Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỚI CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG THỜI KỲ MỚI

 


Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội,... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam cần triển khai và làm tốt một số giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục sau: 

Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. 

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch. Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ. 

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân. 

Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập. Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc. 

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

          Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá. 

          Tóm lại: “Diễn biến hòa bình” dù có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn theo chiều hướng, bộ mặt nào đi nữa, thì mục tiêu cuối cùng vẫn là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.

TBQL 17

Ý NGHĨA CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

                 Đã 78 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Thời gian càng lùi xa càng có thêm sự chiêm nghiệm, có thêm nhiều thông tin, càng thấy được ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đối với đất nước, dân tộc Việt Nam, đồng thời thể hiện ý nghĩa, tầm vóc lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới.

Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới vì độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc theo con đường CNXH. Không chỉ vậy, cuộc cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc ta đã trở thành một biểu tượng, một bài học kinh nghiệm quý giá, một sự khích lệ to lớn cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa.

Chính bởi ý nghĩa lịch sử đó cùng những thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, thế giới ngợi ca nhân dân của một đất nước Việt Nam anh hùng.

Đến hôm nay, sau 37 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, các phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo luôn được các tổ chức chính trị, xã hội và các tầng lớp nhân dân quan tâm, ủng hộ.

NHẬN DIỆN CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG THỜI KỲ MỚI

Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch ngày càng ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng tập trung lợi dụng triệt để việc sử dụng Internet, các trang mạng xã hội để truyền bá quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam,… nhằm làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Để đấu tranh chống chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch trong giai đoạn mới, đòi hỏi Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam phải luôn tỉnh táo, xem xét, nhận diện đúng, phân tích, vạch trần âm mưu, bản chất trong các luận điệu của thế lực thù địch để có biện pháp phòng, chống hiệu quả. 

Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an… thời gian gần đây, các thế lực thù địch còn tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn. 

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự. 

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp. 

Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc: 

Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng, nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải do sự chống phá từ bên ngoài. Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là “ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng cách mạng. 

Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá. Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm,... thì đó là “cơ hội vàng” để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm, đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”; ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”. 

Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động. Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng. 

Thứ tư, đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong. 

Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam(6). Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay./.

TBQL 17

Ý thức, trách nhiệm trong kỷ luật phát ngôn

Hiện nay, bên cạnh phần lớn người dân luôn ý thức gương mẫu, trách nhiệm khi phát ngôn thì đang xuất hiện tình trạng một số người, trong đó có cả cán bộ, công chức có những phát ngôn tùy tiện gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của Ðảng, Nhà nước, đòi hỏi trách nhiệm cao hơn từ các cơ quan chức năng cũng như sự vào cuộc của toàn xã hội để ngăn chặn hiệu quả.

Cán bộ, công chức là những người làm việc trong các cơ quan của Ðảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, và thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức giao. Hoạt động của cán bộ, công chức gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trao cho. Bởi vậy những phát ngôn của họ thường tác động không nhỏ tới đời sống xã hội, tới việc thực thi các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước trong thực tiễn.

Nhận thức được tầm quan trọng đó, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cán bộ là cái gốc của mọi công việc: "Cán bộ là những người đem chính sách của Ðảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Ðồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Ðảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng".

Người đặt ra yêu cầu người cán bộ phải là người có tư cách đạo đức trong sáng, gương mẫu, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Qua những lời nói của những cán bộ có trách nhiệm, nhân dân cũng noi gương theo Ðảng, tin tưởng và làm theo.Lời dặn dò của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được mọi người dân, cán bộ, công chức thấm nhuần và áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, bên cạnh phần lớn người dân, cán bộ, công chức gương mẫu, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn lắng nghe dân, hết lòng phụng sự nhân dân thì vẫn còn tình trạng một số người, trong đó có cả cán bộ, công chức có những phát ngôn tùy tiện, thiếu chuẩn mực.

Ðôi khi do thiếu kinh nghiệm, do sơ suất, thiếu thông tin hay do ngộ nhận, phát ngôn của họ đã gây ra những dư luận xấu, để lại những hậu quả lâu dài, có thể trở thành "tử huyệt" để các phần tử xấu lợi dụng.

Ðôi khi do thiếu kinh nghiệm, do sơ suất, thiếu thông tin hay do ngộ nhận, phát ngôn của họ đã gây ra những dư luận xấu, để lại những hậu quả lâu dài, có thể trở thành "tử huyệt" để các phần tử xấu lợi dụng.

Cùng với đó đang tồn tại tình trạng một số cán bộ, công chức có biểu hiện "hai mặt": Khi ở cơ quan, đơn vị thì phát ngôn và làm theo đúng quan điểm, đường lối của Ðảng, nhưng khi bước ra khỏi cơ quan, đơn vị thì lại có phát ngôn bừa bãi, lệch lạc, đi ngược với lợi ích của quốc gia, dân tộc, của tổ chức nơi đang công tác.

