Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

THÁI ĐỘ, TRÌNH ĐỘ, HAY ĐỨC ĐỘ ?

 


Dạo gần đây, câu nói “thái độ hơn trình độ” dường như trở nên khá phổ biến. Có không ít người bình luận, phân tích mối quan hệ hoặc so sánh ý nghĩa, giá trị “cao - thấp”, “hơn - kém” giữa chúng và trong nhiều trường hợp, thường ghi nhận, đánh giá cao yếu tố “thái độ” trong việc quyết định sự thành công của một cá nhân.


Nhưng tất cả điều đó đều xuất phát từ quan điểm cá nhân!


Từ góc độ công tác cán bộ, đặc biệt là trong việc nhìn nhận, đánh giá cán bộ, giữa thái độ và trình độ, yếu tố nào là quan trọng hơn?


Thái độ, theo nghĩa mà chúng ta thường hiểu, là cách một người bộc lộ suy nghĩ, quan điểm, tình cảm, cá tính, hay cách phản ứng, cư xử của người đó đối với người khác và với sự việc, hiện tượng xung quanh. Trong mọi mối quan hệ, thái độ, cách ứng xử của mỗi người là rất quan trọng. Thái độ, cách ứng xử của người cán bộ trong các mối quan hệ công việc lại càng quan trọng, bởi nó tác động trực tiếp đến quá trình xử lý công việc, khả năng phối hợp công tác, xây dựng môi trường làm việc…, từ đó ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của họ và chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức. Tuy nhiên, xét đến cùng, thái độ của một người mà chúng ta nhìn vào để đánh giá trình độ, năng lực và nhân cách của họ, ở góc độ nào đó, nhiều khi chỉ là cái vỏ, là vẻ bề ngoài và đôi khi, có thể chỉ là sự “trưng trổ” mà chủ thể rắp tâm lựa chọn để cho người khác nhìn thấy, “cảm thấy”, không hề phản ánh đúng nội dung, bản chất bên trong.


Trình độ của một người, trên thực tế, không phải là “món quà trời ban”, không chỉ dựa vào sự may mắn hay tố chất bẩm sinh, mà phải trải qua quá trình không ngừng học hỏi, khổ công tích lũy, luyện rèn mới có được. Trình độ học vấn, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ cũng vậy. Không thể có cán bộ giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà chây ỳ, lười nhác trong công việc, học tập. Để đánh giá trình độ của cán bộ, không thể chỉ nhìn vào bằng cấp, hay bị dẫn dắt bởi những bài diễn văn “chém gió trên trời”, mà phải thông qua công việc, từ công việc.


So sánh thái độ của một cán bộ này với trình độ của một cán bộ khác, rõ ràng là không cùng một trường khái niệm và rất khập khiễng; càng không thể căn cứ vào yếu tố riêng biệt nào để ưu tiên trong đánh giá, sử dụng cán bộ. Tuy nhiên, khi nhìn vào hai yếu tố này ở mỗi cán bộ, nếu đủ tinh tường, khách quan và bao dung, chúng ta có thể thấy được bản chất đích thực, nhất là sự đức độ ở trong họ, để đánh giá thật đúng và toàn diện, làm căn cứ cho việc lựa chọn, sử dụng cán bộ một cách phù hợp, hiệu quả.


Trong đội ngũ cán bộ hiện nay, không khó để bắt gặp một số người rất thành công trong việc biểu hiện thái độ khiến nhiều người - nhất là cán bộ lãnh đạo cấp trên, những người có liên quan trực tiếp đến lợi ích và con đường thăng tiến của họ - cảm thấy đẹp lòng, yêu thích, được đánh giá là đúng mực, hòa nhã, khiêm nhường hay hăng hái, nhiệt tình, trách nhiệm..., nhưng đằng sau lại ngấm ngầm đổ việc cho đồng nghiệp một cách điệu nghệ, giảo hoạt hoặc tranh công, đổ lỗi, hạ uy tín của người khác… Lúc này, cái thái độ vốn được người khác yêu thích, ngợi khen, thực chất chỉ là kỹ nghệ biểu diễn ở mức độ “thượng thừa”, nhằm che đậy sự hãnh tiến, lười nhác, kém cỏi.


