Thứ Hai, 11 tháng 9, 2023

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

 


Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng, là tiền đề, động lực quan trọng chi phối đến mọi hoạt động chuẩn bị, tiến hành đấu tranh và hiệu quả đấu tranh quốc phòng BVTQ trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Bởi vì,  coi trọng việc giáo dục, động viên, phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, tạo nên lực lượng đông đảo, rộng khắp. Thực hiện tốt quan điểm: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân”.

Thực tiễn luôn vận động, phát triển, theo đó lý luận cũng luôn phát triển với những nội dung mới. Mặt khác, các thế lực thù địch luôn tìm cách đưa ra những chiêu thức mới, những luận điệu và cách thức chống phá mới. Vì thế mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên được giáo dục, cập nhật tình hình. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và các tổ chức quần chúng thường xuyên quan tâm định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội, góp phần đấu tranh vạch trần các quan điểm sai trái, thù địch. Đây không chỉ là sự quán triệt và cụ thể hóa quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chính trị - tư tưởng, mà còn là một yêu cầu cơ bản của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Cán bộ, đảng viên và nhân dân có giác ngộ chính trị, bản lĩnh vững vàng, ý chí quyết tâm cao, đạo đức cách mạng trong sáng sẽ tạo sự “miễn dịch” cần thiết, tăng sức “đề kháng”, đủ để ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và xâm nhập của các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Thực hiện tốt mối quan hệ xây và chống trong đấu tranh tư tưởng hiện nay

 


Trong tình hình hiện nay, phải quán triệt sâu sắc quan đểm: “Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị”(5). Phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động, hoặc chỉ hô hào chung chung, nhưng trên thực tế không đấu tranh.

Vì thế, công tác tư tưởng luôn phải được quan tâm đầy đủ, được tiến hành thường xuyên, mọi sự xem nhẹ công tác tư tưởng đều sẽ phải trả giá, thậm chí một cái giá rất đắt.

Nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình hiện nay

 


Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận, vì thế không chỉ là tất yếu, mà đã trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy, Đảng yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. ...Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đưòng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(4). Theo đó, trên mặt trận tư tưởng, lý luận phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, khắc phục những nhận thức lệch lạc; đồng thời, tích cực bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ và phát triển những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, chủ động định hướng giá trị đúng đắn đối với sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam.

Đổi mới, xây dựng và hoàn thiện các thiết chế toàn diện, toàn vẹn, mạnh mẽ, và đồng bộ

 


Đổi mới, xây dựng và hoàn thiện các thiết chế toàn diện, toàn vẹn, mạnh mẽ, và đồng bộ bảo đảm giữa tự do, dân chủ và pháp luật một cách minh bạch, công khai và nhân bản, trên bình diện tư tưởng, lý luận một cách chủ động và nghiêm khắc.

Về trách nhiệm cơ quan hoạch định chiến lược chính trị, cơ chế và thể chế và cơ quan có thẩm quyền quyết định: Đây là việc to lớn, đa diện của các cấp ủy, chính quyền các cấp.... Xin nói gọn: Cấp bách thực thi quyết sách của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng khóa XII về công tác này, một cách căn cơ, chiến lược, tổng hợp và khả thi, trong tầm nhìn tới năm 2030, trước mắt trên lộ trình tiến tới Đại hội XIII của Đảng.
Trong chiến lược chống phá Việt Nam, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH), xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng, đưa cánh mạng Việt Nam theo quỹ đạo chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là “mũi đột phá” hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhằm chuyển hóa, xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Bên cạnh sự chống phá của các thế lực thù địch, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đang đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn. Những tác động của tình hình thế giới, khu vực, của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tiêu cực bởi mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; những hạn chế trong “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”(1), dẫn đến sự xuất hiện các quan điểm, nhận thức khác nhau về con đường đi lên CNXH ở nước ta, thậm chí là sai trái, lệch lạc với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc.

Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(2); “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. ...Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định huớng XHCN… Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(3).

Ngọc chỉ sáng khi thường xuyên được mài dũa

Khi “gương soi” bị ố mờ, phủ bụi

CB, ĐV được học tập chính trị là quá trình được truyền thụ, tiếp thu hệ thống tri thức lý luận chính trị, củng cố thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nhận thức và bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao tầm nhìn, tư duy, phương pháp, kỹ năng lãnh đạo, quản lý và biết vận dụng vào thực tiễn quy luật vận động của xã hội. Do đó, từ sớm Đảng ta đã xác định, giáo dục lý luận chính trị, bao gồm nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là yêu cầu thường xuyên, hằng ngày, cần thiết đối với mỗi CB, ĐV. Vì vậy, học tập chính trị là một chế độ sinh hoạt, công tác của mỗi CB, ĐV. 

Tuy nhiên, do xem nhẹ việc học tập chính trị, không coi đây là dịp để bản thân được củng cố kiến thức, nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, nên có một bộ phận CB, ĐV coi đó là sự bắt buộc, mang nặng tư tưởng bị áp đặt, không vui hoặc chống đối. Khi cơ quan, đơn vị, cấp ủy, tổ Đảng mở lớp học tập, họ không dành thời gian, tâm huyết cho việc học tập, nghiên cứu nắm vững đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cho rằng học tập chi phối mất thời gian để thực hiện công việc chuyên môn. Cho nên khi tham gia học tập chỉ có mặt để “điểm danh” cho đủ, chứ không tập trung lắng nghe báo cáo viên, giảng viên truyền thụ kiến thức lý luận, hay những trăn trở trước các vấn đề quan trọng mà đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng đặt ra. Trong quá trình học tập, chỉ chú trọng mải mê vào điện thoại để nhắn tin trò chuyện qua zalo, facebook, chơi game trực tuyến, làm việc cơ quan hoặc việc riêng. Kết thúc buổi học, nhiều CB, ĐV còn quên cả sách, vở, tài liệu học tập ở hội trường, thậm chí không nhớ nổi hôm nay học nội dung gì, tiêu đề chính là gì. 

Chúng ta đều biết, có tổ chức học tập, thì có kiểm tra đánh giá kết quả, đây là quy luật tất yếu khách quan. Vì vậy, cuối năm là thời gian các cơ quan, đơn vị, cấp ủy, tổ chức Đảng sẽ tiến hành kiểm tra nhận thức chính trị đối với đội ngũ CB, ĐV, đây là một việc làm hết sức cần thiết, qua đó nhằm nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, kỹ năng, năng lực công tác cho đội ngũ CB, ĐV đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Nhưng do tư tưởng coi thường, xem nhẹ như đã nêu ở trên, nên nhiều CB, ĐV cho rằng: “Kiểm tra chỉ là hình thức, gọi là làm cho có, thanh toán kế hoạch cho xong trách nhiệm”. Nhất là khi cơ quan, đơn vị tổ chức Đảng kiểm tra nhận thức chính trị bằng hình thức giao chủ đề, viết theo dạng bài thu hoạch và định hướng một khoảng thời gian một, hai ngày hoàn thành, thế là ngay lập tức họ tận dụng tối đa kỹ năng công nghệ thông tin, vào “google” để tra cứu, tìm kiếm những chủ đề có liên quan, hoặc “na ná” cũng được, rồi tải về xào xáo lại và chép. Còn nội dung, tài liệu chính thống được học tập thì “bị bỏ qua”, do mất thời gian phải nghiên cứu. Vì họ nghĩ đơn giản, tiêu chí để đánh giá về chất lượng của các bài thu hoạch đối với số CB, ĐV này là “càng dài, càng nhiều chữ, nhiều trang giấy là càng được điểm cao”, không cần quan tâm có “đúng, trúng” với chủ đề, nội dung mà mình đã được học chưa.

Đây là nguyên nhân lý giải tại sao, những vấn đề mới, hệ trọng trong chủ trương, nghị quyết, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ban hành, nhiều CB, ĐV nắm và hiểu “lơ mơ”, để rồi khi vận dụng nghị quyết của Đảng vào thực tiễn công việc, chất lượng “phương phưởng, chung chung” không cụ thể. Dẫn đến CB, ĐV vi phạm kỷ luật như Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chỉ ra, hầu hết cá nhân và tổ chức Đảng, đảng viên đều có chung lỗi phạm là “Vi phạm các nguyên tắc của Đảng”, coi thường pháp luật của Nhà nước dẫn đến tham ô, tham nhũng sai phạm, như tập thể Ban cán sự Đảng Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Tỉnh ủy Hải Dương…

Phải để kim chỉ nam chỉ đúng hướng

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế; không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Cho nên, Người yêu cầu, về tư tưởng, nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin và phải xem giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng nói chung và xem nhẹ việc học tập chính trị nói riêng. Người nhấn mạnh, Đảng cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận chính trị; Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận; đồng thời, yêu cầu CB, ĐV phải thường xuyên trau dồi, nâng cao trình độ lý luận; thực hiện tốt nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn. Người cũng đồng thời yêu cầu phải chống giáo điều, chống bệnh lười học, ngại học, hình thức trong học tập chính trị và vận dụng tri thức lý luận vào thực tiễn. Quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta cũng xác định: “Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với CB, ĐV gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương”.

