Thứ Hai, 11 tháng 9, 2023

“Bảo kiếm” ngăn chặn suy thoái cho cán bộ, đảng viên

Kiểm tra, giám sát (KT, GS) là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Lãnh đạo mà không kiểm tra coi như không lãnh đạo, nên công tác KT, GS được ví như “thanh bảo kiếm để chặn đứng suy thoái”. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, vẫn còn cấp ủy, tổ chức Đảng và một số cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) chưa nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác này, cho rằng công tác KT, GS là không cần thiết, ảnh hưởng đến công tác khác hoặc xem như bới lông, tìm vết, không thật thoải mái khi được KT, GS dẫn đến đối phó, thiếu sự hợp tác, chưa tạo điều kiện cho chủ thể KT, GS. Đây chính là biểu hiện che giấu sự suy thoái.

Những hệ lụy do coi thường, xem nhẹ

Vừa rồi nhân chuyến công tác, tôi có dịp ghé thăm bạn học cùng lớp, thấy bạn cứ “nhấp nhổm” ra vào bàn máy tính làm cho câu chuyện hàn huyên giữa chúng tôi thỉnh thoảng bị gián đoạn, tôi thầm nghĩ có lẽ công tác ở một cơ quan quan trọng nên bạn nhiều công việc. Sau một hồi, hình như công việc đã xong, bạn tôi mới phân trần giải thích: “Sáng mai chi bộ chỗ mình sinh hoạt, kiểm tra đảng viên theo kế hoạch. Tháng này đến lượt mình kiểm tra. Ôi! dào, công việc thì vẫn thế, vẫn luôn rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt. Cứ bày vẽ sinh hoạt, kiểm tra cho mất thời gian”. Chính tư tưởng coi thường, xem nhẹ công tác KT, GS của Đảng là nguyên nhân dẫn đến CB, ĐV không chấp hành nghiêm các quy định, nguyên tắc của đảng. Hay một lần khác, sau khi chi bộ sinh hoạt kỷ luật một đảng viên là cán bộ chủ trì đơn vị vì vi phạm các nguyên tắc của Đảng, tôi được nghe các đảng viên trong chi bộ trao đổi với nhau: “Ông ấy vi phạm từ lâu rồi. Bây giờ chi bộ mới phát hiện để xét kỷ luật thì quá muộn”. Vậy đấy, sự coi thường xem nhẹ và tính trung bình chủ nghĩa trong thực hiện công tác KT, GS của đảng viên nêu trên, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu từ nguyên nhân thiếu KT, GS của các tổ chức Đảng. Thực tế cho thấy, nơi nào cấp ủy buông lỏng hoặc xem nhẹ công tác KT, GS nơi đó dễ nảy sinh tiêu cực, chất lượng CB, ĐV yếu kém.

Ví dụ như trong vụ án “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” của Đội Quản lý thị trường số 17, Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội. Cụ thể là Đội Quản lý thị trường số 17 thành lập Đoàn kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ đối với Công ty TNHH Sản xuất và thương mại Phú Hưng Phát. Qua kiểm tra đã phát hiện, tạm giữ 68 đầu mục sách giáo khoa với 27.360 quyển sách giả, buộc tiêu hủy toàn bộ. Tuy nhiên, quá trình kiểm tra, xử lý của Đội Quản lý thị trường số 17 đã thực hiện không đúng quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng giám sát tiêu hủy không tiến hành kiểm đếm lại số sách đã thu trước khi tiêu hủy, không chứng kiến toàn bộ quá trình tiêu hủy, không lập biên bản theo diễn biến thực tế. Một số cán bộ của Đội đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, như: Nhận tiền của Giám đốc Công ty Phú Hưng Phát; tự ý trả lại một phần số sách giả và nhận tiền cảm ơn từ Công ty Phú Hưng Phát... đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an và Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao khởi tố và truy tố. Ngay sau đó, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội đã xem xét báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật đối với đảng viên thuộc Đảng bộ Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội. Trong đó,  Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội tiến hành thi hành kỷ luật bằng hình thức Khiển trách đối với ông Chu Xuân Kiên, Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Quản lý thị trường Thành phố. 

Qua sự việc cho thấy, Đảng bộ Cục Quản lý thị trường chưa thực hiện tốt và đầy đủ việc quản lý, kiểm tra, giám sát trong Đảng, tính đấu tranh tự phê bình và phê bình còn hạn chế, đảng viên đã không thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, còn biểu hiện thiếu gương mẫu trong sinh hoạt, công tác, suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống. Cho nên, mọi vi phạm, khuyết điểm của tổ chức Đảng và đảng viên ở đây, đều bắt đầu từ vi phạm kỷ luật Đảng, rồi sau đó mới “lún sâu” dẫn đến vi phạm pháp luật. Đây là do tổ chức Đảng đã xem nhẹ công tác KT, GS, nếu được KT, GS kịp thời, thường xuyên và sớm hơn thì mức độ, hậu quả của vi phạm, khuyết điểm sẽ ít nghiêm trọng hơn hoặc có thể sẽ không xảy ra vi phạm, khuyết điểm đến mức phải xử lý kỷ luật và không để lại hậu quả nghiêm trọng như thế.

Năng KT, GS mới giữ nghiêm kỷ luật

KT, GS không chỉ giúp cấp ủy, tổ chức Đảng nhanh chóng tìm ra những hạn chế, khuyết điểm của CB, ĐV để kịp thời có biện pháp lãnh đạo xử lý kịp thời, mà còn phát hiện ra những gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến, những nhân tố mới để từ đó bồi dưỡng, nhân rộng, làm lan tỏa những giá trị tốt đẹp. Vì vậy công tác KT, GS không chỉ là liều thuốc hữu hiệu giúp các tổ chức Đảng “chữa lành các vết thương”, mà còn giúp tổ chức Đảng phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, giữ nghiêm kỷ luật Đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”. Người nhấn mạnh: “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết,… kiểm tra khéo, về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”. Quán triệt quan điểm trên, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, quy định quan trọng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng, như: Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 30/7/2007, Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”; Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28/7/2021, của Ban Chấp hành Trung ương “Về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”. Chúng ta đều biết, tổ chức đảng cơ sở là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện, KT, GS đảng viên. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có đi vào cuộc sống hay không, đều phục thuộc vào sự lãnh đạo của tổ chức Đảng cơ sở. Đề hoàn thành chức năng lãnh đạo, thì tổ chức cơ sở Đảng phải được xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó, công tác KT, GS giữ vai trò quan trọng, cần thiết, để kịp thời phát huy ưu điểm, chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm của tổ chức Đảng và đảng viên. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, hàng năm, có khoảng 35% số chi bộ chưa thực hiện nghiêm nhiệm vụ KT, GS đảng viên. Số lượng đảng viên được KT, GS tại các chi bộ còn ít; một số chi bộ chưa KT, GS đối với cấp ủy viên, mà theo quy định cấp ủy viên được kiểm tra là 9,5%; được giám sát chuyên đề là 7,02%. Về nội dung, chưa tập trung KT, GS việc thực hiện nghị quyết chi bộ; nhiệm vụ do chi bộ giao; việc thực hiện các biện pháp khắc phục, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, XII về xây dựng Đảng. 