Việc dùng người, vẫn là câu chuyện muôn thuở, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, không phải của riêng quốc gia hay thể chế chính trị nào. Để sử dụng cán bộ thật đúng, thật hiệu quả, việc đánh giá cán bộ có ý nghĩa quyết định. Thiết nghĩ, trong đánh giá cán bộ, nên lấy đức làm gốc, làm tiêu chí quan trọng hàng đầu; cùng với đó, nên xuất phát từ yêu cầu, đặc thù vị trí công tác của họ thì mới soi chiếu, hiểu rõ trình độ, năng lực, thái độ của họ. Bản thân quá trình đánh giá cán bộ cũng là quá trình đánh giá đức độ, trình độ, năng lực và thái độ của chính những người làm công tác đánh giá cán bộ. Thông qua quá trình này, chúng ta có thể thấy liệu họ có thật sự đủ công bằng, chính trực, khách quan, công tâm và trình độ để đánh giá đúng cán bộ, phát hiện đúng hiền tài không, hay chỉ là kẻ “tự tư, tự lợi”, hẹp hòi, “cận thị”, vì tư ân, tư huệ hoặc tư thù, tư oán mà kéo bè, kết cánh, chỉ nhìn ra những anh em “quan hệ và tiền tệ”, sẵn sàng dìm người có tài năng bằng những lý do chung chung, khó định lượng hoặc bằng lý do “thái độ”(!)./. 


Tạp chí Cộng sản

Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 

Kế thừa tinh thần các kỳ Đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng coi “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”[1]. Trên tinh thần nhiệm vụ trọng tâm này, Đại hội XIII đề ra một số giải pháp xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045. Đó là các giải pháp định hướng cơ bản sau:

 

Một là, trên cơ sở tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cần tập trung “Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên cơ sở nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”[2]. Đây vừa là nhiệm vụ quan trọng nhất vừa là giải pháp hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bởi lẽ, nhà nước của chúng ta không thực hiện tam quyền phân lập mà thực hiện nguyên tắc phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Đây vừa là nhiệm vụ trước mắt vừa là nhiệm vụ lâu dài. Bởi lẽ, chỉ trên cơ sở phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước chúng ta mới bảo đảm được trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không xảy ra tình trạng lạm quyền, lộng quyền hay buông lỏng quyền lực. Như vậy thì Nhà nước mới được tổ chức và  hoạt động theo tinh thần pháp quyền, quyền lực của nhân dân mới được bảo đảm trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật. Để thực hiện tốt giải pháp này cần tổ chức thực hiện một số biện pháp cụ thể sau:

 

Thứ nhất,“Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”[3]. Đồng thời, “Đẩy nhanh tiến độ ban hành các luật trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013”[4]. Bởi lẽ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý, điều hành cũng như kiến tạo phát triển phải trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật. Thiếu các luật trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp thì nhà nước sẽ không có cơ sở pháp lý để thực hiện chức năng quản lý điều hành cũng như chức năng kiến tạo phát triển. 

 

 

Thứ hai, “Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước, thực hiện tốt chức năng của Nhà nước, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội”[5]. Khi xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước thì sẽ khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp nhưng lại bỏ sót chức năng nào đó của các cơ quan nhà nước. Đồng thời, khi ấy chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng như chức năng quản lý, điều hành, chức năng kiến tạo phát triển sẽ rõ ràng, rành mạch không chồng chéo, không cản trở nhau, ngược lại, bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Trên cơ sở đó phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Bởi lẽ, quản lý phát triển xã hội một nghĩa nào đó là phải giải quyết tốt quan hệ Nhà nước (quản trị công) - thị trường (quản trị theo quy luật kinh tế thị trường) - xã hội (quản trị bằng cách lôi kéo người dân, xã hội tham gia). Ba hình thức quản lý này bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Nhưng để giải quyết tốt quan hệ này thì phải dựa trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ cũng như quyền hạn của các cơ quan nhà nước.

