã tăng nhanh về số lượng, nâng lên về chất lượng; góp phần trực tiếp cùng toàn dân đưa nước ta rạ khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước xóa đói, giảm nghèo, phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhiều trí thức trẻ thể hiện tính năng động, sáng tạo thích ứng nhanh với kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Đa số trí thức Việt Nam ở nước ngoài luôn hướng vê Tổ quốc; nhiều người đã về nước làm việc, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển đất nước”.

Đào tạo và sử dụng có hiệu quả đội ngũ trí.thức, nhất là đội ngũ trí thức trẻ phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực hiện giải pháp này, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có các biện pháp và chủ trương chính sách về đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức một cách khoa học và hợp lý nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cụ thể là: Xã hội hóa công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức, nhất là trí thức trẻ, làm tốt biện pháp này, tránh được lãng phí đội ngũ trí thức giảm được chi phí đào tạo từ ngân sách và đa dạng hóa trí thức, sớm ban hành các chính sách thu hút và sử dụng người tài vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: Tuân thù triệt để nguyên tắc vì việc mà tìm người, không nên vì người mà bố trí việc. Kiên quyết không để tình trạng người thực tài bị vùi dập còn kẻ bất tài trở thành “vĩ nhân” , bởi những hiện trạng này nếu để kéo dài thì không thể giáo dục, thuyết phục thế hệ trẻ, đặc biệt là trí thức trẻ./.

TRƯỜNG TỒN

Những người phụ nữ Việt Nam nơi tuyến lửa

 

Nhớ về những năm tháng thanh xuân rực lửa ấy, Thượng tá Nguyễn Thị Hải, Uỷ viên Ban liên lạc Cán bộ Công an chi viện chiến trường miền Nam - một trong các học viên trường “Nữ trinh sát đặc biệt” xung phong vào tuyến lửa miền Nam chia sẻ, để chủ động đối phó với âm mưu của đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh cục bộ ra miền Bắc, thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Bộ Công an đã tổ chức trường Nữ trinh sát đặc biệt (mật danh trường Y) để đào tạo về công tác báo vụ và nghiệp vụ Công an cho các nữ học viên, nhằm cài cắm vào các địa bàn trọng điểm, đề phòng trường hợp Mỹ mở rộng chiến tranh đưa quân ra đánh chiếm miền Bắc.

Từ chủ trương này, năm 1966, Trường “ Nữ trinh sát đặc biệt” (với mật danh trường Y) đã ra đời. Trường chỉ gồm 3 lớp với tổng cộng 60 nữ học viên, ở độ tuổi 12-14, được tuyển chọn từ các gia đình có thành phần cơ bản, trung thành với cách mạng.

Sau khi qua đào tạo, các nữ trinh sát đặc biệt này có nhiệm vụ hoạt động nằm vùng trong lòng địch, nắm tình hình, giữ vững liên lạc với Bộ Công an và Trung ương Đảng. Đúng với tên gọi trường nữ trinh sát đặc biệt, các học viên đều phải trải qua một chương trình đào tạo đặc biệt, rất bài bản và khắt khe, nhất là về bản lĩnh chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm hoạt động trong vùng địch tạm chiếm.

Tất cả các học viên khi ấy còn rất trẻ, ấy vậy mà đã phải học về kỹ thuật đào hầm, nằm hầm bí mật không để lại dấu vết; kỹ thuật bắt liên lạc với đồng đội trong đêm tối, nơi hoang vắng, tạo vỏ bọc sống hợp pháp khi hoạt động nghiệp vụ… Quan trọng hơn cả là phải đảm bảo yếu tố bí mật của nhiệm vụ, ngay cả người thân trong gia đình cũng không được biết.

Bị thất bại thảm hại trong cuộc chiến tranh cục bộ buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang, đơn phương ngừng ném bom miền Bắc và chấp nhận ngồi đàm phán với ta tại Hội nghị Paris. Nguy cơ miền Bắc bị tấn công đánh chiếm không còn, trong khi miền Nam đang rất cần đội ngũ cán bộ thông tin liên lạc, Thượng tá Nguyễn Thị Hải và nhiều học viên trường Y đã tình nguyện xin được vào chiến đấu ở miền Nam. Nguyện vọng đó đã được lãnh đạo Bộ Công an chấp thuận.