Để nâng cao công tác giáo dục chính trị, cũng như nhận thức học tập chính trị cho mỗi CB, ĐV. Cấp ủy, tổ chức Đảng cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò tầm quan trọng của lý luận chính trị đối với CB, ĐV. Đây là giải pháp căn cơ, lâu dài để khắc phục bệnh lười học, ngại học tập chính trị. Chú trọng hơn nữa đến công tác tuyên truyền để mỗi CB, ĐV nâng cao ý thức, hiểu và xác định việc học tập, bồi dưỡng lý luận vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của mình. Để cho họ thấy được đó là nhu cầu tự thân học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, bền bỉ, không bao giờ là đủ, để CB, ĐV tìm tài liệu, nghiên cứu và áp dụng giữa lý luận gắn với thực tiễn trên cương vị công tác. Cùng với đó, là tích cực đổi mới toàn diện công tác giáo dục lý luận chính trị trong toàn Đảng và hệ thống chính trị. Nếu làm tốt việc này, nó có tác dụng tác động trực tiếp đến các chủ thể của công tác giáo dục lý luận chính trị, như: Khắc phục được tình trạng giáo dục nặng về lý luận chung và những kiến thức tổng quát, mang tầm vĩ mô, để giáo viên, báo cáo viên đi sâu làm rõ được những chủ trương mới, cách làm hay, sáng tạo ở các cơ quan, đơn vị và địa phương, nhất là các kỹ năng giải quyết, lý giải những vấn đề mới và khó đặt ra từ thực tiễn, cả ở tầm vĩ mô và vi mô cũng như việc vận dụng trong giải quyết những công việc cụ thể. Thường xuyên coi trọng việc bồi dưỡng, rèn luyện cho đội ngũ giáo viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên về phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn, có đủ phẩm chất đạo đức và tài năng, phải là tấm gương tự học và sáng tạo, kiểm tra chặt chẽ giáo án, bài giảng chuẩn bị trước khi giáo dục, tránh dạy và học truyền thụ, nhồi nhét, giáo điều. Cần lựa chọn giáo viên lên lớp là người dày dạn kinh nghiệm thực tiễn, am tường lý luận sâu sắc, có năng lực sư phạm tốt, phương pháp truyền đạt hấp dẫn, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, với sự nghiệp cách mạng.

Để công tác kiểm tra đạt hiệu quả, các cơ quan, đơn vị, cấp ủy, tổ chức Đảng phải ban hành kế hoạch, thành lập ban chỉ đạo, ban giám khảo, tổ giúp việc. Đồng thời, xác định mục đích, yêu cầu, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá rõ ràng, thực chất và triển khai cụ thể đến từng cấp ủy Đảng và đảng viên thấy tầm quan trọng của việc kiểm tra nhận thức chính trị. Lấy kết quả học tập, ý thức rèn luyện trong quá trình học tập là một tiêu chí để đánh giá CB, ĐV hàng năm. Qua đó, giúp CB, ĐV củng cố, nắm vững kiến thức để áp dụng vào công việc đạt hiệu quả cao hơn.

Đổi mới, nâng cao chất lượng lĩnh vực báo chí, truyền thông

 


Tiếp tục chỉnh đốn lĩnh vực báo chí truyền thông và các phương tiện truyền thông xã hội. Sẽ là khiếm khuyết, thậm chí thất bại, nếu thiếu hoặc buông lỏng loại công việc này. Kinh nghiệm ban hành và thực thi Luật An ninh mạng của Ô-xtrây-li-a vào tháng 2-2019, sự ra đời của ngành công nghiệp an ninh mạng của Xin-ga-po vào tháng 3-2019, bảy lĩnh vực quản lý mạng xã hội của Anh vào tháng 4-2019 mới đây... đã cho chúng ta những kinh nghiệm tham chiếu đáng suy ngẫm trên lĩnh vực này. Vì, những người chống phá tư tưởng, những kẻ thù lý luận đã và đang sử dụng những phương tiện ấy như những “cây cầu tư tưởng” đi thẳng vào trái tim khối óc của chúng ta, gây tác họa rất nguy hiểm ở không ít nơi, đối với không ít người, lại tỏ ra rất nhiệm màu. Họ âm mưu tạo nên tình trạng “mù màu về tư tưởng”, “hỗn loạn về lý luận” để làm rối tình hình chính trị, hạ bệ cơ sở lý luận chính trị mác-xít, nhằm phá hoại đường lối chính trị của Đảng; qua đó bôi nhọ, làm phá sản chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta.

Hoàn thiện cơ chế vận hành trong đấu tranh tư tưởng hiện nay


Về hoàn thiện cơ chế vận hành: Đâu là tư tưởng, đâu là lý luận, đâu là tư tưởng lý luận chính trị? Ai làm, làm với ai, làm như thế nào? Các binh chủng tư tưởng, lý luận hiện nay ra sao: về chức năng, nhiệm vụ, về tổ chức bộ máy và phương thức vận hành thế nào? Duy tồn tình trạng hiện nay liệu có còn tương thích không? Nếu không, thì sẽ làm gì? Phải chăng cấp bách cơ cấu lại chiến lược hệ thống đào tạo, truyền thông, tuyên giáo các cấp, các cơ quan nghiên cứu... theo hướng tập trung, thống nhất, rõ việc, gọn nhẹ, rõ trách nhiệm cá nhân phụ trách, trên cơ sở đổi mới chức năng, nhiệm vụ độc lập từng cơ quan bảo đảm sự thống nhất giữa công tác tổng kết thực tiễn với phát triển tư tưởng, lý luận? 

Trên cơ sở đó, định biên, tuyển chọn dân chủ hóa nhằm kiến tạo đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận tương xứng theo hướng tinh hoa, chuyên nghiệp và văn hóa hóa. Sàng lọc nghiêm khắc và kiến tạo chặt chẽ theo hướng tinh lọc, ngăn chặn chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa cá nhân... bảo đảm sự trong sạch, tương thích đội ngũ này. 

Về đổi mới thể chế hoàn bị: Đâu là thể chế cơ bản, đâu là mắt xích chủ yếu? Đâu là thể chế bất biến, cái thể chế khả biến là đâu? Đâu là sức mạnh tổng hợp giữa công tác giáo dục - cơ quan hành động trên địa hạt tư tưởng, lý luận với công tác tổ chức và pháp luật... Theo đó, cần phân định rõ không chỉ về định tính mà cần định lượng cụ thể lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, trước hết là cấu trúc lại hệ thống báo chí và đội ngũ những người làm báo, hợp thành binh chủng tư tưởng, lý luận chỉnh thể đổi mới và ngang tầm. Các thiết chế cần và đủ bảo đảm vận hành toàn bộ công tác này bao gồm những gì, chúng ra sao; những gì thuộc về chuyên ngành, những gì thuộc về liên ngành, tối thiểu là các lĩnh vực và phương tiện làm công việc tư tưởng, lý luận, tổ chức và pháp luật, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế trong “thế giới phẳng”, cố nhiên cả không “phẳng” hiện nay? 

Đổi mới tư duy trong đấu tranh tư tưởng hiện nay

 


Tự chỉnh đốn mình đủ năng lực xử lý, nhất là đối thoại, tranh luận một cách dân chủ, bình đẳng và cầu thị với tất cả những ai quan tâm về công tác tư tưởng, với các trào lưu tư tưởng, lý luận từ mọi phía. Đó là hiện thân sinh động và sức sống mạnh mẽ của tư tưởng, lý luận chính trị, của công tác tư tưởng, lý luận, phát triển đường lối chính trị của Đảng dẫn dắt công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế hiện nay. Và, hơn hết bao giờ, phải chủ động hành động kiên quyết, vì sự sống còn đó.Cương lĩnh hành động hiện nay là, tiếp tục kiến tạo một đội ngũ chiến lược gia tư tưởng, lý luận hay tối thiểu là các cán bộ tư tưởng, lý luận cấp chiến lược ngang tầm trọng trách của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế. Vẫn là tiếp tục công việc về tổ chức và cán bộ, nếu được tiến hành hiệu quả, thì chính là giải pháp phát triển tư tưởng, lý luận hữu hiệu nhất. Kinh nghiệm lịch sử tư tưởng và đấu tranh tư tưởng, lý luận ngày càng xác thực rằng, lý do tồn tại của tổ chức đảng, và các lãnh tụ xứng đáng với danh hiệu đó là, ngoài nhiều điểm khác, đảng và lãnh tụ còn phải thông qua một công tác lâu dài, kiên cường, thiên hình vạn trạng nhiều mặt của tất cả các đại biểu giác ngộ của giai cấp mình mà thu hoạch được những kiến thức cần thiết, - ngoài kiến thức và kinh nghiệm là tính nhạy bén chính trị cần thiết để giải quyết một cách chính xác và mau lẹ những vấn đề chính trị phức tạp. 

