Thứ Hai, 11 tháng 9, 2023

Đấu tranh quốc phòng là những hoạt động đấu tranh trong công cuộc giữ nước


Đấu tranh quốc phòng là những hoạt động đấu tranh trong công cuộc giữ nước, được thực hiện bằng tổng thể các hình thức, biện pháp đấu tranh trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, khoa học, công nghệ, quân sự, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, ngoại giao, pháp lý,... do toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tiến hành, sử dụng phương thức đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu. Hoạt động này đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất của Nhà nước, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, toàn diện của quốc gia, đối phó có hiệu quả với các nguy cơ an ninh truyền thống, phi truyền thống, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

Thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam là cách làm, các biện pháp xảo trá, lừa lọc, có bản chất xấu xa của các thế lực thù địch nhưng được che đậy, bao bọc một cách tinh vi, làm cho người ta tin và làm theo. Vỏ bọc che đậy cho các hành vi, thủ đoạn xấu xa mà các thế lực thù địch thường dựa vào là các chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do”, nhất là những vấn đề do lịch sử để lại; những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc; hay thiếu sót trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế, xã hội ở miền núi, trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ở các địa phương; những đặc điếm về văn hoá, đời sống tâm lý của nhân dân các dân tộc thiểu số... Nghĩa là các thế lực thù địch triệt để tận dụng, tạo ra, khai thác mọi khe hở có thể, đế thực hiện những biện pháp chống phá cách mạng Việt Nam về vấn đề dân tộc trên chính địa bàn các dân tộc thiểu số đang sinh sống, coi đó là điểm xuất phát trong thực hiện mưu đồ lớn và lâu dài của chúng. Thực tế đã những luận điệu trên hoàn toàn sai trái, thiếu căn cứ. Thực tế cho thấy trong những năm qua các dân tộc thiểu số ở Việt Nam luôn được quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi về mọi mặt. Các dân tộc thiểu số là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Cả nước hiện có 5.468 xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi, chiếm 49% tổng số xã toàn quốc. Khoảng 87% xã dân tộc thiểu số phân bố ở khu vực nông thôn. Tính đến ngày 01/4/2019, dân số của 53 dân tộc thiểu số khoảng 14,1 triệu người, chiếm 14,7% tổng dân số cả nước. Từ trước đến nay, Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào. Trong từng quyết sách về chính sách dân tộc, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung, phát triển khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa nói riêng, việc triển khai các Chương trình 135 về phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; Chương trình 134 về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo ở vùng sâu, vùng xa… đã đem lại hiệu quả thiết thực. Đó chính là thực hiện xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí; tôn trọng, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa; xây dựng cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên các cấp trong sạch vững mạnh… để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Các cơ quan ban, ngành chức năng từ Trung ương đến địa phương cùng cấp ủy, chính quyền sở tại đã triển khai các nhóm giải pháp nhằm từng bước tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn đặc thù của vùng đồng bào dân tộc nhằm thu hẹp khoảng cách vùng, miền. Cùng với đó, cổ vũ, động viên tinh thần nỗ lực, phấn đấu vươn lên của đồng bào, để không chỉ từng bước nâng cao chất lượng đời sống mà còn góp phần củng cố và tăng cường khối đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những điều đó đã khẳng định sự quan tâm, chăm lo của hệ thống chính trị các cấp đến đồng bào các dân tộc thiểu số, chứ không phải là những hoạt động đơn lẻ, lén lút của cái “xã hội dân sự” mà các thế lực thù địch, phản động rêu rao với luận điệu “nâng cao trách nhiệm của chính quyền”. Vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số luôn được phát huy và bảo đảm. Thực hiện chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, qua các thời kỳ cách mạng, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Việt Nam ngày càng tăng về số lượng, chất lượng, ngày càng khẳng định rõ vai trò là hạt nhân trong việc tuyên truyền, vận động quần chúng đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Trong thời kỳ đổi mới, rất nhiều cán bộ, đảng viên, đồng bào người dân tộc thiểu số đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước. Với sự quan tâm đào tạo và bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực của các cá nhân, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số ngày càng được nâng cao chất lượng, tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia vào hệ thống chính trị ngày càng cao. Trong bộ máy Đảng, Nhà nước các nhiệm kỳ, nhiều cán bộ người dân tộc thiểu số giữ trọng trách lãnh đạo đất nước trên cương vị Tổng Bí thư, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng và tương đương…. Đại hội Đảng các cấp trong năm 2020 cũng đã khẳng định nhất quán chủ trương về công tác cán bộ người dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước ta. Kết quả bầu cử tại 67 đảng bộ trực thuộc Trung ương có 389 đồng chí cấp ủy viên là người dân tộc thiểu số, đạt tỷ lệ 11,68%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,72%. Tỉnh Cao Bằng có tới 75,5% tỉnh ủy viên là người dân tộc thiểu số. Ủy viên ban thường vụ người dân tộc thiểu số là 113 đồng chí, đạt tỷ lệ 11,86%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,51%. Bí thư cấp ủy người dân tộc thiểu số là 06 đồng chí, đạt tỷ lệ 9,23% .... Như vậy, những âm mưu chia rẽ các dân tộc thiểu số chỉ là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch đối với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc với các dân tộc thiểu số. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận diện và đấu tranh bác bỏ./.

