Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

Mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình”

       Mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

Từ sự ra đời của học thuyết chính trị “phản kháng phi bạo lực” (phản kháng hòa bình)(3), ngay lập tức, các “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” phương Tây coi đó là “bảo bối thần kỳ”, “công cụ hữu hiệu” để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia trong không gian hậu Xô-viết thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” vào những năm 2004 - 2006; sau đó thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi vào năm 2011 với cái tên mĩ miều “Mùa xuân Ả rập”. Đó không có gì khác là bạo loạn phi vũ trang bắt nguồn từ “diễn biến hòa bình”, là “kỹ năng lật đổ” thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh - một “dị bản” của việc kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Và hiện nay, “dị bản” ấy tiếp tục được “hoàn thiện”, phát triển thành một kịch bản dựng sẵn với “công thức” lật đổ qua các bước: Một là, hình thành các hoạt động “phản kháng mềm” trong nội bộ đối phương do sự cộng hưởng theo các phương tiện truyền thông; kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, “bất tuân dân sự”, đi ngược lại chính sách hiện hành, chống đối chính phủ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất ổn. Hai là, nội công ngoại kích, bên trong thì biểu tình, bạo động; bên ngoài thì tập hợp đồng minh, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... đồng loạt gây sức ép trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền đương thời phải từ chức, giải tán. Ba là, tạo cớ để can thiệp, tiến hành bạo loạn trực tiếp lật đổ chính quyền nhưng núp dưới danh nghĩa “bảo vệ người dân”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ”, “vì công lý”... Bốn là, cài cắm lực lượng đối lập, nhanh chóng tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử; công khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của họ. Điểm mấu chốt trong kịch bản này là họ cố tình “bới móc”, lôi ra điểm yếu trong bộ máy cầm quyền của đối phương; thậm chí không ngần ngại thêm thắt, bịa đặt các khuyết điểm; sẵn sàng gán tất cả những sai trái, tiêu cực trong xã hội; châm ngòi cho làn sóng chống đối trong nước và làm cho bộ máy ấy dường như đã biến chất, “lỗi thời, không phù hợp”, do đó sẽ bị thay thế và đó là “lẽ thường tình” theo đúng quy luật(?!). Cho nên, một bộ máy cầm quyền thân cận do họ dựng lên nhưng lại được “hợp pháp hóa” thông qua một cuộc bầu cử theo luật định vô cùng tinh vi và họ luôn tự hào coi đây là sản phẩm sáng tạo của “công nghệ lật đổ” thông qua biểu tình, đảo chính bằng mô hình “bạo lực đường phố”. Theo đó, có tới “198 hành động phản kháng phi bạo lực”(4), nhưng trong đó bao hàm cả các hành động vô nhân đạo, bị pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như làm tiền giả, in sao tài liệu giả, cướp bóc, ám sát, khủng bố... chứ không hoàn toàn phi bạo lực và không loại trừ sau đó sẽ lan rộng, bùng phát thành một kiểu dạng “chiến tranh lai ghép”(5) mới.

Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng.


Để cán bộ không sa vào chủ nghĩa cá nhân

 Cán bộ, sĩ quan trẻ là lực lượng chủ yếu trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, học tập, lao động, công tác, xây dựng nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, tham gia giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai; là người trực tiếp cùng ăn, ở, sinh hoạt học tập và công tác hàng ngày với bộ đội, chịu trách nhiệm chính trong chỉ huy quản lý tình hình mọi mặt của đơn vị từ con người đến VKTB và cơ sở vật chất. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, đã và đang tác động trực tiếp, khiến cho đội ngũ cán bộ trẻ dễ sa vào “chủ nghĩa cá nhân”, nếu như không được quản lý, giáo dục, rèn luyện chặt chẽ.

 Để phấn đấu hết mình, không sa vào “chủ nghĩa cá nhân”, cấp uỷ, chỉ huy các cơ quan, đơn vị thường xuyên làm tốt công tác giáo dục đạo đức cách mạng, đây là biện pháp tích cực trực tiếp góp phần khắc phục những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ở đội ngũ sĩ quan trẻ. Trong giáo dục, cần tập trung vào nâng cao trình độ nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, yêu cầu xây dựng Quân đội thời kỳ mới. Qua đó xây dựng đội ngũ sĩ quan trẻ trung thành với Tổ quốc có quyết tâm phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, biết đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng lên trên hết. Đồng thời, cùng với giáo dục đạo đức cách mạng, phải tích cực bồi dưỡng tập huấn nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ sĩ quan trẻ, trước hết là năng lực tổ chức huấn luyện bộ đội và công tác tham mưu tác chiến, nhất là nắm vững quan điểm nguyên tắc, phương châm huấn luyện “Cơ bản, thiết thực, vững chắc” đồng bộ và chuyên sâu. 