Nói một cách hình ảnh, đã đến lúc, về mặt tổ chức bộ máy, không thể để tồn tại những ông “Đông Quách”, những “con thò lò sáu mặt”, “ăn cây táo rào cây xoan nâu” trong đội ngũ, trước hết trong đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và nguyên cấp này, trước hết trên địa hạt tư tưởng, lý luận. Nếu để duy tồn, vô hình trung, tối thiểu đã làm phương hại theo kiểu “quả bí thối từ ruột thối ra”, thậm chí chặt cụt động lực của các nhà tư tưởng, lý luận; mặt khác sẽ thủ tiêu và tự thủ tiêu cả hai: cán bộ và bộ máy làm công tác tư tưởng, lý luận. Và, thậm chí làm băng hoại ngay cả bộ máy làm công tác tổ chức và kiểm tra, thanh tra và bảo vệ pháp luật vì “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trực tiếp đối với công tác tư tưởng, lý luận, khi trận địa tư tưởng, lý luận bị xâm hại và bị chi phối bởi những tệ nạn đó. Cần thiết rà soát, sàng lọc, để tái kiến tạo đội ngũ và hệ thống các bộ máy này, để tư tưởng, lý luận có khả năng dẫn dắt và bảo đảm phát triển công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đúng hướng. Đó là phương lược và nghệ thuật hiện thời. Cần toàn dụng đức trị và pháp trị trên phương diện này. Đội ngũ chúng ta phải tự mình trở nên mạnh mẽ, dũng cảm và kiên quyết ngang tầm yêu cầu của lịch sử! Đó chính là hiện thân và hành động tư tưởng, lý luận nhất. Đó là phương sách xây kết hợp phòng, chống chủ động và hiệu quả nhất trên địa hạt tư tưởng, lý luận!Cương lĩnh hành động lúc này là, tổng soát xét, tiếp tục đổi mới toàn diện và căn bản hệ thống tổ chức, cơ chế vận hành và thể chế về công tác tư tưởng, lý luận chính trị. Tối thiểu có 3 loại công việc nổi bật:

Phủ nhận sạch trơn: Tổ mối trong thân đê ngăn lũ

            Cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch, thì một trong những biểu hiện nhanh chóng dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) đó là tuyệt đối hóa vai trò, ý chí của bản thân trong cải tạo thực tiễn, đốt cháy giai đoạn, bất chấp quy luật khách quan. Khi thực tiễn không đáp ứng được yêu cầu ý chí chủ quan của mình, thế là họ quay sang phủ định lý tưởng phấn đấu mà mình đã theo đuổi, phủ nhận sạch trơn toàn bộ sự nghiệp, thành quả cách mạng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ họa cho những thế lực phản động chống phá đất nước.

Xin nêu một ví dụ về sự “phủ nhận sạch trơn” để làm rõ hơn từ mối nguy hại. Chúng ta phải công nhận với nhau rằng: Trước sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình thông tin, Đài truyền thanh cơ sở (hay gọi là loa phường) vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội với những ưu điểm mà không có loại hình truyền thông nào thay thế được. Đặc biệt, từ đầu năm 2021 đến nay, hệ thống truyền thanh cơ sở càng thể hiện tốt vai trò trong việc tuyên truyền về công tác phòng, chống dịch Covid-19 và góp phần vào thành công của cuộc bầu cử. Trên địa bàn Thủ đô những năm gần đây, hệ thống loa phường ngày càng phát huy tối đa vai trò tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản ánh các thông tin thời sự; thông báo các sự cố, tình huống đặc biệt khẩn cấp như thiên tai, bão lũ, phòng, chống dịch bệnh đến người dân. Đấy còn chưa kể trong quá khứ, nhờ có cảnh báo từ loa phường mà hàng ngàn đồng bào, cán bộ, chiến sĩ Thủ đô biết được để phòng tránh, bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản trước những đợt đánh phá ác liệt của máy bay Mĩ. Nhận thức được tầm quan trọng và hiệu quả của hệ thống truyền thanh cơ sở với đời sống kinh tế -xã hội, ngày 7/9/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ra quyết định phát triển thông tin cơ sở giai đoạn 2020-2025, trong quyết định cũng khẳng định: Thông tin cơ sở phát huy được vai trò là một kênh thông tin thiết yếu, có lợi thế nhất ở cơ sở: Gần dân, sát dân, tuyên truyền hiệu quả đến người dân, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, mà không có kênh truyền thông nào có thể làm được với số lượng người được tiếp cận thông tin rất đông đảo đến khoảng 80 triệu người dân. Thế nhưng, thời gian qua chỉ vì một vài ý kiến nhỏ lẻ, thuộc về “thiểu số” cho rằng “loa phường không còn phù hợp với người dân Thủ đô”, rồi được một số tờ báo mạng cổ xúy, thế là tạo nên một trào lưu “phủ nhận sạch trơn” loa phường, bị tẩy chay, lên án, làm mất giá trị quý báu của nó. 

Thật buồn không kém, khi cái cách “phủ định sạch trơn” ấy lại hiện hữu và đang tồn tại trong đời sống một bộ phận CB, ĐV. Và chúng ta không khó để nhận ra, có những CB, ĐV mới ngày nào còn thề trung thành với Đảng, với cách mạng nay bỗng quay ngoắt lại, trở thành con người khác. Họ lên tiếng phản bác, phủ nhận những gì trước đây họ từng ủng hộ, cho là đúng, là phải. Những biểu hiện cụ thể là phản bác, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng. Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phủ nhận kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an, cổ xúy cho tư tưởng dân chủ cực đoan, thổi phồng mặt trái của xã hội, kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. 

Xin hãy quay về với lý luận gốc để nhận thức và tư duy lại. Theo quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, quá trình vận động, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan là quá trình liên tục thực hiện những bước phủ định kế tiếp nhau. Sự phủ định ấy không chỉ đơn thuần là thủ tiêu, phá hủy cái cũ, mà còn là sự giữ lại và phát triển những nhân tố tích cực đã có, tức là kế thừa. Trong quá trình phát triển, giữa cái cũ và cái mới, sự vật cũ và sự vật mới bao giờ cũng có mối liên hệ ràng buộc, tương tác qua lại, xâm nhập vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau và làm tiền đề của nhau. Cái cũ, sự vật cũ khi mất đi không có nghĩa là mất đi hoàn toàn, mà trong nó vẫn được bảo tồn và giữ lại những yếu tố tích cực, những hạt nhân hợp lý để tạo tiền đề, nền tảng cho sự phát triển tiếp theo. Thực chất nó là khâu trung gian liên hệ giữa cái cũ, sự vật cũ với cái mới, sự vật mới. Ngược lại, cái mới, sự vật mới phát triển cao hơn không phải từ hư vô, trên mảnh đất trống không, mà là kết quả phát triển hợp quy luật từ những gì hợp lý của cái cũ, sự vật cũ; là kết quả của sự đấu tranh và kế thừa tất cả những yếu tố còn tích cực của cái cũ, sự vật cũ. Cái mới ra đời và phát triển trên cơ sở tiếp nối những yếu tố tích cực và loại bỏ những yếu tố tiêu cực của cái cũ. 

Nên trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII của Đảng cũng đã chỉ ra biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rõ nhất là quan điểm, tư tưởng phản bác, phủ nhận những vấn đề chính trị cốt tử của Đảng và thể chế chính trị-xã hội ở nước ta, từ chủ nghĩa Mác-Lênin đến các nguyên tắc tổ chức của Đảng. Chính từ sự “phủ nhận sạch trơn” đó cuối cùng sẽ đưa tới những hành động sai trái là đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”; nói, viết, làm trái quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bất mãn, chống đối chính quyền; đặc biệt trong giai đoạn bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay nhiều đối tượng trong đó có CB, ĐV đã lợi dụng các phương tiện truyền thông nhất là mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ, truyền bá tư tưởng phản động.

Do đó, cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp tiếp tục quán triệt và triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Thường xuyên giáo dục, quán triệt cho CB, ĐV và nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc mục tiêu, quan điểm và các nhiệm vụ, giải pháp cơ bản tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và phát huy vai trò của hệ thống chính trị, CB, ĐV, trước hết là cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chủ động đấu tranh phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái, thù địch. Đổi mới mạnh mẽ, hiệu quả nội dung, chương trình giáo dục chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần của toàn xã hội, xây dựng cho CB, ĐV niềm tin khoa học vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước. Đồng thời cung cấp kịp thời những thông tin nhằm nhận diện đúng các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trong tình hình mới, qua đó tăng cường sức đề kháng, nâng cao cảnh giác và tinh thần chủ động trong đấu tranh.