Cuối năm 1967, 18 nữ trinh sát đặc biệt trường Y được lựa chọn trong đó có bà đã lần lượt được chi viện vào chiến trường miền Nam. Lúc đó, bà sắp tròn 15 tuổi. Dù biết rằng vào chiến trường, cuộc sống sẽ vô cùng cam go vất vả, ngày ra đi khó hẹn ngày về, song bà và các chị em trường Y ai cũng háo hức lên đường.

Những năm tháng ở chiến trường, dù cuộc sống vô cùng gian khổ. Đói cơm, nhạt muối quanh năm. Món ăn thường trực là củ mài, củ chuối, củ khoai, củ nầng, cùng rau rừng, măng đắng, và ai nấy đều gầy guộc, xanh xao bởi những trận sốt rét rừng, hay những trận mưa bom ác liệt. Song họ vẫn lạc quan, tin tưởng vào sự tất thắng của cách mạng, luôn yêu thương đùm bọc, động viên nhau kiên trì bám trụ chiến trường…

 Cho đến hôm nay, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, gặp lại những nữ cán bộ Công an chi viện chiến trường miền Nam năm nào, dù nay tóc đã bạc, nhưng những năm tháng chiến tranh khốc liệt ấy vẫn in đậm trong ký ức của họ. Đó không chỉ là những tháng ngày đói cơm, nhạt muối, những trận sốt rét rừng xanh xao, những mùa mưa xối xả không gạo, không rau hay tiếng gầm rú của B52 rải thảm mà còn là những nỗ lực không ngừng để hàng triệu bức điện mật được chuyển đến và đi chính xác, kịp thời, nhằm báo cáo về Trung ương về tình hình chiến trường miền Nam cũng như  thông báo cho An ninh miền Nam những tin tức có tầm chiến lược, những tin tức đột xuất, giúp bảo vệ an toàn cơ quan đầu não, bảo vệ trong sạch  nội bộ, tránh được nhiều tổn thất những lần địch dùng máy bay B52, phi pháo hay những đợt hành quân, đánh phá hoặc xâm nhập vào nội bộ của ta./.

       TRƯỜNG TỒN

Theo Công an nhân dân

Nhận thức sâu sắc về Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ khác hẳn về bản chất và đối lập về nguyên tắc với dân chủ tư sản.

 

Đó là chế độ dân chủ “gấp triệu lần” hơn bất cứ chế độ dân chủ nào trong lịch sử như V.I.Lê nin từng khẳng định. Thực thi dân chủ sai nguyên tắc, vô nguyên tắc đều là trái với lí tưởng của cách mạng, với bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa, có thể dẫn đến hậu quả khó lường. Xa rời những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, thì việc dân chủ hóa sẽ trượt sang dân chủ phi xã hội chủ nghĩa và đồng nghĩa với việc thủ tiêu chủ nghĩa xã hội. Cần nhớ lại một bài học đau xót và thấm thía về sự vi phạm dân chủ và thực thi dân chủ sai nguyên tắc ở  Liên Xô trong thời gian cải tổ. Những đơn thuốc “công khai hóa”, “dân chú hóa”, “đa nguyên chính trị” đưa ra nhằm cải tổ chủ nghĩa xã hội lại tạo thời cơ, điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch ráo riết hơn, quyết liệt hơn trong mưu đồ chống phá và dẫn đến thủ tiêu chế độ  Xô viết.

Thực tiễn cho thấy, bản chất tốt đẹp và tính ưu việt cửa nền dân chủ nước ta ngày càng thể hiện sinh động trong cuộc sống hằng ngày của quần chúng nhân dân. Kể từ khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), các tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức đứng lên làm chủ, tự mình tổ chức, cai quản và xây dựng xã hội mới. Đó là thành tựu vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Chế do dân chủ ở nước ta, xét về bản chất, là một thể chế chính trị mà trong đó quyền lực chính trị - xã hội thuộc về nhân dân, là chế độ bảo đảm quyền làm chủ trên thực tế của nhân dân trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa tinh thần phát huy cao độ tính tích cực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các văn bản hiến pháp, pháp luật mà ngày càng được thể hiện sinh động trong cuộc sống hằng ngày.

Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trong xã hội ta, mọi công dân Việt Nam đều có quyền tham gia quản lí xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện do mình lựa chọn. Trong các cuộc bầu cử Quốc hội và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, tỉ lệ cử tri đi bầu rất cao. Tỉ lệ đại biểu là nữ, người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo trong Quốc hội ngày càng cao, nhất là tỉ lệ nữ là đại biểu Quốc hội đứng thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đứng thứ 9/135 nước trên thế giới. Việc truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn của Quốc hội; việc thực hiện đối thoại trực tuyến của Chủ tịch nước, của Thủ tướng Chính phủ. . . với nhân dân, những cuộc tiếp xúc của các đại biểu với cử tri chuẩn bị cho các kì bầu cử Quốc hội đã tạo điều kiện tốt hơn cho người dân thực hiện quyền làm chủ, thực thi quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động của Nhà nước và đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình. Điều đó thể hiện sâu sắc bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ dân chủ ở nước ta.

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch triệt dễ sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại trong đó có mạng Internet vào việc truyền bá các quan điểm thù địch, sai trái, xuyên tạc, công kích chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong rất nhiều tài liệu tán phát trên mạng chúng vu cáo Đảng và Nhà nước ta vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, mà biểu hiện lộ liễu nhất là mới đây, một số tổ chức và cá nhân đã dựng đứng lên tình hình vi phạm quyền tự do ngôn luận nghiêm trọng ở Việt Nam rồi kêu gọi Việt Nam “thả các blogger bị cầm tù và tôn trọng tự do Internet”. Những ai xuyên tạc tình hình Việt Nam cần phải thấy rằng, hiện nay báo chí Việt Nam có sự phát triển nhanh về số lượng, loại hình, ấn phẩm, đội ngũ những người làm báo, số lượng người đọc; cơ sở vật chất kĩ thuật, công nghệ, năng lực tài chính, sự tác động và ảnh hưởng xã hội. Báo chí thực sự là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, là diễn đàn của nhân dân; quyền tự do báo chí được bảo đảm bằng pháp luật và thể hiện cụ thể trong thực tiễn.

Ở Việt Nam quyền tự do báo chí tự do hội họp theo quy định của pháp luật. Hiện nay cả nước có 18.259 cơ sở của tổ chức xã hội, 1.681 cơ sở thuộc tổ chức xã hội - nghề nghiệp, có hơn 500 cơ quan báo chí, với hơn 700 ấn phẩm báo chí, hơn 2.500 trang thông tin điện tử đang hoạt động. Những con số này vẫn tiếp tục gia tăng. Hệ thống phát thanh truyền hình phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Hầu hết các xã được phủ sóng truyền hình. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới về Internet. Đó là kết quả biểu hiện rõ ràng và sinh động về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở nước ta. Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam có quyền ngăn chặn việc lưu hành trên mạng các thông tin và hình ảnh vi phạm thuần phong mĩ tục, kích động bạo lực, khiêu dâm, truyền bá các tài liệu chống phá đường lối chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước vi phạm an ninh quốc gia. Đó hoàn toàn không phải là “hạn chế dân chủ”, ngăn chặn sự “bày tỏ quan điểm ôn hòa trên Internet” như có người cố tình gán ghép. Những luận điệu vu cáo Đảng và Nhà nước ta “vi phạm” tự do ngôn luận, tự do báo chí là những luận điệu vô căn cứ, nhằm dụng ý xấu.

Cần phải thấy rằng, dân chủ bao giờ cũng gắn liền với pháp luật và kỉ luật, kỉ cương. Bất cứ một nền dân chủ nào cũng vậy dù là dân chủ tư sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa đều tồn tại trong khuôn khổ pháp luật. Dân chủ không có nghĩa là dân chủ vô nguyên tăc, càng không thể là vô chính phủ. Tự do ngôn luận, tự do báo chí không có nghĩa là tự do đảo lộn “chính”, “tà” Báo chí phải thực sự là “vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”. Lợi dụng dân chủ, lợi dụng tự do báo chí, tự do Internet để gây mất ổn định chính trị - xã hội, chống lại Tổ quốc và dân tộc là hành động không thể chấp nhận được, là trái với dân chủ.

Dù còn có những hạn chế nhất định trên con đường hoàn thiện, nhưng bản chất chế độ dân chủ ở nước ta là tốt đẹp và ưu việt. Bản chất tốt đẹp và tính ưu việt đó không phải tự nhiên mà có, mà đó là kết quả của biết bao mồ hôi công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam. Chúng ta phải kiên quyết bảo vệ, giữ gìn, nâng cao và phát huy trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa./.