Cùng với đó, cấp uỷ, chỉ huy các cơ quan, đơn vị phải tích cực, chăm lo xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú để ngăn chặn những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân ở sĩ quan trẻ. Môi trường văn hóa tốt đẹp là cái nôi nuôi dưỡng mọi cán bộ, chiến sĩ không ngừng trưởng thành và phát triển, là điều kiện thuận lợi cho mỗi quân nhân tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Phải kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng đội ngũ sĩ quan trẻ với rèn luyện đội ngũ đảng viên. Duy trì nghiêm chế độ đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên hàng tháng, cả năm gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XII) và Chỉ thị số 05 của Bộ chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị làm cơ sở nhận xét đảng viên và xem xét, đánh giá đội ngũ cán bộ cũng như đề nghị, đề bạt, bổ nhiệm, nâng lương, phong quân hàm. Đồng thời phải làm tốt công tác luân chuyển đội ngũ cán bộ giữa cơ quan và đơn vị, giữa chủ lực và địa phương. Nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ sĩ quan trẻ và tạo sự đồng đều giữa cơ quan và đơn vị góp phần xây dựng đơn vị VMTD.

Để thực hiện được điều đó, cán bộ sĩ quan trẻ phải không ngừng tự tu dưỡng, rèn luyện, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, xác định tốt nhiệm vụ, thường xuyên trau dồi trình độ mọi mặt phấn đấu vươn lên tự hoàn thiện mình; gương mẫu trong lời nói và hành động, có ý thức tổ chức kỷ luật, có lối sống trong sạch lành mạnh, tác phong sâu sát, tỷ mỉ, gần gũi với bộ đội, lắng nghe bộ đội nói, nói cho bộ đội hiểu và làm cho bộ đội noi theo, thực sự là trung tâm đoàn kết tập hợp mọi người trong đơn vị để phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, có như thế mới không ngừng tô thắm, làm sáng thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới./.

Tư duy của cán bộ chiến dịch, chiến lược về lĩnh vực kinh tế

 Tư duy của cán bộ chiến dịch, chiến lược về lĩnh vực kinh tế biểu hiện ở việc nhận thức sâu sắc đường lối đổi mới kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam trên các nội dung rất quan trọng như: Vai trò quyết định của kinh tế đối với quốc phòng, quân sự; vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng kinh tế độc lập tự chủ trong xu thế hội nhập; những vấn đề kinh tế vi mô, kinh tế vĩ mô, kinh tế phát triển và sự tác động của các lĩnh vực này đến quốc phòng, quân sự nước ta trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế và nền kinh tế tri thức; vai trò, vị trí của các đơn vị quân đội làm kinh tế; chủ trương, đường lối của Đảng và phương phương thức, biện pháp thực hiện việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, quân sự v.v…

Chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng - nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên

     Cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm. Đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị là một nhiệm vụ cấp bách, một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Hơn 90 năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, nhiều lần khẳng định trong các nghị quyết. Trong đó nhấn mạnh: “Hiện nay phải đặc biệt coi trọng công tác bảo vệ Đảng, trước hết là bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, giữ gìn sự trong sạch của tổ chức đảng, cảnh giác và tỉnh táo không để cho những phần tử cơ hội về chính trị, phản động chui vào hàng ngũ Đảng”. ...

Nhận diện những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng hiện nay qua 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đối tượng đấu tranh chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng là những cán bộ, đảng viên hiện đang làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, cơ quan đoàn thể hoặc đã nghỉ hưu được luật pháp quy định...

Biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nhiều cấp độ khác nhau, như: Nhóm đối tượng do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận những nguồn tin không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng; nhóm đối tượng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, công thần, sống vụ lợi, ích kỷ; nhóm đối tượng công khai bộc lộ tư tưởng cực đoan, bất mãn, chống đối và đặc biệt nghiêm trọng là nhóm có khuynh hướng chống đối, tập hợp lực lượng, móc nối với các thế lực thù địch bên ngoài chống phá cách mạng Việt Nam, khi đó từ cơ hội về chính trị đến phản bội Đảng, Tổ quốc và nhân dân là rất gần. Biểu hiện chung nhất là phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; tham vọng chức quyền...

Trong tình hình hiện nay phải đặc biệt quan tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tăng cường đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với hệ thống các giải pháp. Trước hết, tập trung vào một số giải pháp như: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị ở nước ta hiện nay. Phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quản lý, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phát huy dân chủ, sức mạnh tổng hợp đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị, nhất là biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với lộ trình, bước đi, hình thức, phương pháp, giải pháp phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu, các bước trong tuyển chọn, bố trí sử dụng, không để những phần tử cơ hội về chính trị chui sâu, leo cao phá hoại Đảng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử có biểu hiện cơ hội về chính trị. Thực hiện tốt công tác chính sách cho các đối tượng đúng quy định của pháp luật, kịp thời tôn vinh, động viên, đãi ngộ thỏa đáng những người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh, đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.


Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”

              Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm... thì đó là “cơ hội vàng” để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm, đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”; ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”.