Thực hiện được các biện pháp trên sẽ góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành và năng lực kiến tạo phát triển của nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa. Qua đó, góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động.

 

Hai là, “Đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật”[6]. Định hướng giải pháp này xuất phát từ thực tế những hạn chế trong xây dựng nhà nước mà Đại hội XIII đã chỉ ra “Hệ thống pháp luật còn một số quy định chưa thống nhất, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn. Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ cương phép nước có nơi, có lúc còn bị xem nhẹ, xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe”[7]. Để đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao hiệu quả, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật có hiệu quả, Đại hội XIII đề ra một số các biện pháp cụ thể:

 

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, “tăng tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao”[8].

 

Thứ hai,trên cơ sở đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, có sức cạnh tranh quốc tế, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân là trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới[9]. Rõ ràng là trên cơ sở hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định,v.v.. như vậy thì việc việc hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật mới đạt kết quả. Trên cơ sở đó thì việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động mới thành công.

 

Thứ ba, nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở các quy luật thị trường. Tất nhiên, nhà nước cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, chủ động điều tiết các tác động tiêu cực của thị trường nhưng không can thiệp làm sai lệch các quy luật thị trường[10]. Nghĩa là, nhà nước phải giải quyết tốt quan hệ nhà nước và thị trường, tránh rơi vào “nhà nước tối thiểu” trong cơ chế thị trường tự do, nhưng cũng không được rơi vào “nhà nước tối đa” trong cơ chế kinh tế tập trung bao cấp. Muốn vậy phải tuân thủ nguyên tắc là nhà nước điều hành, quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở các quy luật thị trường.

 

Thực hiện tốt ba biện pháp này sẽ đẩy mạnh được việc hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật của nhà nước. Trên  cơ sở đó xây dựng, hoàn thiện được nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo, phát triển, liêm chính, hành động.

 

Nhận diện đúng và thực hiện quyết liệt, thường xuyên các giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”

 


     Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:

     Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

     Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

     Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.

     Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập.

     Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.

     Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

     Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá…/.

KHÔNG GÌ CÓ THỂ CẢN TRỞ DÂN TỘC VIỆT NAM TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG VƯƠN TỚI KHÁT VỌNG THỊNH VƯỢNG VÀ HÙNG CƯỜNG

 


Năm 1945, Đại chiến thế giới lần thứ II đi vào kết thúc với thắng lợi của các lực lượng dân chủ cùng phe Đồng minh để đánh bại phe phát xít; thế giới có thêm nhiều quốc gia độc lập ra đời. Ở khu vực Đông Nam Á, lần đầu tiên xuất hiện một quốc gia hoàn toàn mới với tên đầy đủ là Việt Nam Dân chủ cộng hòa. 


Trên bản đồ, đất nước vừa "giũ bùn đứng dậy sáng lòa" ấy chỉ ghi hai chữ Việt Nam và ở chấm đỏ đánh dấu thủ đô Hà Nội, chiều ngày 2/9 phát đi lời Tuyên ngôn Độc lập khẳng định "Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!".


Thực ra trong lịch sử chống chế độ áp bức, không thiếu các dân tộc "gan góc" đấu tranh, nhất là trong bối cảnh chiến tranh thế giới khi các đế quốc bận lao vào xâu xé tranh giành thuộc địa và ảnh hưởng, nhiều dân tộc thuộc địa và lệ thuộc đã chớp thời cơ chung để vùng dậy giải phóng mình. 


Điều đáng chú ý nhất lúc này là trong hoàn cảnh chung và điều kiện mới của Chiến tranh thế giới lần thứ II, có một dân tộc Việt Nam "đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm", nay lại "gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít".


Gan góc suốt gần 30 năm chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp (1858-1884); gan góc suốt hơn 40 năm chống đàn áp và ách cai trị, bóc lột của thực dân đế quốc (1885-1929); gan góc suốt 15 năm chống 3 tầng áp bức, một cổ hai tròng nô lệ của cả thực dân đế quốc và phát xít trên chính đất nước mình (1930-1945). Sự gan góc ấy là hành trang và cơ sở chắc chắn để cách mạng Việt Nam "đứng về phe Đồng minh chống phát xít".