Thậm chí có cá nhân có biểu hiện lợi dụng tự do, dân chủ, phát ngôn tùy tiện, không mang tính xây dựng hoặc sử dụng những thông tin không chính thống, sai sự thật để quy kết, luận bàn thiếu trách nhiệm, thiếu tính xây dựng các vấn đề của đất nước, gây bức xúc dư luận.

Theo số liệu của Ban Tổ chức Trung ương, giai đoạn 2016-2020, gần 8.300 đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị đã bị xử lý kỷ luật. Trong đó, có 477 đảng viên nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm, hứa nhiều, làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về hưu...

Ðặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ hiện nay, những phát ngôn thiếu chuẩn mực của những cá nhân nêu trên rất dễ có nguy cơ bị các thế lực phản động, thù địch lợi dụng bóp méo, xuyên tạc, khoét sâu vào một số bất cập, hạn chế, bé xé thành to để tấn công Ðảng, Nhà nước và chế độ, gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên, làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Ðảng, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, đặc biệt là thế hệ trẻ, trở thành một trong những nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Ðảng và chế độ.

Nguyên nhân của tình trạng này là do một bộ phận công dân trong xã hội bản lĩnh chính trị không vững vàng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập để chủ nghĩa cá nhân ích kỷ phát triển lấn lướt, nhận thức, giác ngộ về tư tưởng, đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn yếu kém.

Bên cạnh đó là những tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, cộng với các thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Lợi dụng những khó khăn, yếu kém, sự tha hóa của một số cán bộ, công chức, các thế lực thù địch tìm mọi cách khoét sâu thêm mâu thuẫn, tìm cách làm suy yếu Ðảng, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, chia rẽ nội bộ.

Về phía tổ chức đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở một số nơi chưa được coi trọng đúng mức, hoạt động kém hiệu quả. Việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Ðảng có lúc, có nơi còn hạn chế, chưa thật nghiêm túc, chưa truyền đạt được tính khoa học, tính cách mạng, tính thiết thực tới cán bộ, công chức.

Thẳng thắn nhìn vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, với quan điểm "xây" và "chống", thời gian qua, Ðảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy chế, quy định về kỷ luật phát ngôn, nhất là đối với cán bộ, công chức. Ðảng nhận định thực trạng nêu trên là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, cùng với đó là nguy cơ từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước rất ngắn, khiến những đối tượng nêu trên có thể sa vào vũng lầy của người chống Ðảng. Thậm chí có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc.

Để giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, bảo đảm kỷ luật phát ngôn, cần phải tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các đối tượng, tổ chức vi phạm kỷ luật phát ngôn.

Chính vì vậy, sau Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Quyết định số 37-QÐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm, mới đây, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XIII đã ban hành Quyết định số 69-QÐ/TW ngày 6/7/2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Trong đó, Ðiều 28 "Vi phạm quy định tuyên truyền, phát ngôn", chỉ rõ các hành vi: Viết bài, duyệt đăng bài, sao chép, tán phát bài viết, thông tin không chính xác; lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, phản biện xã hội để viết bài, trả lời phỏng vấn hoặc sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội và các hội, nhóm, câu lạc bộ, diễn đàn để truyền bá quan điểm trái chủ trương, quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước,...

Việc bổ sung những quy định này giúp nhận diện rõ các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong tuyên truyền, phát ngôn, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Từ đó cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn, xử lý nghiêm minh, giữ vững kỷ luật kỷ cương, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.

Thời gian tới, để giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, bảo đảm kỷ luật phát ngôn, cần phải tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các đối tượng, tổ chức vi phạm kỷ luật phát ngôn, Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng.

Bên cạnh việc thực hiện nghiêm các quy định pháp luật, nâng cao vai trò trách nhiệm công dân đối với xã hội, các cấp ủy, tổ chức đảng cần phải đổi mới hơn nữa nội dung sinh hoạt, thường xuyên đưa cán bộ, công chức, đảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ lý luận chính trị, thường xuyên trau dồi kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Kết hợp đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường phổ biến, quán triệt, nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật phát ngôn của Ðảng. Lấy giải pháp "xây" làm căn cơ, cần phải siết chặt quy trình công tác cán bộ, sao cho việc bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng, bổ nhiệm được những cán bộ, công chức vừa có đức vừa có tài, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong sâu sát với quần chúng, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, cấp thiết để xây dựng Ðảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Bản thân mọi công dân trong xã hội, nhất là các cán bộ, công chức phải nâng cao nhận thức, phát ngôn đúng chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn.

Ðồng thời, bản thân mọi công dân trong xã hội, nhất là các cán bộ, công chức phải nâng cao nhận thức, phát ngôn đúng chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn. Ðối với những vấn đề có tính chất phức tạp, vấn đề mới, chuyên môn sâu, được đông đảo dư luận quan tâm, cần phải cẩn trọng, suy nghĩ thấu đáo trước khi phát ngôn.