LẬT TẨY NHỮNG NỘI DUNG, CÁCH THỨC XUYÊN TẠC VỀ TÌNH HÌNH TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Một trong những chiêu bài thường được các thế lực thù địch, phản động sử dụng là đăng tải, công bố các thông tin phiến diện, lệch lạc, thù địch, xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Đấu tranh trên lĩnh vực này là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần giúp cộng đồng trong nước và quốc tế nắm rõ, nhận thức đúng đắn về tình hình tự do tôn giáo và pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam. Các quan điểm sai trái, thù địch, điển hình là những báo cáo phiến diện, lệch lạc, thiếu căn cứ khoa học lẫn pháp lý của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ - USCIRF, thường lặp đi lặp lại điệp khúc rằng: tình trạng vi phạm tự do tôn giáo vẫn tiếp diễn ở Việt Nam; sự đàn áp của Chính phủ tiếp tục là một thực tế khắc nghiệt đối với các nhóm tôn giáo độc lập chưa đăng ký. Các thế lực phản động, thù địch thường lập luận một cách vô căn cứ về quyền tự do tôn giáo được ghi nhận trong luật pháp về tôn giáo của Việt Nam, xuyên tạc rằng các quy định về quyền tự do tôn giáo trong pháp luật Việt Nam là “hạn chế về bản chất”, “đi ngược lại với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế và vi phạm một cách có hệ thống tự do tín ngưỡng”. Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Đảng, Nhà nước ta khẳng định, được pháp luật thừa nhận và thực thi trong thực tế. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã mở rộng nội hàm khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thay cụm từ “mọi công dân” (quyền công dân) (Hiến pháp năm 1992), bằng cụm từ “mọi người” (nhân quyền, quyền con người). Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam luôn được thực hiện trong thực tiễn, được pháp luật bảo hộ và được chính quyền tạo điều kiện. Thể hiện ở số lượng tín đồ các tôn giáo không ngừng gia tăng, sinh hoạt đời sống tâm linh, tôn giáo diễn ra sôi động. Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, số lượng tín đồ, chức sắc tôn giáo không ngừng tăng lên. Năm 1997, cả nước có trên 15 triệu tín đồ, chiếm hơn 20% dân số; đến năm 2021, số tín đồ của 41 tổ chức tôn giáo đã được công nhận tăng lên 26,59 triệu người, chiếm trên 27% dân số. Bên cạnh đó có hơn 200 nghìn người thuộc 70 nhóm Tin lành tư gia và trên 30 nghìn người thuộc hơn 60 hiện tượng tôn giáo mới (“đạo lạ”), chưa đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung. Ngoài ra, đại đa số người Việt Nam có đời sống tâm linh, theo tín ngưỡng đa thần truyền thống. Trước các luận điệu sai trái, xuyên tạc của thế lực thù địch mỗi quân nhân cần tích cực đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta trên lĩnh vực tôn giáo, dân tộc có hiệu quả, góp phần làm cho xã hội và cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn luật pháp về tự do tôn giáo và tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Tăng cường công tác tuyền truyền, phổ biến về luật pháp về tự do tôn giáo và tình hình tự do tôn giáo ở nước ta cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, toàn dân và cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn. Quán triệt, nâng cao nhận thức mọi mặt, về quan điểm, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo. Nghiêm túc chấp hành chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Nâng cao chất lượng của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên phương diện tín ngưỡng, tôn giáo. Đi đôi với đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái, thù địch cần phải tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận của Đảng về tôn giáo ngày càng sâu sắc hơn, đáp ứng với yêu cầu của cách mạng trong tình hình mới./.

Phát huy sức mạnh tổng hợp trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng

