Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

Phút trải lòng của bà mẹ Việt Nam Anh hùng trẻ nhất nước Nguyễn Thị Anh

 

"Dương mất đi là nỗi đau của gia đình, nhưng cũng là mất mát chung của xã hội. Con mình sinh ra nhưng nó cống hiến, hi sinh cho tổ quốc thì những người làm cha mẹ cũng phải gạt nước mắt để chấp nhận" - Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Anh bộc bạch.

Ký ức ngày nhận tin "sét đánh"

Những ngày cuối tháng 7.2022, trong không khí cả nước đang thực hiện những chương trình ý nghĩa, thiết thực đền ơn, đáp nghĩa những người đã cống hiến, hi sinh cho Tổ quốc, PV Báo Lao Động có mặt tại gia đình mẹ Việt Nam Anh hùng trẻ nhất nước Nguyễn Thị Anh, mẹ liệt sĩ Nguyễn Quý Dương.

Ngôi nhà nhỏ nằm sâu trong con ngõ thuộc tổ 13, phường Thịnh Lang, TP.Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, hoa vườn nhà đua nhau khoe sắc, tiếng chim hót râm ran là nơi sinh sống của bố, mẹ và ông nội liệt sĩ Dương.

Dù đã hơn 10 năm trôi qua kể từ ngày con trai duy nhất hi sinh, nhưng mỗi khi nhắc đến đứa con ngoan ngoãn, giỏi giang, trong ánh mắt của người phụ nữ năm nay đã gần tuổi ngũ tuần vẫn hiện lên nỗi buồn sâu thẳm xen lẫn tự hào.

Lật giở từng trang của cuốn album ảnh như lật lại từng trang ký ức, mẹ Nguyễn Thị Anh chậm rãi kể: "Vào một ngày tháng 11.2010, buổi sáng hôm đó, sau giờ trực, cháu còn tranh thủ về qua thăm nhà, rồi mang điện thoại mẹ để quên đến công ty giúp mẹ.

Đến khoảng gần 11h trưa thì nhận được thông tin ở huyện Kỳ Sơn (nay là TP.Hòa Bình) có vụ cháy lớn nên Dương cùng các chiến sĩ trong đơn vị tức tốc lên đường làm nhiệm vụ. Một tiếng sau, đồng đội Dương thông báo con đang bị thương nặng".

Với linh cảm của một người mẹ, dường như mẹ Anh đã đoán biết được sự chẳng lành. Nhưng do cú sốc quá lớn, người mẹ này đã không thể gượng dậy đến nhìn mặt con lần cuối.

Sau giỗ 100 ngày của người con trai, gạt nước mắt, bố mẹ liệt sĩ Dương bắt đầu hành trình tìm con với mong muốn có thể nhìn lại thấy bóng dáng của anh thêm một lần nữa.

4 năm ròng rã chạy chữa khắp Bắc tới Nam, đi đến cả những bệnh viện lớn, nhỏ, ai mách chỗ nào tốt cũng thử nhưng đều thất bại. Sau cú sốc tinh thần, phải mất đến 3-4 năm, gia đình mới cân bằng lại cuộc sống.

"Một thời gian sau, ghi nhận sự hi sinh của cháu cũng như sự mất mát của gia đình, đơn vị và địa phương đã hoàn thành hồ sơ phong tặng liệt sĩ cho cháu vào năm 2013.

Một năm sau đó, các tổ chức đoàn thể động viên tôi làm và gửi hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu. Đến tháng 12.2014 thì có quyết định phong tặng danh hiệu cho cá nhân tôi, thời điểm đó tôi vừa tròn 42 tuổi" - mẹ Anh bộc bạch.

"Dương nằm xuống vì bình yên Tổ quốc"

Trong nghĩa trang liệt sĩ phường Thịnh Lang, TP.Hòa Bình có hơn 40 ngôi mộ liệt sĩ, phần đông là liệt sĩ thời chống Mỹ, một số là liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến Tây Nam và chiến tranh bảo vệ biên giới.

Phần mộ của liệt sĩ Nguyễn Quý Dương xếp ở hàng cuối cùng của nghĩa trang, phần dành cho liệt sĩ thời bình. Trên bia mộ ghi rõ: Liệt sĩ Nguyễn Quý Dương sinh 1989, mất 2010, hưởng dương 21 tuổi.

Mẹ Nguyễn Thị Anh nói: "Theo phong tục người Mường, chuyện bố mẹ ra thăm mộ con thì nhiều người cho rằng kiêng, kị, nhưng mình không nghĩ thế. Hàng ngày đi làm qua, tôi đều dừng lại một chút với con, hôm nào rảnh mà thấy lá rụng nhiều thì dừng xe vào quét dọn sạch sẽ".

Chiếc tủ ngay cạnh bàn thờ liệt sĩ Nguyễn Quý Dương, nơi đựng những món đồ mà người mẹ coi như báu vật - là những vật dụng của đứa con trai khi còn sống. Từ những bộ quần áo anh mặc hàng ngày, sách vở cấp 3, chiếc laptop, bộ quân phục cho đến chiếc mũ đã bị cháy nham nhở anh đội trong trận chiến với "thần lửa" và vĩnh viễn không trở về.

"Với dân tộc Mường thì đồ đạc của người mất thường không được giữ lại. Nhưng con mình mà, mình dứt ruột đẻ ra mà bỏ hết đồ nó đi cũng không đành. Giữ lại để thi thoảng lấy ra ngắm cho đỡ nhớ, để vẫn cảm giác như con vẫn còn đâu đây" - mẹ Anh nói rồi nhìn trìu mến lên tấm ảnh con trai trên bàn thờ.

Được biết, hiện nay Mẹ Nguyễn Thị Anh đang công tác và làm Chủ tịch Công đoàn Công ty TNHH BanDai (phường Hữu Nghị, TP.Hòa Bình).

Nhắc đến công việc, Mẹ phấn khởi nói: "Ở công ty, tôi được anh chị em tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch công đoàn, là tổ chức bảo vệ quyền lợi cho công nhân. Có công việc mình cũng cảm thấy vui vẻ hơn, bớt đi cảm giác cô quạnh".