Tư duy chiến lược của cán bộ chiến dịch, chiến lược trong xây dựng lực lượng vũ trang thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân

 Tư duy chiến lược về chính trị của cán bộ chiến dịch, chiến lược cần tập trung xây dựng lực lượng vũ trang thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức đúng vai trò của sức mạnh quân sự trong các giai đoạn của cách mạng để không quá đề cao hoặc coi nhẹ sức mạnh này. Xây dựng sức mạnh quân sự phải coi trọng nhiều yếu tố; trong đó, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân mà trực tiếp là Quân đội nhân dân vững mạnh có ý nghĩa hết sức quan trọng. Việc xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp của Quân đội, trước hết là nâng cao chất lượng về chính trị, bảo đảm cho lực lượng này thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Xây dựng Quân đội có tổ chức hợp lý, tinh, gọn, cơ động, có sức mạnh chiến đấu cao, có vũ khí, trang bị hiện đại, nhất là một số vũ khí chiến lược; nâng cao khả năng phòng thủ tác chiến tầm cao, tầm xa, khả năng kiểm soát vùng trời, vùng biển, đảo xa bờ, tác chiến ban đêm, sẵn sàng đánh thắng trong các tình huống xung đột và chiến tranh. Cùng với đó, chú trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NĂM NAY KHÔNG THẤY CÚNG TẾ LÊ VĂN DUYỆT LINH ĐÌNH - CẦU THỊ LÀ TỐT!

         Lê Văn Duyệt, vị đại thần triều Nguyễn, người có công lớn (cùng với Nguyễn Văn Thành) giúp Nguyễn Ánh thắng quân Tây Sơn, thành lập vương triều nhà Nguyễn. Hôm nay đúng 191 năm ngày Lê Văn Duyệt về với Hoàng đế Gia Long, người chủ mà một đời Ông ta phụng sự. Hàng năm thấy "Nam Thành" tổ chức cúng tế, quỳ bái như tế sao đối với người được cho là có công với đất nước. Tuy nhiên, năm nay không hề thấy báo, đài đưa hình ảnh các đại quan nhân "Nam Thành" tỏ lòng thành kính trước Lê Văn Duyệt. Cái gì thuộc về lịch sử thì không thể đánh bùn sang ao, sự thật mãi mãi là sự thật và có lẽ các đại quan nhân đã chịu khó tìm hiểu hơn, cầu thị, lắng nghe ý kiến phản đối của nhân dân Việt Nam hơn. 

Lê Văn Duyệt theo Nguyễn Ánh từ những ngày đầu. Nếu như Gia Long được xem là chúa tể “cõng rắn cắn gà nhà/rước voi giày mả tổ” thì Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức…là những trợ thủ đắc lực cho tay cầm đầu ấy. Sau khi Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn, Lê Văn Duyệt là trợ thủ đắc lực đàn áp nhân dân chống lại lao dịch, thuế khoá nặng nề do chính sách của Gia Long mà điển hình chính là vùng đất phía Tây Quảng Ngãi ngày nay. Chính Lê Văn Duyệt đã cầm quân nhà Nguyễn tàn sát những người nông dân khởi nghĩa, chống lại sưu cao, thuế nặng của Gia Long. Ngay từ khi lên ngôi, Gia Long hoàng đế đã ký ban hành các loại thuế đánh vào lâm thổ sản ở vùng này, làm cho "dân Man quanh năm nộp thuế không lúc nào rỗi. Hậu quả là: "Man phải nhặt củ rau và quả ở núi để ăn cho no bụng"...Gia Long hoàng đế đã áp đặt chế độ trấn quan, cho lập đồn binh ở các nguồn, để dễ bề dập tắt các cuộc nổi dậy. Chính Lê Văn Duyệt đã tắm cuộc khởi nghĩa của nông dân người dân tộc thiểu số phía Tây Quảng Ngãi trong biển máu. 

Khi Gia Long qua đời, Lê Văn Duyệt bất phục vua Minh Mạng, đi ngược chính sách triều đình. Minh Mạng lấy nho học làm nền tảng, trong khi đó Lê Văn Duyệt chủ trương thân thiện với người Pháp, Anh, cổ súy cho việc truyền bá đạo Công giáo. Tội to nhất của Lê Văn Duyệt là kích động Người Chăm ly kha khỏi Đại Nam. Sau ngày từ trần của Po Klan Thu vào năm 1828, vua Minh Mệnh tìm cách đưa người trung thành với mình lên làm quốc vương Champa trong khi đó Lê Văn Duyệt quyết định giao quyền quốc vương Champa cho Po Phaok The (Nguyễn Văn Thừa) tức là phó vương dưới triều đại Po Klan Thu (1822-1828) và cũng là con của vua Po Saong Nhung Ceng (1799-1822), một vị chiến hữu của vua Gia Long. 