Cùng với đó cán bộ, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, hiểu đúng dân chủ và kỷ luật trong phát ngôn. Chủ động nghiên cứu, học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao "sức đề kháng" trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, để không bị suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Ðẩy mạnh tự phê bình và phê bình nhằm góp phần nâng cao năng lực bản thân cũng như ý thức, trách nhiệm của mình đối với xã hội, đất nước.

Ý nghĩa soi đường trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Thứ nhất, về giá trị gắn kết giữa nội dung nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận không được tách rời nhau. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã để lại chìa khóa giải quyết các vấn đề khoa học là phải có tư duy biện chứng, nắm vững tính quy luật khách quan của cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản là rất quyết liệt, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Trong những năm qua, xuất hiện rất nhiều luận điểm sai trái, nhiều thế lực, đối tượng tham gia và kết hợp sử dụng các loại phương tiện với số lượng ngày càng gia tăng, như: Huy động các đài phát thanh, hãng thông tấn, báo chí, nhà xuất bản ở nước ngoài, nhiều trang web, blog cá nhân tham gia chống phá Đảng, Nhà nước và thành tựu của nhân dân ta đã đạt được sau gần bốn thập niên thực hiện công cuộc đổi mới.

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng tham gia cần kết hợp nghiên cứu khoa học để nắm vững nguồn gốc, bản chất của các trào lưu tư tưởng sai trái, cơ hội, xét lại để vạch trần cho quần chúng nhân dân nhận diện rõ bản chất và tác hại của chúng trên các phương tiện thông tin. Đồng thời, bảo vệ, phát triển học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.

Thứ hai, kế thừa phương pháp, kỹ năng sử dụng bút chiến của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch. Với tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causky” của V.I.Lênin... là những tác phẩm mẫu mực thể hiện rõ phương pháp bút chiến. Các lực lượng tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay cần kế thừa để đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái, phản khoa học, nhằm bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Mỗi bài viết cần sử dụng tổng hợp các phương pháp, các luận cứ, luận chứng, tận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật-công nghệ hiện đại để góp phần đấu tranh, vô hiệu hóa những luận điệu cơ hội, xét lại nhằm phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng trong hệ tư tưởng của Đảng ta.

Thứ ba, kế thừa giá trị về lựa chọn giải pháp trụ cột trong kết hợp giữa nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Việc làm thường xuyên là giáo dục nâng cao nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng ta về sự cần thiết đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Bên cạnh đó, cần nhận diện kịp thời về bản chất, mục đích chính trị và tính chất phi khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng và đường lối đổi mới của Đảng ta.

Cần phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học, lực lượng đấu tranh chuyên sâu ở các bộ, ngành, cơ quan, địa phương, đơn vị, cơ sở giáo dục-đào tạo, cơ sở nghiên cứu thực hiện tốt giải pháp gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu khoa học; tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận với đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với đó, cần phát huy tính tích cực chính trị của các lực lượng xã hội, nhất là cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học làm nòng cốt trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, chúng ta phải luôn kiên định với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Xúc động trước những kỷ vật về Chiến dịch Hồ Chí Minh

Những kỷ vật mà lớp thế hệ của những người từ làng quê bước ra “áo vải chân không đi lùng giặc đánh” làm lên những chiến công “chấn động địa cầu” để lại sau Chiến dịch Hồ Chí Minh đã giúp thế hệ trẻ hôm nay hiểu thêm về cuộc chiến, đặc biệt là giá trị của hòa bình, độc lập tự do. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng bản hùng ca về chiến thắng vĩ đại của dân tộc - Đại thắng mùa xuân 1975, vẫn vang mãi…

Trong phòng trưng bày Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, bên cạnh rất nhiều kỷ vật, hình ảnh (từ cuốn sổ nhật ký chiến trường, chiếc loa tay, chiếc cặp đựng tài liệu, các loại vũ khí từ thô sơ đến hiện đại, những tấm bản đồ “quyết tâm” – quyết tâm giải phóng miền Nam), chúng tôi thấy có kỷ vật của Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn; bút tích, kỷ vật  của Thủ tướng Phạm Văn Đồng; … cùng nhiều tướng lĩnh, sĩ quan đã có những đóng góp rất quan trọng, góp phần cho thắng lợi cuối cùng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Chúng tôi được giới thiệu đến Bảo vật quốc gia, đó là quyển “Sổ trực ban Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Đây là quyển sổ được các sĩ quan làm nhiệm vụ trực ban tác chiến của Sở chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, ghi lại một cách chi tiết, cụ thể những diễn biến tình hình chiến sự trong 6 ngày đêm lịch sử của Chiến dịch, từ ngày 25/4 đến ngày 1/5/1975. Những sự kiện tác chiến gay go, quyết liệt của các đơn vị, các mũi, các hướng tham gia chiến dịch đã diễn ra dồn dập, ghi dấu những khoảnh khắc lịch sử gắn với sự kiện trọng đại nhất của dân tộc đã được ghi lại trong quyển sổ này.