Bảo đảm an toàn, an ninh mạng được xác định là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng trong điều kiện, bối cảnh hiện nay. Công tác này phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục với những cơ chế, chính sách phù hợp. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phần lớn các sự cố an ninh mạng của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đều do con người trực tiếp hoặc gián tiếp vi phạm, bỏ qua các chính sách bảo mật thông tin. Giáo sư Robert McClelland, Phó trưởng khoa Kinh doanh và Quản trị Đại học RMIT cho rằng, việc vượt qua thách thức bảo toàn an ninh thông tin đòi hỏi không chỉ các giải pháp kỹ thuật, công nghệ mà còn cần quản trị yếu tố con người. Ông cũng khẳng định yếu tố con người được xem là mắt xích yếu nhất trong việc tạo ra môi trường kỹ thuật số an toàn và bảo mật. Tại Việt Nam, những năm qua, các cấp có thẩm quyền đã ban hành các chính sách về an toàn, an ninh mạng; các chiến lược, đề án về an ninh mạng đã được xây dựng. Công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng đạt được nhiều kết quả tích cực, nhất là đối với hệ thống mạng thông tin quốc gia, hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia; đấu tranh có hiệu quả với vi phạm pháp luật về an toàn, an ninh mạng. Bảo đảm an toàn, an ninh mạng đối với hệ thống mạng thông tin quốc gia; bảo vệ uy tín, hình ảnh của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên không gian mạng. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh mạng. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, như: Nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng, sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo về an toàn, an ninh mạng còn chưa cao. Hành lang pháp lý và hệ thống pháp luật về an toàn, an ninh mạng chưa hoàn thiện. Công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh mạng chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, đặc biệt đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch xuyên biên giới. Hoạt động tấn công mạng gia tăng. Tình trạng thu thập trái phép, mua bán thông tin, dữ liệu cá nhân vẫn diễn biến phức tạp. Tội phạm sử dụng công nghệ cao tiếp tục có chiều hướng tăng... Khảo sát gần đây cho thấy chỉ có 17% doanh nghiệp Việt Nam được xếp ở giai đoạn triển khai nâng cao và sẵn sàng giải quyết các rủi ro bảo mật; 23% doanh nghiệp chuẩn bị tốt về dữ liệu; 31% doanh nghiệp chuẩn bị tốt về thiết bị cho giải quyết các vấn đề bảo mật; 53% tổ chức, doanh nghiệp mới đang ở giai đoạn bắt đầu. Điều này cho thấy việc chuẩn bị và mức độ sẵn sàng cho giải quyết vấn đề an ninh mạng chưa cao. Đây là một trong các nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng thời gian qua. Theo các chuyên gia, nếu người dùng nhận thức đầy đủ và có kỹ năng bảo vệ an toàn thông tin cơ bản thì có thể tự phòng tránh được tới hơn 80% nguy cơ mất an toàn thông tin khi tham gia không gian mạng. Trên thực tế, nhận thức của nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người sử dụng trong cộng đồng hiện nay còn nhiều tồn tại, hạn chế, chưa đủ để tự bảo vệ mình trước những mối đe dọa về an toàn thông tin. Nhiều người dùng chưa có các kỹ năng bảo vệ an toàn thông tin, phòng tránh lây nhiễm mã độc; sử dụng các phần mềm lậu, truy cập các trang web không uy tín, hoặc không sử dụng các phần mềm bảo vệ thiết bị. Tại phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng quốc gia ngày 25/8, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, không gian mạng đã trở thành không gian chiến lược; phải chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, phải có sự tham gia, vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, người dân; trong đó Ban Chỉ đạo, Văn phòng Ban Chỉ đạo, các Tiểu ban An toàn, An ninh mạng, các lực lượng bảo đảm an toàn, an ninh mạng là nòng cốt, là trực tiếp. Để phát huy sức mạnh tổng hợp trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng, cần đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức về bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Thực hiện có hiệu quả Quyết định 1907/QĐ-TTg ngày 23/11/2020 về Đề án Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và phổ biến kiến thức về an toàn thông tin giai đoạn 2021 - 2025. Tăng cường giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng; cách thức nhận diện các âm mưu, thủ đoạn tấn công mạng và các hình thái tiêu cực phát sinh trên không gian mạng cho toàn thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Nâng cao hiệu quả điều hành, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng quốc gia. Tiếp tục bám sát các nhiệm vụ trọng tâm (an ninh mạng; an toàn thông tin mạng; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trên không gian mạng; đấu tranh xử lý thông tin xấu, độc). Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, để công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng chuyển biến mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn. Tham mưu cho cấp có thẩm quyền hoàn thiện các chính sách về an toàn, an ninh mạng, thực hiện các chiến lược, đề án về an ninh mạng. Phát huy vai trò nòng cốt của các lực lượng chuyên trách và các lực lượng tham gia trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Nắm chắc tình hình có liên quan đến hoạt động bảo vệ an toàn, an ninh mạng; phòng, chống tấn công và bảo vệ hoạt động ổn định của hệ thống thông tin quan trọng; ngăn chặn hoạt động sử dụng không gian mạng nhằm gây phương hại an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; chủ động tấn công vô hiệu hóa mục tiêu trên không gian mạng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao trách nhiệm và các kỹ năng cần thiết về an toàn, an ninh mạng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng. Tuyệt đối tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an toàn, an ninh mạng. Kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến bảo vệ an toàn, an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an toàn, an ninh mạng, hành vi xâm phạm an ninh mạng cho cơ quan có thẩm quyền, lực lượng bảo vệ an ninh mạng. Thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền trong bảo vệ an toàn, an ninh mạng; giúp đỡ, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức và người có trách nhiệm tiến hành các biện pháp bảo vệ an toàn, an ninh mạng. Chú trọng hơn nữa việc đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện tốt Đề án “Đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng, giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”. Nghiên cứu, đề xuất thí điểm một số chế độ ưu đãi và chế độ đặc thù đối với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, nhân sự làm về an toàn thông tin mạng./.

ĐẤU TRANH PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM: NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHỈ LÀ SỰ ÁP ĐẶT