Sau ngày lên ngôi của Po Phaok The vào năm 1828, vương quốc Champa chấm dứt mối liên hệ với triều đình Huế, chỉ gửi triều cống cho Lê Văn Duyệt. Kể từ đó, nhân dân Champa hoàn toàn đặt dưới quyền che chở của tổng trấn Gia Định Thành, không còn phục tùng vua Minh Mệnh. Nếu Lê Văn Duyệt thành công trong việc chia cắt đất nước thì có lẽ là thế cục "Trịnh Nguyễn phân tranh" lần hai sẽ xẩy ra. Hồng phúc cho đất nước là Lê Văn Duyệt khi đó đã già và sớm ra đi. Kết quả là sau khi Lê Văn Duyệt mất, con nuôi là Lê Văn Khôi tạo phản và bị Minh Mạng tru diệt. Lê Văn Duyệt bị vua Minh Mạng cho đào mồ cuốc mả. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc Minh Mạng tận diệt người Chăm Pa năm 1832. Chính Lê Văn Duyệt chứ không phải ai khác, là kẻ kích động chia rẽ, thù địch dân tộc, dẫn đến các cuộc nội chiến sau này. Khi vua Minh Mạng đánh bại Lê Văn Khôi thì quốc lực theo đó suy giảm. Minh chứng là sau khi vua Minh Mạng qua đời, vua Thiệu Trị nối ngôi đã không đủ lực để duy trì và buộc phải rút quân khỏi Trấn Tây Thành. Nếu cha con Lê Văn Duyệt không tạo phản, ly khai thì bản đồ nước ta không nhỏ hẹp như hôm nay.

Đừng có lý luận kiểu, trước năm 1975, VNCH có nhiều đường, trường mang tên Gia Long, Lê Văn Duyệt. Xin thưa rằng, Gia Long, Lê Văn Duyệt cầu ngoại bang và ngụy Sài Gòn cũng là sản phẩm của người Pháp, Mỹ đẻ ra. Nghĩa là giữa họ có nét tương đồng là đều bán nước, làm tay sai cho ngoại bang, cõng rắn cắn gà nhà. Vậy nên đồng bệnh tương lân, đồng khí tương cầu. Bán nước ca ngợi bán nước là lẽ thường, ngụy tôn vinh Gia Long, Lê Văn Duyệt là tự mình rửa mặt cho mình. Thế nên, Sài Gòn và Gia Định trước năm 1975 có tới hai đại lộ mang tên Lê Văn Duyệt. Đại lộ Lê Văn Duyệt của Đô Thành Sài Gòn hiện nay là đường Cách Mạng Tháng Tám, còn đại lộ Lê Văn Duyệt của tỉnh Gia Định cũ nay là đường Đinh Tiên Hoàng. 

Sau ngày 30 Tháng 4, cả hai con đường mang tên Lê Văn Duyệt đều bị đổi tên vào cùng ngày 14 Tháng Tám, 1975. Không phải những người cộng sản cực đoan, không tôn vinh Lê Văn Duyệt mà chính lòng tự tôn dân tộc, dòng máu chính thống của con Lạc cháu Hồng không cho phép những người cộng sản vinh danh kẻ bán nước cầu vinh. Ngày nay, Lê Văn Duyệt bỗng dưng thành đại anh hùng dân tộc. Đây là sản phẩm của việc xét lại lịch sử mà Phan Huy Lê và cộng sự của ông ta dày công xuyên tạc theo hướng rửa mặt cho giặc. Gia Long, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký... chỉ là những viên đá ném ra để dò đường. Cái đích xa hơn của các thế lực thù địch chính là rửa mặt cho ngụy Sài Gòn, rửa mặt cho những Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu hay chính anh trai của Phan Huy Lê là Phan Huy Quát.  

Lê Văn Duyệt được hoành tráng hoá, thần thánh hóa và hàng năm được tổ chức giỗ linh đình là điều không thể chấp nhận. Không lẽ một người gây tranh cãi giữa công và tội như ông ta lại hơn cả những anh hùng dân tộc, các bậc khai quốc công thần như, Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương, Lê Lợi, Quang Trung, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp...? Lê Văn Duyệt không xứng được nhận lễ nghi tôn kính bậc nhất Việt Nam như thế. Việt Nam có hàng ngàn, hàng vạn người công cao hơn Lê Văn Duyệt. Đừng làm quá lố, kệch cỡm như vậy. Rất may là năm nay đã im ắng. Có lẽ phản ứng của nhân dân đã phát huy tác dụng./.
Yêu nước ST.

Nguy hại của sự dối trá

 


Dối trá là một thói xấu nhưng vẫn có ở nhiều người, trong cả cán bộ, đảng viên, gây ra những hậu quả khó lường. Người dối trá cố tình cung cấp thông tin sai sự thật, dẫn đến nhìn nhận, đánh giá không đúng sự việc, vấn đề, con người và nghiêm trọng hơn là sự dối trá gây bức xúc, mất đoàn kết nội bộ, niềm tin, kìm hãm sự phát triển của cá nhân, tập thể và đất nước... Đấu tranh, ngăn chặn thói dối trá là việc rất cần thiết để phòng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.

Dối trá được hiểu là những cử chỉ, hành vi, lời nói, việc làm trái ngược với sự trung thực của cá nhân, tập thể. Đó là hành vi đưa ra nhiều thông tin thiếu chính xác, sai sự thật, khiến cá nhân, tập thể nhận thông tin đưa ra các quyết định có lợi cho một người hoặc một nhóm người cung cấp thông tin. Dối trá trong xã hội là nguyên nhân căn cốt khiến các chuẩn mực đạo đức xã hội, đạo đức công vụ và cao hơn nữa là đạo đức chính trị và văn hóa chính trị bị ảnh hưởng, tổn thương ở các mức độ khác nhau.