Do đó, để công tác KT, GS đạt chất lượng và hiệu quả, cấp ủy Đảng phải quán triệt, thực hiện nghiêm Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28/7/2021, của Ban Chấp hành Trung ương “Về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”, để cho CB, ĐV nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa, tác dụng của công tác KT, GS và thi hành kỷ luật Đảng. Đồng thời, phát huy vai trò trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng và ủy ban kiểm tra trong lãnh đạo, chỉ đạo, sao cho công tác KT, GS phải được tiến hành đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa Đảng, chính quyền và tổ chức đoàn thể; xây dựng kế hoạch kiểm tra phải cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, việc giám sát phải được mở rộng, đặc biệt ở những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực. Khi tiến hành KT, GS, phải tạo được sự nhất trí giữa cấp ủy và chính quyền, thực hiện tốt quy chế dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình, như vậy việc KT, GS sẽ không mang tính hình thức. Cùng với đó, phải bám sát nội dung, thời gian, mốc KT, GS để chỉ đạo đối tượng được kiểm tra hoặc giám sát thực hiện. Để công tác KT, GS đạt hiệu quả, các tổ chức Đảng cơ sở cần quan tâm xây dựng, giữ gìn và phát huy tính tự giác của đảng viên, không thể nói suông hoặc hô hào, kêu gọi tính tự giác của mỗi đảng viên mà thông qua công tác KT, GS để xây dựng cơ chế, biện pháp kể cả chế tài xử lý, xem đây là vấn đề mấu chốt để nâng cao tính kỷ luật, kỷ cương của Đảng và cũng là giải pháp để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng ở cơ sở

Đừng thấy bóng mình trên tường mà tưởng lớn

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, soi đường dẫn lối cho sự phát triển, tiến bộ của xã hội, của mỗi quốc gia, dân tộc trong hành trình xây dựng và phát triển.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước, suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng vai trò của văn hóa và hết sức quan tâm đến công tác xây dựng văn hóa trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng cần nhìn thẳng vào những hạn chế, tồn tại, bất cập, yếu kém trên lĩnh vực văn hóa, đó là: Văn hóa chưa được các cấp, các ngành nhận thức một cách sâu sắc và chưa được quan tâm một cách đầy đủ, tương xứng với kinh tế và chính trị; chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước. Vai trò của văn hóa trong xây dựng con người chưa được xác định đúng tầm, còn có chiều hướng nặng về chức năng giải trí. Phát triển các lĩnh vực văn hóa chưa đồng bộ, còn phiến diện, nặng về hình thức, chưa đi vào chiều sâu, thực chất. Việc tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại còn hạn chế; chưa coi trọng đúng mức cũng như chưa có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc; nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách lố lăng, phản cảm, không có chọn lọc.

Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không từ một thủ đoạn nào để tấn công vào lĩnh vực văn hóa. Ngoài việc công kích Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ra sức xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, phủ nhận giá trị các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược của dân tộc Việt Nam, đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa, làm lẫn lộn vai trò của những chiến sĩ cách mạng chân chính với những kẻ cướp nước và bè lũ bán nước. Chúng tuyên truyền cho các giá trị văn hóa phương Tây; hạ thấp giá trị các sáng tác văn học-nghệ thuật ca ngợi cuộc sống lao động, chiến đấu của quân dân ta; tán dương các tác phẩm có khuynh hướng bôi nhọ lịch sử, phủ nhận chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang...

Những biểu hiện đó có nguy cơ làm thay đổi các thang giá trị về đạo đức, lối sống trong xã hội; khơi dậy bản năng chạy theo lợi ích vật chất, cá nhân mà quên đi đạo lý, nghĩa vụ và trách nhiệm của người công dân trong một quốc gia văn minh, tiến bộ; thậm chí làm cho con người sa ngã, quay lưng lại với lịch sử truyền thống và những giá trị mang đậm cốt cách con người Việt, dân tộc Việt.

 Để đấu tranh bảo vệ hồn cốt của dân tộc, trước hết, mỗi cấp ủy, chính quyền, cơ quan, ban, ngành chức năng cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa, quán triệt đầy đủ các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về văn hóa, thực hiện đúng quan điểm Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển kinh tế, xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

Phát huy vai trò chủ thể sáng tạo, chủ thể thụ hưởng văn hóa là Nhân dân; đề cao, phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, của những người làm công tác văn hóa; tôn trọng và bảo vệ sự biểu đạt đa dạng của văn hóa, của người dân, các dân tộc, các vùng, miền. Xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, làm cho văn hóa thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, tiêu cực; chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "quét sạch chủ nghĩa cá nhân", nguồn gốc của mọi sự tham nhũng, tiêu cực, hư hỏng ngay trong các ngành văn hóa, các cơ quan làm công tác văn hóa. Thực hiện tốt quan điểm của Đảng là chủ động nâng cao "sức đề kháng" của các tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại.

Trong tình hình hiện nay, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bác bỏ những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc hiểm độc của các thế lực thù địch, phản động đối với nền văn hóa của dân tộc, bảo vệ vững chắc “bức tường thành văn hóa” của cộng đồng 54 dân tộc anh em. Trong xã hội, cần quan tâm chú trọng lấy cái đẹp dẹp cái xấu, phát huy giá trị văn hóa giữ nước, tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý tốt đẹp của cha ông ta. Đó chính là giải pháp hữu hiệu để góp phần bảo vệ hồn cốt của dân tộc Việt Nam./.

Thủ đoạn khoét sâu vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền với thể chế xã hội chủ nghĩa nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại nhân dân của các thế lực thù địch.

 


Đây là các duyên cớ để các luận điệu thổi phồng sự thật, khoét sâu sự ngăn cách thù oán do chúng tưởng tượng và dựng lên, để mưu đồ đối lập Đảng với tôn giáo, kích động sự kỳ thị giữa các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, nhằm chia rẽ nội bộ các dân tộc, giữa đồng bào có đạo và không theo đạo, giữa các tôn giáo với nhau, đào sâu hố ngăn cách giữa đồng bào các tôn giáo với Đảng, Nhà nước. Chúng thường gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo, kích động vấn đề nhân quyền, phá rối từ cơ sở, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng bằng các hình thức “cách mạng màu”. Các thủ đoạn thường thấy là, kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi hành lễ phi pháp luật, tụ tập đông giáo dân gây mất an ninh thực hiện cái gọi là “bất tuân dân sự”; chia rẽ, kích động đồng bào các dân tộc thiểu số biểu tình gây bạo loạn... dưới chiêu bài nhân quyền, tự do, dân chủ; móc nối với các tổ chức quốc tế, với các thế lực thù địch từ nước ngoài để làm rối tình hình trong nước.

Họ kích động, hà hơi tiếp sức những người nhân danh “lòng yêu nước”, mưu toan khởi hấn, xuống đường biểu tình vô lối, để “đục nước béo cò”, “mượn gió bẻ măng”... mưu lợi cho mình và phe nhóm mình. 

Thủ đoạn chia rẽ phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước của các thế lực thù địch.

 


Sức mạnh của Đảng sẽ mất, nếu tách khỏi cơ sở xã hội - chính trị là nhân dân. Đó chính là pháp lý được ghi trong Hiến pháp, trong vị thế “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của Nhân dân” và đạo lý sống được thừa nhận trong xã hội, với tư cách là “đứa con nòi của giai cấp lao động” của Đảng. Chúng âm mưu đánh sập đạo lý của Đảng chúng ta với nhân dân, phủ nhận sự chính danh, chính pháp giữa Đảng với Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các luận điệu đó, cốt chia rẽ, âm mưu kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ và đảng viên của Đảng, dưới mọi hình thức. Chúng cổ xúy cho bảo trợ và tham gia các tổ chức “xã hội dân sự” tự phát. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng những biểu hiện riêng lẻ, những khuyết điểm để thổi phồng quy kết thành bản chất của một đảng cầm quyền và đã làm phân tâm không ít bộ phận dân cư. 