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, chống phá của các thế lực thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là yêu cầu cấp thiết của thực tiễn trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Đồng thời là nhiệm vụ và trách nhiệm thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên vì đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng Đảng, xây dựng xã hội trong sạch, vững mạnh, ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” với nhiều nội dung quan trọng. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng xác định: Thay đổi toàn diện về cơ cấu kinh tế, dứt khoát xóa bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện chính sách nhiều thành phần kinh tế, thực hiện lưu thông hàng hoá tự do, mở rộng hợp tác và đầu tư quốc tế. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đảng ta lần đầu tiên xác định: Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đến nay chính thức xác định nền kinh tế nước ta là tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đồng thời mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị xuyên tạc, phê phán, bóp méo. Các thế lực thù địch cho rằng: không có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ trương gắn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là không có cơ sở; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; Việt Nam xây dựng một nền kinh tế thị trường méo mó, không giống ai. Chúng ta biết rằng mặc dù kinh tế thị trường vốn dĩ là nền kinh tế mà ở đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình sở hữu cùng tham gia, cùng vận động và phát triển trong một cơ chế cạnh tranh bình đẳng và ổn định. Theo Adam Smith, với lí thuyết “bàn tay vô hình" thì nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự điều tiết, vận động theo quy luật của thị trường, hầu như không có sự can thiệp của Nhà nước. Tuy nhiên ngày nay nền kinh tế thị trường hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình”, vừa có điều tiết bởi “bàn tay hữu hình”.Các quốc gia phát triển nền kinh tế thị trường đều có sự định hướng quản lý của nhà nước. Kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới là không hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung định hướng can thiệp của nhà nước. Hơn nữa kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại, dù do quốc gia nào xây dựng trước đó cũng là giá trị của nhân loại, không phải là sản phẩm “riêng có” của chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là khái niệm mới và là mô hình mới, cách thức mới sự lựa chọn cần có trong xây dựng kinh tế cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước Việt Nam. Mô hình này là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Các quy luật của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn đối lập nhau, loại trừ nhau. Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nhà nước vận dụng quy luật giá trị thông qua việc tạo khung khổ pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và điều kiện thuận lợi cho quy luật giá trị vận động để phát huy mặt tích cực, đồng thời hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực. Thực tiễn gần 40 năm đổi mới, phát triển nền kinh tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước xây dựng được cơ đồ vững chắc, có tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế to lớn như ngày nay. Việt Nam thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới; chất lượng tăng trưởng được cải thiện, là điểm sáng trên toàn cầu trong việc thực hiện thành công “mục tiêu kép”, vừa phòng, chống dịch, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Trong những năm gần đây là một quốc gia bước ra từ trong chiến tranh, dựng xây đất nước từ sự quyết tâm của mỗi người dân. Việt Nam trên bản đồ thế giới là quốc gia có thể chế chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng tốt, văn hóa, giáo dục, đạo đức, môi trường, quan hệ quốc tế tốt là minh chứng thuyết phục, tự nó đanh thép phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Các vấn đề trong đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận

 


Văn kiện đại hội XII khẳng định: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, .... bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước”

Đấu tranh bảo vệ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội, bảo vệ tổ quốc. Bảo vệ thế giới quan, phương pháp luận cách mạng, khoa học về chiến tranh, quân đội. Bảo vệ hệ thống khái niệm, nguyên lý, quy luật, phạm trù về chiến tranh, quân đội. Bảo vệ kết quả vận dụng, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh, quân đội, bảo vệ tổ quốc trong cách mạng Việt Nam. Bảo vệ tư tưởng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội về quốc phòng, quân sự và bảo vệ tổ quốc. Bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về mục tiêu, lực lượng, phương thức bảo vệ tổ quốc... Bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân.Tập trung bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng tiềm lực quốc phòng, xây dựng lực lượng quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng, lãnh đạo và quản lý quốc phòng. Bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Bảo vệ chính sách Quốc phòng. Bảo vệ tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội, quyền làm chủ của Nhân dân về quốc phòng, quân sự. Xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.

 


Đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng phải góp phần tạo sức mạnh tổng hợp bảo đảm giữ vững độc lập dân tộc, giữ vững chế độ chủ nghĩa xã hội trong mọi tình huống.

 Sức mạnh vật chất đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng vừa phải dựa trên nền tảng chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, an ninh, đối ngoại…. của dân tộc và kết quả công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội đang xây dựng.

Vai trò của đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận

 


Đảng, Nhà nước ta khẳng định vai trò quan trọng của đấu tranh quốc phòng trong thời kỳ mới

 Thứ nhất: Góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, "trận địa" tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự, trong lực lượng vũ trang, trong quân đội nhân dân Việt Nam.

 Thứ hai: Bảo vệ vững chắc tư tưởng chính trị, hoạt động chính trị của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 Thứ ba: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt vững chắc cho toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống

Đối tượng, hình thức, mục tiêu của đấu tranh quốc phòng ở Việt Nam hiện nay

 


Đối tượng của đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng là các âm mưu, hành động, tư tưởng, quan điểm phê phán, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận, phá hoại chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiêu cực, đi ngược lại công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tương sử dụng nhiều các hình thức khác nhau, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, như: tuyên bố, kêu gọi, công thư, điện đàm, công hàm, hội đàm, báo chí, truyền thông, hội thảo, tuyên truyền, vận động, quảng bá....

Mục tiêu đấu tranh quốc phòng nhằm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đấu tranh có hiệu quả với "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và các thách thức an ninh phi truyền thống góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Chủ thể đấu tranh quốc phòng ở Việt Nam hiện nay

 


Chủ thể đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị tư tưởng là toàn dân, các cấp, các ngành, các địa phương, sức mạnh của cả nước, của các lực lượng vũ trang và cả hệ thống chính trị để đấu tranh toàn diện, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giữ vai trò quản lý, điều hành; phát huy vai trò làm chủ của toàn xã hội, của mọi tầng lớp nhân dân; Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là giữ vai trò nòng cốt trong đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng.

Quan điểm về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác- Lênin đến nay còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay

 

        

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp vẫn còn nguyên giá trị. Nhưng trước sự chống phá của các thế lực thù địch, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu cho thấu đáo, không được tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp, nhưng cũng không được mơ hồ, xóa nhòa đi đấu tranh giai cấp. Việc nắm vững các lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin giúp chúng ta nhận diện được các luận điểm phản động, từ đó có những căn cứ và luận chứng sắc bén để đánh bại sự xuyên tạc của kẻ thù, qua đó bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững con đường mà đất nước ta đã lựa chọn.