Không để tham nhũng lạm dụng từ truyền thống văn hóa

Tình trạng tham nhũng, tiêu cực hiện nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, như: Tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, lối sống thực dụng, cậy chức, cậy quyền, sự trỗi dậy của lòng tham cá nhân, khiến cho nhiều cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) phai nhạt lý tưởng, vi phạm những nguyên tắc của Đảng, dẫn đến tham ô tham nhũng. Luận giải về hiện tượng tham nhũng thì nhiều, nhưng trong đó có nguyên nhân sâu xa thuộc về mặt trái lạc hậu của yếu tố văn hóa truyền thống, đã tạo nên mảnh đất thuận lợi dung dưỡng cho tham nhũng phát triển. Vì vậy, nhận diện những yếu tố này là cần thiết, để có những biện pháp loại bỏ, từ đó góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng ra khỏi đời sống xã hội.

Ảnh hưởng từ “tư tưởng tiểu nông”

Văn hóa truyền thống của Việt Nam được sản sinh từ nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, nền sản xuất nhỏ lẻ và manh mún, nên người nông dân tự lo liệu mọi việc. Cùng với đó, là nghèo đói, thiếu thốn quanh năm của người nông dân trên nền tảng sản xuất nhỏ khiến họ luôn quan tâm đến những lợi ích của bản thân khi có điều kiện, dù là rất nhỏ, thậm chí vì mối lợi nhỏ nhặt trước mắt mà quên đi cái lợi lớn, lâu dài. Chính vì thế, cùng với việc hình thành các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, thì từ đó hình thành nên tâm lý tiểu nông, tư lợi, thu vén cá nhân, còn cái chung, cái của tập thể thì mặc kệ, tiêu biểu là “cha chung không ai khóc”, hay “có lụt thì lút cả làng”, sống bình yên an phận, ít quan tâm đến những diễn biến xung quanh, dẫn đến thói quen trọng tình, trọng nghĩa hơn trọng lý, “trăm cái lý không bằng tý cái tình”. Tất cả những điều này hình thành nên một hệ ý thức văn hóa tiểu nông, không có thói quen sử dụng pháp luật để đấu tranh với cái sai, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi bị xâm phạm dẫn đến thái độ thỏa hiệp, sống chung với bất công và tham nhũng. Đối với CB, ĐV mang tư tưởng tiểu nông, họ thường lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong hoạt động chung để kiếm lợi bất chính. Không khó để nhận ra số CB, ĐV này, trong sinh hoạt luôn tỏ thái độ “im lặng là vàng”, nể nang, né tránh, ngại va chạm khi phê bình và tự phê bình, dù biết rất rõ hành vi tiêu cực của đồng chí, đồng đội nhưng không muốn phê bình, tố giác, vì sợ ảnh hưởng đến lợi ích của bản thân, sợ bị mang tiếng là cạn tàu ráo máng và cho rằng tham nhũng là tài sản chung, chứ đâu phải tài sản của mình nên không đấu tranh. Vậy nên, khi trong tổ chức Đảng có đảng viên bị kỷ luật, bị xử lý pháp luật rồi, thì lúc đó họ mới tỏ thái độ “Ông ấy vi phạm từ lâu rồi, bây giờ tổ chức mới phát hiện được thì quá muộn”. Còn trong giải quyết công việc, thì luôn mang tư tưởng làm ơn, ban phát, có đi có lại mới toại lòng nhau, từ đó nảy sinh tham nhũng, tiêu cực. 

Chúng ta đều biết, văn hóa truyền thống của nước ta có nhiều phong tục tập quán rất tốt đẹp, cụ thể như truyền thống “thương người như thể thương thân”, hoặc khai vị một câu chuyện được bắt đầu bằng “miếng trầu”, nói đến miếng trầu làm cho mỗi chúng ta thấy được không khí giao tiếp đầm ấm gần gũi, cởi mở với nhau, khi miếng trầu cay quện với cau và vôi tạo nên nước trầu đỏ tía, làm người ăn nóng lên, hơi thở nồng ấm, lâng lâng, nên “miếng trầu là đầu câu chuyện”, ý nói người mời muốn truyền cảm giác êm ái lâng lâng này cho người thân quý, cho bạn bè khi bắt đầu giao tiếp. Và miếng trầu còn là sự thể hiện lòng thành kính của thế hệ sau với các thế hệ trước, cho nên trên mâm cỗ thờ cúng gia tiên của người Việt có trầu cau. Còn trong lễ cưới, hỏi và mâm cỗ cúng tơ hồng vị thần của hôn nhân, bao giờ cũng phải có buồng cau và tệp lá trầu. Ăn trầu là một nét văn hóa truyền thống độc đáo, truyện cổ “Sự tích trầu cau” càng làm thiêng liêng hóa việc ăn trầu, một “mỹ tục” của người dân Việt Nam. Tuy nhiên, từ nét văn hóa đặc sắc này đã bị lợi dụng, để biện minh, ủng hộ cho hành vi bôi trơn, quà cáp tiếp tay cho tham nhũng, tiêu biểu như trong vụ án ở Tổng công ty Viễn thông MobiFone mua 95% cổ phần nghe nhìn AVG, “miếng trầu” mà Phạm Nhật Vũ, Chủ tịch HĐQT AVG làm đầu câu chuyện khi gặp ông Nguyễn Bắc Son, Nguyên bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông là hối lộ 3 triệu USD. Hay trong vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, để trúng thầu cung cấp thiết bị, vật tư y tế,  Phan Quốc Việt, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần công nghệ Việt Á đã không ngại bỏ ra hàng tỷ đồng để lót tay, thế nên “miếng trầu” đi trước ấy không còn là một tập tục tốt đẹp nữa mà đã bị lạm dụng, biến tướng thành hành vi tham nhũng. Theo thống kê của Ủy ban kiểm tra Trung ương, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, cao gấp 4 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII, trong đó có 8 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 20 sỹ quan cấp tướng, đều liên quan đến tham nhũng, cấu kết với nhau để chia chác tài sản công. Nhưng có một điều trùng hợp kỳ lạ ở đây, tất cả số cấp ủy, tổ chức Đảng và cán bộ bị kỷ luật đó, đều có chung lỗi phạm là “Vi phạm các nguyên tắc của Đảng”, qua đó cho thấy, lối sống tùy tiện tiểu nông, vô nguyên tắc, coi thường pháp luật là nguyên nhân chủ yếu. Vậy nên có thể khẳng định, tham nhũng thực chất là bắt nguồn từ hành vi thiếu văn hóa mà nguyên nhân là từ tư tưởng tiểu nông tạo nên.

Văn hóa là “chìa khóa” xóa bỏ tham nhũng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Văn hóa có liên lạc với chính trị rất mật thiết. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, được lười biếng, phù hoa, xa xỉ”. Do đó, cùng với việc ngăn chặn tham nhũng bằng cơ chế kiểm soát quyền lực, chính sách, kiểm tra, giám sát, thì cần quan tâm chú trọng xây dựng văn hóa đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, để hướng con người đến những giá trị tốt đẹp của chân, thiện, mỹ. Từ đó, tạo ra nền tảng tinh thần vững chắc để giáo dục, để phòng, chống tham nhũng từ góc độ văn hóa truyền thống mới là giải pháp căn cơ, mới có thể xóa bỏ tận gốc, triệt để tham nhũng. Do đó, các tổ chức Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ cho đội ngũ CB, ĐV chống lại chủ nghĩa cá nhân, loại bỏ dần nét tâm lý cá nhân thu vén, tư lợi. Bởi lẽ, đạo đức tạo nên uy tín của người CB, ĐV, là cơ sở để giáo dục, thuyết phục và lãnh đạo quần chúng, là tấm gương sáng cho quần chúng noi theo. Có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần khiêm tốn, luôn đi đầu trên mọi trận tuyến, trong thời chiến cũng như trong thời bình, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo. Nguyên tắc cơ bản của đạo đức cách mạng là chủ nghĩa tập thể, mình vì mọi người. Khi có văn hóa đạo đức cách mạng, thì lý tưởng cao đẹp của CB, ĐV sẽ là vì nước, vì dân, từ đó sẽ không có vụ lợi cá nhân, không có hành vi tham nhũng. Vì vậy, trong tuyên truyền giáo dục, bồi dưỡng CB, ĐV hàng năm, các tổ chức đảng cần tập trung vào các nội dung bồi dưỡng về đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ và trách nhiệm trong thực hiện đúng pháp luật, thấy được việc phục vụ nhân dân là trách nhiệm, bổn phận và vinh dự thiêng liêng của mỗi CB, ĐV. Từ đó làm cơ sở cho mỗi CB, ĐV tự rèn đức, luyện tài, hoàn thiện nhân cách của bản thân trong hoạt động thực tiễn, nêu gương sống có văn hóa, đạo đức cách mạng, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

Ngoài tuyên truyền, giáo dục cấp ủy Đảng, cơ quan, đơn vị các cấp cần xây dựng các bộ quy tắc ứng xử, chuẩn mực cụ thể về văn hóa đạo đức nghề nghiệp, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giải quyết thủ tục một cửa, tăng cường kiểm tra, giám sát CB, ĐV, công chức trong thực thi công vụ, khen thưởng và kỷ luật kịp thời; tích cực bồi dưỡng, nhân rộng điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt”, lấy cái đẹp dẹp bỏ cái xấu. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nhất là công khai, minh bạch cơ chế, chính sách để nhân dân hiểu và nghiêm túc thực hiện, dần xóa bỏ tâm lý dựa vào mối quan hệ thân quen để giải quyết công việc, dẫn đến tiếp tay cho tham nhũng tiêu cực phát triển. Từ đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật cho nhân dân, hướng tới bồi đắp các giá trị văn hóa tiên tiến, tích cực, tốt đẹp, đồng thời phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái thấp hèn, lạc hậu ra khỏi đời sống xã hội.