Trong giai đoạn hiện nay, dối trá chính là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng mất niềm tin ở nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Dối trá xuất hiện ở nhiều cá nhân, tập thể, cơ quan, đơn vị, địa phương thông qua những lĩnh vực hoạt động khác nhau. Nhiều cán bộ mua bằng, mua học vị để được đề bạt, bổ nhiệm, lên lương thay vì trau dồi đạo đức, năng lực công tác vốn rất tốn công, nhọc sức và mất thời gian. Dối trá thể hiện trong xin cấp ngân sách lớn hơn nhu cầu thực tế để sau đó làm hợp đồng khống, hợp thức bằng hóa đơn, chứng từ để giải ngân. Hoặc có hiện tượng thanh toán vượt giá thị trường, chi sai mục đích...

Hiện tượng dối trá trong các cơ quan, đơn vị, địa phương đã gây ra nhiều hệ lụy, là trở ngại lớn cho xây dựng Đảng và bộ máy Nhà nước; làm nhân dân hiểu sai lệch bản chất tốt đẹp của Đảng và chế độ; làm băng hoại đạo đức xã hội và các giá trị truyền thống; gây khó khăn trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tác động xấu đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm của nhân dân và là cái cớ để các thế lực thù địch xuyên tạc sự thật, kích động chống phá sự nghiệp cách mạng.

Dối trá cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”, là “bà đỡ” cho nịnh hót, bợ đỡ trong cơ quan, đơn vị, địa phương, có nguy cơ nhấn chìm động cơ phấn đấu của những người trung thực; phá vỡ tổ chức đảng từ bên trong...

Để diệt trừ thói dối trá, nhất là trong hệ thống chính trị và cơ quan công quyền hiện nay cần phải tổ chức, duy trì nghiêm nền nếp sinh hoạt Đảng của các cơ quan, đơn vị, địa phương theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và tự phê bình, phê bình mạnh mẽ, triệt để. Cấp ủy, chi bộ cần xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, coi trọng kiểm tra đột xuất thay vì kiểm tra báo trước và kiểm tra trên giấy, trên báo cáo và "nhúng" qua thực tiễn. Thực tế cho thấy, hiện tượng dối trá trong nội bộ đã làm cho Đảng bị "bịt mắt”. Tổ chức đảng cấp trên không thấy được thực tế đòi hỏi của nhân dân, không thấy được những “chướng tai gai mắt” trong nội bộ cấp dưới nên dễ dẫn đến thỏa hiệp và vô tình bảo vệ “con sâu, con mọt” thay vì bảo vệ cán bộ có tâm, có tầm và có trí, thủ tiêu động lực phấn đấu của các cán bộ, đảng viên chân chính.

Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các biện pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, trong đó đặc biệt chú trọng đến vai trò nêu gương “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, người chủ trì, quản lý cơ quan, đơn vị, địa phương. Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu và tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ có biện pháp quyết liệt trong tổ chức phân phối ngân sách, nhiệm vụ và kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc thu, chi ngân sách hằng năm hoặc ngân sách đầu tư công, ngăn ngừa tham nhũng và thúc đẩy cách lãnh đạo, điều hành và quản lý chuyên nghiệp, văn minh, phù hợp với thực tiễn nước ta./.

13.9

Quán triệt sâu sắc vị trí Quân đội làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc

 Quán triệt sâu sắc vị trí Quân đội làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, là lực lượng có vị trí to lớn trong giữ gìn trật tự trị an tại khu vực đóng quân, làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương trong nhiệm vụ xây dựng các khu vực phòng thủ; là lực lượng chính trong đối ngoại quân sự. Mặt khác, luôn tỉnh táo, nhạy bén trong nhận diện và dũng cảm đấu tranh chống lại kẻ thù bên trong, các phần tử cơ hội, phản động chính trị, tham nhũng...đang làm suy kiệt mọi tiềm lực đất nước, nhất là tiềm lực đạo đức, văn hoá, tiềm lực chính trị tinh thần, tiềm lực quốc phòng, an ninh.

Cán bộ chiến dịch, chiến lược phải quán triệt sâu sắc đường lối, nhiệm vụ cách mạng

  Cán bộ chiến dịch, chiến lược phải quán triệt sâu sắc đường lối, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quốc phòng, quân sự; quán triệt sâu sắc mối quan hệ biện chứng về các vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đó phải là sự biểu hiện tập trung nhất, tinh tuý nhất, điển hình nhất của tư duy lý luận trong tình hình thế giới, khu vực, trong nước hiện nay, phản ánh hiện thực chính trị một cách gián tiếp, tổng hợp, khái quát các quan hệ bản chất, những tính quy luật của các sự kiện, hiện tượng, quá trình chính trị, trong nước, khu vực, thế giới để ngày càng hiểu sâu sắc hơn các sự kiện, hiện tượng, quá trình đó. Đồng thời nhận thức sâu sắc những mâu thuẫn và chiều hướng phát triển của nó trong hiện tại và tương lai để tiếp nhận, chuyển hoá theo đúng quan điểm của Đảng.

