Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

 


      Hồ Chí Minh khẳng định “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(5). Theo Người, “việc đánh bại chủ nghĩa cá nhân và trong thắng lợi của chủ nghĩa xã hội”(6) là hai vấn đề, hai nội dung, hai mặt có quan hệ đối kháng, loại bỏ lẫn nhau, mặt này tồn tại, phát triển thì mặt kia không tồn tại, hoặc ngược lại. Chỉ giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, mới xây dựng được cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, không thể đi lên chủ nghĩa xã hội khi chủ nghĩa cá nhân vẫn còn tồn tại và phát triển.   

      Hồ Chí Minh cũng xem chủ nghĩa cá nhân là một thứ giặc: “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm, nó làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Đảng, tới quá trình đi lên của cách mạng. Nếu không giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” thì sự nghiệp cách mạng vô sản ở nước ta không thể giành được thắng lợi, suy đến cùng là cuộc cách mạng “nửa vời”, “không đến nơi”.

       Đối mặt với kẻ thù ngoài mặt trận, nơi chiến tuyến, tuy gian khổ, hy sinh, mất mát, song vẫn có thể giành thắng lợi, còn đối mặt với chủ nghĩa cá nhân vô cùng phức tạp trong nhận diện, khó khăn và đau đớn trong đấu tranh, vì đó là những thói hư, tật xấu tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi người đảng viên; trong đồng đội, đồng chí, anh em, cấp trên - cấp dưới… ở nội bộ cơ quan, đơn vị mình. “...Việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”(7), song không vì khó khăn, phức tạp, gian khổ, đau đớn, lâu dài, mà chấp nhận nản chí, buông xuôi, ngược lại càng phải dũng cảm, càng phải “kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”(8), vì “khắc phục chủ nghĩa cá nhân là bước rất quan trọng để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(9). Và Người luôn đặt niềm tin thắng lợi vào cuộc đấu tranh ấy: “chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt”(10).

      Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng Đảng vững mạnh thì phải ngăn chặn, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân một cách hiệu quả. Muốn vậy, mọi đảng viên dù ở bất cứ cấp nào, công việc gì, cũng cần nắm vững và thực hiện đúng những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới. Tiến hành thường xuyên, nghiêm túc “tự phê bình và phê bình”, phải tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau, “phê bình việc, chứ không phê bình người”, không đại khái, qua loa, làm cho lấy vì. “Phải luôn luôn tự phê bình một cách thật thà, tự phê bình từ trên xuống dưới”(11), nếu tiến hành từ dưới lên trên sẽ dễ dẫn đến hình thức, kết quả đạt được không cao.. 

      Tự phê bình và phê không chỉ dừng ở phạm vi cá nhân đảng viên, mỗi tổ chức đảng cụ thể, mà phải coi toàn Đảng là một cơ thể, một tồ chức hoàn chỉnh để tiến hành tự phê bình và phê bình. Người nói: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(12).

      Chống chủ nghĩa cá nhân, chống “giặc nội xâm” là cuộc đấu tranh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, quyết tâm cao, dũng cảm, kiên quyết, kiên trì, không bao che, bao biện, đồng thời giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Cuộc đấu tranh này phải được tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ đối với mọi đảng viên, trên tất cả các mặt công tác, các lĩnh vực của đời sống xã hội, song, phải có những bước đi thích hợp, thận trọng, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những nơi, những lĩnh vực, những vị trí, những cương vị dễ nẩy sinh chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó.

       Hồ Chí Minh yêu cầu phát huy lực lượng toàn dân trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp này: “Nhiệm vụ của quần chúng là phải hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu”(13). “Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình”(14)


Ngăn ngừa lạm quyền trong công tác cán bộ

Đảng ta đã ra nhiều quy định nhằm “nhốt quyền lực vào lồng cơ chế”, song việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ nói riêng vẫn chưa được thực thi đúng quy định, khách quan và công tâm. Hậu quả là trong bộ máy xuất hiện những “cán bộ nhúng”, “cán bộ lướt”, “cán bộ gọi dạ bảo vâng”, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm, vi phạm kỷ luật, pháp luật... Đây chính là một trong những nguyên nhân sâu xa có thể gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các mức độ khác nhau.

Thực tế lâu nay, công tác cán bộ vốn thuộc thẩm quyền của các cấp ủy Đảng, nhưng đã bị người có chức quyền lợi dụng, nhằm mang lại quyền lợi cho cá nhân. Hiện tượng bổ nhiệm thần tốc cán bộ là vợ, con, anh em, đồng môn vào những vị trí quyền lực… khiến nhiều cán bộ, công chức dù giỏi, dù tài, dù kiên trì phấn đấu nhưng vẫn không được đảm nhận cương vị xứng đáng. Hiện tượng này có ở không ít cơ quan, đơn vị, địa phương. Đơn cử như trường hợp Trần Vũ Quỳnh Anh thần tốc được bổ nhiệm lãnh đạo một phòng ở Sở Xây dựng Thanh Hóa, được quy hoạch Phó Giám đốc Sở, khi chưa đủ điều kiện.

Trước đó, Dương Chí Dũng “ngồi ghế” Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines dù trình độ quản lý yếu kém; Trịnh Xuân Thanh đã phạm nhiều khuyết điểm khi còn là Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam, song sau đó vẫn tiếp tục thăng tiến.

Sau các vụ đại án, nhìn vào quan lộ của các bị cáo một thời “thét ra lửa” và nổi tiếng làm ăn thua lỗ với hàng lô khuyết điểm như Dương Chí Dũng, Trịnh Xuân Thanh thì dư luận đặt câu hỏi, tại sao những đối tượng ấy lại được bổ nhiệm, luân chuyển, cất nhắc vào vị trí cán bộ lãnh đạo cấp cao và còn được khen thưởng những danh hiệu cao quý...? Phải chăng, trong công tác cán bộ có sự “chạy” rất kín kẽ và trở thành tệ nạn. Phải chăng đây có lẽ là nguồn cơn hình thành, nuôi dưỡng một loại cán bộ cơ hội, chỉ lo “đầu tư” xây dựng các “quan hệ” để “chạy” khi cần?

Qua những sự việc nổi cộm có thể thấy, một số cán bộ lãnh đạo lạm quyền, dùng vị trí công tác vẽ ra những con người với các phẩm chất ưu tú, nhằm “bịt mắt” tổ chức.

Nói một cách khác, họ đã tìm mọi cách “hậu thuẫn” cho những kẻ “mua quan, bán tước” một cách tinh vi. Hậu quả là, dù công cuộc chống tham nhũng được đẩy mạnh thực hiện từ nhiều năm trước, nhưng đến nay vẫn có nhiều cán bộ bị kỷ luật. Ví dụ, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2023, đã có 182 tổ chức Đảng, 7.056 đảng viên bị kỷ luật. Ban Tổ chức Trung ương đã đề xuất không xem xét 251 lượt cán bộ diện Trung ương quản lý chưa bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện; phát hiện 50 trường hợp có quan hệ gia đình cùng đảm nhiệm chức danh có liên quan.