Tính nêu gương trong đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng

 


Đòi hỏi cao đối với cán bộ lãnh đạo, nhất là các đồng chí giữ cương vị trọng trách trong bộ máy của Đảng, Nhà nước ở các cấp, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy, thành ủy, bộ trưởng, người đứng đầu các ngành, các địa phương, đơn vị và các cán bộ lãnh đạo khác tự giác rèn luyện tầm nhìn chính trị chiến lược, trung thành với lý tưởng, khép mình vào kỷ luật, giữ trọn vẹn liêm sỉ, tự mình trong sạch; làm gương trước nhân dân, trước cấp dưới về hành động chính trị, về danh dự, về sự dũng cảm hành động theo lời nói, về trách nhiệm công việc, về phẩm hạnh chính trị và đạo đức... trong thực thi đường lối của Đảng, vì lợi ích tối cao của nhân dân, của dân tộc và của Đảng. Đồng thời, chủ động tổng kết thực tiễn, phát triển đường lối chính trị của Đảng, làm giàu kinh nghiệm tổ chức thực tiễn mang tính lý luận. Sống và làm việc trong nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa và tự chỉnh đốn mình. Hóa thân trong các phong trào hành động của nhân dân để dẫn dắt, qua đó để tổng kết kinh nghiệm, trau dồi khả năng và rèn dũa trình độ lý luận của chính mình nhằm phát triển phong trào. Lúc này, một bước tiến trong hành động có giá trị hơn một tá cương lĩnh, nói như C. Mác. Đó là con đường bảo vệ tư tưởng, phát triển lý luận của chúng ta một cách chủ động nhất, ngắn nhất và tự giác nhất. 

Người chủ trì các cấp trong đấu tranh quốc phòng

 


Người đứng đầu các cấp trong bộ máy hệ thống chính trị phải là những người lĩnh nhiệm xứng đáng sứ mệnh công tác tư tưởng, lý luận của thế chế một cách gương mẫu và thật sự. Ai không làm tròn trọng trách đó thì nên từ chức hoặc không ngần ngại, buộc phải thay thế họ. Không thể để thảm họa: những ai nhúng chàm tư tưởng; đạo chích, đạo vị, đạo tâm... đi rao giảng về sự cao quý của tư tưởng, sự “soi đường cho quốc dân đi” của lý luận, sự trong sạch, liêm sỉ, liêm chính, nghĩa khí hay quốc sỉ của những người trên địa hạt tư tưởng, lý luận. Đó là tình trạng “a dua tư tưởng, lý luận”, tầm thường hóa tư tưởng, lý luận, “ngụy tư tưởng”, “ngụy lý luận”. Nói cách khác, đó là kiểu làm tư tưởng, lý luận như “mang giấy bọc lửa”. Như thế, vô hình làm phương hại công tác tư tưởng, lý luận của chúng ta; vô hình tiếp tay cho sự lan rộng của sự suy thoái tư tưởng chính trị, tệ hủ bại trong hành động thực tiễn phi tư tưởng, lý luận,... Như thế là, phản tư tưởng nhất, là sự hạ thấp, thậm chí hủy hoại nền móng tư tưởng, lý luận chính trị.

Mỗi các bộ đảng viên phải trở thành một nhà tư tưởng

 


Thực tiễn cho thấy, không thể để tình trạng những người bàn về tư tưởng nhưng hành động phi tư tưởng, thậm chí trái tư tưởng, xỉ nhục tư tưởng. Kinh nghiệm đã và đang chỉ ra rằng, từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước chuyển ngắn, thậm chí rất ngắn, tới mức khôn lường, trở thành kẻ đối lập với nhân dân, với dân tộc, phản bội lại Đảng, phản bội thể chế. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, trong cuộc đấu tranh này, phải tự mình trở thành một nhà tư tưởng một cách ngang tầm và trong sạch. 

Tự mình phải làm công tác tư tưởng cho chính mình, và phải tự mình trong sạch; và trở nên đúng đắn, tự trọng và ngang tầm theo các quy định về nêu gương: Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07-6-2012, của Ban Bí thư khóa XI, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” và Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Chúng ta có tối thiểu hơn 4 triệu “nhà tư tưởng” là đảng viên. Đó là hành động mang tính tư tưởng nhất. Chúng ta không ảo tưởng về điều đó, nếu đảng viên thực sự là đảng viên, lãnh đạo thực sự ngang tầm trọng trách lịch sử. Chỗ nào vắng cán bộ, đảng viên, chỗ đó trận địa tư tưởng bị bỏ trống. Vì thế, việc tổng rà soát, sàng lọc nhằm làm trong sạch đội ngũ đảng viên là trọng sự rất cấp bách, không thể trì hoãn.

Càng không thể giải quyết những lỗi lầm tư tưởng chính trị bằng thứ tư duy đã đẻ ra nó; những vấn đề bất thường của tư tưởng chính trị phải được giải quyết bằng những phương pháp bất thường, tức vấn đề tổ chức và cán bộ. Chấm dứt tình trạng: Người có tư tưởng thì không có quyền được quyết định, người được quyền quyết định lại không có tầm tư tưởng. Đó là cách làm tư tưởng cụ thể nhất, chứ không rơi vào đạo lý suông, tư tưởng chính trị suông. Chọn người xứng đáng và ngang tầm là nhân tố quyết định thành bại công việc này.

Các trào lưu tư tưởng, lý luận du nhập, thẩm thấu bằng mọi con đường vào Việt Nam

 


Các trào lưu tư tưởng, lý luận du nhập, thẩm thấu bằng mọi con đường, âm mưu gặm nhấm, công phá làm băng hoại dưới mọi hình thức, quy mô và mức độ tư tưởng, lý luận của chúng ta từ nền tảng. 

Đó là chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa bá quyền với vô vàn hình thức... đang thâm nhập từ bên ngoài cấu kết với chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc, dưới nhiều biến thể, tồn tích rất lâu từ bên trong với âm mưu làm băng hoại nền tảng tư tưởng của chúng ta bằng đủ quy mô, tính chất và mức độ; làm chệch hướng con đường xã hội chủ nghĩa; làm rã rời sự cố kết đồng thuận toàn dân tộc ta; đánh sập vị thế, năng lực và uy tín cầm quyền của Đảng ta và cô lập nước ta trên trường quốc tế. 

Những trào lưu tư tưởng, lý luận đó thâm nhập vào nước ta bằng các con đường giao lưu tư tưởng, thông qua hội nhập quốc tế, bằng thủ đoạn kinh tế, văn hóa... hết sức tinh vi, biến ảo; và chúng thường trú ngụ và phát tác từ các phần tử thoái hóa, biến chất, nằm ở tất cả các cấp của hệ thống chính trị, thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến hòa bình” công phá từ bên ngoài thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ rất nguy hiểm. Tất cả nhằm thủ tiêu Đảng, cô lập đất nước ta và chuyển hóa thể chế chính trị một cách nhanh nhất, ngắn nhất và nguy hiểm nhất. 

 

 

 

Không để “nấm độc” ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên. Mọi công việc của Đảng đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết của Đảng đều do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”. Vì vậy, muốn có tổ chức Đảng mạnh, đòi hỏi Đảng vừa phải nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên, vừa phải sàng lọc, đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng. Đây là nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên và cũng là vấn đề có tính quy luật có ý nghĩa cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Năng cắt cành sâu cho cây xanh tốt

Thời gian qua, chắc hẳn chúng ta vẫn còn nhớ đến câu chuyện có một số đảng viên lên mạng xã hội tuyên bố “bỏ Đảng”, công khai ra khỏi Đảng, như trường hợp của Giáo sư Nguyễn Đình Cống, hay ông Chu Hảo, Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Tri thức, nguyên Ủy viên Ban cán sự đảng, nguyên Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ, rồi cả một số văn nghệ sĩ … việc tuyên bố bỏ Đảng ít nhiều tạo cho những người này một cái hư danh hão huyền, được các phần tử cơ hội chính trị, các thế lực phản động cổ vũ, tung hô là “thức thời, tiến bộ” và còn dự báo việc công khai bỏ Đảng này sẽ trở thành một “phong trào”. Nhưng thực tế, điểm chung của các đảng viên này là thoái hóa biến chất, vi phạm liên tục và có hệ thống quy định những điều đảng viên không được làm. Cụ thể là viết bài, trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài trái với chủ trương, đường lối của Đảng, xuyên tạc tình hình của đất nước, không chỉ phủ định mục tiêu, lý tưởng của mình khi đứng trong hàng ngũ của Đảng mà còn phủ định sự lãnh đạo của Đảng. Việc họ tự công bố ra khỏi Đảng trên các trang mạng, chỉ là muốn đánh lạc hướng dư luận trước khi được cấp ủy có thẩm quyền quyết định kỷ luật khai trừ họ ra khỏi Đảng mà thôi. Nhìn vào danh sách các đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng của các cấp ủy cho thấy, mẫu số chung của các đảng viên này, đều do thiếu tinh thần trách nhiệm, không giữ vững phẩm chất trung kiên, gương mẫu của người đảng viên, suy thoái phẩm chất chính trị, xem nặng lợi ích cá nhân hơn lợi ích chung của tổ chức, của cộng đồng. 