Theo mẹ Anh, dù không được nghe tiếng gọi "mẹ" từ đứa con trai, nhưng mẹ lại có thêm rất nhiều con, họ là những người bạn học, đồng đội của anh Dương. Mỗi dịp lễ, Tết, đặc biệt là ngày 27.7, họ từ khắp các nơi trở về thăm mộ anh Dương và gọi chung một tiếng "mẹ".

Khi được hỏi về việc nhận con nuôi, mẹ Nguyễn Thị Anh cười, nói: "Con không còn nữa nhưng các cháu ở trong gia đình cũng rất đông, khi cần chúng đều có mặt, từ công việc hằng ngày đến những dịp quan trọng hay khi trái gió trở trời. Do vậy, hai vợ chồng cũng chưa bao giờ có ý định sẽ nhận thêm con".


 

Hậu phương quân đội và xây dựng hậu phương quân đội trong tình hình mới

 

Quá trình lãnh đạo chiến tranh cách mạng, tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến nhiệm vụ xây dựng hậu phương, trong đó có hậu phương quân đội, coi đó là một nhân tố quyết định đến thành bại của sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân.

Lịch sử dân tộc ta là lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã kiên cường, bền bỉ đấu tranh khắc phục, chế ngự, cải tạo tự nhiên, xã hội, anh dũng chống các thế lực xâm lược, đô hộ... để xây dựng, bảo vệ cuộc sống của mình, giải phóng dân tộc và giữ nước.

Đó là lịch sử mà các thế hệ con người Việt Nam đã không ngừng phát triển và sáng tạo những phương cách giữ nước, xây dựng quân đội, chống giặc ngoại xâm. Những tư tưởng “cử quốc nghênh địch”, “lấy ít địch nhiều”, “ngụ binh ngư nông”, “bách tính giai binh”... của ông cha ta đã hàm chứa trong đó những tư tưởng cơ bản về hậu phương quân đội; về mối quan hệ giữa quân đội và hậu phương quân đội; về vai trò quan trọng của hậu phương quân đội trong việc nuôi dưỡng và bảo đảm cho quân đội trưởng thành và chiến đấu chống giặc ngoại xâm; về những nội dung xây dựng hậu phương quân đội. Đó là nghệ thuật quân sự độc đáo, là một giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

Quá trình lãnh đạo chiến tranh cách mạng, tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến nhiệm vụ xây dựng hậu phương, trong đó có hậu phương quân đội, coi đó là một nhân tố quyết định đến thành bại của sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân. Việc xây dựng các căn cứ du kích, căn cứ địa cách mạng; xây dựng hậu phương lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược; xây dựng hậu phương tại chỗ của từng vùng miền; xây dựng khu vực phòng thủ... thực sự là nhân tố quan trọng làm nên chiến thắng của quân dân ta trong các cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc. Điều đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với việc xây dựng hậu phương và hậu phương quân đội, nhằm đáp ứng nhu cầu cách mạng, chiến tranh và xây dựng quân đội.

Thực tiễn sau hơn 35 năm đổi mới đất nước, việc xây dựng hậu phương quân đội được Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm, đạt kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng quân đội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập; so với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra thì kết quả đó còn khiêm tốn. Lý luận và thực tiễn xây dựng hậu phương quân đội còn bộc lộ sự lúng túng trong việc xác định nội hàm và phạm vi, cũng như những quan điểm, giải pháp tổ chức thực hiện xây dựng hậu phương quân đội.

Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển mới. Nhiều vấn đề cơ bản về quân sự, quốc phòng, về chiến tranh và quân đội đã và đang có sự biến đổi sâu sắc, đặc biệt đối với nước ta trước yêu cầu đánh thắng chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao; bảo vệ chế độ, bảo vệ độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, chủ quyền biển, đảo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, phải “Xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện”. Về chính trị, tư tưởng thì: “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”4, “phải xây dựng hậu phương vững mạnh về chính trị, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật”; phải kết hợp chặt chẽ  hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hậu phương là vùng tương đối rộng và hoàn chỉnh, ổn định và vững chắc về nhiều mặt. Ở đó, chúng ta có thể triển khai xây dựng toàn diện: Chính trị, kinh tế, văn hóa... với quy mô ngày càng lớn nhằm đáp ứng được nhu cầu của chiến tranh, nhất là chiến tranh chính quy. Trong quá trình phát triển khi đã có hậu phương rộng lớn chúng ta không coi nhẹ việc tiếp tục củng cố xây dựng cơ sở chính trị, tiếp tục phát triển khu du kích. Phải khai thác chiến lược của chiến tranh nhân dân, khai thác mọi tiềm lực của nhân dân.

Trong tình hình mới, cần phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về hậu phương, xây dựng hậu phương một cách sáng tạo, linh hoạt vào thực tiễn xây dựng hậu phương quân đội. Việc xây dựng hậu phương quân đội không chỉ là sự kế thừa những kinh nghiệm trước kia, mà cần được phát triển, mở rộng nội hàm và phạm vi không gian của nó, đồng thời gắn bó chặt chẽ với tư tưởng về xây dựng và tác chiến khu vực phòng thủ trong thế trận chung của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

Giữ gìn và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới

 

Trải qua 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc, với nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN); không ngại hy sinh, gian khổ, chiến đấu anh dũng, kiên cường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý; được nhân dân yêu mến, vinh tặng danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ-một biểu tượng cao đẹp của người quân nhân cách mạng, một nét văn hóa độc đáo, đặc sắc riêng có của QĐND Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, Người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, Người sáng lập, giáo dục, rèn luyện QĐND Việt Nam và dành tình cảm lớn lao cho cán bộ, chiến sĩ; thường xuyên quan tâm xây dựng Quân đội ta trở thành một quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Người đã dạy, việc nhỏ: “Dù một cái kim, một sợi chỉ cũng không xâm phạm đến của dân”; việc lớn: “Toàn thể cán bộ, chiến sĩ phải ra sức học tập chính trị, quân sự, văn hóa, nâng cao lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân, cần phải nắm vững đường lối quân sự của Đảng, ra sức rèn luyện kỹ thuật và chiến thuật, cần luôn nêu cao cảnh giác, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”. Người cũng yêu cầu mỗi cán bộ, chiến sĩ phải quán triệt sâu sắc và thực hành nghiêm túc quan điểm: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội ta là Quân đội nhân dân. Nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là Quân đội nhân dân phải học chính sách của Đảng”.

Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là một hệ thống chuẩn mực, giá trị tư cách đạo đức của người quân nhân cách mạng, phẩm chất đó tựu trung ở lời khen ngợi của Bác Hồ: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Phẩm chất đó bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam, thấm đượm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và phản ánh sự tin yêu, quý trọng, thừa nhận, tôn vinh của nhân dân là Bộ đội Cụ Hồ; trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của QĐND Việt Nam. Thời gian qua, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ tiếp tục được phát huy, tỏa sáng thông qua thực hiện Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” mà Thường vụ Quân ủy Trung ương (QUTƯ) phát động ngày 26-12-2013. Đây là sự cụ thể hóa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân; thể hiện sự sáng tạo trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của QUTƯ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị (TCCT), sự tôn kính và tình cảm sâu đậm của cán bộ, chiến sĩ toàn quân đối với Bác Hồ kính yêu. Với nhiều chủ trương giải pháp sáng tạo, thiết thực, hiệu quả, sát với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, các cấp ủy đảng đã coi trọng lãnh đạo đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tuyên truyền đầy đủ, nghiêm túc các chuyên đề về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; các quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên trong quân đội, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng. Tổ chức đăng ký phấn đấu thực hiện 5 nội dung Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới theo Hướng dẫn số 202/HD-CT ngày 3-2-2015 của TCCT; đề cao tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt công tác kiểm tra giám sát, tập trung vào nội dung lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Tổ chức nền nếp chế độ sinh hoạt dân chủ ở cơ sở, ngày chính trị văn hóa tinh thần, ngày Đảng... kịp thời nắm, giải quyết tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ.

Các cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 37 của Thường vụ Đảng ủy QSTƯ (nay là QUTƯ) về đẩy mạnh xây dựng chính quy QĐND Việt Nam lên một bước mới; thực hiện làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh. Đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng gắn với các phong trào, cuộc vận động của các cấp, các ngành, động viên cán bộ, chiến sĩ cống hiến sức lực, trí tuệ xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD, góp phần xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất.

Thông qua những việc làm hiệu quả thiết thực, đã xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; nâng cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên; xây dựng các tổ chức trong cơ quan, đơn vị vững mạnh. Cán bộ, chiến sĩ đoàn kết, thống nhất cao, chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội; tích cực vận động nhân dân chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ... qua đó củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt quân dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.

Các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh phong phú, thực hiện tốt văn hóa công vụ... với những nội dung, hình thức biện pháp sáng tạo, hiệu quả, thiết thực, khơi dậy tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện và tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, chiến sĩ tu dưỡng, phấn đấu. Xây dựng môi trường văn hóa phải đồng thời làm tốt việc xây dựng không gian văn hóa và các mối quan hệ trong đơn vị. Theo đó, phải thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng doanh trại, các công trình văn hóa, cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp, chính quy, hài hòa, phù hợp với điều kiện tự nhiên và kiến trúc, thẩm mỹ, văn hóa vùng miền; đầu tư trang, thiết bị phục vụ học tập, sinh hoạt... tạo không khí vui tươi, lành mạnh trong từng cơ quan, đơn vị; không để văn hóa xấu độc thẩm thấu vào đơn vị... Bên cạnh đó, cần chú trọng xây dựng đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân tốt; cán bộ, chiến sĩ có tinh thần bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai, giải quyết tốt những vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập, công tác, trong các mối quan hệ...; nâng cao "sức đề kháng" trước những tác động tiêu cực của xã hội...

Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là một hệ thống chuẩn mực, giá trị nhân cách của người quân nhân cách mạng được hình thành và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và phát triển của Quân đội ta; phẩm chất ấy là kết quả của quá trình lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện không ngừng và luôn vận động, phát triển phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và yêu cầu xây dựng quân đội trong từng giai đoạn cách mạng. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay cần nêu cao tinh thần trách nhiệm với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân và chế độ XHCN; tình cảm sâu đậm với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, làm tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân d

5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" và 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

 

Ngày 28/12/2021, Quân ủy Trung ương ban hành Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, Nghị quyết đã chỉ ra 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" và 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Đây là nội dung hết sức quan trọng, có ý nghĩa thiết thực với cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân; mỗi người phải có trách nhiệm học tập, quán triệt, vận dụng hiệu quả.

5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ"

Một là, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, có đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy.

Ba là, tích cực huấn luyện, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn; có phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao; gương mẫu trong công tác, sinh hoạt; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

Bốn là, có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định của quân đội.

Năm là, chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt; lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Có tinh thần đoàn kết quốc tế, mở rộng và tăng cường đối ngoại quốc phòng góp phần tích cực bảo vệ môi trường hòa bình khu vực và thế giới.

10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

1. Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kị, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

2. Háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân, tham vọng quyền lực, địa vị; chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích, chạy tội, mua và sử dụng bằng cấp giả, giấy tờ giả; tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho mình.

3. Thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, không chấp hành sự phân công, điều động của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác; đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, không tận tâm, tận lực với công việc, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng.

4. Thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; sợ trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi; giấu giếm, bao che và không trung thực về những khuyết điểm, sai phạm.

5. Ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không bảo vệ”, “thấy sai không đấu tranh”; tinh thần tự phê bình và phê bình thấp, lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ và mục đích không trong sáng; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức.

6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để tham ô, nhận hối lộ hoặc để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

7. Cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm để chiếm đoạt tài sản của tập thể; tham gia, xúi giục, cưỡng ép, mua chuộc người khác làm những việc trái chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Đảng, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và đơn vị.

8. Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát; xử lý các sai phạm của cấp dưới không cương quyết, thiếu khách quan; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân.

9. Coi thường lý luận, xa rời thực tiễn, lười học tập, rèn luyện, thích tự do, vô kỷ luật; hoang mang, dao động, hoài nghi về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

10. Phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng; nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Xứng đáng là những “chiến sĩ tiên phong” trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; coi đây là cuộc đấu tranh liên tục, bền bỉ, lâu dài và là một trong những nhiệm vụ xuyên suốt quyết định đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cũng như thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng ta cũng xác định trong đó phải có vai trò tiên phong, đóng góp quan trọng của báo chí cách mạng. Vì vậy, báo chí không chỉ là “chiến sĩ tiên phong” mà còn là công cụ sắc bén để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và nhân dân.