Phê phán quan điểm: Sự vận dụng lý luận về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác- Lênin vào cách mạng Việt nam là không phù hợp

 

        Các thế lực thù địch, bọn cơ hội chính trị cho rằng do kết cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam khác với các nước khác, nên sự vận dụng  quan điểm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là không phù hợp.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lêninviệc nhận thức và giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện lịch sử - cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm về giai cấp và đấu tranh giai cấp trong việc lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Khi phân tích, so sánh về đấu tranh giai cấp ở phương Đông và phương Tây, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ sự khác biệt do điều kiện kinh tế - xã hội quy định: “Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế không giống với các xã hội phương Tây thời trung cổ hay thời cận đại và đấu tranh ở đó không quyết liệt như ở đây” Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán quan điểm phiến diện, giáo điều về đấu tranh giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”
        Kế thừa quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp thu, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Ðảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ vững lập trường cách mạng, trung thành với quan điểm về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta luôn xác định rằng, hiện nay và trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta vẫn còn giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đó là một thực tế khách quan. Song quan niệm đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay diễn ra trong điều kiện mới, nội dung và hình thức mới. Trong điều kiện mới hiện nay, không được hiểu sai về nội dung đấu tranh giai cấp, dẫn đến sự rụt rè, không dám đổi mới; đồng thời, không được coi nhẹ, xem thường đấu tranh giai cấp, dẫn đến mơ hồ, mất cảnh giác.
       Ở nước ta hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, đã hình thành kết cấu xã hội - giai cấp đa dạng, phức tạp gồm nhiều giai tầng. Thực chất đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay là cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân lao động do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chống lại các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chính quyền và lợi ích của nhân dân.
        Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay ở nước ta là thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển; thực hiện công bằng xã hội chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc”.

Cần phê phán quan điểm: Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu chính là minh chứng cho sự sai lầm của học thuyết Mác - Lênin trong đó có lý luận về đấu tranh giai cấp.

 



        Những kẻ chống đối chủ nghĩa Mác – Lênin còn cho rằng sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu chính là minh chứng cho sự sai lầm của học thuyết Mác - Lênin trong đó có lý luận về đấu tranh giai cấp.
Sự tan rã của Liên Xô và Đông Âu nơi được coi là thành trì của chủ nghĩa xã hội hiện thực khiến nhiều người, nhất là giới học giả tư sản phương Tây đã lên tiếng quy chụp nguyên nhân của sự sụp đổ đó là do những sai lầm từ chủ nghĩa Mác. Từ đó, họ lên tiếng chống phá, bác bỏ chủ nghĩa Mác nói chung, bác bỏ quan điểm về giai cấp, đấu tranh giai cấp nói riêng. Các thế lực thù địch cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được” Họ cũng cho rằng, chủ nghĩa khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng” nên áp dụng vào thực tiễn chỉ có thể sinh ra những “quái thai của lịch sử”. Mục đích của sự xuyên tạc này là nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội nói chung và về đấu tranh giai cấp nói riêng.
        Trước tiên, chúng ta không thể phủ nhận sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một bước lùi lịch sử của của phong trào cộng sản và công nhân toàn thế giới. Sự sụp đổ đó cũng không phải là sự “cáo chung” của chủ nghĩa Mác, nó cũng không phải là do chủ nghĩa Mác đã lạc hậu, lỗi thời mà đó thực sự là do đã hiểu sai, vận dụng sai những quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô “bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo điều và xét lại trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng cầm quyền, cùng sự phản bội của một số người lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin”. Sự phát triển của các nước theo con đường chủ nghĩa xã hội hiện nay đã chứng minh những luận điệu trên là thiếu tính khoa học, là sự bịa đặt hoang đường. Thực tế cho thấy, các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay vẫn kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đổi mới để tìm kiếm những mô hình phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của quốc gia - dân tộc mình. Trung Quốc với sự cải tổ của mình, ngày càng chứng tỏ được vị thế của họ trên thế giới; công cuộc đổi mới của Việt Nam, Lào, Cuba và một số trào lưu xã hội chủ nghĩa trên thế giới đã minh chứng cho sức sống của chủ nghĩa Mác –Lênin.

Cần phê phán quan điểm: Chủ nghĩa Mác - Lênin là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan”

 


        
Một số học giả tư sản đã cường điệu hóa quan điểm của C. Mác về đấu tranh giai cấp và cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan”. Họ cho rằng Mác lúc nào cũng chỉ nói đến đấu tranh giai cấp, đến bạo lực cách mạng, như vậy là kích động chiến tranh, cổ vũ cho bạo lực trong xã hội.
        Cần phải khẳng định, trong nhiều tác phẩm, chủ nghĩa Mác – Lênin luôn cho rằng đấu tranh giai cấp không phải là những cuộc bạo loạn, khủng bố, lật đổ, chỉ có ý nghĩa phá hoại gây chia rẽ, bè phái, gây rối loạn, làm tổn thất cho xã hội mà là một quá trình tất yếu, khách quan của xã hội có áp bức giai cấp, là những cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân lao động chống lại giai cấp thống trị. Nguyên nhân của cuộc đấu tranh giai cấp này bắt nguồn từ những mâu thuẫn về lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế không thể điều hòa được giữa các giai cấp. Cuộc đấu tranh này có ý nghĩa cách mạng sâu sắc, nhằm xóa bỏ những cơ sở kinh tế của giai cấp thống trị, xóa bỏ chế độ xã hội cũ lỗi thời, xây dựng chế độ xã hội mới tiến bộ hơn. Do vậy, đấu tranh giai cấp là một động lực thúc đẩy xã hội phát triển, chứ không phải là sự gây rối, phá hoại, chủ nghĩa Mác – Lênin không phải là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan”, đây là sự quy chụp vô căn cứ, không dựa trên bất cứ cơ sở khoa học nào.
        Chủ nghĩa Mác-Lênin tuyệt đối không sùng bái bạo lực mà coi bạo lực cách mạng là “bà đỡ” để đưa xã hội mới ra đời trong lòng xã hội cũ. Vấn đề xã hội mới trưởng thành, phát triển như thế nào thì chủ yếu là vấn đề xây dựng. Trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, sở dĩ dùng bạo lực cách mạng là để chống lại bạo lực phản cách mạng.