Từ tháng 5/1941, Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) đã ra đời tập hợp lực lượng theo phương châm "Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh", hình thành sức mạnh quật khởi của toàn dân tộc. Đứng về phe Đồng minh và trở thành "một bộ phận dân chủ chống phát xít", Việt Minh với phong trào du kích chiến tranh ở các vùng căn cứ đã phá hoại hậu phương của chủ nghĩa phát xít ở Đông Dương; đồng thời khi thời cơ đến, chớp thời cơ nghìn năm có một, Đảng quyết định phát động Tổng khởi nghĩa, Việt Minh đảm đương lực lượng chính yếu tại Quốc dân Đại hội nêu cao ý chí quyết tâm "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".


Trong vòng nửa tháng, như Tuyên ngôn Độc lập viết: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để lập nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa".


Lần đầu tiên, "một dân tộc đã gan góc" đứng lên tự giành lấy nền tự do độc lập và chế độ dân chủ cộng hòa; cũng là lần đầu tiên với tư cách dân tộc tự do dân chủ cộng hòa, Việt Nam tuyên bố "thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam". 


Sự đoạn tuyệt hoàn toàn với chế độ thực dân áp bức dân tộc như thế còn gắn liền với lời thể của "Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy".


Hiển nhiên là từ lời thế đó, dân tộc đã gan góc dựng nên nền cộng hòa, thì cũng gan góc bảo vệ và phát huy nền cộng hòa.


Ở Sài Gòn chiều ngày 2/9 đầu tiên, ngay khi có tiếng súng bắn vào người dự lễ, quần chúng tự vệ lập tức ra tay truy lùng và trừng trị những kẻ gây rối. Ở Hà Nội và các nơi khác những ngày đầu giành độc lập, trước những khó khăn chồng chất của tình thế cách mạng ngàn cân treo sợi tóc, người dân trên mọi miền đất nước lại sẵn lòng ủng hộ "Tuần lễ vàng", "Quỹ Độc lập" theo tinh thần "người có ít góp ít, người có nhiều góp nhiều" vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc…


Trong 30 năm kháng chiến trường kỳ (1945-1975), những thần dân yêu nước của dân tộc gan góc ấy đã chiến đấu với tinh thần "Độc lập hay là chết", "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", "Nhằm thẳng quân thù mà bắn", "Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt", "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước"…


Đất nước vừa thống nhất, non sông vừa liền một giải, hai đầu biên giới lại áp sát những mưu toan kiềm chế và xâm phạm chủ quyền lãnh thổ. Lại thêm những gian nan thử thách khi bị bao vây cấm vận, bão lũ và thiên tai; cả cơ chế cũ, thói quen cũ, nền nếp cũ, tư duy cũ cũng trở thành "nhân tai" đẩy đất nước vào khủng hoảng. Nhưng với "một dân tộc đã gan góc", đã từng "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta", thì "chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi". Người ở biên cương "Sống bám đá, chết hóa đá"; người ở hải đảo cuốn lá cờ Tổ quốc vào bụng "để máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân Việt Nam anh hùng" và "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo"; người ở tuyến sau trên khắp các địa phương luôn tìm tòi khám phá, tháo gỡ khó khăn, dám nghĩ dám làm, năng động sáng tạo, mở đường đi tới.


Gần nhất là sự xuất hiện của Đại dịch trên toàn cầu khiến cho không quốc gia nào thoát khỏi khủng hoảng y tế; trong khoảng hai năm liên tiếp bị 4 đợt dịch tấn công dồn dập, Việt Nam lần đầu tiên phải ứng phó theo cách thức "chống dịch như chống giặc", nhất là ở trọng điểm Thành phố Hồ Chí Minh có đỉnh dịch trùng với dịp kỷ niệm quốc khánh. Người dân của đất nước rất gan góc trong kháng chiến chống ngoại xâm, nay gan góc trước diễn biến tình hình phơi nhiễm tăng lên hằng ngày; ai cũng cố gắng góp sức chung tay chống dịch.