Đại tá Nguyễn Hoàng Vỵ, một chứng nhân lịch sử, lúc đó là trung úy, cán bộ trực ban tác chiến của Sở chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh từng xúc động kể khi ông ôm quyển sổ này từ Sở chỉ huy Căm Xe (Bình Dương) về Sài Gòn vào chiều 30/4/1975: “Dọc đường đi, thấy nhân dân nô nức chào mừng quân giải phóng, tay muốn giơ cao vẫy chào nhưng không dám giơ cả hai tay vì một tay không thể rời cuốn sổ. Cuốn sổ chỉ gần trăm trang giấy sao trong balô tôi nặng thế, thì ra trong niềm say chiến thắng, khi được lệnh dời Sở chỉ huy về Sài Gòn, mình không để ý chứ có anh em đồng chí, đồng đội mình đã hy sinh cũng ùa về theo. Linh hồn họ nhập vào cuốn sổ, họ cũng reo hò vui chiến thắng!”, Đại tá Nguyễn Hoàng Vỵ đã kể lại như thế trước lúc vĩnh viễn đi xa.

“Sổ trực ban chiến dịch Hồ Chí Minh không đơn thuần chỉ là những trang giấy ghi lại diễn biến của chiến dịch, mà đó là lịch sử, là hồn thiêng sông núi, là bằng chứng hiện hữu, rõ ràng nhất về một giai đoạn hào hùng trong dòng chảy của lịch sử Việt Nam, là máu xương của hàng triệu đồng bào đã ngã xuống để có được một ngày vui thống nhất. Cuốn sổ còn là tài liệu quý giá góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau ghi nhớ, biết ơn, cố gắng phấn đấu, sống xứng đáng với công lao của các thế hệ cha anh đi trước, quyết tâm xây dựng non sông đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, vững bền”, nữ nhân viên bảo tàng thuyết minh.

Trong những hiện vật được trưng bày tại bảo tàng, khách tham quan đặc biệt chú ý đến “chiếc gùi đánh giặc”. Chiếc gùi ấy của Điểu Lưa, dân tộc Stiêng, Bí thư Chi đoàn Sóc Bom Bo, xã Minh Hưng, huyện Bù Đăng, tỉnh Sông Bé (nay là Bình Phước) cũng trở thành vũ khí để bảo vệ xóm làng, thực ra nó chỉ đựng những mũi tên. Tất cả những thứ như chiếc gùi đựng mũi tên ấy, ngày thường nó là những vật gần gũi với người dân nhưng nó đã trở thành vũ khí khi “giặc nhảy vào nước hóa thành chông”, giống như hình ảnh anh Giải phóng quân trong thơ Tố Hữu: “Một dây ná, một cây chông cũng tiến công giặc Mỹ”.

Mỗi kỷ vật của những người từng góp xương máu và công sức trong công cuộc giải phóng đất nước, với gia đình đó là của gia bảo, với bảo tàng, khách tham quan… nó mang giá trị lịch sử. Bộ quân phục bạc màu, sờn vai, chiếc mũ cối mòn quai của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện, Chính ủy Quân đoàn 4; chiếc võng, cái khăn rằn hay những hòn đá chặn giấy của các tướng lĩnh, cán bộ quân giải phóng… đều mang những thông điệp về một thời gian khó nhưng rất đỗi tự hào của các thế hệ cha anh về cuộc chiến.

Phút giây trùng phùng của mẹ con chiến sĩ tình báo bị địch bắt, kết án tử hình và bị giam tại nhà tù Côn Đảo chờ ngày thi hành án Lê Văn Thức, cả hai cùng bật khóc. Khoảnh khắc hai vị tướng: Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng vui mừng choàng ôm nhau cười tươi trong phút gặp mặt giữa Sài Gòn sau ngày 30/4; cảnh nhân dân đổ ra xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa đón các chiến sĩ ngày 30/4/1975; cảnh nữ chiến sĩ Nguyễn Trung Kiên - biệt động Sài Gòn - với nụ cười bừng sáng dẫn đường cho bộ đội tiến vào Dinh Độc lập và sân bay Tân Sơn Nhất ngày 30/4/1975... đã được các phóng viên, các nhiếp ảnh gia ghi lại và được trưng bày tại Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Mỗi kỷ vật “biết nói” được trưng bày tại bảo tàng như là một thông điệp để thế hệ hôm nay hiểu thêm về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam; từ đó mới cảm nhận được phần nào niềm vui và niềm tin chiến thắng. Niềm tin ấy đang được tiếp tục lan toả mạnh mẽ nhất trong công cuộc xây dựng một Việt Nam hùng cường, giàu mạnh hôm nay.

 

Sống lại ký ức hào hùng từ những kỷ vật vô giá

Chúng tôi có mặt tại Di tích Nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) đúng vào dịp cả nước đang hướng về lễ kỷ niệm 45 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. 

Đồng hồ đã điểm 11h45, song lượng du khách trong và ngoài nước đổ về đây vẫn nườm nượp. Tại đây đang diễn ra triển lãm về những ngày quân và dân Hà Nội, Hải Phòng cũng như các tỉnh, thành lân cận kiên cường đánh trả B-52 của Mỹ.  Những bức ảnh, kỷ vật đưa người xem tìm lại những ký ức về một thời đạn bom đầy bi thương nhưng hào hùng của dân tộc.