Cần phê phán quan điểm: Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của sự phát triển lịch sử, là tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp.

 

       
Các thế lực thù địch cho rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của sự phát triển lịch sử, là tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp.
        Chủ nghĩa Mác - Lênin không hề tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp, các ông luôn cho rằng giai cấp và đấu tranh giai cấp là một phạm trù lịch sử, chỉ xuất hiện trong xã hội có giai cấp. Theo C.Mác, trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động của giai cấp bị trị. Giai cấp bị trị không những bị chiếm đoạt kết quả lao động mà họ còn bị áp bức về chính trị, tư tưởng và tinh thần. Giai cấp thống trị bao giờ cũng dùng mọi biện pháp và phương tiện bảo vệ địa vị giai cấp của họ, duy trì củng cố chế độ kinh tế, xã hội cho phép họ được hưởng những đặc quyền, đặc lợi giai cấp. Lợi ích căn bản của giai cấp bị trị đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị - đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới đấu tranh giai cấp. Nguyên nhân sâu xa dẫn tới đấu tranh giai cấp, theo C.Mác là mâu thuẫn giữa trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất đã lỗi thời. Sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến việc xã hội phải xóa bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay thế nó bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có... trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất… Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội” đó chính là cách mạng xã hội hay đấu tranh giai cấp.
         Trong Thư gửi Ioxp Vâyđơmaiơ C.Mác khẳng định: 1) Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất, 2) Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, 3) Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp. Chủ nghĩa Mác - Lênin không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. C.Mác chỉ ra, ngoài đấu tranh giai cấp ra còn nhiều động lực khác như: đạo đức, tư tưởng, văn hóa, giáo dục… vị trí, vai trò của mỗi động lực là khác nhau. Nhận thức được điều này sẽ giúp chúng ta tránh được tư tưởng tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp.

Đấu tranh giai cấp theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin

 


 Lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp là một trong những nội dung căn bản nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết quả tất yếu của sự vận dụng và mở rộng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào xem xét lĩnh vực xã hội. Lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp đã và đang là cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học để các đảng cộng sản và giai cấp công nhân trên thế giới xác định đường lối chiến lược, sách lược trong cuộc đấu tranh thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, trên những phương diện khác nhau đã xuất hiện không ít những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có nội dung bác bỏ lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Vai trò của đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng

 


Đấu tranh Quốc phòng bảo vệ tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng tổng thể các biện pháp đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" nhằm giữ vững, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, hệ thống chính trị, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Đấu tranh Quốc phòng bảo vệ tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng là một bộ phận quan trọng của đấu tranh quốc phòng bảo vệ tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Là vấn đề quan trọng trong đấu tranh giai cấp hiện nay.

Đấu tranh quốc phòng trong tình hình hiện nay

 


Trong những năm tới, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị, phát triển thành bạo loạn vũ trang, can thiệp quân sự, nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; các mối đe dọa an ninh phi truyền thống có xu hướng gia tăng; chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng diễn ra thường xuyên, với quy mô khác nhau; xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc, xâm chiếm biển, đảo, xâm lấn biên giới bằng biện pháp phi vũ trang hoặc vũ trang; chiến tranh biển, đảo, biên giới và chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Để đấu tranh có hiệu quả với các tình huống trên, chúng ta phải dựa vào thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” vững chắc; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Tuy nhiên, tùy từng tình huống để vận dụng phương thức đấu tranh phù hợp.

Thành tựu đấu tranh quốc phòng ở Việt Nam

 


Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, các bộ, ban, ngành, đoàn thể đã làm tham mưu và trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng tham gia đấu tranh đạt được nhiều kết quả quan trọng, làm thất bại mọi âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tuy nhiên, nhận thức về đấu tranh quốc phòng của các cấp, các ngành và nhân dân một số nơi chưa đầy đủ, sâu sắc; việc phát huy vai trò đấu tranh của các lực lượng trên các lĩnh vực, kết hợp các hình thức đấu tranh tạo sức mạnh tổng hợp trong xử lý các tình huống phức tạp về quốc phòng, an ninh còn hạn chế, v.v.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH -NIỀM TỰ HÀO THIÊNG LIÊNG!

     Xứ Nghệ luôn là vùng đất anh hùng, ghi dấu nhiều chiến công trong trang sử vàng dân tộc. Cao trào 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh đến hôm nay vẫn vang vọng hào khí, để lại những giá trị lớn lao cho đời sau. Dòng máu Xô viết anh hùng vẫn chảy trong huyết quản nhiều thế hệ, trở thành niềm tự hào thiêng liêng của người xứ Nghệ!