CÔNG NHÂN

Nhân cách của người cách mạng trong tình hình hiện nay

 

Hoạt động lãnh đạo, quản lý về thực chất là lao động trí óc, là hoạt động trí tuệ đòi hỏi ở người lãnh đạo, quản lý khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và sự quyết đoán khoa học, chính xác để có được những quyết sách, chiến lược, những giải pháp, bước đi khôn ngoan, sáng tạo nhằm thực hiện tốt mọi nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình. Vì thế mọi quyết định của người lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị không được phạm sai lầm.

Với trọng trách của mình, những người chủ trì phải đồng thời giải quyết nhiều công việc, phải xử lý các mối quan hệ đa chiều, phức tạp, đan xen với nhau, nên ngoài kiến thức, vốn sống, kinh nghiệm, bản lĩnh, tính quyết đoán, tư duy của họ lại cần phải mềm dẻo, uyển chuyển, linh hoạt mới mong công việc đạt hiệu quả cao. Muốn vậy, họ phải tiếp nhận và xử lý thông tin đa chiều nhanh nhạy, chính xác, phải có năng lực phân tích, tổng hợp và khái quát cao, các quyết định phải đưa ra kịp thời, chính xác. Tất cả những phẩm chất này không phải tự nhiên mà có được. Người lãnh đạo, quản lý phải kiên trì học tập, nghiên cứu suốt đời, học ở trường lớp, tự học, tự rèn, học nhân dân và học trong thực tiễn... Có như vậy, người lãnh đạo, quản lý mới "có một cái đầu trí tuệ”, nhìn mọi việc đều có tinh thần phê phán, nhìn nhận, suy xét đúng bản chất sự vật, dự báo xu hướng phát triển một cách có căn cứ, hợp quy luật. Họ còn phải là người có tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám khám phá cái mới. Đó cũng là điều cần thiết để biết tự phê bình và phê bình, biết thế nào là phải, trái, đúng, sai, biết tìm ra căn nguyên sai lầm và tìm cách khắc phục, biết nuôi dưỡng cái đức, cái tâm cho trong sáng, ngay thẳng và hữu ích.

Trong các nhân tố cấu thành tài năng của cán bộ lãnh đạo, quản lý thì tài dùng người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Dùng đúng người, xếp đúng việc thì thành công, dùng sai người, xếp sai việc thì hỏng việc dẫn đến thất bại. Muốn dùng người thì phải hiểu biết và tin người, hiểu biết công việc và tự bản thân có thể làm tốt việc đó. Điều quan trọng để hiểu biết một con người là phải có cái tâm, cái đức trong sáng, dám thừa nhận tài năng và đức độ của người khác, không đố kỵ, ghen ghét, không kèn cựa, dèm pha. Biết dùng người, phát huy được tài năng của con người sẽ củng cổ được tình đoàn kết của cơ quan, đơn vị - một yếu tố tối quan trọng để đưa công việc đến thành công.

TRƯỜNG TỒN

“Nhà tù Côn Đảo” nơi thắp sáng bầu nhiệt huyết cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau.

 

Nhà tù Côn Đảo, kể từ năm 1975 trở về trước, được coi là “Địa ngục trần gian” - nơi in đậm tội ác chiến tranh của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; nhưng nơi đây cũng chính là “Trường học - Lò tôi, vườn ươm cách mạng”, rèn luyện, thử thách, trưởng thành của nhiều lãnh tụ, lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ.

Tại nơi đây, đã có khoảng 20.000 người đã ngã xuống và mãi mãi yên nghỉ trong Nghĩa trang Hàng Dương và trên mảnh đất thiêng Côn Đảo. Trong hệ thống Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Nhà tù Côn Đảo hiện vẫn còn lưu giữ chứng tích gông cùm, xiềng xích, những dụng cụ tra tấn, những hộp thư được khoét bằng tay để người tù gửi thư cho nhau...

Nhà tù Côn Đảo, nơi đánh dấu sự hi sinh, cầm tù của những người chiến sỹ Cách mạng. Giá trị lịch sử củ Nhà tù Côn Đảo,  nơi  thắp sáng bầu nhiệt huyết cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau. Giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc đến thế hệ trẻ, là cần thiết với lớp trẻ hôm nay.