Vai trò “vũ khí lý luận” sắc bén

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn bó với báo chí. Người luôn coi báo chí là phương tiện để vận động, tập hợp lực lượng cách mạng, tổ chức thực hiện mục tiêu cách mạng một cách nhanh chóng, sâu rộng, hiệu quả nhất. Chính vì vậy, dù trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào, hay bất cứ giai đoạn, tình thế nào, Bác cũng vẫn quyết sáng lập, chỉ đạo, phát hành những tờ báo cách mạng. Nên ngay khi thành lập Báo Thanh niên ngày 21/6/1925, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong thời đại ngày nay, không có tờ báo chính trị thì không thể có phong trào gọi là chính trị”, “chúng ta cần trước hết là tờ báo, không có nó thì không thể tiến hành một cách có hệ thống cuộc tuyên truyền, cổ động hết sức có nguyên tắc và toàn diện”, vậy nên báo chí cần “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”; “cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới”. “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”. 

Như vậy, báo chí là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân. Để làm được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới”. 

Và thực tiễn đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, 98 năm qua, Báo chí cách mạng Việt Nam đã luôn làm tốt chức năng tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát hiện, nhân rộng ra toàn xã hội cái hay, cái đẹp, những điển hình, những nhân tố mới; đồng thời, phải tích cực đấu tranh phê phán cái xấu, tiêu cực, tham ô, tham nhũng, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. 

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị ra sức chống phá, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó tập trung công kích những nguyên lý cơ bản và những luận điểm chính trị then chốt cả về lý luận và thực tiễn, những bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin. 

Từ đó đưa ra lập luận đối lập chủ nghĩa Mác-Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhất là triệt để lợi dụng và khoét sâu vào những vấn đề nhạy cảm, những thiết sót, bất cập mà chính quyền chưa kịp thời giải quyết, như giải phóng mặt bằng, xử lý ô nhiễm môi trường, an ninh năng lượng, rồi cả cuộc chiến đấu tranh phòng, chống “tham nhũng” của Đảng, để chống phá, xuyên tạc sự thật, bôi nhọ nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Bên cạnh đó, chúng còn trực tiếp tấn công vào nền báo chí cách mạng Việt Nam, với chiêu bài “tự do báo chí, tự do ngôn luận”, từ đó vu cáo Đảng và Nhà nước ta “vi phạm quyền tự do báo chí”, “vi phạm quyền tự do ngôn luận”, âm mưu “phi chính trị hóa” báo chí nước ta, tách rời báo chí khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho báo chí mất phương hướng chính trị, mất tính chiến đấu. Đây là sự chống phá hết sức thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động. 

Để đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái đó, trong cuộc chiến cam go “không tiếng súng” ấy, báo chí đã góp phần tuyên truyền, phổ biến, lan tỏa những giá trị, tính khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thông tin trung thực, đầy đủ, kịp thời về tình hình đất nước và thế giới, các sự kiện chính trị, những thành tựu quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; những gương người tốt, việc tốt để góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn thông tin xấu, độc. 

Đồng thời, phản ánh, nhận diện chính xác, cụ thể những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch trong và ngoài nước chống phá Đảng, Nhà nước ta đến với đông đảo quần chúng nhân dân, giúp cho cán bộ, đảng viên, nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, tin tưởng tuyệt đối vào chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thuận, đồng hành cùng cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Yêu cầu đặt ra đối với người làm báo 

Từ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ có thể khẳng định, báo chí vừa là công cụ đấu tranh vừa là phương tiện giám sát nhằm phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tuy nhiên, thời gian qua, có không ít người làm báo không giữ vững phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí tha hóa. 

Do đó, để phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện trên, cấp ủy, tổ chức Đảng trong các cơ quan báo chí cần tập trung thực hiện có hiệu quả hai giải pháp đã được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) nhằm phát huy cao độ vai trò của cơ quan báo chí trong đấu tranh và giám sát phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chỉ đạo thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TƯ ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” gắn với thực hiện Kết luận số 53-KL/TƯ ngày 4/6/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ thông tin sai sự thật, xấu độc trên internet, mạng xã hội. 

Tích cực tham gia hưởng ứng Phong trào thi đua “Xây dựng cơ quan báo chí văn hóa và văn hóa người làm báo” theo 6 tiêu chí do Hội Nhà báo Việt Nam phát động. Tiếp tục thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đối với đội ngũ biên tập viên, phóng viên, xây dựng đội ngũ những người làm báo có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ nghề nghiệp ngày càng cao, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm đối với chính tờ báo và bạn đọc của mình. Từ đó làm cơ sở xây dựng cơ quan báo chí trở thành một “pháo đài” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Cùng với đó, từng cán bộ, phóng viên cần phải phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, phương pháp, tác phong công tác trên tinh thần nghiêm túc, nói đi đôi với làm, xây đi đôi với chống, nói và viết đúng chỉ thị, nghị quyết của Đảng, gương mẫu, tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, lối sống, như tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại lời của V.I.Lênin và căn dặn: “Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: Báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung.

 Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công”. Thực hiện tốt những lời căn dặn đó thì người làm báo mới “mắt sáng, lòng trong, bút sắc” vượt được mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đừng để mình trở thành những kẻ “dân túy” tầm thường

Trong công việc, cuộc sống hàng ngày, đối với mỗi cán bộ, đảng viên (CB, ĐV), lời nói không chỉ đóng vai trò là phương tiện giao tiếp, trao đổi, thể hiện trạng thái tâm tư, tình cảm, chia sẻ những kinh nghiệm, triết lý trong cộng đồng, mà còn là cầu nối đưa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn một bộ phận CB, ĐV nói, viết không đúng quan điểm, đường lối của Đảng, đánh giá, bình luận các vấn đề xã hội dưới góc nhìn chủ quan, phiến diện của mình, hoặc ủng hộ, hùa theo số đông. Điều đó không chỉ tạo dư luận xấu, làm phai nhạt niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, mà những CB, ĐV này còn đang tự biến mình trở thành “dân túy” tầm thường. 