Để ngăn chặn lạm quyền, đồng thời chấn chỉnh, kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức chạy quyền, ngày 11-7-2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 114-QĐ/TƯ về việc kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của Quy định số 114-QĐ/TƯ là việc chỉ ra các biểu hiện hành vi chạy chức, chạy quyền, đó là: Lồng ghép ý đồ cá nhân khi thực hiện các khâu trong công tác cán bộ vì động cơ, mục đích vụ lợi hoặc có lợi cho nhân sự trong quá trình thực hiện công tác cán bộ…; khi nhận đơn, thư phản ánh, tố cáo hoặc biết nhân sự có hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ nhưng thỏa hiệp, lúng túng, bao che không xử lý theo thẩm quyền… Quy định số 114-QĐ/TƯ cũng cấm thực hiện một số hành vi: Chạy tuổi, thâm niên công tác, danh hiệu thi đua, khen thưởng, bằng cấp, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, chỉ định, điều động, luân chuyển, biệt phái, thăng quân hàm… nhằm mục đích đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có được chức vụ, quyền lợi.

Tăng cường phòng ngừa, kiểm soát việc lợi dụng, lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ, Quy định số 114-QĐ/TƯ cũng nhấn mạnh đến việc không được bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời đảm nhiệm các chức danh có liên quan, bao gồm: Thành viên trong cùng ban thường vụ cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong cùng địa phương, cơ quan, đơn vị; người đứng đầu các cơ quan ở 13 ngành: Nội vụ, thanh tra, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, công thương, kế hoạch đầu tư, tài nguyên môi trường, quân đội, công an, tòa án và Viện Kiểm sát ở Trung ương hoặc cùng cấp ở một địa phương...

Để Quy định số 114-QĐ/TƯ đi vào thực tiễn, có kết quả tích cực, vấn đề tiên quyết là người đứng đầu cấp ủy cần gương mẫu, trung thực, công tâm trong công tác cán bộ. Cần tự giác báo cáo với cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo mà mình là thành viên khi xem xét nhân sự là người có quan hệ gia đình với mình. Tuyệt đối tránh đánh giá cán bộ phiến diện, một chiều và cảm tính, vun vén cho người thân, người quen mà bỏ qua những cán bộ có năng lực.

Khi đề bạt bổ nhiệm cán bộ, người chủ trì cần phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực đến cấp có thẩm quyền những nội dung có liên quan đến nhân sự; thể hiện rõ chính kiến và chịu trách nhiệm trong đề xuất, nhận xét, đánh giá, xác nhận hồ sơ, lý lịch, các giấy tờ có liên quan của nhân sự thuộc thẩm quyền được phân công theo dõi, quản lý.

Cấp ủy các cấp cần kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, thực hiện công tác cán bộ ở các cấp chặt chẽ, nhất là đối với các cơ quan tham mưu, cơ quan cấp dưới và cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền quản lý. Chấn chỉnh, xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi vi phạm; nắm bắt tình hình, dư luận cán bộ, đảng viên và nhân dân, kịp thời xem xét, giải quyết, góp phần nâng cao hiệu quả công tác cán bộ.

THẾ GIỚI VẤN ĐỀ-SỰ KIỆN: HÃY COI CHỪNG ĐỪNG CÓ...!

     Các tàu khu trục thuộc dự án Arleigh Burke là niềm tự hào của Hải quân Hoa Kỳ, chúng là lực lượng thường trực ở những khu vực trên thế giới, nơi mà người Mỹ muốn thể hiện sức mạnh của mình. Và lần này, địa điểm hành động mà họ chọn là vùng biển Barent.

Vào ngày 26/8/2023, tàu khu trục USS Porter (DDG-78) thuộc dự án Arleigh Burke của Mỹ đã cố gắng tiếp cận biên giới trên biển của LB Nga, trong vùng biển Barents. Ngay lập tức, không biết từ đâu, một tiêm kích Su-27 của Hạm đội phương Bắc xuất hiện trên bầu trời. Sau một vài đường bay đơn giản, không hiểu sao mà toàn bộ hệ thống điện tử và hệ thống phòng không của tàu khu trục Mỹ ngừng hoạt động. Con tàu bất động như một chiếc lon thiếc, “chờ chỉ dẫn tiếp theo”.

Cũng rất nhanh sau đó, Nhà Trắng đã có phản ứng. Một công hàm phản đối đã được gửi tới Nga, đồng thời thư ký báo chí Nhà Trắng Karine Jean-Pierre đã phát biểu tại một cuộc họp báo ngắn: “Hành động của phía Nga là không thể chấp nhận được. Các phi công Nga đã vô hiệu hóa và làm bất động hoàn toàn tàu khu trục, họ thậm chí có thể thoải mái tiêu diệt nó bằng tên lửa”.

Trước nay, quân đội Mỹ không quen bị đối xử khắc nghiệt như vậy. Vì thế Karine Jean-Pierre đã tuyên bố LB Nga “có nghĩa vụ phải công khai xin lỗi về vụ việc này”.
Theo “Мировое Политическое Шоу” - mpsh-ru./.
Yêu nước ST.

QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 


Trước hết cần khẳng định: Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận nhân dân, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được đảm bảo trên thực tiễn và cụ thể bằng văn bản pháp luật, như: Sắc lệnh số 234/SL, ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, xác định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”. Trong mỗi giai đoạn lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý để các tôn giáo hoạt động hiệu quả, như: Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo; Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH 11, ngày 18/6/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XI) về tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị số 1940/CT-TTg, ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; ngày 09/3/2023, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tôn giáo Chính phủ đã ra mắt Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, v.v. Cùng với đó, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tập trung đầu tư phát triển kinh tế ở vùng đồng bào có đạo, thể hiện sự quan tâm đặc biệt sâu sắc đến nhu cầu tín ngưỡng của tín đồ, chức sắc các tôn giáo, làm cho tín đồ và chức sắc tôn giáo yên tâm, phấn khởi tích cực thực hiện tốt cả “việc đạo, việc đời”.

Thực tế đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay luôn tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ các tôn giáo hoạt động theo pháp luật; chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay! Số lượng tín đồ ngày càng đông, được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi thờ tự. Nếu năm 2003, cả nước có 15 tổ chức, 06 tôn giáo, 17 triệu tín đồ với khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc; thì đến năm 2021, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với trên 26 triệu tín đồ, 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phong phú, đa dạng; nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo thu hút hàng vạn tín đồ tham dự, như: Giáo hội Tin lành đã tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành (tháng 12/2017); Giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa minh thế giới tại Đồng Nai (tháng 7/2019), với đại biểu của hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Giáo hội Phật giáo tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc năm 2019 tại chùa Tam Chúc, tỉnh Hà Nam (tháng 5/2019) với sự tham dự của trên 3.000 đại biểu chính thức (trong đó có 570 đoàn quốc tế với 1.650 đại biểu đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ), v.v. Với quy mô hoạt động tôn giáo hàng vạn người, chính quyền các cấp đã hỗ trợ các tôn giáo về các phương án đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng, chống cháy nổ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm,... để nhân dân được tự do hành lễ, thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh. Điều đó đã khẳng định chính sách nhất quán của nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi, nếu không có chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo thì các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo không thể tổ chức đa dạng, phong phú như trên được.