Tạo sự nhận thức đúng đắn trong đấu tranh tư tưởng hiện nay

 


Công tác tư tưởng phải tạo được sự nhận thức đúng đắn, thống nhất về vị trí, vai trò của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận; trên cơ sở đó, thấy rõ trách nhiệm của từng địa phương, cơ quan, đơn vị trong cuộc đấu tranh trên mặt trận nóng bỏng này. Làm cho các tổ chức, các lực lượng nắm vững nội dung và yêu cầu cốt lõi của đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay là bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong xã hội, tăng cường khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đồng thời, “Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”

“Đấu tranh với “tà đạo” trên địa bàn xứ chè”

Theo thống kê, tại Thái Nguyên có gần 300 cơ sở, địa điểm sinh hoạt tôn giáo hợp pháp với hơn 160.000 tín đồ, người theo đạo; có 3 tôn giáo chính là Phật giáo, Tin lành và Công giáo. Các địa điểm sinh hoạt tôn giáo tồn tại đan xen ở nhiều địa bàn khác nhau nhưng đều hoạt động theo quy định của pháp luật, các chức sắc tôn giáo đều tham gia đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Về đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Thái Nguyên chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh, sinh sống tập trung chủ yếu ở 5 huyện miền núi, vùng cao là Định Hoá, Võ Nhai, Phú Lương, Đồng Hỷ và Đại Từ. Đặc thù phần lớn đồng bào cư trú phân tán, xen kẽ tại vùng núi với địa hình chia cắt phức tạp, nhiều nơi có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, đời sống người dân còn khó khăn...

Trao đổi với phóng viên Báo CAND, Thượng tá Đào Việt Anh, Phó Trưởng phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Thái Nguyên cho biết, xuất hiện từ năm 1989 đến nay, "tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình" đã gây ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình ANTT và đời sống của đồng bào dân tộc Mông ở Thái Nguyên. Tính đến tháng 11/2021, trên địa bàn còn 13 xóm, 6 xã của hai huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai với 227 hộ, 1185 khẩu đồng bào dân tộc Mông tin theo tổ chức bất hợp pháp này.

Tuy nhiên, với quyết tâm chính trị cao nhằm đấu tranh, ngăn chặn, tiến tới xoá bỏ "tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình", lực lượng Công an tỉnh Thái Nguyên đã tham mưu cấp uỷ, chính quyền địa phương và là lực lượng nòng cốt trong việc đấu tranh, xoá trắng các điểm nhóm của tổ chức bất hợp pháp này, đến cuối năm 2022 đã tuyên truyền vận động tháo dỡ 8/8 nhà đòn, giao nộp 106 phông chữ biểu tượng; vận động các đối tượng cầm đầu, cốt cán ký cam kết từ bỏ tổ chức, đồng thời tuyên truyền, vận động 100% số hộ, số khẩu ký cam kết từ bỏ.

Theo Thượng tá Đào Việt Anh, trước tình hình các tổ chức bất hợp pháp, đạo lạ xâm nhập địa bàn, Công an tỉnh Thái Nguyên chủ động tham mưu, đề xuất cấp uỷ, chính quyền các cấp chỉ đạo giải quyết; tham mưu Tỉnh uỷ, UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai, huy động hệ thống chính trị tham gia vận động, tuyên truyền bà con nhân dân từ bỏ, không tin, không nghe, không theo các luận điệu tuyên truyền của các tổ chức bất hợp pháp, "tà đạo", củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc, tôn giáo, gắn với an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội.

"Chú trọng gặp gỡ, tranh thủ người có uy tín trong dân tộc thiểu số và chức sắc tôn giáo để nắm bắt tình hình, tâm tư, nguyện vọng của bà con, giúp đỡ đồng bào từng tin theo, nay đã từ bỏ "tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình", "tà đạo Bà Cô Dợ", "Ân điển cứu rỗi"..., sinh hoạt lại các tín ngưỡng truyền thống hoặc tổ chức tôn giáo hợp pháp, đã được Nhà nước công nhận", anh chia sẻ. Đây cũng là giải pháp căn cơ, bền vững, tạo thuận lợi cho công tác bảo đảm ANTT trên địa bàn.

Đại uý Hoàng Anh Tuấn, Phó Đội trưởng Đội An ninh dân tộc, Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Thái Nguyên cho biết, CBCS trong đơn vị thường xuyên bám cơ sở để tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức chính trị cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào Mông, giúp họ có "sức đề kháng" trước hoạt động tuyên truyền, lôi kéo của phần tử xấu. Đặc biệt, Đội có 3 CBCS người Mông am hiểu phong tục, tập quán đồng bào nên thuận tiện trong việc tiếp xúc, gặp gỡ tuyên truyền vận động bà con.

"Qua những lần "ba cùng", chúng tôi vận động đồng bào giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động tại địa phương, đồng thời đấu tranh xoá bỏ hoàn toàn "tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình", "Bà Cô Dợ", "Ân điển cứu rỗi", kiên quyết không để các tổ chức này tái hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số" - Trung tá Hoàng Anh Thái, cán bộ người Mông của Đội An ninh dân tộc, Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Thái Nguyên nhấn mạnh./.

Thủ đoạn tung hỏa mù về “đảng trị” và vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền của các thế lực thù địch.

 

Họ bài xích Đảng, với các mánh lới và giọng điệu vừa tinh vi, vừa trắng trợn: 1- Đảng tự cho mình đứng trên tất cả, nghị quyết của Đảng cao hơn và bất chấp Hiến pháp, chỉ cần Hiến pháp không cần Đảng; 2- Độc đảng tất yếu sẽ là chế độ toàn trị, cần phải đa đảng mới hy vọng có dân chủ, mới có chế độ dân chủ; 3- Cần lập các trường phái trong Đảng mới thực sự dân chủ, nếu Đảng muốn xây dựng nền dân chủ đích thực của đất nước; 4- Đảng tự cho mình quyền lãnh đạo đất nước, xưa nay có Đảng đâu mà dân tộc vẫn tồn tại và phát triển; 5- Đa thành phần kinh tế nhất định sẽ dẫn tới đa đảng chính trị; 6- Cần “phi chính trị hóa” và tôn trọng tính độc lập của các lực lượng vũ trang, không cần sự lãnh đạo của Đảng; 7- Giai cấp công nhân đã hết vai trò, tới lượt và chỉ có trí thức mới là lực lượng dẫn dắt xã hội thay vì giai cấp công nhân, trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; 7- Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền phi chính đáng, phi chính danh...v.v. và v.v.. Vô vàn các giọng điệu hằn học, bôi nhọ, phủ nhận, xuyên tạc bất chấp mọi lý lẽ thông thường.

“Minh chứng sinh động phản bác các luận điệu bôi nhọ Việt Nam trên trường quốc tế”

Với các sự kiện ngoại giao quan trọng, nhất là khi Việt Nam trúng cử vào vị trí của các tổ chức thuộc Đại hội đồng LHQ, các thế lực thù địch, phản động lập tức tổ chức những chiến dịch chống phá cả trước, trong quá trình Việt Nam thực hiện nhiệm kỳ của mình. Nghị sĩ cực đoan tại một số nước phương Tây, các tổ chức phản động lưu vong người Việt Nam ở nước ngoài và những cá nhân người Việt ở trong, ngoài nước bị các thế lực thù địch mua chuộc, lợi dụng, số này thường núp bóng ngọn cờ dân chủ, nhân quyền, chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam. Một số tổ chức phi chính phủ quốc tế như Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá quốc tế (AI), Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), Tổ chức Ngôi nhà tự do (FH)... thường xuyên đưa ra các bài viết vu cáo, xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội và tự do dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

Với âm mưu chống phá đến cùng, họ cố tình bôi nhọ, đổi trắng thay đen, cố tình không nhìn thấy sự thật rằng: Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương lấy con người là trung tâm, là chủ thể, là động lực, là mục tiêu cao nhất. Ở Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo đảm theo hiến pháp, pháp luật. Những năm qua, người dân Việt Nam đã và đang được thụ hưởng ngày càng tốt hơn từ thành tựu phát triển đất nước trên mọi lĩnh vực về kinh tế, xã hội. Đảm bảo quyền con người luôn là ưu tiên cao nhất của Đảng và Nhà nước ta, nhất là dành sự ưu tiên đối với những nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương.