“Chủ nghĩa dân túy” và những biểu hiện cụ thể

Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” được sử dụng từ những năm 1890 tại Mỹ trong phong trào thúc đẩy người dân nông thôn và Đảng Dân chủ chống lại những người Đảng Cộng hòa thường sống tập trung ở đô thị. Thuật ngữ này cũng được sử dụng để nói đến phong trào của các trí thức ở Nga tự ghét bỏ tầng lớp của mình và đồng cảm với giai cấp nông dân vào thế kỷ XIX. 

Tuy có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về “chủ nghĩa dân túy” nhưng về bản chất có thể coi chủ nghĩa dân túy là một trào lưu, phong trào chính trị mang tính chất mị dân, sử dụng tâm lý bất mãn của người dân với các vấn đề bất cập trong xã hội, xung đột lợi ích giữa các nhóm đa số và thiểu số trong xã hội để tác động, kêu gọi, tổ chức phong trào nhằm tập hợp, tranh thủ quần chúng phục vụ mục đích chính trị của cá nhân hay tổ chức. 

Chủ nghĩa dân túy đã và đang phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến hệ thống chính trị ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, chủ nghĩa dân túy chưa hình thành trào lưu có ảnh hưởng đến đời sống chính trị - xã hội, tuy nhiên đã có những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy. 

Theo PGS, TS Nguyễn Xuân Phong, Trưởng khoa Chính trị, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho biết: “Đây là một vấn đề hết sức nhạy cảm, vì nó có thể tồn tại ngay trong những CB, ĐV bình thường đến CB, ĐV có học hàm, học vị, tức là những người có trình độ học vấn cao so với mặt bằng chung của xã hội. Biểu hiện rõ nhất ở những CB, ĐV này thường có chung đặc điểm là “tiền hậu bất nhất”. 

Trên diễn đàn, trong hội nghị, khi sinh hoạt Đảng thì họ nói đúng tinh thần, nội dung, ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, không “nghĩ vênh, hiểu sai, nói trái” với quan điểm, đường lối của Đảng, thậm chí có người tỏ vẻ “tiền hô hậu ủng” mọi chủ trương, quyết sách của Đảng, của cấp ủy và tổ chức Đảng cấp mình. Thế nhưng, phía sau diễn đàn, bên ngoài hội nghị, khi xa cuộc họp, chính họ lại có những ý kiến nửa vời, trái chiều, thậm chí lệch lạc với tinh thần nghị quyết”.

Có thể khái quát một số biểu hiện cụ thể CB, ĐV đang sa vào “dân túy” như sau: Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham ô, tham nhũng, dân chủ hình thức, đoàn kết xuôi chiều nhằm phục vụ ý đồ cá nhân; có những phát ngôn “theo đuôi quần chúng”, đặt lợi ích trước mắt của một bộ phận quần chúng lên trên dù không đúng với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phát ngôn, soạn thảo “hồi ký”, cung cấp thông tin tiêu cực, thiếu kiểm chứng liên quan quá trình công tác, vấn đề nội bộ các cơ quan, đơn vị đã hoặc đang công tác để bịa đặt, xuyên tạc, lừa bịp nhân dân về tình hình chính trị nội bộ, gieo rắc sự nghi ngờ trong quần chúng nhân dân về khả năng lãnh đạo của Đảng. 

Nguyên nhân hình thành “chủ nghĩa dân túy” ở những CB, ĐV này có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, như bản thân thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí phấn đấu sa vào chủ nghĩa cá nhân, không đủ bản lĩnh để vượt qua những cám dỗ từ lợi ích vật chất, tham vọng quyền lực, danh vọng, đây là nguyên nhân chủ yếu, mang tính quyết định đến việc mắc phải những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở CB, ĐV. 

Hai là công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý CB, ĐV ở một số chi bộ, đảng bộ còn lỏng lẻo, lơ là, chưa có nhiều giải pháp hiệu quả để tạo sức đề kháng cho CB, ĐV, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng, xử lý các sai phạm của CB, ĐV chưa được chú trọng và thực hiện nghiêm túc, nên chưa có tính răn đe, cảnh tỉnh. Công tác quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền một số nơi vẫn còn thiếu sót, bất cập như trong giải quyết các vấn đề về tranh chấp đất đai, xử lý ô nhiễm môi trường… làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân, là mảnh đất màu mỡ để chủ nghĩa dân túy sinh sôi nảy nở.

Những biểu hiện trên nếu bị các thế lực thù địch phản động lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước sẽ đem lại hậu quả xấu cho sự ổn định và phát triển của đất nước.

Tiếp tục đẩy mạnh phòng chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa”
Phương thuốc đặc trị giúp cấp ủy, tổ chức Đảng ngăn chặn, đẩy lùi “chủ nghĩa dân túy”, chính là đẩy mạnh việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh để củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, ngăn chặn các biểu hiện dân tuý của đội ngũ CB, ĐV. Các cấp ủy Đảng cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm, có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”. 

Từ đó, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái. Khắc phục mọi biểu hiện hình thức, cá nhân chủ nghĩa, “mị dân”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng làm một nẻo”. Chủ động đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với đấu tranh khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và phòng, chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Trên cơ sở đó, tạo sự vững vàng và nhạy bén về chính trị, sự miễn dịch cần thiết, gia tăng sức “đề kháng” và khả năng đấu tranh ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và tác động của những biểu hiện chủ nghĩa dân túy cho CB, ĐV. 

Đồng thời, người đứng đầu các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của CB, ĐV, kết hợp chặt chẽ quản lý tư tưởng với quản lý kỷ luật, giáo dục thuyết phục với các biện pháp hành chính. 

Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tự phê bình và phê bình trong các tổ chức Đảng; duy trì nghiêm quy định, quy chế phát ngôn; kiên quyết phòng, chống mọi biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm”, lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, phát tán quan điểm dân túy, kích động, chia rẽ đoàn kết nội bộ. Xây dựng đội ngũ CB, ĐV có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; gần dân, tin dân, yêu dân, học dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Đối với mỗi CB, ĐV phải tự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tích cực học tập nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn; quán triệt và nhận diện đúng 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ ra, gắn với đấu tranh tự phê bình và phê bình để phòng ngừa các biểu hiện của chủ nghĩa dân túy. Đây là yếu tố quan trọng và mấu chốt trong công tác phòng ngừa với những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy trong CB, ĐV hiện nay.