Hiện nay các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá với những thủ đoạn tinh vi và quyết liệt hơn. Do vậy, việc chủ động đấu tranh, ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược lâu dài và là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị; trong đó, cơ quan quản lý Nhà nước về tôn giáo đóng vai trò nòng cốt, cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp năm 2013. Thực hiện tốt chức năng Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo tại các địa bàn trọng điểm, phức tạp; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý ngay tại cơ sở các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật gây bức xúc trong xã hội.

Nắm chắc tình hình, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng: “dân chủ”, “quyền con người”, “tôn giáo” chống phá Việt Nam để có đối sách giải quyết phù hợp, hiệu quả, đúng pháp luật. Kịp thời phát hiện và ngăn chặn việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các tôn giáo, gây rối trật tự, xâm phạm an ninh quốc gia. Chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, vạch trần “chân tướng” các đối tượng cơ hội, các việc làm vi phạm pháp luật, giáo luật của số đối tượng cực đoan lợi dụng tôn giáo; phản bác các luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”.

Những biện pháp đấu tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Việt Nam cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành để có sự hỗ trợ đồng bộ, hạn chế sơ hở để thế lực xấu lợi dụng chống phá.

Thường xuyên tổng kết rút kinh nghiệm, có biện pháp khắc phục những thiếu sót, tồn tại để đảm bảo thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do, tín ngưỡng của nhân dân, làm cho nhân dân thực sự tin tưởng vào Đảng, Nhà nước; là chất keo kết dính giữa Nhân dân với Đảng, làm thất bại mọi âm mưu hoạt động của các thế lực thù địch.

Làm tốt công tác tuyên truyền đối ngoại để cộng đồng quốc tế có đầy đủ thông tin về kết quả, thành tựu nhân quyền trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam; đồng thời, thực hiện tốt hoạt động đối thoại tôn giáo, hướng dẫn các chức sắc, tín đồ hoạt động tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật./.

TBQL 17

Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, đẩy lui nạn 'công quyền gia trưởng'

Tình trạng ưu tiên quan hệ gia đình sẽ khiến cho chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung bị suy giảm, cùng với đó là nguy cơ tha hóa của mỗi cơ quan, đơn vị.

Một điểm mới, được nhấn mạnh nổi bật trong Quy định 114/2023 của Bộ Chính trị về "Kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ” là sự nghiêm khắc hơn với các biểu hiện lạm quyền, quyết định tùy tiện dựa trên yếu tố quan hệ gia đình.

Theo định nghĩa của Quy định 114 thì vợ/chồng; bố/mẹ; người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc bố/mẹ của người trực tiếp nuôi dưỡng vợ/chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; anh/chị/em ruột của bản thân hoặc vợ/chồng được xác định là những người có quan hệ gia đình.

Định nghĩa nêu trên cho thấy sự mở rộng hơn về phạm vi xác định “người thân” so với Quy định 205/2019, vốn chỉ xác định những người có quan hệ gia đình bao gồm vợ/chồng, bố/mẹ của vợ/chồng, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột.

Những người có quan hệ gia đình, theo Quy định 114, không chỉ giới hạn bởi các quan hệ trực tiếp với người có chức vụ, mà còn mở rộng ra cả những người có quan hệ thân gần với vợ/chồng của người có chức vụ.

Không chỉ cảnh báo những người có chức vụ không được để người thân gây ảnh hưởng đến công tác cán bộ, không bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời tham gia ban lãnh đạo đơn vị, một điểm mới nữa là Quy định 114 còn đặt ra nguyên tắc không để người thân đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo, quản lý trong 13 lĩnh vực cụ thể, bao gồm: Nội vụ, thanh tra, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, công thương, kế hoạch đầu tư, tài nguyên môi trường, quân đội, công an, tòa án và viện kiểm sát ở Trung ương hoặc cùng cấp ở một địa phương.

Hiện tượng công tác cán bộ ở nước ta bị chi phối bởi các yếu tố “nhất thân, nhì quen”, đặc biệt là yếu tố quan hệ gia đình đã được Đảng nhận thức từ lâu, cảnh báo cũng như nghiêm cấm thông qua hàng loạt các quy định, gần đây đã được sửa đổi và bổ sung, điển hình như Quy định số 08/2018 về nêu gương; Quy định số 205/2019 về chống chạy chức, chạy quyền; Quy định số 37/2021 về những điều đảng viên không được làm…

Có thể thấy, với việc chi tiết hóa, nới rộng phạm vi đối tượng và các mối quan hệ bị điều chỉnh, Quy định 114 là một bước tiến trong nỗ lực đẩy lui vấn nạn công tác cán bộ bị chi phối bởi các quan hệ thân hữu dựa trên yếu tố gia đình, dòng họ tại các cơ quan.

Công quyền gia trưởng

Tình trạng công sở bị “thân hữu hóa” dựa trên các quan hệ cá nhân, gia đình, dòng họ là hiện tượng có thể xuất hiện ở mọi quốc gia, kể cả các nước phương Tây và Mỹ trong giai đoạn đầu chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội công nghiệp.

Tại các nước thuộc khu vực văn hóa Á Đông, với truyền thống coi trọng thiết chế gia đình, quan niệm phổ biến từ xa xưa vẫn coi quốc gia cũng như một gia đình mở rộng, thì hiện tượng công sở bị chi phối đến mức méo mó bởi các quan hệ gia đình càng dễ xảy ra hơn và khó xóa bỏ hơn khi mà nền kinh tế - xã hội và bộ máy công quyền vẫn đang trong tiến trình hiện đại hóa theo hướng duy lý.

Từ đầu thế kỷ 20, hiện tượng cán bộ công quyền không phân biệt rạch ròi giữa "công" và "tư", giữa công sở và gia đình, giữa quan hệ công việc và quan hệ cá nhân, giữa lợi ích riêng tư của cá nhân và lợi ích công mà cơ quan Nhà nước phải phục vụ, đã được nhà xã hội học người Đức, Max Weber, đặt tên là “nền hành chính gia trưởng” (patrimonial bureaucracy).

Những nguy cơ dễ thấy nhất của nền hành chính gia trưởng là tạo cơ hội cho sự chuyên quyền, độc đoán của những người có chức vụ; tiếp đó là khả năng những người có thẩm quyền lợi dụng vị trí công việc để mưu lợi ích cá nhân.

Hệ lụy nghiêm trọng nhất từ các nguy cơ nêu trên là người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thể dễ dàng theo đuổi việc tối đa hóa lợi ích cá nhân, khiến cho tình trạng tiêu cực, tham nhũng có thể diễn ra nghiêm trọng mà rất khó ngăn chặn.

Là một quốc gia Á Đông đang phát triển, tình trạng công sở bị chi phối bởi các quan niệm và lợi ích cá nhân vẫn diễn ra khá phổ biến ở nước ta cho đến hiện nay. Khi đi ứng tuyển việc làm thì người lao động thường huy động mọi mối quan hệ quen biết, gần gũi để có thể nhờ vả. Khi vào cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức vẫn bị ảnh hưởng bởi các quan hệ gia đình, thể hiện qua lối xưng hô “bác/cô/chú/cháu”.