Việc những người từng mang danh đảng viên có quan điểm, tư tưởng trái với quan điểm, đường lối của Đảng không phải mới diễn ra, mà đã kéo dài trong nhiều năm. Nhưng với bản chất tốt đẹp, nhân nghĩa, trên tình đồng chí, đồng đội, các tổ chức Đảng và đảng viên đã có nhiều biện pháp giúp đỡ để họ nhận ra lỗi lầm, mà sửa chữa, phấn đấu. Tuy nhiên, khi họ đã cố tình đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, của dân tộc, thì sự giúp đỡ dù chân tình đến đâu cũng đều không mang lại hiệu quả. Theo số liệu của Ban Tổ chức Thành ủy Hà Nội, từ đầu năm 2019 đến nay, sau khi Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 21/01/2019, Thành ủy và các cấp ủy trực thuộc đã đưa ra khỏi Đảng 2.075 đảng viên (trong đó, bằng hình thức khai trừ là 258; xóa tên 1.221; theo dõi 2.735 đảng viên trong thời gian chấp hành kỷ luật, gồm: Khiển trách 2.273; cảnh cáo 412; cách chức 50). Cho nên, để làm cho cơ thể Đảng trong sạch, vững mạnh, đòi hỏi Đảng vừa phải nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên, vừa phải sàng lọc, đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng là vấn đề có tính quy luật, chứ không phải như những đảng viên thoái hóa biến chất cao giọng xin ra.

Nâng cao chất lượng rà soát, sàng lọc

Cách đây hơn 100 năm V.I.Lênin từng đưa ra cảnh báo: “Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền thì sức hấp dẫn rất lớn, không tránh khỏi đám người hám lợi chui vào Đảng”. Vì vậy, việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn không chỉ là công việc thường xuyên của bản thân Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng, mà cả trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế càng đặt ra một cách quyết liệt, triệt để hơn. Cho nên, việc kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, loại bỏ những đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, thoái hóa, biến chất trong hàng ngũ của Đảng là yêu cầu tất yếu, cấp bách, là trách nhiệm của mỗi đảng viên, mỗi cấp ủy trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Do đó, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần tiếp tục  thực hiện chặt chẽ các khâu, các bước trong công tác kết nạp đảng viên. Thực hiện đúng, đầy đủ, công khai, minh bạch quy trình, từ phát hiện, lựa chọn những quần chúng ưu tú để đưa vào nguồn kết nạp, bồi dưỡng, giúp đỡ đến khâu thẩm tra, xác minh và xem xét kết nạp vào Đảng. Đồng thời, tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ phù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể tại địa phương, cơ quan, đơn vị. Thực hiện chặt chẽ việc quản lý, giáo dục, rèn luyện, đánh giá chất lượng đảng viên hằng năm, quản lý hồ sơ đảng viên, bổ sung hồ sơ và danh sách đảng viên, chuyển sinh hoạt đảng đúng quy định. Khi đảng viên nghỉ hưu, chuyển công tác, nơi cư trú phải kịp thời chuyển sinh hoạt Đảng. 

Ngoài các tiêu chí, quy trình sàng lọc phát hiện đưa ngay những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng theo các chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên, các tổ chức Đảng cần tập trung vào những trường hợp đảng viên bỏ sinh hoạt đảng hoặc không đóng đảng phí 3 tháng trong năm mà không có lí do chính đáng; đảng viên tự ý trả thẻ đảng viên hoặc tự ý hủy thẻ đảng viên; đảng viên giảm sút ý chí phấn đấu, không thực hiện nhiệm vụ của đảng viên đã được chi bộ giao nhưng sau 12 tháng không tiến bộ; đảng viên hai năm liền vi phạm tư cách đảng viên; đảng viên không bảo đảm tiêu chuẩn chính trị theo quy định của Bộ Chính trị; đảng viên qua rà soát hồ sơ đảng viên phát hiện kết nạp đảng viên hoặc công nhận đảng viên chính thức không đủ điều kiện, tiêu chuẩn; đảng bị truy nã, đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ. 

Cùng với đó, làm tốt công tác giáo dục, kịp thời định hướng tư tưởng cho đảng viên, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nhất là việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giúp cho đảng viên nhận diện rõ hơn các biểu hiện phai nhạt về lý tưởng cách mạng; suy thoái đạo đức, lối sống, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Phê phán các quan điểm thù địch nói xấu về đường lối quan hệ quốc tế của Việt Nam

 


Chung quanh vấn đề quan hệ quốc tế, võ đoán các nguy cơ cái gọi là “đu dây bên miệng hố”, kích động cái gọi là “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước khác, cốt phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta, cổ xúy cho chủ nghĩa ly khai, xâm hại nhân dân, phá vỡ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. 

Đây là một đích ngắm của đủ loại mưu đồ, đủ giọng điệu, với các phương tiện hiện đại, có sức công phá lớn và hết sức nguy hiểm.

Mục tiêu của chúng là thông qua “diễn biến hòa bình”, làm suy yếu Việt Nam từ bên ngoài, gây hằn thù trong các mối bang giao quốc tế của ta nhằm cô lập ta trong cộng đồng quốc tế. Kích động, chia rẽ các đối tác quốc tế với nhau, các đối tác quốc tế chiến lược với chúng ta... Nghĩa là, họ muốn thể chế của ta sụp đổ. Bằng nhiều “cây cầu” (truyền thông giả mạo, sách báo, núp sau các tổ chức quốc tế, các tổ chức tôn giáo...), với thủ đoạn “mưa dầm thấm sâu”, “tổ mối đục ruỗng chân đê”... chúng dựng hư chuyện, thổi phồng hiện tượng riêng lẻ quy kết vô lối thành bản chất của Đảng, của chế độ... hòng hạ thấp, đánh sập vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Họ hà hơi tiếp sức cho những tổ chức đối lập trú ngụ ở ngoài biên giới quốc gia, âm mưu di trú quốc nội, gây bạo loạn, lật đổ chế độ.

Thủ đoạn thông qua vấn đề chính trị gia và quan hệ giữa các nhà lãnh đạo chính trị, giữa các lực lượng nhằm xâm hại thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam của các thế lực thù địch.

 


Đây là vấn đề xung yếu nhất. Ngụy tạo mâu thuẫn trong Bộ Chính trị, tưởng tượng sự chia rẽ Ban Chấp hành Trung ương Đảng với Quốc hội và Chính phủ; thổi phồng sự khác biệt, cao hơn là mâu thuẫn giữa các thế hệ lãnh đạo, các cá nhân lãnh đạo các cấp, nhất là cấp chiến lược... với âm mưu thúc đẩy tan rã nội bộ và tự tan rã thế chế. Họ ngụy tạo những trang điện tử giả danh cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước để tung tin giả, công kích nội bộ nhằm gây nghi kỵ lẫn nhau, tạo nên sự hỗn mang tư tưởng rất nguy hiểm.

Âm mưu đó nham hiểm không kém thủ đoạn kích động tư tưởng “sứ quân”, “cát cứ”, gây chia rẽ vùng, miền, đòi “dân sự hóa” Quân đội nhân dân, ly gián Quân đội nhân dân với Công an nhân dân, “phi chính trị hóa” các lực lượng này, âm mưu cái gọi là thông qua “hạ bệ thần tượng” nhằm “bắn con chim đang bay”(!)...