Đương nhiên, trong quá trình thực hiện, có những chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước chưa được đảm bảo tại một số lĩnh vực, địa bàn; còn sự nhũng nhiễu, tiêu cực của một bộ phận cán bộ công quyền, gây khó khăn, phiền hà cho người dân, gây thất thoát tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân; đời sống đồng bào, nhất là vùng sâu, vùng xa còn những khó khăn cả về vật chất và tinh thần… Những tồn tại, hạn chế đó có các nguyên nhân khách quan, chủ quan và trong quá trình phát triển, Đảng, Nhà nước ta luôn có các tổng kết, đánh giá, đưa ra các giải pháp khắc phục để đảm bảo đời sống người dân ngày càng được tốt hơn.

Sự nguy hại của những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt là luôn tìm cách quy hiện tượng thành bản chất, đánh đồng mọi hiện tượng tiêu cực thành bản chất của chế độ. Sự lặp đi lặp lại các luận điệu bôi nhọ, xuyên tạc này nhằm gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại và vị thế, uy tín của Việt Nam với các nước, khiến dư luận quốc tế hiểu sai lệch về Việt Nam.

Là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, nỗ lực thúc đẩy quyền con người. Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò thành viên một số cơ quan của tổ chức quốc tế quan trọng như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ (hai nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021), thành viên Hội đồng nhân quyền LHQ (hai nhiệm kỳ 2014-2016 và 2023-2025), thành viên Hội đồng chấp hành Tổ chức Y tế thế giới - WHO (nhiệm kỳ 2016-2019), thành viên Hội đồng khai thác bưu chính của Liên minh Bưu chính thế giới - UPU (nhiệm kỳ 2022-2025)...Việt Nam cũng đã hoàn thành Báo cáo quốc gia theo cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của Hội đồng Nhân quyền LHQ và đang tiến hành những khuyến nghị cho UPR chu kỳ 3. Do vậy, Việt Nam có đủ uy tín, sự minh bạch và kinh nghiệm để hoàn thành tốt vai trò Phó Chủ tịch Đại hội đồng LHQ nhiệm kỳ 2022-2023. Đây là một trong những minh chứng thuyết phục bác bỏ luận điệu xuyên tạc về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội và nhân quyền ở Việt Nam thời gian qua.

Trong nhiệm kỳ vừa qua, Việt Nam đã cùng một số nước đề xuất các sáng kiến, giải pháp trên nhiều vấn đề lớn của LHQ như đề cao luật pháp quốc tế, đại dương và luật biển, an ninh nguồn nước, trách nhiệm bảo vệ và phòng ngừa tội ác chống lại nhân loại, tiếp cận công lý bình đẳng, chuẩn bị cho Hội nghị cấp cao về phòng chống dịch bệnh, bảo hiểm y tế toàn cầu, bệnh lao, cải tổ hoạt động của Đại hội đồng LHQ, báo cáo của Tổng Thư ký LHQ về hoạt động của tổ chức, báo cáo của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), báo cáo của Tòa án Hình sự quốc tế (ICC)…

Nổi bật là Việt Nam đã chủ trì Đại hội đồng LHQ thảo luận và thông qua Nghị quyết yêu cầu Toà án Công lý quốc tế (ICJ) đưa ra ý kiến tư vấn đối với vấn đề biến đổi khí hậu, các nghị quyết về việc tổ chức phiên họp cấp cao về sẵn sàng phòng chống và ứng phó với dịch bệnh, bao phủ bảo hiểm y tế toàn cầu, bệnh lao, thúc đẩy các nội dung thảo luận tại Hội nghị của LHQ về nước… Sự tham gia chủ động và tích cực của ta đều nhằm đóng góp một cách cụ thể, thực chất vào công việc chung và các ưu tiên lớn của LHQ và cộng đồng quốc tế; đóng góp vào thúc đẩy hợp tác, đoàn kết quốc tế và tăng cường chủ nghĩa đa phương để ứng phó hiệu quả trước các thành thức toàn cầu nổi lên ngày càng gay gắt.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã hỗ trợ Chủ tịch Đại hội đồng điều hành suôn sẻ và hiệu quả các công việc chung của LHQ, trong đó có các sự kiện lớn cấp cao và các phiên họp quan trọng của Đại hội đồng cũng như trong điều phối và dẫn dắt quá trình thảo luận, thương lượng xây dựng các văn kiện, tiến trình mang tính định hướng chiến lược lâu dài của LHQ cho các năm tiếp theo. Việt Nam là nước được Chủ tịch Đại hội đồng LHQ Khoá 77 tín nhiệm, giao chủ trì điều hành nhiều cuộc họp của Đại hội đồng. Có thể nói, đất nước ta đã khẳng định được vị thế và chủ động có nhiều đóng góp quan trọng tại các tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương. Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, đồng thời tích cực tham gia giải quyết các vấn đề khu vực, toàn cầu thông qua đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương.

Trong 46 năm là thành viên của LHQ, Việt Nam đã gánh vác nhiều trọng trách lớn, có nhiều đóng góp thực chất và hiệu quả cho tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh. Với đường lối đối ngoại đa phương đúng đắn, lấy LHQ là trọng tâm, Việt Nam - trên cương vị mới, sẽ tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho những mục tiêu cao cả của LHQ, đó là giải quyết xung đột, duy trì hòa bình, ổn định cho tất cả người dân trên thế giới.

Sự kiện Việt Nam hoàn thành nhiệm kỳ Phó Chủ tịch Đại hội đồng LHQ với nhiều đóng góp thiết thực cho nhân loại một lần nữa khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời cho thấy sự ghi nhận xứng đáng của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu và nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy bảo vệ quyền con người trên tất cả các lĩnh vực. Đây là minh chứng sinh động, đầy sức thuyết phục để phản bác những luận điệu xuyên tạc, cố tình phủ nhận những tiến bộ và thành tựu kinh tế, xã hội, đối ngoại nước ta./.

Thủ đoạn bôi nhọ, xuyên tạc đường lối chính trị và công phá thể chế chính trị của các thế lực thù địch.