Không ít các vị thủ trưởng khi mới được đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý sẽ có thể thoải mái tuyên bố mục tiêu xây dựng cơ quan, đơn vị trở thành một gia đình thứ hai, nơi mà mọi người có thể sống và làm việc đầy tình cảm, thân mật như những người ruột thịt trong một gia đình.

Chính trong bối cảnh đó, tình trạng công tác cán bộ bị chi phối bởi các quan hệ gia đình có điều kiện phát tác, dẫn đến hiện tượng “con ông, cháu cha”. Bố/mẹ làm lãnh đạo thì tranh thủ quy hoạch, bổ nhiệm con, cháu mình; hoặc tôi giúp đỡ con/cháu của anh/chị thì anh/chị lại giúp đỡ con, cháu tôi.

Khi đó, công sở bị biến thành không gian gia đình, nơi mà các quan hệ thân hữu trở thành điều kiện quan trọng nhất cho các quyết định về công tác cán bộ, xếp trên các yêu cầu về phẩm chất, năng lực, hay ý thức và thái độ làm việc.

Theo thống kê của các cơ quan chức năng, trong thời gian thực hiện Quy định 205, đã có 50 trường hợp cán bộ có quan hệ gia đình được bố trí công việc khác, 5 trường hợp bị đình chỉ công tác và chức vụ, và 190 trường hợp phải tạm dừng có thời hạn việc quy hoạch, điều động, bổ nhiệm.

Một số trường hợp “bổ nhiệm thần tốc” được báo chí phản ánh, gây bất bình trong dư luận.

Đẩy lui vấn nạn

Không khó để chỉ ra những hậu quả nghiêm trọng từ tình trạng công sở bị biến thành không gian gia đình, quan hệ công việc, nhất là công tác cán bộ bị chi phối bởi quan hệ thân, quen. Đáng lo ngại nhất, nếu không kiên quyết ngăn chặn, là yếu tố cùng dòng máu (gia đình, dòng họ) sẽ có thể lấn át các yếu tố về phẩm chất, năng lực, ý thức và thái độ làm việc.

Bên cạnh những bức xúc, bất bình có thể dẫn đến mất đoàn kết nội bộ đơn vị, về lâu dài, tình trạng ưu tiên quan hệ gia đình sẽ khiến cho chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung bị suy giảm, cùng với đó là nguy cơ tha hóa của mỗi cơ quan, đơn vị.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần ý thức rằng, loại bỏ ảnh hưởng của các quan hệ gia đình trong các cơ quan Nhà nước ở nước ta không phải là việc dễ dàng.

Thứ nhất, xã hội Việt Nam vẫn đang trong tiến trình hiện đại hóa cho nên các tư duy truyền thống, tâm lý “nhất thân, nhì quen” vẫn có ảnh hưởng rất bền vững trong nhận thức và hành xử của mỗi cá nhân.

Thứ hai, với khả năng biến tướng đa dạng, các quan hệ thân quen sẽ có khả năng thích ứng linh hoạt với các quy định của Đảng, quy định hành chính, kể cả quy định pháp lý.

Thứ ba, đặc trưng quyền lực thống nhất của cả cấu trúc quản trị quốc gia cho phép người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị một phạm vi quyền lực rất lớn, cả về chính trị và hành chính, nếu họ vẫn muốn ưu tiên các quan hệ gia đình trong công tác cán bộ.

Chính ba nguyên nhân then chốt nêu trên khiến cho việc thực hiện Quy định 114 phụ thuộc rất lớn vào ý thức và trách nhiệm của ban lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu.

Nói cách khác, vấn nạn “nhất thân, nhì quen”, ưu tiên con/cháu chỉ có thể bị đẩy lui nếu mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý đều đề cao sự duy lý, đặt lợi ích của cơ quan, đơn vị lên trên tình cảm và lợi ích của bản thân để ban hành các quyết định về công tác cán bộ dựa trên phẩm chất và năng lực thực sự của mỗi cá nhân, thể hiện ra thành kết quả công việc cụ thể.

CĂN NGUYÊN CỦA “BỆNH SỢ TRÁCH NHIỆM”

 


Có nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan làm cho một bộ phận cán bộ sợ trách nhiệm. Nguyên nhân khách quan chủ yếu đến từ những tác động của mặt trái cơ chế thị trường, khi mà ở đó, của cải, vật chất, tiền bạc được đề cao, là lợi ích tối thượng của các chủ thể kinh tế; lối sống thực dụng, vị kỉ, thờ ơ, vô cảm có điều kiện tồn tại và lây lan. Cán bộ sống và làm việc trong môi trường đó khó có thể tránh khỏi những tác động tiêu cực về mặt tâm lý, tư tưởng, lối sống, và kéo theo là sự tính toán lợi ích cá nhân trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan vẫn là chính, biểu hiện trên hai góc độ: cá nhân và tổ chức.

Đối với cá nhân, sợ trách nhiệm chủ yếu là do cán bộ thiếu bản lĩnh, hoặc thiếu tu dưỡng phẩm chất đạo đức, hoặc thiếu năng lực, hoặc sa vào chủ nghĩa cá nhân.

Vì thiếu bản lĩnh mà cán bộ thiếu dũng khí đấu tranh, không dám nói ra chính kiến của mình, nhất là trong sinh hoạt lãnh đạo, tự phê bình và phê bình, vì sợ nói ra lỡ có “động chạm” sẽ bị đồng nghiệp, đồng chí của mình không ưa, không ủng hộ, thế nên chọn cách “dĩ hòa vi quý”, “gió chiều nào theo chiều ấy”. Cán bộ thiếu bản lĩnh thì không dám làm, vì sợ làm sai sẽ ảnh hưởng đến chức vụ công tác của mình, thế nên chọn cách làm máy móc những gì cấp trên chỉ đạo, không cần đột phá, đổi mới, sáng tạo. Và đương nhiên, vì thiếu bản lĩnh mà cán bộ không dám chịu trách nhiệm, không dám đương đầu với khó khăn, thử thách. 

Vì thiếu tu dưỡng phẩm chất đạo đức mà cán bộ dễ nảy sinh thái độ thờ ơ, vô cảm trước những vấn đề khó khăn, bức xúc của tập thể, của xã hội, của nhân dân. Từ đó, dẫn đến tình trạng phó thác, ỷ lại cho tổ chức, cho cấp trên, thiếu đôn đốc, kiểm tra, không sâu sát cơ sở, xa rời quần chúng. Vì thiếu tu dưỡng phẩm chất đạo đức mà cán bộ thiếu đi liêm sỉ, không có lòng tự trọng khi đùn đẩy trách nhiệm, né tránh trách nhiệm, không thấy hổ thẹn khi bản thân trách nhiệm thấp, không hoàn thành hoặc hoàn thành nhiệm vụ ở mức thấp.