Xin đừng mượn gió bẻ măng

Trước yêu cầu phát triển của đất nước, việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã nhằm tinh gọn bộ máy hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp là yêu cầu khách quan. Đây là chủ trương hướng đến mục tiêu đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; kiện toàn tổ chức, tinh giảm hợp lý đầu mối, bỏ cấp trung gian, thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử. Tuy nhiên, lợi dụng vấn đề này, nhiều đối tượng phản động, phần tử cơ hội đã tung ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc, tạo ra nhận thức lệch lạc, hoang mang trong dư luận.

Trái với quan điểm chống phá nêu trên, thực tế, việc sắp xếp tổ chức, bộ máy, đơn vị hành chính trong hệ thống chính trị, trong đó có việc sắp xếp một số đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã nhằm phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn, đặt trong tổng thể nhiều chủ trương, giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hoàn thiện, phát triển Nhà nước pháp quyền XHCN, phục vụ giai đoạn phát triển mới. Sắp xếp tổ chức, bộ máy trong hệ thống chính trị tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là chủ trương lớn. Quá trình thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2019 - 2021 bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII và Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị về sắp xếp đơn vị hành chính. Nghị quyết của Quốc hội chỉ rõ: Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất năm 1975 đến nay, đơn vị hành chính các cấp ở nước ta đã được điều chỉnh, sắp xếp lại phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và đã đạt được một số kết quả tích cực góp phần phát huy nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã để bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ; thực hiện theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn có trọng tâm, phù hợp, chặt chẽ, thận trọng, hiệu quả, chắc chắn, phù hợp với quy hoạch tổng thể, yêu cầu phát triển; bảo đảm ổn định chính trị - xã hội. Thông qua sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã để từng bước đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh giản biên chế, cải cách chế độ tiền lương, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Phát huy hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội cho phát triển kinh tế - xã hội trong từng địa phương và trên phạm vi toàn quốc; nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Việc sắp xếp phải đảm bảo không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và cuộc sống của nhân dân.

Quan điểm chỉ đạo chung là mỗi một đơn vị hành chính cụ thể được sáp nhập phải chú trọng, cân nhắc kỹ các yếu tố đặc thù về lịch sử, truyền thống, văn hóa, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, điều kiện địa lý - tự nhiên, cộng đồng dân cư… như một số quận nội thành Hà Nội. Việc sắp xếp đơn vị hành chính là việc khó, nhạy cảm, phức tạp, liên quan đến nhiều người, nhiều ngành, tác động đến người dân, doanh nghiệp và các chủ thể khác. Trước vấn đề mang tính khó khăn, phức tạp, việc người dân có ý kiến góp ý, xây dựng, đề xuất những giải pháp là hoàn toàn cần thiết, được Đảng, Nhà nước khuyến khích, trân trọng. Tuy nhiên, lợi dụng vào đó để xuyên tạc, đưa ra những quan điểm sai trái, thậm chí xuyên tạc với động cơ, mục đích xấu, tạo nhận thức lệch lạc hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối, cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước cần phải được vạch trần, đấu tranh phản bác./.

13.9

Tư duy chiến lược có tính dự báo cao

 Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, hội nhập quốc tế, tư duy chiến lược là yêu cầu cần thiết đối với người cán bộ lãnh đạo. Tư duy chiến lược giúp cho chủ thể có tầm nhìn xa trông rộng, sớm phát hiện được các biểu hiện của sự thay đổi, của bước ngoặt, kịp thời phát hiện cái mới hợp quy luật. Nó giúp định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn; dự báo được các tình huống có thể xảy ra; trên cơ sở đó chủ động đề ra các phương án dự phòng, bổ sung các kế hoạch ứng phó. Mỗi cán bộ lãnh đạo nói chung, cán bộ chiến dịch, chiến lược nói riêng cần phải có được tư duy chiến lược bởi họ là những người trực tiếp hoặc góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách trong phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và là người tổ chức thực hiện.

Đấu tranh với các thủ đoạn chống phá trên không gian mạng

 Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá. Để ngăn chặn hoạt động chống phá có tổ chức của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, cần thực hiện một số vấn đề mang tính giải pháp sau:

Sử dụng thông tin chính thống đóng vai trò dẫn dắt định hướng dư luận. Các ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí cần phát huy được vai trò trong cung cấp thông tin chính thống kịp thời và chính xác, tránh tạo khoảng trống thông tin để các đối tượng phản động lợi dụng phát tán các thông tin xuyên tạc, để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận với thông tin chính thống trước khi tiếp cận với thông tin phản động. Hệ thống các kênh truyền thông của các cấp từ Trung ương đến địa phương cần được xây dựng đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các kênh truyền thông để tạo ra sức ảnh hưởng lớn với dư luận.

Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài Quân đội có thế mạnh trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và trên báo chí.

Nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đấu tranh. Xây dựng và khai thác có hiệu quả các trọng tâm nghiên cứu công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực, từ đó có kế hoạch để triển khai các nhiệm vụ truyền thông, đấu tranh với thông tin xấu bảo đảm sự bài bản, tính chính xác, hiệu quả.