“Tự soi”- Chìa khóa mở ra lòng dũng cảm

Trong công việc, cuộc sống cũng như trong sinh hoạt giao tiếp hàng ngày, chúng ta không thể tránh khỏi những nhầm lẫn, sai sót; vì không ai có thể “nắm tay cả ngày đến tối” và có thể tròn trịa mãi được, nhất là đối với cán bộ, đảng viên (CB, ĐV), người đứng đầu, phạm vi công tác với tầm bao quát lớn, làm nhiều việc, nhiều va chạm dẫn đến sai sót, khuyết điểm là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên, việc “tự soi” để nhận ra khuyết điểm, nhận ra hình bóng của chính mình quả là một điều không dễ, không phải ai cũng làm được. Bởi vì, lẽ thường tình của mỗi con người, hầu như ai cũng thích khen, chẳng thích chê, nhất là khi bị phê bình trước tập thể, vì ai cũng có cái tôi cá nhân, lý do, mục đích riêng của mình. Vì vậy, “tự soi” không chỉ mang ý nghĩa soi đúng sẽ sáng hơn, sửa đúng sẽ đẹp hơn, mà còn là “chìa khóa” mở ra lòng dũng cảm khi đấu tranh với chính bản thân mình.

Một trong những giải pháp quan trọng nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là “tự soi, tự sửa” của CB, ĐV. Tuy nhiên, đây không phải là việc dễ ai cũng có thể làm được, vì tâm lý của mỗi con người thường có sự bảo thủ, chủ quan trong nhận thức, dễ thấy cái sai, khuyết điểm của người khác nhưng lại khó nhận thấy mặt hạn chế, thiếu sót của mình. Cho nên khi “tự soi”, sẽ khiến cho chúng ta mặc cảm, e ngại với những giả thuyết như là: Nếu khi “soi” thấy hạn chế, khuyết điểm liên quan đến lợi ích của cá nhân thì việc tự sửa cũng đồng nghĩa là tự đánh mất những lợi ích đó, sợ bị thua thiệt. Còn hạn chế, khuyết điểm liên quan đến uy tín, vị thế của mình thì việc tự sửa cũng như là sẽ giảm đi sự oai phong, bớt đi phần quan trọng. Nếu hạn chế, khuyết điểm liên quan đến lập trường, quan điểm, đến việc phân biệt đúng sai thì việc tự sửa cảm giác như là mình đuối lý, là vô lý. Nếu hạn chế, khuyết điểm liên quan đến đạo đức, lối sống thì việc tự sửa cảm thấy hổ thẹn, sợ bị chê cười. Chính vì thế “tự soi” là công việc đầy cam go, khó khăn, có khi đau đớn, vì tự ái, vì thói quen, có khi vì sợ mất thể diện, mất uy tín của bản thân, của tổ chức mà không dám “vạch áo cho người xem lưng”. Đó là một cuộc đấu tranh, giữa tình cảm và lý trí, giữa sự cầu thị và tính bảo thủ, giữa mặt tốt và mặt xấu trong mỗi con người. Là thử thách thực sự đối với bản lĩnh của người cán bộ, đảng viên, đòi hỏi mỗi chúng ta muốn tiến bộ phải có dũng khí, lòng dũng cảm để vượt qua chính mình. 

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: “Điều đó nói thì dễ, nhưng làm thì khó, khó là vì người ta hay có lòng tự ái. Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình thì sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị”. Suy ngẫm những lời Bác dạy, điểm lại những vụ việc làm nóng dư luận xã hội trong thời gian qua liên quan đến nhiều CB, ĐV, từ cấp thấp đến cấp cao trong vụ án công ty Việt Á nâng khống giá kít xét nghiệm Covid-19 cho thấy, hàng loạt lãnh đạo các Trung tâm Kiểm soát bệnh tật vướng vòng lao lý vì nhận tiền “hoa hồng”, gần đây, có 2 cán bộ diện Trung ương quản lý là cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long và cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh đã bị khởi tố, bắt tạm giam. Vụ án Việt Á cho thấy một góc khuất hết sức nguy hiểm đó là sự câu kết, dung túng của một số cán bộ lãnh đạo chủ trì, chủ chốt, ngụy biện, bao che để trục lợi. Ngoài nguyên nhân xuất phát từ lòng tham, thì nguyên nhân sâu xa trong số những cán bộ này, là đã bỏ qua bước “tự soi” để nhận ra những việc làm sai trái, những vi phạm của mình. Thế nên, khi dư luận lên tiếng, thậm chí báo chí phanh phui đưa ra nhiều bằng chứng sai phạm, thì bản thân những người trong cuộc vẫn lên tiếng phủ nhận hoặc cố tình biện minh, như trường hợp ông Hoàng Văn Đức, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Thừa Thiên Huế, trước khi bị bắt ông đã trả lời với báo chí rằng: “Tôi không bao giờ nhận một đồng nào từ Công ty Việt Á trong vụ việc này. Việc mua sắm kít xét nghiệm Covid-19 từ công ty này ở CDC Thừa Thiên Huế được thực hiện theo đúng quy trình, có thẩm định giá từ nhiều công ty khác nhau”, song kết quả điều tra cho thấy, bị can này có nhận hoa hồng.

Đây chính là hậu quả của việc CB, ĐV không thường xuyên “tự soi, tự sửa”, để thấy được hiệu quả công việc, phẩm chất đạo đức, lối sống, quan hệ ứng xử giao tiếp của bản thân, để có sự điều chỉnh, tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu cho phù hợp. Bởi vì, chúng ta đều biết, diễn biến của các sự vật, hiện tượng đều có xu hướng chuyển động tịnh tiến tăng dần, khuyết điểm của chúng ta cũng vậy, ban đầu từ những sai sót nhỏ, những biểu hiện có thể chưa đến mức nghiêm trọng, chỉ là những hạn chế, khuyết điểm nhỏ; song, nếu không được nhận diện và có biện pháp sửa chữa, khắc phục kịp thời thì nó có thể tích tụ dần, từ khuyết điểm nhỏ thành khuyết điểm lớn, từ ít nghiêm trọng đến nghiêm trọng và cuối cùng đưa con người ta đến chỗ suy thoái, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến uy tín của cá nhân và làm suy yếu tổ chức, gây giảm sút năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ CB, ĐV. Thế nên, trong công tác xây dựng Đảng, nhận thức rõ ý nghĩa to lớn, sâu xa của tự soi, tự sửa, Đảng ta đã khẳng định: “Sức mạnh của Đảng, của mỗi đảng bộ và đảng viên không chỉ ở ưu điểm mà còn ở chỗ nhận rõ và sửa chữa bằng được những vấn đề tồn tại, những sai lầm, khuyết điểm và tự vượt lên chính bản thân mình”. Đúng vậy, chúng ta có “tự soi” thì mới nhìn ra được chính mình, thấy được điểm mạnh để phát huy, điểm yếu để khắc phục. Có “tự soi” thì mới có cái nhìn thấu đáo, khách quan, toàn diện để phê bình, góp ý cho đồng chí, đồng đội mình tiến bộ được. Cho nên, bản thân mỗi CB, ĐV phải tự mình soi xét, khi thấy có sai lầm, khuyết điểm phải quyết tâm sửa chữa và tự giác khắc phục. “Tự soi” là thuộc tính về nhận thức của cá nhân mỗi con người, do đó, cấp ủy, tổ chức Đảng dù có tích cực giáo dục bao nhiêu và công tác kiểm tra, giám sát có chặt chẽ đến đâu, nhưng nếu cán bộ, đảng viên không tự giác, không kiên quyết thì rất khó kiểm soát, ví như để đẩy lùi những biểu hiện như phát ngôn thiếu tính xây dựng, đi muộn về sớm, lối sống chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng làm một nẻo”… vì nó thuộc về ý thức của con người, sự điều chỉnh của cá nhân mới là quyết định chủ yếu. Vì vậy, việc “tự soi, tự sửa” phải được tiến hành một cách chủ động, ngăn chặn từ xa, đẩy lùi từ sớm, ngay từ khi nó bắt đầu xuất hiện trong suy nghĩ, trong hành động của mỗi người và điều quan trọng là phải thực hiện thường xuyên như “ngày nào cũng ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn”. Tự soi, tự sửa là để tránh tự kiêu, tự đại, vì tự kiêu, tự mãn như cái chén, cái đĩa cạn, một chút nước cũng tràn đầy vì độ lượng nó hẹp. Cho nên, tự soi, tự sửa là để luôn luôn chân thành, khiêm tốn, thật thà đoàn kết và giúp người tiến bộ. Tuyệt đối không nịnh hót người trên, không xem thường người dưới. Vì hậu quả của sự nịnh bợ kéo theo hệ lụy rất nguy hiểm, khiến cho một số cá nhân trở nên tự mãn, ảo tưởng về “hào quang” của bản thân, ngỡ mình đã là người tài ba, xuất chúng. Hệ quả là mắc “bệnh kiêu ngạo cộng sản”, làm xấu đi hình ảnh của Đảng và bộ máy cầm quyền, khiến cho những cán bộ, đảng viên chân chính, trung thực sinh ra chán nản, giảm sút ý chí và vơi cạn tình yêu dành cho tổ chức, đơn vị. Vì vậy, để CB, ĐV phát huy lòng dũng cảm, tự giác “tự soi” mình, thì trong sinh hoạt Đảng, các tổ chức Đảng phải phát huy tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nhất là người chủ trì đi đầu trong việc “tự soi”, phải tự soi trong từng công việc, trong từng lời nói và việc làm, trong chính suy nghĩ của mình để tự thấy hạn chế, khuyết điểm mà sửa, nhất là những hạn chế, khuyết điểm thuộc về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Làm được như vậy mới giải quyết được tận gốc, làm rõ được nguyên nhân, mới “chữa đúng bệnh” và tạo ra được động lực mới, tạo môi trường sinh hoạt đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động, để làm cơ sở cho mỗi cán bộ, đảng viên tự kiểm điểm, tự soi lại mình, không sợ nói ra khuyết điểm của mình, mà mong muốn được mọi người giúp đỡ để bản thân tiến bộ và trưởng thành hơn.