Ngay sau đó và đồng thời với quá trình căng sức chống dịch, đất nước lại cần nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái trong khởi nghĩa tháng Tám năm xưa, nay chuyển thành tấm lòng thương người như thể thương thân trong phòng chống đại dịch; sức mạnh quật khởi của đông đảo quần chúng xông lên phá kho thóc cứu nạn đói năm xưa, nay chuyển thành sự chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trong từng hoàn cảnh khó khăn khi COVID-19 hoành hành. Vậy nên trong và sau dịch, kinh tế Việt Nam không có tăng trưởng âm, lại có nhiều điểm sáng và dự báo khả quan; bệnh viện dã chiến trả lại không gian cho trường học vào mùa khai giảng; hộ chiếu vaccine đã đồng hành với khách du lịch trong và ngoài nước tăng lên hằng ngày…


Như thế nhìn lại gần 80 năm kể từ ngày khẳng định "dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!", có biết bao thử thách và gian nguy, nhiều khó khăn hiểm nghèo và không ít tình huống éo le phức tạp… Việt Nam là “một dân tộc đã gan góc” vượt qua hơn 80 năm nô lệ để giành tự do, độc lập, thì không gì có thể cản trở nổi dân tộc đó trên chặng đường vươn tới khát vọng thịnh vượng và hùng cường.

TỪ KẺ THÙ ĐẾN ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN

 


69 năm trước từ lúc thế và lực còn yếu, Việt Nam phải khăn gói lên đường sang Geneve (1954) và Paris (1973), để đàm phán yêu cầu các nước công nhận quyền dân tộc cơ bản, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Trong cả 2 lần đó, Đế Quốc Mỹ và một số nước lớn trong khu vực vì lợi ích của mình đã chi phối, hòa hoãn, thỏa hiệp với nhau trên xương máu của dân tộc Việt Nam. 


“Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải dành độc lập tự do cho kỳ được” cả dân tộc Việt Nam đã đứng dậy, anh dũng, ngoan cường làm nên chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ 1954 và trận Điện Biên Phủ hiển hách trên không 1972. Sau 5 năm kiên trì đàm phán, trải qua 201 phiên công khai và 45 phiên không công khai, Việt Nam đã buộc Đế Quốc Mỹ khuất phục ký kết hiệp Paris. Chiến dịch Đại Thắng Mùa Xuân năm 1975, tên lính Mỹ cuối cùng nhục nhã cút khỏi Việt Nam, lá cờ Mỹ đã phải cuốn gói sau 10.000 ngày tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa đẫm máu. Với tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên tinh thần tôn trọng độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ, ngày 03/2/1994 Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố xoá bỏ hoàn toàn cấm vận với Việt Nam. Ngày 11/7/ 1995 Tổng thống Mỹ Bill Clinton bay sang Việt Nam tuyên bố bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ.


Gần 70 năm qua thế và lực đã thay đổi. Từ một nước khát khao, yêu chuộng hòa bình, Việt Nam phải lặn lộn sang các nước đàm phán tìm kiếm hòa bình bây giờ Việt Nam là nước có môi trường chính trị ổn định nhất thế giới, trở thành một đất nước hòa bình, là bạn, là đối tác tin cậy để các nước chọn làm nơi đàm đạo, kiến tạo hòa bình.


Cái bắt tay thân tình của Tổng Bí thư ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng với Tổng thống Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ Biden ngày 10/9/2023 là biểu tượng của sự hữu nghị, hợp tác mở ra một chương mới giữa 2 nước, đưa quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ phát triển lên tầm cao mới có tầm chiến lược ổn định và lâu dài, phù hợp nguyện vọng và lợi ích của hai bên, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và thế giới./.


Phan Trung Can

XÂY DỰNG VĂN HÓA "MẠNG"

 


Trong thời đại 4.0, mạng xã hội dần trở nên gần gũi và phổ biến, thậm chí đã trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống của hết thảy người dân hầu như trên toàn thế giới. Nó đã làm thay đổi thế giới một cách sâu sắc. Các mối quan hệ xã hội từ chính trị đến kinh tế, khoa học công nghệ, văn hoá, nghệ thuật đều được tác động, thúc đẩy.