 


Đây là “tử huyệt” mà các luận điệu thù địch tập trung sức công phá, ở nhiều mức độ: nhẹ thì tung hỏa mù, đánh lạc hướng, gây nên tình trạng nghi ngờ, mất phương hướng hành động; nặng thì không từ mọi chiêu bài, thủ đoạn nhằm phủ nhận tính cách mạng, cơ sở khoa học và bôi nhọ thực tiễn lịch sử cách mạng nhằm xuyên tạc và phủ nhận đường lối chính trị của Đảng. Trong rất nhiều phương diện chung quanh vấn đề này, xin nhấn mạnh mấy loại luận điệu tập trung công kích trụ cột đường lối chính trị và thể chế chính trị Việt Nam: 1- Bài xích, phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, 2- Cổ xúy đa nguyên chính trị, đòi “tam quyền phân lập”, vu khống chế độ toàn trị, dựng lên và thổi phồng “lỗi hệ thống”... nhằm xóa bỏ thể chế hiện tồn, 3- Tán dương và cái gọi là “khuyến nghị” thực thi phát triển “xã hội dân sự”; 4- Lợi dụng việc sửa đổi Hiến pháp và các luật nhằm làm sai lệch những vấn đề cơ bản nhất về chế độ sở hữu, về quyền con người, quyền dân tộc,... 
Chuyển hóa đường lối chính trị, thông qua việc chia rẽ, mua chuộc đội ngũ các nhà chính trị hoạch định đường lối, và là con đường ngắn nhất chuyển hóa chế độ. Lợi dụng “lợi ích nhóm” và các “nhóm lợi ích”, họ tán dương và dùng mọi giọng điệu để bôi nhọ, khoét sâu những vấn đề này nhằm phân hóa từ trong nội bộ Đảng, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, phá nát chiến lược cán bộ, tạo sự gây hấn, phân hóa giữa các loại cán bộ trong hệ thống chính trị của chúng ta. 

Thủ đoạn công phá nền tảng tư tưởng chính trị và thủ tiêu ý thức hệ của các thế lực thù địch.

 


Với đủ giọng điệu nhiều cung bậc, họ phê phán, công kích trực diện vào chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lê-nin... hòng làm phân tâm, gây hoài nghi trong những người hoạch định chiến lược, bôi nhọ và cuối cùng đánh sập nền tảng chính trị và cơ sở tư tưởng của đường lối chính trị của Đảng. Đây là thủ đoạn hết sức thâm độc và có sức công phá lớn, nhằm thẳng vào nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng và tác họa khôn lường, nhằm lật đổ Đảng từ những vấn đề căn bản, có ý nghĩa cốt tử. Chung quanh vấn này, nổi bật mấy loại chủ yếu: Tiếp tục công kích vào các loại vấn đề cơ bản thuộc hình thái kinh tế - xã hội, phương thức sản xuất, động lực phát triển xã hội, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phương pháp tư duy và phương pháp cách mạng,... Thủ đoạn mới là, họ chuyển từ sự bôi nhọ cái gọi là “du nhập ngoại lại” sang đánh tráo khái niệm, thay thế các khái niệm... nhằm cổ xúy cho cái gọi là “đảo lộn” tư duy, gây rối loạn về phương pháp luận. Thổi phồng những cái gọi là “chủ thuyết phát triển nhân loại mới”, đem đối lập C. Mác với V.I. Lê-nin; đối lập Hồ Chí Minh với V.I. Lê-nin, thổi phồng một cách cực đoan tư tưởng Hồ Chí Minh,... cốt phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vô hình hạ bệ tư tưởng Hồ Chí Minh, rốt cuộc nhằm phủ nhận, công phá và đánh sập nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng. 
Và, họ đánh lừa được không ít người. Có không ít loại ý kiến theo đuôi và phụ họa của những người non kém về chính trị, bạc nhược về tư tưởng.

Thực hiện nhiều hình thức đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng

 


Gắn chặt đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng với đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao... để tạo nên sức mạnh tổng hợp hoàn thành tốt mục tiêu đấu tranh quốc phòng.

Đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng phải gắn chặt với đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao... về mục tiêu, lực lượng, phương thức, chương trình, kế hoạch..

Bảo đảm thống nhất về lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

Bảo đảm phát huy vai trò năng động, sáng tạo, thế mạnh của mỗi lĩnh vực.

Không chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ của mỗi lĩnh vực.

TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC - HÀNH TRÌNH MANG TẦM THỜI ĐẠI CỦA LÃNH TỤ NGUYỄN ÁI QUỐC

 Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước của vùng đất xứ Nghệ “địa linh nhân kiệt” giàu truyền thống cách mạng, với trí thông minh và sự mẫn cảm về chính trị, ngay từ nhỏ cậu bé Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra cảnh đất nước lầm than đắm chìm trong nô lệ. Thuở ấu thơ được bê nước hầu cha và các bạn của cha đàm đạo việc nước, Nguyễn Tất Thành đã sớm có những suy nghĩ khác biệt về tư tưởng so với nhiều người bạn cùng trang lứa và cả với một số bậc cha chú đương thời về con đường cứu nước.