Để cán bộ phấn đấu hết mình, không sa vào chủ nghĩa cá nhân

Cán bộ, sĩ quan trẻ là lực lượng chủ yếu trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, học tập, lao động, công tác, xây dựng nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, tham gia giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai; là người trực tiếp cùng ăn, ở, sinh hoạt học tập và công tác hàng ngày với bộ đội, chịu trách nhiệm chính trong chỉ huy quản lý tình hình mọi mặt của đơn vị từ con người đến VKTB và cơ sở vật chất. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, đã và đang tác động trực tiếp, khiến cho đội ngũ cán bộ trẻ dễ sa vào “chủ nghĩa cá nhân”, nếu như không được quản lý, giáo dục, rèn luyện chặt chẽ.

Những nhân tố tác động chủ yếu

Thực tiễn cho thấy, đội ngũ sĩ quan trẻ ở đơn vị cơ sở hiện nay đều được đào tạo cơ bản tại các học viện, nhà trường, có trình độ đại học, được trang bị kiến thức quân sự, chính trị, khoa học xã hội nhân văn tương đối toàn diện. Tuyệt đại đa số cán bộ trẻ sau khi ra trường, đều an tâm tư tưởng xác định tốt nhiệm vụ, có động cơ phấn đấu đúng đắn, có xu hướng nghề nghiệp rõ ràng, có tinh thần trách nhiệm cao trong xây dựng đơn vị và phục vụ Quân đội. Cùng với đó, cơ sở vật chất doanh trại, nơi ăn, ở, sinh hoạt, học tập công tác được Quân đội và các đơn vị đầu tư xây dựng cơ bản, đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội luôn được cải thiện, các chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ sĩ quan trẻ ngày càng được quan tâm, đảm bảo tốt hơn. Chất lượng đầu vào của chiến sĩ không ngừng được nâng lên, đây là những điều kiện cơ bản để đội ngũ sĩ quan trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những tồn tại cần được quan tâm, đó là năng lực quản lý, chỉ huy điều hành đơn vị của sĩ quan trẻ, trong đó nổi lên là việc quản lý tình hình tư tưởng, kỷ luật bộ đội vẫn là khâu yếu. Thực tế cho thấy nhiều đơn vị cấp trung đội, đại đội thực hiện nhiệm vụ chính trị huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu rất tốt, song đơn vị không đạt VMTD do có nhiều vụ việc như ý thức chấp hành kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ không nghiêm; hiện tượng nợ nần không khả năng chi trả, uống rượu bia, mất an toàn giao thông, mất an toàn trong huấn luyện… đã ảnh hưởng đến phẩm chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, thành tích thi đua của đơn vị. 

Qua rút kinh nghiệm của các đơn vị cho thấy, do chất lượng đội ngũ sĩ quan trẻ không đồng đều, kinh nghiệm thực tiễn còn ít, năng lực tổ chức và thực hành huấn luyện đang còn là khâu yếu; trong chuẩn bị giáo án nặng về sao chép tài liệu, ít nghiên cứu tìm tòi sáng tạo nhất là nghiên cứu các chiến lệ, các trận đánh, gắn với kể chuyện truyền thống nên bài giảng thiếu sinh động và chưa gắn với thực tế. Khi thực hành huấn luyện chưa nắm vững phương châm, phương pháp còn nặng về lý thuyết, nói dài, sợ bộ đội không hiểu; việc phân chia thời gian cho từng khoa mục huấn luyện chưa hợp lý, phương pháp tổ chức thực hành ôn luyện thiếu khoa học, còn có biểu hiện nóng vội, đốt cháy giai đoạn, không tuân thủ phương châm “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”. Việc tổ chức ôn luyện nhiều đồng chí còn quan liêu thiếu sâu sát, tỷ mỉ nhất là việc sửa tập uốn nắn cho bộ đội từng yếu lĩnh động tác. Sau từng nội dung khoa mục huấn luyện việc kiểm tra đánh giá kết quả của cá nhân và phân đội thực hiện không tốt, nhận xét chung chung, do vậy kết quả chất lượng huấn luyện một số nội dung khoa mục thiếu cơ bản vững chắc.

Cùng với đó, vẫn có một số sĩ quan trẻ mới ra trường chưa tích cực tự học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực, ngại học, ngại rèn, chưa thực sự yên tâm công tác, thiếu kinh nghiệm trong đánh giá, xử lý các tình huống đột xuất, phức tạp, còn tư tưởng ỷ lại, dựa dẫm vào cấp trên. Nên dẫn đến không tích cực sâu sát, bám nắm bộ đội, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của bộ đội để giải quyết thấu tình, đạt lý những vấn đề chiến sĩ quan tâm, tác phong theo lối chung chung, đại khái, thiếu sâu sát, cụ thể, chỉ đạo công tác chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính, duy trì chế độ ngày tuần còn lỏng lẻo nhất là các ngày nghỉ, giờ nghỉ. Vì vậy, không phát hiện được những bức xúc tích tụ từ sự việc nhỏ thành sự việc lớn, dẫn đến xảy ra nhiều vụ việc bất ngờ cho đơn vị. Đây là một trong mười biểu hiện của “chủ nghĩa cá nhân” trong môi trường quân đội, được Nghị quyết số 874 của Quân ủy Trung ương chỉ ra là “…quan liêu, thiếu sâu sát; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân”.

Tích cực rèn luyện bằng thực tiễn

Để phấn đấu hết mình, không sa vào “chủ nghĩa cá nhân”, cấp uỷ, chỉ huy các cơ quan, đơn vị thường xuyên làm tốt công tác giáo dục đạo đức cách mạng, đây là biện pháp tích cực trực tiếp góp phần khắc phục những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ở đội ngũ sĩ quan trẻ. Trong giáo dục, cần tập trung vào nâng cao trình độ nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, yêu cầu xây dựng Quân đội thời kỳ mới. Qua đó xây dựng đội ngũ sĩ quan trẻ trung thành với Tổ quốc có quyết tâm phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, biết đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng lên trên hết. Đồng thời, cùng với giáo dục đạo đức cách mạng, phải tích cực bồi dưỡng tập huấn nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ sĩ quan trẻ, trước hết là năng lực tổ chức huấn luyện bộ đội và công tác tham mưu tác chiến, nhất là nắm vững quan điểm nguyên tắc, phương châm huấn luyện “Cơ bản, thiết thực, vững chắc” đồng bộ và chuyên sâu. 