Sự thay đổi có mặt thuận và mặt không thuận, nếu biết khai thác, phát huy những lợi thế ưu việt của thông tin từ mạng xã hội này thì người dân và quốc gia có thêm điều kiện hội nhập, phát triển, nếu không sẽ có những tác động tiêu cực và để lại nhiều hệ lụy khôn lường. 


Trên thế giới hiện đang tồn tại hàng triệu website có nội dung không lành mạnh, thậm chí độc hại ảnh hưởng rất xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của mỗi người và cả cộng đồng, đã gây ra nhiều hệ lụy cho đời sống văn hóa, xã hội khi cộng đồng mạng sử dụng trang cá nhân như một thế giới tự do phát ngôn, tự do cung cấp thông tin, hình ảnh không được kiểm soát, cả những phát ngôn bốc đồng nông nổi bất chấp hậu quả. Từ đó, đạo đức bị băng hoại, văn hoá bị tầm thường hoá, méo mó, an toàn xã hội bị đổ vỡ… Đó là chưa nói đến những ảnh hưởng bất lợi khác về chính trị, kinh tế do một số website cố tình hay vô tình gây ra.


Đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất từ các website xấu chủ yếu là thanh, thiếu niên, vì họ chưa được trang bị đầy đủ tri thức và kinh nghiệm về cuộc sống, xã hội. Sự ham hiểu biết của tuổi trẻ nếu không được hướng dẫn sẽ bị các thông tin từ trang "website đen" đánh lừa, chinh phục.Rất nhiều vụ việc, vụ án đã có căn nguyên từ ảnh hưởng của lối sống buông thả và bạo lực trên các website.


Đây là điều chúng ta đã biết từ lâu. Để góp phần bảo vệ thế hệ trẻ và toàn xã hội khỏi bị ảnh hưởng xấu từ mạng xã hội, ngày 17-6-2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Quyết định số 874/QĐ-BTTTT về việc ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội nhằm tạo điều kiện lành mạnh mạng xã hội tại Việt Nam, đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền tự do kinh doanh, không phân biệt đối xử nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước, phù hợp với chuẩn mực, thông lệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.


Mỗi người phải hiểu rằng một khi đã mở lòng mình ra trên thế giới ảo thì cũng phải đến với mọi người bằng tâm thế thiện chí, chân thật; phê phán vấn đề, hiện tượng cũng cần mang tính phản biện, xây dựng chứ không phải buông tuồng tùy tiện, nói gì thì nói. Không chỉ ở Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia, dân tộc nào đều có một điểm chung bắt buộc là các quyền tự do ngôn luận phải trong khuôn khổ pháp luật, những ý kiến phát biểu có trách nhiệm và đúng sự thật.


Nhiều nước trên thế giới, chỉ cần bôi bác, vu khống người khác trên mạng là có thể bị ra tòa. Tất nhiên, ai cũng có quyền bày tỏ chính kiến nhưng mọi thứ đều phải dựa trên nguyên tắc xây dựng, tự do nhưng cũng phải trong vòng kiểm soát của pháp luật. Một khi những quy định của phát luật không điều chỉnh theo kịp với sự phát triển của xã hội, không thay đổi cách thức quản lý thì tất yếu sẽ có những rối loạn.


Chúng ta rất cần hình thành một văn hoá cộng đồng mạng, xác lập được những chuẩn mực, giá trị trong quá trình sử dụng internet, bao gồm cả mục đích, lợi ích, hiệu quả thiết lập mạng và khai thác, các quan hệ ứng xử… Đây là phương tiện hữu ích để mỗi người dân có thể bày tỏ quan điểm cá nhân, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm sống, nêu gương người tốt, việc tốt để mọi người học tập và làm theo; hoặc phản ánh những tiêu cực, bất hợp lý, những hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân để cơ quan chức năng của Nhà nước xử lý theo quy định pháp luật.