Nâng cao nhận thức, vai trò cán bộ, đảng viên và quần chúng trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nâng cao hơn nữa nhận thức, vai trò, trách nhiệm, tiền phong, gương mẫu nêu gương trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Phát huy tính hiệu quả, thiết thực việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền tải, nhân rộng những yếu tố tích cực, tấm gương tiêu biểu, người tốt, việc tốt, những giá trị văn hóa nhân văn, tinh thần tương thân, tương ái của quốc gia, dân tộc./.

13.9

Chủ thể, lực lượng tiến hành và đối tượng chống phá của “diễn biến hòa bình”

 

Chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng, nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải do sự chống phá từ bên ngoài (?!). Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là “ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng cách mạng. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, nhất là trong trường hợp số đông quần chúng nhân dân bị mê hoặc, tin theo lời hứa hão huyền bằng các khẩu hiệu lòe bịp, bị “sập bẫy” giương sẵn của các trung tâm quyền lực, các tổ chức phản động quốc tế luôn rắp tâm “đục nước béo cò”, tạo cớ can thiệp, chống phá.

Đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.


Tư duy chiến lược gắn với hoạt động lãnh đạo

 Tư duy chiến lược mang tính tổng hợp, hệ thống, có tầm nhìn xa trông rộng, có tính dự báo, thấy được xu thế phát triển và hướng tới các phương án thực hiện tối ưu; mang tính định hướng và sáng tạo, có khả nâng vận dụng một cách nhuần nhuyễn phép biện chứng, nhận thức rõ quy luật khách quan, bản chất của sự kiện, tình hình vận động của sự vật, biết phát hiện mâu thuẫn của sự vật, phát hiện cái mới phù hợp với sự phát triển của thực tiễn. Tư duy chiến lược của nhà lãnh đạo có phạm vi phản ánh sâu rộng, trong thời gian tương đối dài, tiếp cận vấn đề ở quy mô toàn cục, mang tầm nhìn thời đại và những thành quả văn minh của nhân loại; dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, là tư duy tổng hợp của tư duy kinh tế, tư duy chính trị, tư duy văn hóa, tư duy quân sự, tư duy đối ngoại, từ đó hình thành nên một tầm nhìn vừa khái quát, vừa sâu rộng lại đáp ứng được nhu cầu phát triển lâu dài của thực tiễn.

Giải pháp xây dựng Quân đội hiện đại trong giai đoạn hiện nay

 

Xây dựng Quân đội hiện đại là quan điểm, chủ trương chiến lược, đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhằm bảo đảm cho Quân đội luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Để tiếp tục xây dựng Quân đội hiện đại, nhằm gia tăng tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng, sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Trước hết, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại”. Sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc nói chung, nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại” nói riêng đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước.

Tăng cường giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm, phát huy vai trò nòng cốt của cán bộ, nhân viên, chiến sĩ toàn quân đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Xây dựng Quân đội hiện đại và đấu tranh bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại” là nhiệm vụ quan trọng, nặng nề với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng rất vẻ vang, nên phải tiến hành lâu dài, bền bỉ, không chỉ một sớm, một chiều.

Tập trung xây dựng kế hoạch, lộ trình hiện đại hóa khoa học, phù hợp; triển khai chặt chẽ, đồng bộ, vững chắc, đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra, nhằm bảo đảm cho quá trình hiện đại hóa Quân đội đúng định hướng của Đảng, phù hợp với xu thế thời đại, khả năng, tiềm lực đất nước, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tăng cường các biện pháp đấu tranh, làm thất bại mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ quan điểm, tiến trình, mục tiêu hiện đại hóa Quân đội. Tập trung nhận diện, đánh giá toàn diện âm mưu, thủ đoạn, chỉ rõ bản chất, mục tiêu, phương thức, biện pháp, công cụ, ý định hoạt động nhằm đạt được mục đích sâu xa, nguy hiểm phía sau của các thế lực thù địch

Xây dựng Quân đội hiện đại xét về bản chất chính là làm cho tiềm lực quân sự đất nước mạnh lên, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là chủ trương nhất quán, phù hợp với xu thế thời đại; là tất yếu, khách quan “không thể chối cãi”; hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhằm gia tăng sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

13.9

Tính kế hoạch trong tư duy chiến lược

 

Tư duy chiến lược giúp chủ thể đưa ra các kế hoạch hiệu quả cũng như các bước để thực hiện thành công các kế hoạch đó. Tư duy chiến lược ngày càng trở nên cần thiết đối với tất cả mọi người và đặc biệt không thể thiếu đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, bởi sản phẩm của tư duy chiến lược của họ không thuần túy phục vụ cho những mục tiêu cá nhân, trong phạm vi nhỏ hẹp mà nó có ảnh hưởng, mang tính quyết định tới sự phát triển của cộng đồng, của vùng miền, của quốc gia dân tộc.