Ý chí quyết định đi ra nước ngoài tự mình tìm con đường cứu nước, cứu dân đã hình thành trong tư tưởng của người thiếu niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Năm 1905, Nguyễn Tất Thành được cha là ông Nguyễn Sinh Huy (tức ông Nguyễn Sinh Sắc) xin cho theo học lớp dự bị Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh. Tại ngôi trường này, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” và tìm thấy sức hấp dẫn của những mỹ từ đó mà người Pháp đã tuyên truyền. Đi đâu, đến nước nào để tìm con đường cứu nước, cứu dân là những câu hỏi luôn đau đáu trong suy nghĩ của Nguyễn Tất Thành. Và Người đã tìm được câu hỏi trả lời từ chính trong cuộc sống xã hội mà Người đã trải qua. Người muốn tìm hiểu xem cái gì ẩn giấu đằng sau nhiều mỹ từ ấy. Người đã nung nấu ý chí ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác làm ăn ra sao, nhất là xem họ “tổ chức và cai trị như thế nào” rồi sẽ về giúp dân, giúp nước. Độc lập cho Tổ quốc, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho Nhân dân là mục đích, là “ham muốn tột bậc” của Người, là nguồn gốc và động lực sâu xa để ngày 5-6-1911 người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Sài Gòn ra nước ngoài, thực hiện cuộc hành trình vĩ đại tìm đường cứu nước, cứu dân.
Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành đã lên tàu Admiral Latouche-Tréville rời Sài Gòn đi Mác-xây (Pháp). Người đã đi nhiều nước, tiếp xúc nhiều nền văn hóa ở nhiều quốc gia, dân tộc khác nhau. Đi đến đâu Người cũng hòa mình vào phong trào quần chúng nhân dân lao động, chứng kiến nhiều cảnh người nô lệ, hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân và nhận ra đâu là bạn, đâu là thù.
Trong suốt cuộc hành trình tìm đường cứu nước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã trải qua gần 30 quốc gia của 4 châu lục, phải làm rất nhiều nghề cực nhọc khác nhau để kiếm sống, Người đã luôn tự học tập, học hỏi trong bất cứ hoàn cảnh nào và luôn quan sát, độc lập suy nghĩ để tìm ra lời giải cho riêng mình. Hành trình tìm đường cứu nước của Người có những đặc điểm riêng biệt khác với các thế hệ tiền bối và cũng tạo lập ra những nét đặc sắc riêng trong nhận thức, tư tưởng so với các thanh niên, trí thức du học phương Tây cùng thời.
Với hành trang là chủ nghĩa yêu nước - nhân văn Việt Nam và khát vọng giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, trải qua thực tiễn học tập, nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh cách mạng phong phú ở nhiều nước, Người đã nhận thấy vấn đề giải phóng dân tộc và giải phóng con người là một nhu cầu tất yếu và cấp thiết không chỉ ở Việt Nam mà với tất cả các dân tộc thuộc địa và nhân dân lao động bị áp bức trên trên toàn thế giới.
Tháng 7-1920, Người được đọc bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của V.I.Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo (Pháp). Người lập tức đã bị cuốn hút và đã đọc đi, đọc lại nhiều lần. Qua lăng kính của chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người đã tìm thấy ở đó con đường đúng đắn giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân. Đây là sự kiện mang tính bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc vì nó đã đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử và Người đã vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu phong kiến và các nhà hoạt động cách mạng có xu hướng tư sản đương thời.
Nhiều nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh đều có chung quan điểm, một trong những điểm nổi trội và độc đáo nhất của Người so với nhiều danh nhân văn hóa khác trên thế giới là ở chỗ Người đánh giá cao chủ nghĩa dân tộc. Hồ Chí Minh luôn coi chủ nghĩa dân tộc là động lực của đất nước. Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam được sinh ra từ lòng yêu nước muôn đời, rồi qua hàng ngàn năm thử thách, kết tinh thành chủ nghĩa yêu nước, trở thành một văn hóa vĩnh hằng của dân tộc.
Từ tình thương yêu con người đã trở thành khát vọng giải phóng con người, Nguyễn Ái Quốc luôn nung nấu và theo đuổi ý chí tìm đường giải phóng không chỉ cho dân tộc mình mà còn với mọi tầng lớp cùng khổ trên khắp các châu lục. Từ chủ nghĩa yêu nước dân tộc chân chính, Nguyễn Ái Quốc đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa cộng sản.
Xác định con đường của cách mạng Việt Nam đi theo Chủ nghĩa Mác - Lênin là điểm khác về chất của Người so với nhiều nhân vật yêu nước cùng thời. Khi nước nhà mất độc lập cũng là truyền thống yêu nước có điều kiện thể hiện rõ ràng nhất, sinh động nhất, nhưng yêu nước nhiệt thành thì không chỉ có duy nhất là Nguyễn Ái Quốc. Có chí lớn đánh đuổi giặc ngoại xâm, lấy lại đà chấn hưng cho dân tộc Việt Nam không phải chỉ có riêng ở Người. Bằng sự dấn thân và trải nghiệm của cá nhân Người, Người đã khước từ phong trào Đông Du, Duy Tân để tìm thấy ở Chủ nghĩa Mác- Lênin con đường cứu nước và con đường phát triển cho dân tộc một cách đúng đắn.
Với ý chí kiên cường và nghị lực phi thường, sau 30 năm bôn ba vất vả để tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm được đường đi cho dân tộc theo đi, Người đã về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Từ một nước thuộc địa nửa thuộc địa không có tên trên bản đồ thế giới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện, dân tộc Việt Nam đã đứng lên làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám mùa Thu 1945, nở hoa, độc lập, kết trái tự do, làm nên thắng lợi của 2 cuộc kháng chiến trường chinh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giành độc lập cho dân tộc, thống nhất non sông.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ của lịch sử đã là thực tiễn sinh động minh chứng hùng hồn con đường mà Nguyễn Ái Quốc tìm ra, giới thiệu cho lịch sử và để lịch sử lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn. Lịch sử đã chứng minh một cách rõ ràng tính cách mạng và khoa học con đường mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy không chỉ đã khai thông sự bế tắc đường lối giải phóng dân tộc mà còn giải quyết đúng đắn, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các vấn đề trọng yếu nhất của cách mạng Việt Nam. Sứ mệnh lịch sử của dân tộc Việt Nam đã trao cho Người với trách nhiệm là người tìm đường, người mở đường và là người dẫn đường cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam sau nhiều phen sóng gió, thăng trầm của lịch sử.
Tròn 110 năm (5-6-1911 - 5-6-2021) Ngày người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh rời Sài Gòn ra nước ngoài thực hiện cuộc hành trình vĩ đại mang tầm thời đại: cứu nước, cứu dân. Lịch sử ngày càng lùi xa nhưng với tất cả những cống hiến lớn lao của Người trong hành trình đặc biệt đó vì nước, vì dân đã trở thành một tài sản tinh thần to lớn và vô giá của dân tộc Việt Nam.
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, lịch sử đã đặt ra cho dân tộc hai nhiệm vụ cấp bách cần phải giải quyết là đánh đuổi thực dân Pháp để giành lại độc lập cho dân tộc và canh tân đất nước. Hai nhiệm vụ này gắn bó chặt chẽ với nhau, quan hệ biện chứng và hỗ trợ cho nhau không thể tách rời. Tuy nhiên, trong quan hệ giữa 2 vấn đề này thì giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ cấp bách, phát triển đất nước là nội dung quan trọng nhưng mục tiêu này chỉ có thể được thực hiện có hiệu quả khi dân tộc được giải phóng, đất nước được độc lập, nhân dân được tự do. Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đó có công lao vô cùng to lớn trong việc tìm ra con đường giải phóng dân tộc khỏi sự thống trị của chủ nghĩa thực dân.
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân Việt Nam kiên trì, kiên định con đường Người đã tìm ra và lựa chọn, ra sức vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người để đưa sự nghiệp cách mạng của Người để lại vươn những tầm cao mới, thực hiện mong muốn cuối cùng của Người là “đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”./.
Tạp chí Xây dựng Đảng

Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc

 


Huy động mọi lực lượng, mọi cấp, mọi ngành tham gia vào đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đê tạo nên sức mạnh tổng hợp hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

Gắn kết chặt chẽ các hoạt động, các lực lượng tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất trong đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

Phát huy vai trò làm nòng cốt vững chắc của lực lượng vũ trang, Quân đội, công an nhân dân trong đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