Đất này đất Xô viết
Lần giở những trang sử dân tộc những năm đầu thế kỷ XX, giữa đêm đen nô lệ, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời như vầng mặt trời soi sáng, thức tỉnh Nhân dân vùng lên đánh đổ ách thực dân phong kiến. Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh nổ ra trong những năm 1930-1931 đã làm rung chuyển bộ máy cai trị, lan tỏa phong trào cách mạng khắp cả nước. “Kìa Bến Thủy đứng đầu dậy trước/ Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên/ Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên/ Anh Sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi” (Bài ca cách mạng - Đặng Chánh Kỷ).

Mở đầu cao trào là cuộc biểu tình của 1,200 công nông Vinh - Bến Thủy nhân ngày Quốc tế Lao động 1/5/1930. Tại nơi tập trung đông công nhân các nhà máy, ngọn lửa biểu tình bốc cao ngùn ngụt. Thực dân Pháp đã đàn áp dã man khiến 7 người chết, hàng chục người đã hy sinh tại đây.

Liên tiếp sau đó, nhiều cuộc đấu tranh vô cùng sôi nổi và quyết liệt của Nhân dân ta diễn ra khắp Nghệ An, Hà Tĩnh. Các đội “tự vệ đỏ” ra đời đã hỗ trợ nông dân 2 tỉnh dồn dập tấn công vào chính quyền thực dân, phong kiến. Trước bão táp cách mạng của quần chúng, chính quyền thực dân phong kiến ở nhiều vùng Nghệ Tĩnh bị rối loạn, nhiều nơi bị tê liệt hoặc tan rã. Những “làng đỏ” từ miền ngược đến miền xuôi mọc lên khắp nơi, tiêu biểu là: Ngọc Điền, Tiến Linh, Chi Nê (Hưng Nguyên); Thanh Hà, Võ Liệt (Thanh Chương); Phúc Thọ (Nghi Lộc); Ngọc Sơn (Đô Lương); Liên Thành (Yên Thành); Bến Thủy - TP Vinh; Phù Việt (nay là Việt Tiến - Thạch Hà); Hồng Lộc, Phù Lưu, Tân Lộc (Lộc Hà); Vĩnh Lộc (nay là xã Khánh Vĩnh Yên - Can Lộc); Sơn Châu (Hương Sơn); Phú Phong (Hương Khê); Gia Lách (nay là thị trấn Xuân An, Nghi Xuân); Kim Nặc (nay là Cẩm Hưng - Cẩm Xuyên)…

Từ tháng 9/1930, phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh phát triển lên đến đỉnh cao. Hàng loạt cuộc biểu tình nổ ra ở 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, tiêu biểu là cuộc biểu tình của nông dân Hưng Nguyên và Can Lộc. Tại Nghệ An, sáng 12/9, khoảng 8,000 nông dân của 3 tổng: Phù Long, Thông Lãng (Hưng Nguyên) và Nam Kim (Nam Đàn) hàng ngũ chỉnh tề, trang bị gậy gộc, giáo mác, dây thừng, giương cờ đỏ búa liềm kéo về ga Yên Xuân. Khi đoàn biểu tình vừa tiến đến Thái Lão, thực dân Pháp cho máy bay ném bom vào giữa đám đông làm nhiều người chết và bị thương. Buổi chiều, bà con nông dân ra khâm liệm và mai táng những người đã hy sinh, máy bay Pháp lại đến tàn sát một lần nữa làm 217 người chết, 125 người bị thương và hàng chục người bị bắt giam.

Tại ngã ba Nghèn, từ tháng 8 đến đầu tháng 9/1930, nhiều lần nông dân Can Lộc kéo về huyện đường đòi lại công điền, công thổ, đòi quyền tự do dân chủ. Đặc biệt, ngày 12/9, Huyện ủy Can Lộc đã phát động cuộc biểu tình với quy mô lớn. 5,000 người dân vùng thượng Can và hạ Can đội ngũ chỉnh tề, cầm băng cờ khẩu hiệu chia làm 3 mũi kéo về huyện đường đòi quyền dân sinh, dân chủ. Hoảng sợ trước khí thế đấu tranh của quần chúng, bọn đế quốc và phong kiến đã cho lính xả súng vào đoàn biểu tình làm 42 người hy sinh và hàng trăm người bị thương.

Nhiều tấm gương hy sinh anh dũng của các chiến sỹ cộng sản như Nguyễn Phong Sắc, Trần Hữu Thiều, Nguyễn Đình Liễn, Võ Quế, Phạm Thị Dung, Phan Gần, Nguyễn Khiên Sức, Nguyễn Thị Nghĩa, Trần Thị Hường, Nguyễn Thị Phúc… trở thành biểu tượng bất tử của lòng yêu nước, tinh thần cách mạng.