Khi cán bộ hội tụ đầy đủ bản lĩnh, phẩm chất đạo đức nhưng lại thiếu năng lực, hay nói cách khác năng lực không đáp ứng với yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao, thì cũng dễ dẫn đến sợ trách nhiệm. Bởi, thiếu năng lực nên trước mỗi công việc, nhất là việc khó, việc mới, cán bộ không biết quyết định thế nào cho đúng, triển khai thế nào cho hiệu quả, làm gì cũng sợ sai, sợ bị phê bình, chất vấn, thế nên đùn đẩy trách nhiệm cho người khác, nơi khác trở thành giải pháp an toàn. Có thể nói, cán bộ thiếu năng lực so với yêu cầu đòi hỏi của cương vị công tác sẽ dẫn đến thiếu quyết đoán, mặc dù có đầy đủ bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm. Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thời gian qua, nhiều cán bộ đã bị xử lý kỷ luật6, bị kết án do “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 360 Bộ luật hình sự; có bị cáo khai trước tòa do không đủ năng lực quản lý nên để xảy ra hậu quả nghiêm trọng mà bản thân không lường trước được? Tình hình ấy, xét ở chừng mực nào đó, nó làm cho không ít cán bộ thiếu năng lực công tác trở nên sợ trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm.

Một nguyên nhân chủ yếu nữa làm cho cán bộ sợ trách nhiệm chính là chủ nghĩa cá nhân. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ rõ: một bộ phận cán bộ, đảng viên “sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”7. Những cán bộ mang trong mình chủ nghĩa cá nhân thường biểu hiện: trước mỗi quyết định, mỗi việc làm, họ luôn tính toán được gì, mất gì cho bản thân; việc dễ, thuận lợi thì xung phong đi đầu, gặp khó khăn thì né tránh; khi thành công thì tranh phần, lúc thất bại thì đổ lỗi; được lợi cho bản thân thì hăng hái làm, không có lợi cho bản thân thì thoái thác, đùn đẩy. Họ thường so bì thiệt hơn: làm đúng được lợi cho tập thể, làm sai cá nhân mình chịu trách nhiệm chính. Và “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm không sai” tưởng chừng chỉ là cách nói trào phúng, nhưng lại trở thành phương châm sống và làm việc của không ít cán bộ, nhất là những cán bộ chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân, chỉ chăm chăm giữ cho chắc “cái ghế” của mình.

Đối với tổ chức, để cán bộ sợ trách nhiệm là do tổ chức làm chưa tốt công tác cán bộ và chưa có cơ chế, chính sách hữu hiệu để phát huy tính năng động, sáng tạo của cán bộ, cũng như trong bảo vệ, kiểm tra, giám sát, phê bình và xử lý cán bộ sai phạm.

“Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”8; đó là quan điểm đúng đắn, nhất quán của Đảng ta. Công tác cán bộ có nhiều khâu, như: đánh giá cán bộ, quy hoạch cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bố trí, sử dụng cán bộ, điều động, luân chuyển cán bộ, phân cấp và quản lý cán bộ, kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ. Làm tốt các khâu, các bước trong công tác cán bộ sẽ làm cho đội ngũ cán bộ của Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Tuy nhiên, trên thực tế, công tác cán bộ ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu của Đảng và mong muốn của nhân dân. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn còn không ít trường hợp chưa phản ánh đúng thực chất. Việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử có nơi chưa bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, cá biệt có nơi bố trí người nhà, người thân chưa đủ uy tín”.

Những hạn chế, tiêu cực trong công tác cán bộ làm cho việc bố trí cán bộ không tương xứng với cương vị công tác về cả phẩm chất và năng lực, trách nhiệm và uy tín, “tâm” và “tầm”. Công việc đảm nhiệm vượt quá khả năng thực tế của cán bộ sẽ làm cho cán bộ sợ chính công việc được giao đảm nhiệm. Trường hợp cán bộ do “chạy chức”, “chạy quyền” mà có được chức vụ công tác, thì rõ ràng công tác cán bộ ở đó đã phát sinh tiêu cực và bản thân cán bộ ấy đã sa vào chủ nghĩa cá nhân. Suy cho cùng, sợ trách nhiệm cũng theo đó mà sinh ra.

Cùng với đó, tình trạng tổ chức không có cơ chế, chính sách hoặc cơ chế, chính sách chưa đủ mạnh để khuyến khích, bảo vệ cán bộ có tinh thần “bảy dám: dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lới ích chung” và kiểm tra, giám sát, phê bình, xử lý cán bộ thiếu trách nhiệm cũng là một trong những nguyên nhân làm cho cán bộ sợ trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm. Làm việc trong một tổ chức, cán bộ luôn mong muốn kết quả, thành tích làm việc của mình được tổ chức ghi nhận, đánh giá đúng. Khi cán bộ luôn nỗ lực công tác, năng động, sáng tạo, hành động vì lợi ích chung, nhưng không được cấp trên, tổ chức ghi nhận, bảo vệ những cống hiến của họ, thì tất yếu sẽ làm cho sự nỗ lực ấy bị bào mòn. Và lẽ đương nhiên dẫn đến là chưa tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc. Đây vừa là hạn chế trong công tác cán bộ, vừa là một nguyên nhân làm cho cán bộ giảm sút ý chí và tinh thần trách nhiệm.

Mặt khác, tổ chức chưa có các cơ chế, chính sách đủ mạnh trong kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực; chưa phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm trong giải quyết công việc; chưa có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm; việc thực hiện miễn nhiệm, từ chức chưa được thực hiện quyết liệt. Việc đấu tranh tự phê bình và phê bình đối với biểu hiện sợ trách nhiệm trong cán bộ chưa được thực hiện thường xuyên trong các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, v.v. Đây cũng là một trong những căn nguyên góp phần không nhỏ làm cho những cán bộ sợ trách nhiệm, thiếu trách nhiệm vẫn tiếp tục yên vị trên “ghế” của mình; làm cho tình trạng né tránh trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm vẫn tiếp tục có cơ hội tồn tại.

Những vấn đề nêu trên cho chúng ta thấy rõ sự nguy hại khôn lường cùng những nguyên nhân cơ bản của “căn bệnh” nguy hiểm này để trên cơ sở đó, tìm ra “phương thuốc” chữa trị kịp thời, hiệu quả ngay từ gốc, rễ, nhằm không ngừng xây dựng Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong thời kỳ mới./.

TBQL 17

NHÌN NHẬN XUNG ĐỘT GIỮA NGA – UKRAINE VÀ QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM

 


Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm nhất quán đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine. Ngày 01/3/2022, phát biểu tại phiên họp khẩn cấp lần thứ XI của Đại hội đồng Liên hợp quốc thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”. Chính vì thế, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam không muốn đất nước phải chịu cảnh chiến tranh và cũng không bao giờ muốn chiến tranh xảy ra với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Việt Nam liên tục phát đi “thông điệp” thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với cuộc xung đột tại Ukraine. Đồng thời, tích cực kêu gọi các bên liên quan hết sức kiềm chế, tránh những động thái gây bất ổn cho tình hình chính trị thế giới, ảnh hưởng xấu đến hòa bình, ổn định toàn cầu; đe dọa nghiêm trọng đến sinh mệnh của binh lính và người dân vô tội ở các nơi xảy ra xung đột. Như vậy, quan điểm của Việt Nam là rất rõ ràng, thẳng thắn, mong muốn hai bên hướng về hòa bình và cuộc sống an toàn của người dân để nối lại đàm phán, chấm dứt leo thang căng thẳng.