“Yêu ghét - giặc nội xâm” trong công tác cán bộ

Nói về công tác cán bộ, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là gốc của mọi công việc” bởi công tác cán bộ là công việc gốc của Đảng, phải biết cách lựa chọn, sử dụng và không ngừng bồi dưỡng cán bộ để cái vốn quý đó ngày càng to lớn lên theo yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng. Tuy nhiên, do tư tưởng nhất thân, nhì quen, yêu ghét thiếu khách quan, cảm tính của một bộ phận cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) và cả tổ chức đảng, nên dẫn đến việc điều động, đánh giá, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ sai quy trình, nguyên tắc, gây bất bình, tạo dư luận xấu trong xã hội, làm phai nhạt niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đây chính là mầm mống sinh ra “giặc nội xâm”, cần phải nhận diện, đấu tranh loại bỏ.

Tiêu cực từ tấm bình phong đúng “quy trình”

Chúng ta không khó để nhận ra các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ, như: Chạy chức, chạy quyền, bổ nhiệm người thân, người nhà... được núp bóng dưới danh nghĩa đúng “quy trình”, lí do là có đủ tiêu chí về năng lực, phẩm chất đạo đức, bằng cấp học vị để bổ nhiệm. Vậy nên, không ít người đứng đầu đã bất chấp nguyên tắc, quy định để lạm quyền thực hiện công tác cán bộ theo ý của riêng mình. Điển hình chỉ trong 6 tháng, ông Nguyễn Nhân Chinh, con trai của ông Nguyễn Nhân Chiến, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh đã kinh qua 3 vị trí lãnh đạo tại Bắc Ninh khiến cho dư luận xôn xao, Ban Tổ chức Trung ương phải có văn bản yêu cầu cấp có thẩm quyền tỉnh Bắc Ninh bám sát các quy định, phân tích đánh giá kỹ lưỡng, thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu trong bố trí cán bộ. Đấy là chưa kể lợi dụng quyền hạn của mình trước khi về hưu, một số cán bộ lãnh đạo đã bổ nhiệm hàng loạt người thân quen vào các vị trí cao hơn.

Thực tế cho thấy, vẫn còn có tổ chức Đảng, chính quyền sắp xếp, bố trí lãnh đạo, quản lý không dựa vào năng lực, sở trường mà chỉ dựa vào các mối quan hệ thân quen, gia đình, bè phái, cục bộ mà dân gian thường ví von “tiền tệ, hậu duệ, quan hệ…”. Đặc biệt, một số nơi lợi dụng chủ trương trẻ hóa cán bộ để bố trí, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý quá “non” kinh nghiệm, yếu cả về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như uy tín, khả năng quản lý, điều hành. Nhiều cán bộ mới ra trường, làm việc ở cơ quan, đơn vị chỉ vài năm, vì mối quan hệ nào đó mà được bố trí giữ các chức vụ cao. Vậy nhưng khi được hỏi về những điều bất hợp lý trong công tác cán bộ, không ít lãnh đạo bộ, ngành, địa phương, đơn vị đó đều có câu trả lời là “đúng quy trình”. Chính từ tấm bình phong “quy trình” này, mà nhiều người tài, người tốt không có cơ hội được sử dụng, đề bạt tương xứng với trình độ, năng lực, cống hiến của họ. Người có tài, có đức muốn phấn đấu, cống hiến thì cũng không còn chỗ, bị các phần tử cơ hội chèn ép, chen ngang, cô lập. Nguy hại hơn, tình trạng này sẽ làm méo mó mối quan hệ trong nội bộ các tổ chức và tác động tiêu cực đến việc xây dựng chính quyền liêm chính. Hậu quả là phát triển nạn chạy chức, chạy quyền, sắp xếp cán bộ trên cơ sở “nhất thân, nhì quen, yêu ghét”; không sử dụng người có đức, có tài; làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, gia tăng các hoạt động bè phái, mất đoàn kết nội bộ, phá vỡ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

Công tác đánh giá, nhận xét, bổ nhiệm cán bộ được ví như cho người ta mặc áo, nếu như mặc một chiếc áo quá chật, sẽ dẫn đến bức bối, khó chịu và rất dễ rách, ngược lại nếu mặc chiếc áo quá rộng, thì dù vải có tốt, màu có đẹp đến đâu thì cũng rúm ró, khó nhìn. Công tác cán bộ cũng vậy, khi đánh giá, nhận xét, bổ nhiệm phải thấu đáo, khách quan, không phải cứ “thấy đỏ là chín”, nếu bổ nhiệm cán bộ vào vị trí vượt trình độ, khả năng thì cũng giống như người mặc chiếc áo quá rộng, không biết mặc thế nào cho đẹp, cho vừa, nhìn chỗ nào cũng rúm ró, do năng lực hiểu biết về chính sách, chế độ thiếu đầy đủ, sâu sắc, dẫn đến việc đánh giá không đúng thực tiễn, thiếu biện pháp xử lý kịp thời, khiến cho nhân dân mất niềm tin, đồng thời tạo sơ hở cho những kẻ cơ hội lợi dụng kích động, chống phá. Đây chính là biểu hiện suy thoái tiêu cực mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ: “Cơ chế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở; đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ; một số cơ chế, chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng”.

Chăm lo vun trồng mới nảy mầm “hạt giống đỏ”

Muốn xây dựng Đảng, trước hết phải từ công tác cán bộ, nên lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác cán bộ, Người coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền Nhà nước. Bác cho rằng: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”. Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm công tác cán bộ là nhiệm vụ “then chốt” của công tác xây dựng Đảng, có liên quan đến sự sống còn của Đảng và vận mệnh của chế độ; cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu thật sự có đức, có tài, có uy tín trong Đảng và nhân dân”.

Do đó, để xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị và địa phương, cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ. Đây là yêu cầu quan trọng để thực hiện Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý cán bộ, bảo đảm công tác cán bộ được thực hiện dân chủ, khách quan, công tâm, lựa chọn đúng người có đủ phẩm chất, năng lực theo tiêu chuẩn quy định. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ, thể hiện sự kết hợp đúng đắn chế độ tập thể lãnh đạo với phát huy trách nhiệm cá nhân, thực hiện dân chủ với tập trung; phải cụ thể hóa mạnh mẽ nguyên tắc tập trung dân chủ thành quy chế, quy định nhằm bảo đảm thực hiện chặt chẽ quy trình của công tác cán bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát; phát huy cao độ, thực chất dân chủ, đoàn kết trong Đảng. Cùng với đó, là đổi mới phương pháp đánh giá, nhận xét cán bộ, bởi vì, đánh giá, nhận xét cán bộ là khâu tiền đề, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để làm tốt và nâng cao chất lượng các khâu khác trong công tác cán bộ. Vậy nên, đòi hỏi phải công tâm, khách quan, đoàn kết, nhất trí cao trong tập thể; phải lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao làm thước đo chính. Việc đánh giá cán bộ phải toàn diện cả đức và tài, chú trọng phẩm chất chính trị và năng lực công tác chuyên môn, khắc phục tình trạng đánh giá chung chung, cảm tính, chủ quan, coi bằng cấp, học vị cao hơn phẩm chất, năng lực.

Vì vậy, muốn xác định cụ thể, chính xác người làm tốt với người làm chưa tốt, thì cấp ủy, người đứng đầu khi thực hiện việc đánh giá phải đề cao tinh thần trách nhiệm, không câu nệ, không nể nang, trù úm. Bởi lẽ, chỉ người đứng đầu là người giao việc, phân công nhiệm vụ và kiểm tra, đánh giá được tiến độ, chất lượng, tinh thần, thái độ phục vụ của từng người thuộc thẩm quyền sử dụng. Mọi người trong cùng cơ quan sẽ tham gia đóng góp về tinh thần trách nhiệm, thái độ, sự hợp tác trong thực hiện nhiệm vụ, tinh thần xây dựng đơn vị để cấp ủy, người đứng đầu tham khảo trong quá trình đánh giá, phân loại và bản thân người được đóng góp tiếp thu, điều chỉnh. Cho nên, phải thực hiện triệt để các giải pháp phòng, chống căn bệnh quan liêu, hình thức trong đánh giá, nhận xét, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ. Có như vậy mới phát hiện, chăm lo bồi dưỡng được người có tài, có đức để phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.