Triển lãm được bố trí thành 4 chủ đề xuyên suốt gồm: “Đối mặt với B-52”, “Khách sạn Hilton – Hà Nội”, “Ngày trở về” và “Xây đắp tương lai” với nhiều hình ảnh, tài liệu, hiện vật phong phú, sinh động.

Anh Quang Hùng, 34 tuổi, hướng dẫn viên du lịch cho đoàn du khách đến từ Mỹ cho biết, mấy ngày qua, công ty của anh nhận được khá nhiều hợp đồng đặt tour du lịch của du khách nước ngoài, trong đó có không ít đoàn khách chọn điểm đến Di tích Nhà tù Hỏa Lò để tham quan triển lãm “Tìm lại ký ức”.

Tiếp xúc với một số du khách đang có mặt ở đây, chúng tôi cảm nhận được sự hào hứng xen lẫn trầm tư. Đứng trước bức ảnh “Niềm hạnh phúc của các thành viên trong gia đình Trung tá Robert L.Stirm khi đón ông trở về tại căn cứ không quân Travis, bang California ngày 17-3-1973” (ảnh: Sal Velder) hồi lâu, anh Peter - du khách đến từ Mỹ không giấu được cảm xúc của mình. Anh cho biết, anh cũng như rất nhiều người luôn có chung mong muốn chiến tranh, đau thương, chia lìa không xảy ra.

Trong khuôn viên triển lãm du khách được chiêm ngưỡng rất nhiều tấm  ảnh ghi lại những gương mặt vui mừng, những giọt nước mắt hạnh phúc, cái bắt tay, cái ôm đằm thắm của những con người trở về từ hai chiến tuyến. Rồi những hoạt động tích cực của Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Mỹ trong việc tìm kiếm, rà phá bom mìn, làm sạch môi trường, rồi những cuộc trở về chiến trường xưa của các tổ chức, cá nhân vốn là cựu binh, phi công Mỹ cũng được giới thiệu một cách khá chi tiết.

Đáng chú ý, tại đây, không chỉ có hình ảnh, hiện vật, kỷ vật “một thời bom đạn – một thời hòa bình”, Ban Quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò còn đem đến cho người xem những không gian, cuộc sống của người dân Hà Nội những năm 70 thế kỷ trước. Chiếc xe đạp, chiếc loa rồi một góc ngôi nhà nơi phố cổ được phục dựng khiến cho ai một lần đặt chân đến với gian trưng bày đều thấy bồi hồi xúc động.

Người xem được gặp lại những  căn hầm trú bom hay còn gọi là “hầm tăng xê” (phiên âm từ tiếng Pháp), hình ảnh đặc trưng, in sâu trong ký ức của người dân Hà Nội lúc bấy giờ. Tháng 3-1965, đế quốc Mỹ chính thức tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất. Ngày 29-6-1966, máy bay Mỹ bắt đầu đánh phá Thủ đô Hà Nội. Thế trận phòng không nhân dân được củng cố.

Từ năm 1965 - 1972, thành phố Hà Nội có hơn 40 vạn hố cá nhân và 90.000 hầm tập thể, đủ chỗ trú ẩn cho 90 vạn người. Mỗi người dân “sở hữu” ít nhất ba hầm trú ẩn: trong nhà, ở cơ quan và trên đường phố. Hầu như các tuyến phố ở Hà Nội đều có hầm trú bom. Hầm thường sâu hơn 1m, đường kính khoảng 80cm. Nắp làm bê tông cốt thép hoặc bện bằng rơm. Mỗi khi nghe loa truyền thanh phát ra tiếng còi báo động cùng với thông báo của phát thanh viên: “Đồng bào chú ý. Đồng bào chú ý. Máy bay địch cách Hà Nội 50km. Đồng bào tìm nơi trú ẩn an toàn…”, ngay lập tức người đang ở trong nhà sẽ chạy ra hầm ở đầu ngõ, còn người đang đi trên đường sẽ chui xuống hầm ở ngay hè phố.

Bà Phạm Thị Hoàng My, Trưởng phòng Hành chính Tổng hợp – Ban Quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò cho biết, chuyên đề “Tìm lại ký ức” được diễn ra từ ngày 29-11-2017 đến ngày 30-3-2018. Mỗi ngày có khoảng 1.200 - 1.500 du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Với sự chuẩn bị chu đáo từ các bức ảnh, hiện vật, chuyên đề triển lãm đã  được nhiều khách tham quan đánh giá cao.