NÂNG TẦM QUAN HỆ ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - HOA KỲ

 Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden sẽ có chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam từ ngày 10-11/9/2023 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Theo Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc Knapper, chuyến thăm gửi đi một thông điệp mạnh mẽ tới người dân hai nước về tầm quan trọng của mối quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ và sẽ làm sâu sắc thêm tình hữu nghị giữa hai nước.
Tháng 7/2015, lần đầu tiên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước, hai bên đã thông qua Tuyên bố về Tầm nhìn chung quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, khẳng định tiếp tục triển khai quan hệ sâu sắc, bền vững và thực chất, trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và thể chế chính trị, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
Trong cuộc điện đàm hồi tháng 3 năm nay với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden khẳng định, Việt Nam là đối tác quan trọng; ủng hộ một Việt Nam “độc lập, tự cường và thịnh vượng”; tái khẳng định tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của Việt Nam; nhất trí rằng sự tôn trọng là một nền tảng quan trọng của quan hệ hai nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden đã nhắc lại lời mời thăm cấp cao lẫn nhau. Hai nhà lãnh đạo vui vẻ nhận lời và giao các cơ quan liên quan thu xếp vào thời gian phù hợp.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris trong chuyến thăm Việt Nam tháng 8/2021 khi tiếp xúc với các nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đều nhấn mạnh sự ủng hộ của Hoa Kỳ vì một Việt Nam hùng mạnh, độc lập và thịnh vượng.
“Tất cả những gì chúng tôi làm với Việt Nam đều dựa trên niềm tin của chúng tôi vào một Việt Nam hùng mạnh, độc lập, thịnh vượng và kiên cường.
Mọi việc chúng tôi làm với Việt Nam đều dựa trên niềm tin chung về toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền, tôn trọng hệ thống chính trị của nhau. Và đây là những quan điểm chung của cả hai bên. Niềm tin chung đó đã được làm sâu sắc hơn trong 10 năm qua và tôi tin rằng trong 10 năm tới, nó sẽ tiếp tục được củng cố”, bà Kamala Harris khẳng định.
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc Knapper ngày 6/9 khẳng định, chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden đến Việt Nam sắp tới là “sự kiện lịch sử quan trọng”, thể hiện sự coi trọng của Hoa Kỳ với Việt Nam, đồng thời cho thấy “sự trân trọng mà chúng tôi muốn thể hiện với Tổng Bí thư”. “Việc Tổng thống Joe Biden đến Việt Nam từ ngày 10-11/9 là cách tốt nhất để thể hiện tầm quan trọng mà chúng tôi nhìn nhận đối với mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ”, Đại sứ Marc Knapper nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, Đại sứ cũng đề cao mối quan hệ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lần đầu gặp ông Joe Biden, khi đó là Phó Tổng thống, trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm 2015 theo lời mời của Tổng thống Barack Obama. Trong buổi chiêu đãi ở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 7/7/2015, ông Joe Biden đã đọc bản tiếng Anh của hai câu thơ trong Truyện Kiều khi nâng ly chúc mừng quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ cùng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
“Tôi nghĩ Phó Tổng thống Joe Biden khi đó và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tìm thấy sự đồng điệu. Họ xây dựng quan hệ rất tốt ngay từ đầu, cùng dẫn những câu thơ trong Truyện Kiều.
Hai lãnh đạo cũng thường xuyên trao đổi thư trong những năm tiếp theo và có cuộc điện đàm quan trọng hôm 29/3”, Đại sứ Marc Knapper nói thêm; đồng thời bày tỏ tin tưởng chuyến thăm “sẽ rất tích cực và đặc biệt thành công”, cho người dân hai nước thấy chính quyền hai bên đánh giá mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ quan trọng như thế nào.
Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Dũng cho biết, từ khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, hai nước luôn duy trì trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao đều đặn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhiều lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đã đi thăm Hoa Kỳ.
Tổng thống Joe Biden sẽ là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 5 đến thăm Việt Nam kể từ ngày 11/7/1995, thời điểm hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Kể từ cột mốc quan trọng này đến nay, mỗi đời Tổng thống Hoa Kỳ đều sang thăm Việt Nam.
Các Tổng thống đương nhiệm từng tới thăm Việt Nam trước ông Joe Biden bao gồm: Tổng thống Bill Clinton (thăm tháng 11/2000), Tổng thống George W. Bush (thăm tháng 11/2006), Tổng thống Barack Obama (thăm tháng 5/2016). Trong đó, riêng Tổng thống Donald Trump thăm Việt Nam hai lần. Lần một là vào tháng 11/2017, khi ông đến Việt Nam dự Hội nghị cấp cao APEC. Thời điểm đó ông Trump là Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên thăm Việt Nam ngay trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ Tổng thống. Lần hai là vào tháng 2/2019, khi ông sang Việt Nam dự Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên.
Các cuộc trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc duy trì đà và tạo thêm xung lực cho quan hệ giữa hai nước.
Tháng 2/2023, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Catherine Tie đã đến thăm Việt Nam. Theo sau là một loạt chuyến thăm Việt Nam của các quan chức cấp cao Hoa Kỳ như chuyến thăm của Giám đốc Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ Rochelle P. Walensky, Tổng Giám đốc Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) Samantha Power, Ngoại trưởng Antony Blinken cũng như Bộ trưởng Nông nghiệp Thomas Vilsack và mới nhất là chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Tài chính Janet Yellen.
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ đã có đoàn đại biểu Quốc hội cấp cao gồm thành viên thuộc hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đại diện cho cả Thượng viện và Hạ viện thăm Việt Nam. Một phái đoàn doanh nghiệp Hoa Kỳ lớn nhất từ trước đến nay cũng đã có mặt tại Việt Nam trong tháng 3 năm nay…
Theo Đại sứ Marc Knapper, “tất cả các chuyến thăm này cho thấy Hoa Kỳ quan tâm trở lại ở mức độ rất cao trong mối quan hệ với Việt Nam. Hoa Kỳ rất tin tưởng vào tình hữu nghị với Việt Nam và mong muốn làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ giữa hai nước”.
Kể từ khi thiết lập khuôn khổ quan hệ Đối tác toàn diện tháng 7/2013, mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ phát triển sâu rộng, hiệu quả và thực chất trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, ngoại giao, kinh tế - thương mại đến văn hoá, giáo dục, khoa học - công nghệ, y tế, quốc phòng - an ninh, giao lưu nhân dân.
Một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy quan hệ giữa hai nước là kinh tế. Thương mại hai chiều Việt Nam và Hoa Kỳ đã tăng hơn 5 lần, từ 25 tỷ USD năm 2012 lên gần 140 tỷ USD vào năm 2022, nếu tính từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ thì tăng hơn 300 lần. Hoa Kỳ trở thành đối tác thương mại và thị trường xuất khẩu số một của Việt Nam, đồng thời, Việt Nam đã vươn lên vị trí đối tác thương mại lớn thứ 7 của Hoa Kỳ. Đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam liên tục tăng, trong khi đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam vào Hoa Kỳ cũng đang trở thành xu thế. Tháng 3/2023, Hoa Kỳ đưa phái đoàn gồm hơn 50 doanh nghiệp tới Việt Nam, điều này phản ánh niềm tin của các công ty Hoa Kỳ vào chính trị và kinh tế Việt Nam, bất chấp những trở ngại được dự báo trong năm nay về kinh tế Việt Nam cũng như toàn cầu.
Trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 7, Bộ trưởng Tài chính Yellen đánh giá, Việt Nam là đối tác ngày càng quan trọng với Hoa Kỳ. Bộ trưởng Yellen đã nhấn mạnh Việt Nam là một giao điểm quan trọng trong chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu, được chứng minh bởi các khoản đầu tư lớn của doanh nghiệp công nghệ Hoa Kỳ vào Việt Nam như Công ty Amkor Technology hay Tập đoàn Intel, với nhà máy lắp ráp và kiểm định chíp lớn nhất thế giới được đặt tại TP Hồ Chí Minh.
Về giáo dục, hợp tác song phương cũng ghi nhận sự phát triển vượt bậc. Theo báo cáo của Open Doors về trao đổi giáo dục quốc tế được tổ chức này công bố tháng 11/2022, năm học 2021-2022, Hoa Kỳ có 948.000 sinh viên quốc tế đến từ hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó, số sinh viên quốc tế người Việt là 20.713 người.
Thông tin về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Joe Biden, Thư ký báo chí Nhà Trắng Karine Jean-Pierre nhấn mạnh: “Lãnh đạo hai nước sẽ thảo luận về các cơ hội để thúc đẩy phát triển kinh tế, tập trung vào công nghệ và đổi mới, mở rộng quan hệ đối thoại nhân dân thông qua trao đổi giáo dục cũng như các chương trình phát triển lực lượng lao động, chống biến đổi khí hậu và tăng cường hòa bình, thịnh vượng, ổn định trong khu vực”.
Còn Phó Tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris trong cuộc tiếp xúc với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhân dịp dự Hội nghị Cấp cao ASEAN 43, cũng nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Joe Biden theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và tin tưởng chuyến thăm sẽ đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ giữa hai nước; góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ hai nước lên tầm cao mới vì hòa bình, hợp tác, phát triển./.
Công an nhân dân

HIỀN TÀI GẮN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA QUỐC GIA, DÂN TỘC

 “Xây dựng đất nước lấy dạy học làm đầu, tìm lẽ trị bình, tuyển nhân tài làm gấp” (Chiếu khuyến học của vua Quang Trung do Ngô Thì Nhậm soạn). Thực tế cho thấy, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào muốn phát triển đều phải chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, nhân tài. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn khi giáo dục đang trở thành ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam do khoa học cùng với đội ngũ trí thức đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của đất nước ngày nay.