“Tổng này xã nọ kết liên/ Ta hò ta hét thét lên mau nào”. Thời điểm cuộc đấu tranh phát triển đến đỉnh cao, Nghệ An và Hà Tĩnh đã có 33 huyện, 111 tổng, 1,243 xã nổi dậy chống đế quốc phong kiến. Trong đó, Hà Tĩnh có 170 làng có nông hội đỏ đứng ra trực tiếp hoặc gián tiếp điều hành, quản lý công việc làng xã. Khí chất cách mạng, dòng máu đỏ đã trào dâng khắp miền quê xứ Nghệ. Trong báo cáo có nhan đề “Nghệ - Tĩnh Đỏ” gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản ngày 19/2/1931, Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá: “Trong thời kỳ chinh phục của Pháp và trong phong trào cách mạng quốc gia 1905-1925, Nghệ - Tĩnh đã nổi tiếng. Trong cuộc đấu tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ - Tĩnh vẫn giữ truyền thống cách mạng của mình, Nghệ - Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu Đỏ”. Nhà thơ Huy Cận sau này cũng ca ngợi:
Đất này đất Xô viết
Đảng mở hội cờ hồng
Tự tuổi vàng đá biết
Mặn mãi tình công nông

Tỏa sáng khí chất, tâm hồn người Xứ Nghệ
93 năm đã trôi qua nhưng dư âm của tiếng trống Xô viết vẫn còn vang dội, lay động mãi trong ký ức, tâm hồn người xứ Nghệ, trở thành niềm tự hào lớn lao của những người con núi Hồng - sông Lam. Theo dòng chảy lịch sử, dòng máu Xô viết tiếp tục được hun đúc, trở thành khí chất người Nghệ Tĩnh qua hai cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ở thế kỷ XX và trong công cuộc đổi mới đất nước hôm nay.

Dẫu nhọc nhằn, gian khó bởi thiên nhiên khắc nghiệt “gió Lào thổi rạc bờ tre”, hay trong những thời điểm sinh tử của dân tộc “lịch sử chọn ta làm điểm tựa”, lúc đói ăn thiếu mặc: “Năm tám mươi gạo cũng tám mươi/ Dân xứ Nghệ mặt vàng như nghệ”… thì con người Hồng Lam vẫn không ngại gian khổ, hy sinh, sẵn sàng đi đầu bước trước, một lòng nồng nàn yêu nước, thủy chung son sắt với Đảng, với cách mạng.

Hình ảnh những tấm gương lãnh tụ của Đảng, của dân tộc là người xứ Nghệ mãi soi sáng lịch sử dân tộc, trở thành điểm tựa tinh thần của các thế hệ người Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới; các Tổng Bí thư của Đảng: Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong; các bậc tiền bối cách mạng: Nguyễn Thị Minh Khai, Mai Kính, Phan Đăng Lưu, Trần Hữu Duyệt, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Bá Cảnh, Nguyễn Huy Lung… Tên tuổi các anh hùng, liệt sĩ: Lý Tự Trọng, Phan Đình Giót, Trần Can, Đặng Đình Hồ, 10 cô gái Đồng Lộc, Võ Triều Chung, Vương Đình Nhỏ… mãi còn lưu danh cùng sông núi muôn đời.

Người xứ Nghệ ngàn năm qua và hôm nay vẫn một lòng nồng nàn yêu nước, trung thành với Đảng, với Tổ quốc. Truyền thống của các “làng đỏ” ở Nghệ An, Hà Tĩnh luôn được phát huy. Hà Tĩnh là một trong 4 địa phương giành chính quyền sớm trong cả nước. Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc ở thế kỷ XX, Nghệ An, Hà Tĩnh luôn là những tỉnh “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Người xứ Nghệ luôn can trường, dũng cảm, không ngại gian khổ, hy sinh, hiếu học, yêu đời, say sưa sáng tạo văn hóa, hiền hòa, khoan dung, lãng mạn mà thấm đẫm ân tình.

Chơ ai biết nước sông Lam răng là trong là (ơ) đục? Thì biết sống cuộc đời răng là nhục, là (ơ) vinh/ Thuyền em lên thác xuống ghềnh/ Nước non là nghĩa, là tình ai ơi…

Văn hóa, con người xứ Nghệ, khí chất Xô viết đã trở thành tài sản tinh thần vô giá, sức mạnh nội sinh to lớn để Nhân dân Nghệ An - Hà Tĩnh vượt qua mưa bom bão đạn, vượt qua nắng hạn bão giông, đoàn kết bên nhau chống kẻ thù chung, chinh phục thiên nhiên, tô đẹp non sông gấm vóc, xây dựng cuộc sống mới, xứng đáng với công lao của các bậc tiền nhân. Trong dòng thác đổi mới của đất nước, hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh đã có những bước chuyển mạnh mẽ làm thay đổi diện mạo vùng đất núi Hồng - sông Lam. Suốt dọc dải đất từ Quỳnh Lưu đến thị xã Kỳ Anh, cuộc sống mới đang đổi thay từng ngày. Chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng, văn hóa - xã hội có những dấu ấn phát triển, đời sống người dân ngày càng no ấm, hạnh phúc, bộ mặt nông thôn mới các vùng quê rạng rỡ, tài nguyên thiên nhiên, tiềm năng con người được khai thác, phát huy, xứng đáng với mong ước của cha ông ngàn đời.

“Ôi tâm hồn xứ Nghệ/ Trong hồn Việt Nam ta/ Có gì tự ông cha/ Rất xưa mà rất trẻ” (Huy Cận). Qua bao biến thiên của lịch sử, xã hội, tâm hồn người xứ Nghệ, khí chất người Nghệ vẫn vẹn nguyên, ngời sáng và tươi đẹp. Qua bao bồi lở của dòng chảy cuộc đời và nhân thế, câu ví giặm Nghệ Tĩnh hôm nay vẫn vang lên, phản chiếu đời sống tâm hồn người dân, tô đẹp cốt cách người Nghệ, làm cho quê hương Xô viết thêm đậm đà bản sắc, hấp dẫn du khách gần xa tìm về./.




Một số hình ảnh Nghệ Tĩnh xưa và nay.
Yêu nước ST.