Ôn lại truyền thống hào hùng

Trong số những đoàn khách đến với Di tích Nhà tù Hỏa Lò tham quan khu trưng bày chuyên đề “Tìm lại ký ức” hôm nay, chúng tôi gặp đoàn du khách là cán bộ chiến sĩ, đoàn viên đến từ Trung đoàn Cảnh sát cơ động (CSCĐ) – Công an TP Hà Nội.  Những đoàn viên trẻ chăm chú lắng nghe hướng dẫn viên giới thiệu tỉ mỉ về các bức ảnh, kỷ vật khắc họa “12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không” của quân và dân miền Bắc.

Thiếu úy Lê Văn Ba, Bí thư Đoàn Thanh niên Trung đoàn (CSCĐ) cho biết, nhằm ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc ta cũng như nâng cao hiểu biết về Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, được sự đồng ý của Đảng ủy, Ban Chỉ huy Trung đoàn, Đoàn Thanh niên Trung đoàn CSCĐ tổ chức cho đoàn viên thanh niên trong đơn vị đến tham quan triển lãm.

Tại đây, thông qua các bức ảnh, kỷ vật mà khu di tích trưng bày, các bạn đoàn viên trong đơn vị đã hiểu hơn về lịch sử hào hùng của cha anh đi trước, về tương lai hợp tác mở rộng quan hệ quốc tế, từ đó có động lực phấn đấu hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mỗi cá nhân trong đơn vị.

“Ý tưởng về cuộc triển lãm “Tìm lại ký ức” nhân kỷ niệm 45 năm Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” được chúng tôi hình thành từ giữa năm 2016. Từ những ý tưởng ban đầu với mục đích xây dựng nội dung trưng bày mang tính nhiều chiều, đặc biệt phù hợp với xu thế hiện nay nên sau khi có đề cương Ban quản lý Khu di tích đã phải tổ chức nhiều buổi tọa đàm, lấy ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu, nhân chứng lịch sử như: Chiến sĩ Bộ đội, cán bộ làm công tác quản giáo tại Trại giam Hỏa Lò thời kỳ bấy giờ, quân nhân – phi công Mỹ…

Đồng thời chúng tôi đã tổ chức kết nối với nhiều phi công Mỹ đã từng tham gia cuộc chiến và thân nhân của họ để khai thác thêm thông tin, tư liệu”, bà Đào Thị Huệ, Phó Giám đốc Ban Quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò cho biết. Hơn 250 bức ảnh, tài liệu, hiện vật được Ban Quản lý Di tích giới thiệu tới công chúng.

Thông qua đó, khi mọi người đến đây sẽ tìm thấy những ký ức về cuộc sống, những khó khăn, đau thương, mất mát của người dân hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng. Và cũng chính từ những đau thương, mất mát đó, bằng niềm tin, bằng tình yêu, quân và dân ta đã đấu tranh làm nên một “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” chiến thắng lẫy lừng vào cuối năm 1972.

Cùng với đó, triển lãm cũng giúp du khách hiểu biết thêm về những câu chuyện, cuộc sống của các phi công Mỹ trong thời kỳ cải tạo trong Trại giam Hỏa Lò; về những chính sách nhân đạo của chính phủ Việt Nam thông qua những chia sẻ, tâm sự của chính người trong cuộc.

“Đặc biệt, thông qua cuộc trưng bày, thông điệp của chúng tôi muốn đưa ra là dù 45 năm đã trôi qua, nhưng tinh thần bất diệt của một “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn mãi. Người dân Việt Nam luôn dành tình cảm tốt đẹp cho người dân Mỹ, luôn hướng tới tương lai - chung tay xây dựng thế giới hòa bình”, bà Đào Thị Huệ cho biết.

 

Ánh sáng soi đường trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng tham gia cần kết hợp nghiên cứu khoa học để nắm vững nguồn gốc, bản chất của các trào lưu tư tưởng sai trái, cơ hội, xét lại để vạch trần cho quần chúng nhân dân nhận diện rõ bản chất và tác hại của chúng trên các phương tiện thông tin. Đồng thời, bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.

Tấm gương mẫu mực trong nghiên cứu khoa học

C.Mác, Ph.Ăngghen đã khắc phục được những hạn chế của các đại biểu tư tưởng trong lịch sử và đương thời, có phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học. Với sự hội tụ đầy đủ các nhân tố chủ quan trong chuyển đổi lập trường giai cấp, cùng với trí tuệ uyên bác của mình, C.Mác, Ph.Ăngghen đã kế thừa thành tựu khoa học tự nhiên, tiền đề lý luận một cách chọn lọc. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã gạt bỏ hiện tượng bên ngoài để tìm ra bản chất, những mâu thuẫn kinh tế-xã hội nảy sinh trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nghiên cứu thực tiễn, tìm ra nguyên nhân do chưa có hệ tư tưởng độc lập, tiên tiến; chưa được giác ngộ ý thức giai cấp, còn bị ảnh hưởng nặng nề của trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại nên cản trở, dẫn đến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở những nước tư bản phát triển, như: Đức, Anh, Pháp bị thất bại.