Việt Nam nêu rõ tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, bao gồm các nguyên tắc về tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Đây là nguyên tắc bất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo, điều hành, tổ chức và quản lý công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam luôn kiên định quan điểm “Bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Do đó, đối với vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine vừa qua, Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung lập để xem xét, nhìn nhận, đánh giá, phát ngôn và hành động. Ngày 03/3/2022, tại họp báo thường kỳ, trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định: “Chúng tôi cho rằng, ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đàm phán đối thoại trên tất cả các kênh để đạt được các giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”. Điều đó minh chứng rõ rằng: Việt Nam không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Những luận điệu cho rằng Việt Nam đứng bên này để chống bên kia, “cổ súy chiến tranh” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt.

Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại trên tinh thần Nhân dân Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế. Trên con đường hội nhập và phát triển, với tất cả các nước, trong đó có cả Nga và Ukraine, Việt Nam vẫn luôn coi trọng, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại một cách bình đẳng, trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển, phấn đầu vì một thế giới hòa bình, ổn định. Việt Nam là một trong những quốc gia đóng góp nhiều sáng kiến hòa bình cho khu vực cũng như thế giới, luôn tích cực tham gia đấu tranh cho hòa bình nhân loại. Trong ngày thứ hai của phiên họp đặc biệt do Đại hội đồng Liên Hiệp quốc tổ chức về tình hình Ukraine, đại diện Việt Nam đã tích cực kêu gọi và đề nghị cộng đồng quốc tế thúc đẩy viện trợ nhân đạo cho dân thường, đảm bảo an ninh an toàn của người dân cũng như các cơ sở hạ tầng thiết yếu theo luật nhân đạo quốc tế. Việt Nam luôn kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế. Những phát ngôn ấy đã được cộng đồng quốc tế đón nhận, ủng hộ và hoan nghênh. Thực tế đó, đã minh chứng cho vai trò và sự tham gia tích cực, đúng đắn của Việt Nam trong giải quyết xung đột giữa Nga và Ukraine cũng như gìn giữ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Đặc biệt, ngày 13/5/2022 vừa qua, phát biểu tại Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Hoa Kỳ, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ: trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả cùng chiến thắng. Thông điệp này của Thủ tướng Phạm Minh Chính một lần nữa khẳng định rằng: với tinh thần hòa bình, hữu nghị, trọng lẽ phải và chính nghĩa trong chính sách ngoại giao của Việt Nam nói chung, đặc biệt là đối với vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine thời gian qua nói riêng, không chỉ thể hiện sự tiến bộ, cách mạng của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, mà tinh thần ấy đã trở thành một trong những nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến, đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Là một đất nước đã phải chịu quá nhiều khổ đau, mất mát do chiến tranh, dân tộc Việt Nam luôn yêu chuộng hòa bình, phản đối chiến tranh, bạo lực. Như một lẽ tự nhiên, Việt Nam được quốc tế coi là biểu tượng của đất nước vì hòa bình, một đối tác vì hòa bình bền vững. Việt Nam không chỉ gửi đi thông điệp đó mà còn có rất nhiều hành động, nhiều đóng góp cụ thể, thiết thực cho việc ngăn chặn xung đột, ngăn chặn chiến tranh, vì hòa bình bền vững trên thế giới. Đó là sự thực không thể bác bỏ.

Hiện nay quan hệ ngoại giao của Nhà nước Việt Nam đã “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Quan hệ đối ngoại quốc phòng của Việt Nam ngày càng rộng mở; hiện có quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia thuộc cả 05 châu lục, đặc biệt Việt Nam có quan hệ quốc phòng với tất cả 05 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.  Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam luôn nhất quán và kiên trì thực hiện những quan điểm về đường lối đối ngoại của mình, bảo đảm vừa tuân thủ các nguyên tắc vừa khéo léo, linh hoạt, đảm bảo lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc. Nhờ đó, đã góp phần khẳng định vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tế trên là minh chứng sống động, chân thực đập tan những luận điệu xuyên tạc, suy diễn của các thế lực thù địch lợi dụng cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine để chống phá cách mạng Việt Nam./.

TBQL 17

 

54 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2023): Soi sáng con đường đi tới tương lai của dân tộc

Chỉ với hơn 1.000 từ vô cùng ngắn gọn, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ý chí quyết tâm sắt đá, niềm tin mãnh liệt và sức mạnh vĩ đại của dân tộc Việt Nam, sức mạnh của chính nghĩa và chân lý “không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

Suốt đời lo cho dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu đã đi xa cách đây 54 năm nhưng những tư tưởng quý báu của Người đã trở thành di sản, soi sáng cho cách mạng Việt Nam. Di chúc cho thấy tinh thần thấm đẫm nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng và phát triển con người. Một Hồ Chí Minh đầy bao dung nhân ái, suốt đời dành tình thương yêu trọn vẹn đối với mọi tầng lớp nhân dân và toàn thể nhân loại như nhà thơ Tố Hữu viết: “Bác ơi tim Bác mênh mông thế/ Ôm cả non sông mọi kiếp người”.

Những dòng đầu tiên trong nội dung Di chúc, Bác viết “Trước hết nói về Đảng”. Trọn đời Người vì nước, vì dân, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân và cho đến khi sắp đi xa mãi mãi, Người vẫn lo cho đất nước, cho nhân dân, cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Và quả thực, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác dưới sự dẫn dắt của Đảng.

Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Niềm tin với nhân dân ngày càng tăng lên

Lời căn dặn của Người cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

PGS.TS Đào Duy Quát - nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Văn hoá Tư tưởng Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) - phân tích: Trong bản Di chúc thiêng liêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò phải xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng ta thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Thực hiện Di chúc, kể từ năm 1969 đến nay, Đảng ta thường xuyên có các cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.

“Khi ta đọc lại Di chúc càng thấy được những điều căn dặn của Bác Hồ rất căn bản. Cái gốc nhất vẫn là đạo đức. Đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Suy nghĩ về cuộc đấu tranh chống lại những suy thoái trong Đảng hiện nay, chúng ta càng cần phải ngẫm lại Di chúc của Bác” - PGS.TS Đào Duy Quát phân tích.

TS Lê Trung Kiên - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - cho rằng, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trước hết phải bắt đầu từ những đảng viên.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, nỗ lực phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân; phòng và chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và các biểu hiện tiêu cực khác trên tinh thần tự soi, tự sửa và tu dưỡng suốt đời.