Một thực tế cho thấy hiện nay, cán bộ sĩ quan trẻ tỷ lệ đào tạo cơ bản nhiều, có thời gian tích luỹ kinh nghiệm đảm nhiệm trên cương vị cán bộ trung đội, đại đội, nhưng tỷ lệ sĩ quan trẻ đạt danh hiệu huấn luyện giỏi lại không cao, trong khi đó để nâng cao chất lượng huấn luyện ở đơn vị nhân tố đầu tiên đó là năng lực và tổ chức huấn luyện của đội ngũ cán bộ. Do vậy, ngoài việc tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cán bộ hàng năm trước khi bước vào huấn luyện, thì việc duy trì nghiêm túc nề nếp thông qua giáo án, bài giảng, tổ chức giảng thử, bình giảng hàng tuần ngoài thực địa, nhằm nâng cao khả năng sư phạm, phương pháp tổ chức huấn luyện cho đội ngũ cán bộ. 

Cùng với đó, cấp uỷ, chỉ huy các cơ quan, đơn vị phải tích cực, chăm lo xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú để ngăn chặn những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân ở sĩ quan trẻ. Môi trường văn hóa tốt đẹp là cái nôi nuôi dưỡng mọi cán bộ, chiến sĩ không ngừng trưởng thành và phát triển, là điều kiện thuận lợi cho mỗi quân nhân tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Phải kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng đội ngũ sĩ quan trẻ với rèn luyện đội ngũ đảng viên. Duy trì nghiêm chế độ đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên hàng tháng, cả năm gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XII) và Chỉ thị số 05 của Bộ chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị làm cơ sở nhận xét đảng viên và xem xét, đánh giá đội ngũ cán bộ cũng như đề nghị, đề bạt, bổ nhiệm, nâng lương, phong quân hàm. Đồng thời phải làm tốt công tác luân chuyển đội ngũ cán bộ giữa cơ quan và đơn vị, giữa chủ lực và địa phương. Nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ sĩ quan trẻ và tạo sự đồng đều giữa cơ quan và đơn vị góp phần xây dựng đơn vị VMTD.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Sự mẫu mực, nói đi đôi với làm của cán bộ sĩ quan trẻ là mệnh lệnh không lời, có sức thuyết phục cao đối với bộ đội, làm cho họ tin tưởng vào cán bộ, chỉ huy các cấp, yêu mến đơn vị, yên tâm công tác. Để thực hiện được điều đó, cán bộ sĩ quan trẻ phải không ngừng tự tu dưỡng, rèn luyện, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, xác định tốt nhiệm vụ, thường xuyên trau dồi trình độ mọi mặt phấn đấu vươn lên tự hoàn thiện mình; gương mẫu trong lời nói và hành động, có ý thức tổ chức kỷ luật, có lối sống trong sạch lành mạnh, tác phong sâu sát, tỷ mỉ, gần gũi với bộ đội, lắng nghe bộ đội nói, nói cho bộ đội hiểu và làm cho bộ đội noi theo, thực sự là trung tâm đoàn kết tập hợp mọi người trong đơn vị để phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, có như thế mới không ngừng tô thắm, làm sáng thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Kim vàng ai nỡ uốn câu

Trong cuộc sống hàng ngày, đối với mỗi cán bộ, đảng viên (CB, ĐV), lời nói không chỉ đóng vai trò là phương tiện giao tiếp, trao đổi, thể hiện trạng thái tâm tư, tình cảm, chia sẻ những kinh nghiệm, triết lý trong cộng đồng, mà còn là cầu nối đưa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận CB, ĐV vì lòng ghen ghét, đố kỵ, mang nặng tư duy “chụp mũ”, thích phán xét người khác, lợi dụng lời nói, phát ngôn làm mất đoàn kết nội bộ.

 Chụp mũ đặt cái “tôi” trên cái “ta” cộng đồng

Vừa rồi gặp lại anh bạn học cùng lớp khi tôi đến đơn vị liên hệ công tác, sau khi nghe tôi đặt vấn đề, liền kéo tôi ra một góc phòng nói nhỏ: “Ông mới đến không biết đấy thôi, nằm trong chăn mới biết chăn có rận, nội bộ cán bộ chủ trì đơn vị hay mâu thuẫn mất đoàn kết lắm, người này nói, người kia không nghe đâu. Chắc việc ông nhờ khó mà thực hiện được”. Nghe bạn nói, tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Tôi thấy Đảng bộ cơ quan cậu nhiều năm liền đạt trong sạch vững mạnh, đảng viên đều hoàn thành tốt nhiệm vụ cơ mà”. Tôi mới nói tới đây, anh bạn đã cắt ngang: “Ôi dào! Chỉ là cái vỏ. Còn không tin ông cứ tìm hiểu xem”. Nhưng trên thực tế, khi tìm hiểu tình hình đơn vị thì được biết, do chủ trì đơn vị duy trì đúng các quy định về thời gian, giờ giấc làm việc, cũng như các chế độ ưu tiên, đãi ngộ theo quy định của Nhà nước, nên không được lòng một số cá nhân và trong số đó có anh bạn tôi do không tranh thủ đi muộn về sớm để đón con được, do đó không hài lòng, nảy sinh tư tưởng chán ghét lãnh đạo, chỉ huy, rồi “chụp mũ” cho rằng đơn vị mất đoàn kết nội bộ. Đấy còn chưa kể đến ở nhiều cơ quan, công sở khi nhàn rỗi, lúc “trà dư, tửu hậu”, việc bàn luận, nói về những gì không ưa ở người khác, hay lãnh đạo, cấp trên, bôi xấu, bóp méo hình ảnh với mục đích kém thiện chí rất phổ biến, nói xấu sau lưng người khác trở thành câu chuyện làm quà, làm thân hay đơn giản chỉ là cho vui. 