Sự vĩ đại trong nghiên cứu khoa học của các ông đã đạt được thành quả là sáng lập, phát triển nên học thuyết thực sự khoa học, cách mạng-vũ khí tư tưởng, lý luận của giai cấp công nhân. Ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, C.Mác và Ph.Ăngghen, sau này là V.I.Lênin đã vừa bảo vệ, vừa phát triển các nguyên lý cách mạng và gắn với đấu tranh quan điểm sai trái để ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của những trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại, đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời là văn kiện đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản, đánh dấu sự ra đời Chủ nghĩa Mác, công khai về mục tiêu, lý tưởng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân quốc tế. Trước đó, C.Mác, Ph. Ăngghen đã phải mất nhiều năm nghiên cứu thực tiễn để tìm hiểu vai trò của giai cấp công nhân-lực lượng xã hội tương lai giữ vai trò lãnh đạo lật đổ xã hội tư bản và xây dựng xã hội mới.

Ở thời kỳ V.I.Lênin, ông có sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực tiễn với phát triển lý luận, tiêu biểu như các tác phẩm: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”; “Quyền dân tộc tự quyết”, “Nhà nước và cách mạng”... Ở mỗi tác phẩm đều kết cấu nội dung logic, sử dụng hiệu quả các phương pháp khoa học là so sánh, phân tích, logic-lịch sử. Trong bối cảnh sau khi Ph.Ăngghen qua đời thì Quốc tế II bị lũng đoạn (ngoại trừ Đảng Xã hội-Dân chủ Nga), còn lại các đảng khác đều bị phân hóa thành ba phái nên V.I.Lênin đã thấy rõ sự cần thiết phải đấu tranh, với bút chiến rất mẫu mực để vạch trần bộ mặt thật của nó. Các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin để lại là những di sản khoa học đồ sộ, có giá trị lý luận và thực tiễn, mẫu mực về đấu tranh tư tưởng nên mãi mãi trường tồn trong thời đại hiện nay.

Gắn kết nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận

Tấm gương mẫu mực trong gắn kết nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận của các ông thể hiện ở nội dung, hình thức, phương pháp, kỹ năng và kết quả thực tế.

Về nội dung thể hiện sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, cơ hội, xét lại dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, xuất phát từ những nguyên lý gốc đã được chỉ ra trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”; bám sát những biến đổi mới của thực tiễn, của cơ sở kinh tế, lựa chọn trọng tâm, trọng điểm, nắm vững bản chất sai trái về khoa học và phản động về chính trị của những quan điểm sai trái ở mỗi thời điểm cụ thể. Ở tác phẩm: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, với kết cấu 4 chương thì dành riêng chương 4 để đấu tranh phê phán quan điểm sai trái và các chương khác đều lồng ghép nội dung phê phán.

Về hình thức thể hiện, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong nhiều tác phẩm dù không đặt tên hoặc có một số ít tác phẩm sử dụng từ “đấu tranh” hoặc “phê phán” ở tên tác phẩm nhưng nội dung đều phản ánh rõ sự gắn kết chặt chẽ giữa khoa học với phê phán quan điểm sai trái, cơ hội, xét lại rất thuyết phục.

Về phương pháp thể hiện rất toàn diện, nhuần nhuyễn, như: Khái quát, phân tích, diễn giải, logic-lịch sử, so sánh để chỉ ra tính chất sai trái của các luận điểm mà những đối tượng cơ hội, xét lại đưa ra và chứng minh tính đúng đắn của các nguyên lý cách mạng.

Về kỹ năng sử dụng ngôn ngữ khoa học của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong các tác phẩm thể hiện tính đanh thép, “rõ danh tính đối tượng cần phê phán”, sắc sảo về bút lực, bảo đảm tính luận chiến, luận cứ, luận chứng và có thái độ chính trị kiên quyết.

Khi thực tiễn có sự thay đổi, cần bổ sung các nguyên lý cho phù hợp và xuất hiện quan điểm đối lập thì C.Mác và Ph.Ănghgen lại kết hợp nghiên cứu khoa học, chỉ rõ nguồn gốc và mục đích chính trị, tính chất sai trái về khoa học của quan điểm cơ hội, xét lại để tuyên truyền, giác ngộ giai cấp công nhân tránh bị ảnh hưởng tiêu cực. Tiêu biểu như tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô ta”, nhằm vạch trần quan điểm cơ hội, xét lại của chủ nghĩa Látxan sai trái về khoa học, với mục đích chính trị đưa ra “luật sắt về tiền công” nhằm bênh vực, che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân... Với phương thức đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng của C.Mác, Ph.Ăngghen thì tư tưởng của Látxan đã bị vạch trần, phá sản và qua đó khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Ở thời kỳ V.I.Lênin, sau khi Ph.Ăngghen mất và Quốc tế II bị lũng đoạn thì ông cho rằng tất yếu cần đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại, bởi: “Chủ nghĩa cơ hội là kẻ thù chính của chúng ta. Chủ nghĩa cơ hội trong tầng lớp trên của phong trào công nhân, đó là chủ nghĩa xã hội tư sản chứ không phải là chủ nghĩa xã hội vô sản”(*).