Đặc biệt, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, thống nhất giữa nói và làm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu trên mọi lĩnh vực, nhất là trong đấu tranh phòng và chống tham nhũng, lợi ích nhóm…

Cùng với đó, phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, trong giám sát cán bộ, đảng viên nói riêng, để “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát, dân thụ hưởng” không chỉ là nằm trong nghị quyết, trên khẩu hiệu mà là hiện thực sinh động trong thực tiễn.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC, BÓP MÉO LỊCH SỬ ĐẢNG

 


Lịch sử càng lùi xa, các chứng nhân lịch sử dần không còn; với ngày càng nhiều những sự kiện quan trọng xảy ra trong thực tiễn, ký ức, nhận thức, tư tưởng con người có thể bị phai mờ về một số nội dung, sự kiện lịch sử. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động thường ra sức cắt xén, thêm bớt, đánh tráo khái niệm, xét lại lịch sử, “đổi trắng thay đen”, bôi nhọ lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trong bối cảnh công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, cùng với những thuận lợi cơ bản, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, đất nước ta cũng phải đối diện với những khó khăn và trở lực không nhỏ. Các thế lực thù địch trong nước và ngoài nước không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” hòng gây bạo loạn, lật đổ, chống phá cách mạng Việt Nam. Một trong những thủ đoạn thâm độc, tinh vi của chúng là tấn công vào nền tảng lịch sử của Đảng, hòng xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam.

Thông qua các bài viết, nhân danh cái gọi là các “công trình khoa học”, các diễn đàn, hội thảo,... viện lý do nghiên cứu làm rõ lịch sử, các thế lực thù địch, phản động ra sức tấn công vào lịch sử Đảng. Chúng xoáy vào một số sự kiện lịch sử, một số thời đoạn của lịch sử, với những đánh giá sai lệch, hoặc thổi phồng sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, bịa đặt, bôi nhọ các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử,... hòng phủ nhận những thành quả cách mạng của Đảng ta, nhân dân ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Các thế lực thù địch, phản động ra rả mấy luận điệu mang tính chủ quan, khiên cưỡng, như Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên nền tảng tư tưởng “du nhập”, “vay mượn” từ bên ngoài; Việt Nam đã “độc lập từ tháng 3-1945”, những người cộng sản Việt Nam và Việt Minh “cướp công” trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; thổi phồng những sai lầm của Đảng trong cải cách ruộng đất; đánh giá sai lệch về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968; phê phán Việt Nam đưa quân sang “xâm lược Cam-pu-chia” năm 1979...

Bám vào sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch, phản động rêu rao rằng: chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sai lầm từ trong bản chất chứ không phải do nhận thức và vận dụng sai; chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là sản phẩm của thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”...

Bên cạnh đó, cũng xuất hiện một số cách nhìn, nghiên cứu sai trái, thiển cận, cả những dấu hiệu của căn bệnh lười học tập, nghiên cứu lý luận, điển hình như biện luận rằng dân tộc Việt Nam không cần thiết tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giành nền độc lập trọn vẹn, tiến tới thống nhất đất nước, mà Việt Nam vẫn có thể thực hiện được sự thống nhất đất nước theo mô hình của Đức ở châu Âu...; có hiện tượng đáng ngại là xuất hiện những ý kiến “đánh giá lại lịch sử”; ngại viết, ngại nói về lịch sử Đảng, cho rằng viết về Đảng là “không khách quan”, “không khoa học”; đòi xem xét, đánh giá lại những vấn đề lịch sử, thậm chí còn hàm hồ cho rằng những nhân vật phản diện cũng là những “người yêu nước”... Những luận điệu xuyên tạc, những nhận định lệch lạc, sai lầm, ấu trĩ về lịch sử Đảng, lịch sử đấu tranh cách mạng, lịch sử dân tộc diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại, kéo dài với nhiều hình thức, nhiều biểu hiện, vừa ráo riết, vừa âm thầm; đáng quan ngại nhất là được che đậy dưới chiêu bài “khách quan”, “khoa học”.

Hiện nay, tận dụng lợi thế của các phương tiện truyền thông xã hội có hiệu ứng rất lớn, rất nhanh; sự kiểm duyệt thông tin khó khăn; có thể thực hiện từ xa, ít bị định chế bởi các biên giới cứng, các thế lực phản động, thù địch, phần tử định kiến triệt để lợi dụng kênh thông tin này để phát tán, tuyên truyền sai sự thật nhiều vấn đề lịch sử hòng gây hoang mang, dao động, hoài nghi, ngả nghiêng trong nhận thức, tư tưởng; kích động sự hận thù giữa nhóm người này với nhóm người kia, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hơn ai hết, các thế lực thù địch, phản động thừa biết rằng, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen lịch sử Đảng chính là đánh phá trực tiếp vào cơ sở thực tiễn, cơ sở chính trị, vào nền tảng lịch sử của Đảng. Lịch sử thuộc về những gì đã qua, ngày càng ít người biết đến, nên việc bịa đặt, dàn dựng, đưa ra các “thuyết âm mưu”,... dễ dàng hơn rất nhiều so với tấn công vào các vấn đề hiện tại - những vấn đề mà tự kết quả, hiệu quả, các con số thống kê có thể lập tức phản bác những ý đồ, âm mưu đen tối. Do đó, các thế lực thù địch, phản động coi lịch sử là một địa hạt, mặt trận quan trọng để tấn công trực tiếp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài học từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cho thấy, việc nhận thức không đúng về lịch sử, hoài nghi về lịch sử, xem xét lại lịch sử có thể gây ra những hậu quả khôn lường.

Nhận thức sâu sắc những vấn đề đó, trong giai đoạn hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam kịp thời đề ra đường lối, chủ trương và có sự chỉ đạo hành động đúng đắn, quyết liệt, là “kim chỉ nam” cho công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng. Quan điểm của Đảng khẳng định rõ, việc củng cố, tăng cường nhận thức về lịch sử Đảng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân luôn là đòi hỏi thường xuyên, cấp bách, tất yếu trong công tác tư tưởng của Đảng; đồng thời, có vị trí rất quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 28-8-2002 của Ban Bí thư, “Về tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, khẳng định: Nghiên cứu sâu sắc lịch sử Đảng là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm làm rõ các chặng đường lịch sử và hoạt động đấu tranh của Đảng, tổng kết thực tiễn lịch sử dân tộc. Nghiên cứu lịch sử Đảng không chỉ nêu bật những thắng lợi, những thành tựu của cách mạng, mà còn phải chỉ ra, không tránh né, cả những sai lầm, khuyết điểm, làm sáng tỏ những bài học, những vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam, giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng, bồi dưỡng tình cảm yêu nước, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, các cấp ủy từ Trung ương đến địa phương và toàn thể đảng viên nâng cao nhận thức, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng. Nghiên cứu, tổng kết lịch sử Đảng làm cho mọi cán bộ, đảng viên và toàn dân hiểu về Đảng, là giáo dục về Đảng; là tổng kết thực tiễn lịch sử, làm rõ lý luận về con đường cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm rõ bài học và lý luận về xây dựng Đảng là góp phần quan trọng vào công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng, lịch sử các đảng bộ địa phương và một số ngành và đoàn thể ở Trung ương do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ban thường vụ các cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt.