Nhưng tựu chung lại, động cơ và mục đích của những CB, ĐV này là khi cảm thấy thua thiệt về chế độ đãi ngộ, năng lực trình độ bản thân hạn chế, không muốn người khác hơn mình, thấy đồng chí đồng đội, bạn bè thành công, phát triển hơn là tỏ rõ lòng ganh ghét, đố kỵ, luôn tìm mọi cách “đâm bị thóc, chọc bị gạo” để “dìm hàng”. Thực tế căn bệnh này đã được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý và văn hóa Việt Nam chỉ ra có nguồn gốc, nguyên nhân đầu tiên và sâu xa là từ tập quán khó xóa bỏ. Lối sống nông nghiệp định cư, biệt lập sau lũy tre làng có mặt trái là dung dưỡng cho tâm lý nông dân, tiểu nông, thích a dua, hòa tan với cộng đồng, có tính đố kỵ, cào bằng, ghét cá nhân tiêu biểu và sự vượt trội, khác biệt hơn người.

Những hiện tượng, biểu hiện kể trên rất nguy hại, một khi đã thành thói quen sẽ càng làm cho thói ghen ghét, đố kỵ, tư duy “chụp mũ”, thích phán xét người khác của CB, ĐV càng thêm trầm trọng và hậu quả càng trở nên khôn lường, bởi ảnh hưởng của nó không chỉ dừng lại ở câu chuyện, hay trong phạm vi cơ quan, tổ chức dưới góc độ mất đoàn kết nội bộ, mà nó dần sẽ lan ra ngoài cộng đồng, xã hội. Biến CB, ĐV từ người chấp hành các nguyên tắc, quy định của tổ chức trở thành người bao biện, né tránh trách nhiệm, phát ngôn tùy tiện, thiếu cả tâm và tầm, ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng, Nhà nước. Từ đó, các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, bóp méo về phẩm chất đạo đức, lối sồng, trách nhiệm và uy tín danh dự của người CB, ĐV. 

Điển hình gần đây khi trả lời dư luận, một cán bộ Sở Xây dựng thành phố Hà Nội lý giải rằng đá lát vỉa hè (loại mà trước đó được khẳng định có độ bền 70 năm) bị nứt vỡ một phần là do mưa nhiều giãn nở, tự vỡ. Cũng sự việc tương tự đá vỉa bị nứt vỡ, một cán bộ ở Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng nắng quá nên bị vỡ. Hay ở Thanh Hóa, kết quả thi công chức của một vài người cao bất thường từ rớt thành đậu, khi bị đặt nghi vấn thì giải thích là do “lỗi đánh máy”. Nếu nhìn nhận khách quan, trên thực tế có những CB, ĐV động cơ, trách nhiệm tốt, nhưng ở một chừng mực nào đó bị lỡ lời, vô tình nói thiếu câu từ, diễn đạt chưa hết ý dẫn đến sự hiểu lầm đáng tiếc, chúng ta có thể cảm thông. Nhưng cũng không hiếm CB, ĐV xuất phát bởi động cơ cá nhân, sự ích kỷ trong lối sống, có những phát ngôn bột phát, thiếu suy nghĩ, thậm chí hết sức vô lý, không chỉ gây cười mà còn khiến dư luận bất bình và các thế lực thù địch lợi dụng để đặt điều, xuyên tạc, ảnh hưởng tiêu cực tới uy tín của tổ chức Đảng là điều rất nguy hại.

Đây chính là căn bệnh  “xu nịnh, a dua”  mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái; “Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng”.

Phải giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn    

Lời nói đúng lúc, đúng nơi mang ý nghĩa to lớn, một lời khuyên ngăn có lí, có tình có thể giúp một con người đang sa vào những con đường lầm lỡ quay đầu lại. Cũng như một lời động viên an ủi cho những người không may, vấp phải khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống giúp họ có thêm nghị lực để vươn lên, thấy mình được quan tâm và hạnh phúc. Đúng như ông cha ta đã đúc kết “Lời nói đọi máu”, “Lời nói gói vàng” hay là “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, mới thấy được sự quan trọng của lời nói trong cách hành xử, giao tiếp của con người. 

Cổ nhân xưa có câu “họa tòng khẩu xuất” là muốn cảnh tỉnh, khuyên răn người đời chớ để cho cái miệng mình nói năng tùy tiện, lung tung mà có lúc tự rước họa vào thân. Làm người, ai cũng có cái mạnh, cái yếu, làm việc ai cũng có “sở trường, sở đoản”, có hạn chế, khuyết điểm, có cái đúng, cái sai. Cho nên khi xem xét, đánh giá cần phải khách quan, toàn diện, càng không được chụp mũ, phán xét theo kiểu cảm tính, cá nhân khi đánh giá về người khác. Do đó, để CB, ĐV giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, có cái nhìn khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể, cấp ủy các cấp cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường phổ biến, quán triệt, nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật phát ngôn cho CB, ĐV, kịp thời ngăn chặn, xử lý khi có CB, ĐV vi phạm kỷ luật phát ngôn, làm trái quan điểm, đường lối, quy định của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những cá nhân có phát ngôn không đúng với chức năng, nhiệm vụ của mình; không đúng với đường lối, quan điểm của Đảng để giữ nghiêm nguyên tắc, kỷ luật phát ngôn của Đảng, gây chia rẽ, bè phái trong Đảng, không để CB, ĐV đứng ngoài sự quản lý của tổ chức. 

Đối với mỗi CB, ĐV phải thường xuyên tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, nâng cao “sức đề kháng” trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, vi phạm kỷ luật phát ngôn, gây mất đoàn kết, nghi kỵ nội bộ, tiếp tay cho những hành vi vi phạm, nhất là khi tham gia các diễn đàn, mạng xã hội trên môi trường internet, từng CB, ĐV cần có nhận thức đúng đắn, không bị các thế lực thù địch, phản động dụ dỗ, lôi kéo, cài bẫy trong các bình luận, phát ngôn. Có như vậy, kỷ cương, kỷ luật của Đảng không những được phát huy hiệu lực, hiệu quả, mà uy tín, vai trò, vị thế của Đảng ngày càng được tăng cường và khẳng định.