Không để các thế lực lợi dụng tôn giáo để chống phá đất nước

 Hiện nay, cùng với xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, vấn đề dân chủ, nhân quyền, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đang có nhiều quan điểm khác nhau. Theo đó, một số nước tự cho cho mình “cái quyền” là “người bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, dùng nhiều chiêu bài để đưa ra nhận xét về tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo kiểu quy chụp, thiếu khách quan, thậm chí vu cáo nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác, trong đó có Việt Nam. Đây là thủ đoạn không mới nhưng rất nguy hiểm cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ. Để việc đấu tranh, ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam đạt hiệu quả, cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp năm 2013. Thực hiện tốt chức năng Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo tại các địa bàn trọng điểm, phức tạp; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý ngay tại cơ sở các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật gây bức xúc trong xã hội.

Nắm chắc tình hình, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng: “dân chủ”, “quyền con người”, “tôn giáo” chống phá Việt Nam để có đối sách giải quyết phù hợp, hiệu quả, đúng pháp luật. Kịp thời phát hiện và ngăn chặn việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các tôn giáo, gây rối trật tự, xâm phạm an ninh quốc gia. Chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, vạch trần “chân tướng” các đối tượng cơ hội, các việc làm vi phạm pháp luật, giáo luật của số đối tượng cực đoan lợi dụng tôn giáo; phản bác các luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”.

Những biện pháp đấu tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Việt Nam cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành để có sự hỗ trợ đồng bộ, hạn chế sơ hở để thế lực xấu lợi dụng chống phá.

Thường xuyên tổng kết rút kinh nghiệm, có biện pháp khắc phục những thiếu sót, tồn tại để đảm bảo thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do, tín ngưỡng của nhân dân, làm cho nhân dân thực sự tin tưởng vào Đảng, Nhà nước; là chất keo kết dính giữa Nhân dân với Đảng, làm thất bại mọi âm mưu hoạt động của các thế lực thù địch.

Làm tốt công tác tuyên truyền đối ngoại để cộng đồng quốc tế có đầy đủ thông tin về kết quả, thành tựu nhân quyền trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam; đồng thời, thực hiện tốt hoạt động đối thoại tôn giáo, hướng dẫn các chức sắc, tín đồ hoạt động tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật./.

13.9

Không thể xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là căn nguyên của tình trạng mất dân chủ, không có dân chủ.

 


Với sự lựa chọn của lịch sử và bằng kiểm nghiệm thực tế, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và trao cho Đảng Cộng sản Việt Nam quyền duy nhất lãnh đạo, duy nhất cầm quyền ở nước ta. Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nước ta không phải là tạo ra vị thế đó, mà đó là sự ghi nhận, khẳng định một thực tiễn chính trị - xã hội đã xác lập trong thực tế, không có lý do nào buộc chúng ta phải từ bỏ Điều 4 Hiến pháp.

Đảng ta “là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”; “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích nào khác”. Đảng độc tôn lãnh đạo, cầm quyền chính là vì “lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”. Vì thế, vấn đề “then chốt của chế độ dân chủ” nước ta không phải là từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng, mà là khẳng định, củng cố và tăng cường sự lãnh đạo ấy trong thực tiễn. Từ bỏ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, thực hiện đa đảng không những sẽ không dân chủ hơn mà còn dẫn tới đất nước mất ổn định, xã hội hỗn loạn, có thể rơi thuyết âm mưu của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng nước ta./.

13.9

Tư duy chiến lược

     Tư duy chiến lược là cách thức, quy trình và năng lực tư duy, giúp cho chủ thể lãnh đạo có thể xác định được chiến lược phát triển, các điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức, biết cách liên tục cập nhập và rà soát môi trường để xác định các cơ hội và các nguy cơ cần khắc phục, từ đó tìm ra con đường và các giải pháp đưa tổ chức đến thành công.

Tư duy chiến lược là sự kết hợp giữa cách tư duy rộng, tư duy sâu và tư duy dài hạn. Tư duy rộng là cách nhìn nhận có hệ thống và toàn diện về môi trường mà tổ chức đang tồn tại, thấy được xu hướng biến đổi của môi trường và vị trí mà tổ chức phải đạt tới trong môi trường thay đổi đó. Tư duy sâu là sự phân tích một cách sâu sắc về các cơ hội, thách thức, điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức, nhìn thấy điểm tựa làm đòn bẩy cho sự phát triển của tổ chức. Tư duy dài hạn là khả năng nhìn thấy mục tiêu phía trước, nhận thức được các xu hướng thay đổi và không ngừng làm cho tổ chức thích nghi với môi trường để đạt tới mục tiêu mong muốn. Điều này đòi hỏi gắn tầm nhìn dài hạn với mục tiêu mong muốn và xử lý các vấn đề trong một tổng thể để đạt được mục tiêu đó.

Tư duy chiến lược là một quá trình sáng tạo và đa dạng, thể hiện tầm nhìn của các nhà lãnh đạo nói chung và đội ngũ cán bộ chiến dịch, chiến lược nói riêng, đòi hỏi họ gắn kết các hoạt động hàng ngày với mục tiêu chiến lược dài hạn của tổ chức. Đây là một quá trình mang tính trí tuệ và nhận thức để xem xét cách thức đổi mới hoặc tái tạo lại tổ chức nhằm đáp ứng sự thay đổi của môi trường.