Trước tình hình mới, nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và bối cảnh cuộc đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử ngày càng quyết liệt, công tác nghiên cứu, tuyên truyền lịch sử Đảng đứng trước những yêu cầu, thử thách mới. Ngày 18-1-2018, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW, “Về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng” với những yêu cầu mạnh mẽ, đặc biệt nhấn mạnh phải đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức, trước hết là của người đứng đầu, về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng; chủ động đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử Đảng./.

TBQL 17

Tái diễn luận điệu xuyên tạc trong dịp Quốc khánh 2/9

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2/9 đã đi vào lịch sử dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam. Song hằng năm, vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, đi ngược lại niềm tự hào của toàn dân tộc, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội lại tăng cường hoạt động chống phá.

Các đối tượng sử dụng mạng xã hội để đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh, bình luận với những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về bản chất cách mạng, về giá trị và ý nghĩa thời đại của sự kiện lịch sử này, tạo nên góc nhìn phiến diện, lệch lạc.

Nhiều bài viết nêu quan điểm sai lệch về thành quả cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; bác bỏ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xem nhẹ giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Quốc khánh 2/9.

Trong dịp Quốc khánh 2/9 năm nay, trên một số diễn đàn, có những người tự cho mình danh nghĩa “nhà nghiên cứu” hay “phân tích lịch sử”, đưa ra những nhận định, đánh giá trái với sự thật, họ còn lồng ghép các dữ liệu lịch sử và so sánh khiên cưỡng với một số sự kiện khác để tạo ra cách nhìn sai trái.

Có trường hợp vin cớ việc chúng ta xử lý nhiều vụ án tham nhũng gần đây để đánh đồng vấn đề tham nhũng là “lỗi hệ thống”, từ đó kích động rằng, nhân dân hy sinh làm cách mạng để cho quan chức nắm quyền, tham nhũng, vơ vét của cải! Những phần tử xấu được dịp hùa vào miệt thị, cho rằng đất nước đã giành độc lập 78 năm nhưng đến nay nhân dân “chưa được tự do”, quyền và lợi ích cơ bản của người dân “bị chà đạp”, xuyên tạc “cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột vẫn tiếp diễn”!

Các luận điệu bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945, Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975… là thủ đoạn “đến hẹn lại lên” của các thế lực thù địch, phản động, những kẻ cơ hội chính trị. Họ cố tình ngụy tạo, đưa ra các thông tin sai lệch, quan điểm sai trái hòng phủ bóng đen lên con đường mà đất nước ta, dân tộc ta đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Họ cố tình thổi phồng các tồn tại, tiêu cực trong đời sống xã hội hiện nay, đặc biệt là vấn đề suy thoái, tham nhũng trong bộ phận cán bộ, đảng viên để đổ lỗi cho chế độ, hạ thấp và phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời không ngừng ca ngợi lối sống tư bản, hưởng thụ, ca ngợi kiểu tự do thái quá nhằm tạo ra suy nghĩ lệch lạc rằng, đất nước ta đi theo con đường CNXH là sai lầm.

Thủ đoạn này không mới nhưng việc nhắc đi nhắc lại, nhất là các dịp ngày lễ lịch sử của dân tộc sẽ tạo ra sự nhũng nhiễu thông tin trên mạng xã hội, ảnh hưởng đến quan điểm, suy nghĩ của một bộ phận người thiếu hiểu biết.

Việc các thế lực phản động, cơ hội mang dòng máu Việt Nam nhưng lại cố tình xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp bản chất, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 là hành vi đi ngược lại lợi ích đất nước, phủ nhận khát vọng của dân tộc, vong ơn trước xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu xuyên tạc và những con người đang đi ngược dòng sự thật ấy chỉ có thể gây nhiễu về thông tin chứ không thể ngăn cản bởi dòng chảy lịch sử của dân tộc.

Cách đây 78 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta từ Bắc chí Nam nhất tề đứng lên tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền, chấm dứt kiếp nô lệ, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và đi lên CNXH.

Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945 không chỉ là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc mà còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc; nguồn cổ vũ, động viên, truyền cảm hứng đối với các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tâm khảm mỗi người dân, ngày Quốc khánh 2/9 trở thành bản hùng ca của dân tộc Việt Nam trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta phải liên tiếp đương đầu chống giặc ngoại xâm, tiến hành hàng chục cuộc kháng chiến để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ, hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng để giành lại độc lập dân tộc. Hoàn cảnh lịch sử đó đã hun đúc nên những giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc, đồng thời cho thấy ý nghĩa sống còn của các giá trị văn hóa giữ nước.

Nét đặc sắc của giá trị văn hóa giữ nước chính là xây dựng và phát triển đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, thực hiện “trong ấm, ngoài yên”, đặc biệt là giữ yên lòng dân; ngăn ngừa, đẩy lùi, triệt tiêu mọi nhân tố dẫn đến nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, giữ nước ngay khi đất nước đang thái bình.

Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ bờ cõi đất nước gắn với các tên tuổi lịch sử như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... là những bản anh hùng ca bất diệt. Thế kỷ XX, Đảng, Bác Hồ đã lãnh đạo nhân dân ta viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước.

Đã 78 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Thời gian càng lùi xa càng có thêm sự chiêm nghiệm, có thêm nhiều thông tin, càng thấy được ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đối với đất nước, dân tộc Việt Nam, đồng thời thể hiện ý nghĩa, tầm vóc lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới.

Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới vì độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc theo con đường CNXH. Không chỉ vậy, cuộc cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc ta đã trở thành một biểu tượng, một bài học kinh nghiệm quý giá, một sự khích lệ to lớn cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa.

Chính bởi ý nghĩa lịch sử đó cùng những thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, thế giới ngợi ca nhân dân của một đất nước Việt Nam anh hùng.

Đến hôm nay, sau 37 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, các phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo luôn được các tổ chức chính trị, xã hội và các tầng lớp nhân dân quan tâm, ủng hộ.

Việt Nam được bạn bè thế giới mến phục, coi là biểu tượng của hòa bình, ổn định chính trị, xã hội, sự thân thiện, mến khách, đồng thời là biểu hiện của sự nỗ lực, tinh thần chiến thắng đói nghèo trong thế kỷ XXI. Những thành tựu to lớn đã đạt được từ ngày thành lập nước đến nay chứng tỏ sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam.

Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9, người Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu trong nước hoặc ở xa Tổ quốc cũng không khỏi xúc động bồi hồi, ôn lại khí thế hào hùng, sôi sục, náo nức của những ngày mùa thu cách mạng, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Quốc khánh chính là dịp để bất cứ người dân Việt Nam nào, đồng bào cả nước cũng như kiều bào ở nước ngoài cùng hướng về Tổ quốc thân yêu; cùng tưởng nhớ, tri ân hàng triệu cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã ngã xuống trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; cùng tưởng nhớ và biết ơn công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Là dịp để các thế hệ hôm nay và mai sau cùng nhau nhìn lại chặng đường gian khổ, hào hùng của cha ông để nâng cao lòng tự hào dân tộc, trau dồi tinh thần yêu nước, cống hiến sức mình cho quê hương, đất nước.