Gương sáng của người xưa
Lê Thánh Tông (1442 - 1497) là một vị minh quân đã đưa Đại Việt đến thời kỳ hoàng kim của chế độ phong kiến mà người đời vẫn lưu truyền về thời “Hồng Đức thịnh trị”. Trong thời gian trị vì từ năm 1460 đến năm 1497, ông đã đề xuất nhiều cải cách trong hệ thống quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dục và luật pháp. Giúp sức cho vị vua hiền này trong việc trị quốc là “lương tướng” Thân Nhân Trung.
Thân Nhân Trung (1419 - 1499), người xã Yên Ninh, huyện Yên Dũng (nay là thôn Yên Ninh, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Ông là một thành viên trong hội Tao Đàn Nhị thập bát tú, được vua Lê Thánh Tông mời vào hoàng cung dạy học cho các hoàng tử, làm tới chức Lại bộ Thượng thư, Chưởng Hàn lâm viện kiêm Đông các đại học sĩ, Nhập nội phụ chính và Tế tửu Quốc Tử giám.
Thân Nhân Trung được vua Lê Thánh Tông tin dùng trong việc tuyển chọn và đào tạo nhân tài. Các kỳ thi hương và thi hội ông đều đóng góp tích cực, nhà vua giao cho Thân Nhân Trung xem xét bài vở của các thí sinh để trình lên bình duyệt.
Năm 1493, Thân Nhân Trung giữ chức Hàn lâm viện thừa chỉ, Đông các đại học sĩ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám. Với trọng trách này, Thân Nhân Trung phải đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn nữa để đảm bảo sự phát triển của sự nghiệp nhân tài quốc gia.
Vâng mệnh vua Lê Thánh Tông, Tao Đàn Phó Đô Nguyên súy Thân Nhân Trung đã soạn bài văn bia "Đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442)" vào năm Hồng Đức thứ 15 (1484): “Lập bia đá đề danh dựng ở cửa hiền quan, khiến kẻ sĩ chiêm ngưỡng, hâm mộ hứng khởi, rèn luyện danh tiết, hăng hái giúp đỡ nhà vua”. TS. Đào Thị Thúy Anh cho rằng, việc khắc bia đề danh tiến sĩ đã làm thiêng liêng hóa việc học: "Viết tên tiến sĩ lên đầu tượng linh ngao là nghi thức tiến sĩ được nhập thân vào thế giới thần linh. Điều đó cho thấy, nho sinh khi đỗ tiến sĩ không còn là người thường nữa mà trở thành kẻ tôi tớ trung thần bảo vệ, phò Vua”.
Trong bài văn bia này, Thân Nhân Trung đã khéo léo vận dụng kiến thức của tiền nhân, đề cao nguyên khí quốc gia trong việc lựa chọn, sử dụng nhân tài của các bậc đế vương và đưa ra một chân lý vĩ đại: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết. Bởi vì kẻ sĩ có quan hệ lớn với quốc gia, cho nên được quý chuộng...”.
Câu nói nổi tiếng này đến nay vẫn là một huấn thị, kim chỉ nam cho quan điểm trọng dụng người hiền tài gắn liền với sự hưng thịnh của đất nước. GS. Vũ Ngọc Khánh nhận định: “Chính Thân Nhân Trung đã lần đầu tiên ở nước ta và có lẽ là cả trên thế giới vào thời điểm này đề ra một luận điểm về vai trò của trí thức trong xã hội. Đây là một quan niệm độc đáo, không theo công thức mà lại rất có ý vị triết học”.
Sức mạnh của tri thức trong xây dựng và bảo vệ đất nước
Người hiền tài là những người có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, bản tính hiền lương, học thức uyên sâu và bản lĩnh, tài năng hơn người. Nguyên khí là khí chất ban đầu, trong sạch, vững mạnh, làm nên sự sống còn và phát triển của mọi sự vật. Hiền tài cũng là sự kết hợp tinh hoa của truyền thống dân tộc, khí thiêng của đất trời, sông núi. Hiền tài là nguồn lực tinh hoa nhất của mỗi dân tộc. Khi đất nước thái bình, thịnh trị thì nhiều người hiền tài cũng phát lộ, được trọng dụng, như người xưa từng nói rằng: "Địa linh sinh nhân kiệt".
Hiền tài và vận mệnh của đất nước có mối quan hệ chặt chẽ và lâu dài. Người hiền tài có vai trò quyết định đến sự thịnh trị, suy vi của một quốc gia. Mỗi một hiền nhân đều là một vì sao sáng chói về tài năng và đạo đức. Trong bất kỳ thời đại nào, hiền tài vẫn là những người quan trọng, nắm giữ và thực hiện các trọng trách mà đất nước giao phó. Trong khi đất nước bị nạn ngoại xâm, họ đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bề cõi, giải phóng non sông “gấm vóc”.
Các hiền nhân lừng danh như Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, vua Quang Trung... xung phong, xông pha trận mạc, giết giặc lập công và giữ yên bờ cõi, được nhân dân lưu danh sử sách, nhắc nhớ. Trong thời bình, họ đóng góp rất lớn về giáo dục, kinh tế, ngoại giao và văn hóa, góp sức mình xây dựng đất nước mang lại cuộc sống thái bình và phồn thịnh cho nhân dân.
Do đó, việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài là cần thiết để đất nước phát triển vững bền và thịnh vượng, đồng thời đề ra trách nhiệm của trí thức trước thời cuộc: “Kẻ sĩ được khắc tên vào tấm đá này, thật may mắn biết bao. Cho nên phải đem lòng trung nghĩa tự hẹn với mình, làm sao để danh xứng với thực, theo điều sở học mà làm nên sự nghiệp to lớn, vinh quang”.
Việc trọng dụng người tài có tác dụng to lớn trong việc phát huy truyền thống hiếu học của người Việt, đồng thời thúc đẩy ý chí vươn lên trong học tập, góp phần nâng cao dân trí của người dân và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước xuyên suốt nhiều thế kỷ.
Di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám và hệ thống văn từ, văn chỉ trải dài trên khắp cả nước như là biểu tượng của trí tuệ, trọng dụng người có học trong văn hóa Việt Nam. Việc các triều đại chăm lo học hành và thi cử để đào tạo, lựa chọn nhân tài là một truyền thống đáng tự hào của dân tộc Việt Nam, thể hiện quan điểm đúng đắn về đào tạo nguồn lực con người như câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”./.
Lao động

Ổn định chính trị trong đấu tranh quốc phòng

 


Lấy việc giữ vững ổn định chính trị, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất.

Đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng phải luôn quán triệt, thực hiện tốt quan điểm lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất trong đấu tranh quốc phòng.

Mọi hoạt động đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đều phải góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định mọi mặt, đặc biệt là ổn định tình hình chính trị, tư tưởng của cán bộ, Nhân dân để tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng phát triển quan hệ đối ngoại của đất nước.

13 ĐIỀU XỬ THẾ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 1. Suy nghĩ trước khi nói;

2. Cương quyết khi hành động;
3. Cẩn thận khi cầm bút;
4. Bình tĩnh, sáng suốt khi gian nguy;
5. Nhẫn nại, ôn hòa khi tức giận;
6. Thẳng thắn quá hay mất lòng;
7. Nguyên tắc quá hay mất việc;
8. Sinh động khéo léo tùy trường hợp;
9. Gác tình riêng mưu sự việc chung;
10. Bỏ óc đa sầu đa cảm;
11. Đời vui tươi là thuốc sống;
12. Vui vẻ thì chiến đấu mới hăng;
13. Vui vẻ để gần gũi Nhân dân.

Giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước


Quan điểm xem xét, nhìn nhận, giải quyết các vấn đề, các phương án, kế hoạch đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng... phải trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng, luật pháp và chính sách của Nhà nước.

Luôn kiên định về sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước trong đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong mọi tình huống.