Công lao to lớn của V.I.Lênin là đã bổ sung, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác, bảo vệ bản chất khoa học và cách mạng nên với tên gọi mới là “Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Ở mỗi tác phẩm, mà tiêu biểu như: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”, “Nhà nước và cách mạng”, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causky”, “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”... V.I.Lênin cũng kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực tiễn để phát triển lý luận và gắn nghiên cứu khoa học với đấu tranh chống lại quan điểm cơ hội, xét lại, chủ nghĩa chống cộng. Kết quả, các đối tượng có tư tưởng cơ hội, xét lại đã từng bước bị vô hiệu hóa, giảm sự ảnh hưởng tiêu cực đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.

SẮP XẾP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH LÀ CHỦ TRƯƠNG LỚN CỦA ĐẢNG

Quá trình thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2019 - 2021 đã bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII và Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị; thể hiện tinh thần nỗ lực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là vai trò, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, người đứng đầu, nhận được sự đồng thuận của nhân dân. Đã giảm đáng kể số lượng đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, góp phần tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, giảm chi ngân sách Nhà nước, mở rộng không gian phát triển, phát huy tiềm năng, lợi thế của các địa phương; các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở những địa phương thực hiện sắp xếp được kiện toàn và bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; đời sống nhân dân ổn định.

Tuy nhiên, việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2019 - 2021 còn một số hạn chế như: Chưa thực hiện tốt công tác bố trí, sắp xếp và giải quyết chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức dôi dư; chất lượng đô thị chưa được bảo đảm do sáp nhập đơn vị hành chính nông thôn vào đơn vị hành chính đô thị; việc sắp xếp, xử lý các trụ sở làm việc dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính còn bất cập; việc thực hiện các chính sách đặc thù đối với đơn vị hành chính mới sau khi sắp xếp chưa kịp thời.

Tính Đảng của nền báo chí cách mạng Việt Nam

Tính Đảng và bảo đảm tính Đảng của nền báo chí nước nhà là yêu cầu căn bản và tất yếu. Không có một nền báo chí của bất cứ một quốc gia, dân tộc nào chung chung, phi dân tộc, phi chính trị, phi xã hội...

Ngay từ năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết/ Thi gia dã yếu hội xung phong” (Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong).

Trước đó, năm 1941, Nhà thơ Sóng Hồng (Tổng Bí thư Trường Chinh) cũng đã viết: “Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Mỗi bước trưởng thành của Đảng, của Nhà nước ta là mỗi bước nâng nền báo chí lên một vị thế và tầm cao mới. Và, đến lượt mình, mỗi bước phát triển của báo chí lại là tấm gương phản chiếu sự trưởng thành của Đảng, của chế độ; là động lực mạnh mẽ và quan trọng thúc đẩy sự phát triển, nâng cao trình độ dân chủ của xã hội, góp phần nâng Đảng và Nhà nước ta ngang tầm nhiệm vụ cách mạng, củng cố vững chắc chế độ xã hội ta.

Đó chính là tính Đảng của nền báo chí cách mạng.

Về báo chí với mạng xã hội toàn cầu.

Chưa bao giờ sự tương đồng và thách thức giữa báo chí của chúng ta và mạng xã hội lại sâu rộng không chỉ về quy mô mà còn về tính chất và mức độ như hiện nay. Nhiều lúc, nhiều tờ báo “lẽo đẽo” đi theo sau mạng xã hội, thậm chí ở không ít phương diện, tại không ít nơi, mượn sự đồn thổi và phúng dụ của mạng để làm báo. Không ít nhà báo, tờ báo bị mạng xã hội chi phối, dẫn dắt. Trong “thế giới phẳng” và không phẳng, thông tin là sức mạnh, là lực lượng; báo chí có thể tạo nên thời cơ nhưng lại có thể tạo ra nguy cơ. Chúng ta tiên lượng và đi tiên phong nắm lấy, cổ vũ hoặc khắc chế chúng. Nếu báo chí chỉ đi sau mạng xã hội, chắc chắn sẽ rơi vào tụt hậu, khủng hoảng, đánh mất vai trò của mình.

Trong bức điện gửi Hội Nhà báo Á Phi, ngày 24-4-1965, Hồ Chí Minh viết: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng...”. Khi nói chuyện với các nhà báo nước nhà, Người dặn dò: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén...”, “ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”, “cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”. Làm trái những điều ấy, chúng ta sẽ tha hóa, làm thoái hóa báo chí, thậm chí là ngụy báo chí.

Hơn hết bao giờ, báo chí phải thực sự làm chủ thời cuộc và công nghệ, chủ động tiên phong cảnh giới và gìn giữ không chỉ không gian chính trị, không gian xã hội, đặc biệt quan trọng là không gian mạng, mà quan trọng bậc nhất là không gian tinh thần, chủ động dẫn dắt, chi phối dư luận xã hội, nhân lên giá trị và cổ vũ uy tín Việt Nam, hội nhập và góp phần phát triển đời sống báo chí quốc tế.