Mỗi người dân chúng ta cần phải sáng suốt nhận biết và hiểu đúng về "tự do ngôn luận" và "ngôn luận tự do" để không rơi vào "bẫy" của những kẻ bất mãn, có quan điểm thù địch, vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá; cảnh giác với những thông tin xấu độc, không chia sẻ bừa bãi trên mạng xã hội một cách vô cảm, để rồi có các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa, thậm chí vô tình vi phạm pháp luật.


Hướng đến xây dựng chuẩn mực đạo đức về hành vi ứng xử trên mạng xã hội, giáo dục ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử của người dùng trên mạng xã hội, góp phần xây dựng mạng an toàn, lành mạnh tại Việt Nam, trước nhất vẫn là cần ở ý thức cá nhân của mỗi người. Những ý kiến đóng góp, phản ánh của cộng đồng mạng phải đúng, chân thành, mang tinh thần xây dựng, vì lợi ích chính đáng của đất nước, của người dân, dần hình thành những tập quán mới, đúng đắn, phù hợp với truyền thống văn hoá, đạo đức dân tộc hướng đến chân, thiện, mỹ trong việc khai thác, sử dụng hiệu quả những thông tin từ internet./.


Báo CAND

Âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch không mới nhưng được đẩy mạnh và điều chỉnh

 


      Khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Và hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

     Chúng ta thấy ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do chủ nghĩa đế quốc phát kiến, nhưng hiện là “sản phẩm” của họ và trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch. Mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, các thế lực thù địch đặt ra những mục tiêu cụ thể như: (1) Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; (2) Âm mưu thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” trong các nước xã hội chủ nghĩa; (3) Gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ thì lôi kéo, tiến hành bạo loạn chính trị; (4) Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa; (5) Chuyển hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo “giá trị Mỹ”, phương Tây; (6) Thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” để “vô hiệu hoá” quân đội trong các nước xã hội chủ nghĩa.

     Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành.

     Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an…

     Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

     Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự...

     Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

     Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

     Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

     Cuộc đấu tranh này được Đảng và nhà nước ta xác định là vẫn còn tiếp tục ngày càng cam go, quyết liệt. Vì thế, chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào. Điều quan trọng là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ để chính họ là những chủ thể mạnh mẽ, vững chắc làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch.

Một số thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

 

     “Diễn biến hòa bình” là một chiến lược phi quân sự của các thế lực thù địch tiến hành bằng các thủ đoạn tinh vi, phức tạp, nhằm chống phá Cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, tư tưởng, văn hoá; tổ chức nhân sự; kinh tế; ngoại giao; tôn giáo, dân tộc, an ninh, quốc phòng. Nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với cách mạng Việt Nam tiến tới lật đổ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, các nước xã hội chủ nghĩa trở thành một hệ thống lớn mạnh, trong đó trụ cột là Liên Xô, thành trì vững chắc của phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới. Đây là thời điểm chủ nghĩa đế quốc nhận thấy không thể ngăn chặn được sự phát triển của phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới bằng biện pháp quân sự. Vì vậy, các học thuyết lần lượt ra đời nhằm lật đổ xã hội chủ nghĩa bằng biện pháp phi quân sự. Quá trình hình thành và phát triển, chiến lược “Diễn biến hòa bình” đã thể hiện tính chất phức tạp, tinh vi nhưng vô cùng nguy hiểm; kết quả đã làm sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Đối với Việt Nam, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đặc biệt sau khi thực hiện đổi mới thành công, nước ta vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch càng tập trung chống phá, mức độ ngày càng gia tăng, tính chất ngày càng nguy hiểm; lĩnh vực tập trung nhất là chính trị, tư tưởng, văn hóa; mục tiêu là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Để hiểu rõ hơn mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, bài viết phân tích một số thủ đoạn của chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa:


     Một là, Tiếp tục phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm chuyển hóa ý thức hệ, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân phai nhạt lý tưởng, xa rời lập trường giai cấp. Đây là lĩnh vực có tính nhạy cảm nhất và nó có tầm quan trọng hàng đầu, thay đổi ý thức hệ dẫn đến thay đổi chế độ là con đường ngắn nhất, nhanh nhất, ít tốn kém nhất. Vì vậy, các thế lực thù địch tập trung chống phá bằng nhiều thủ đoạn; tập trung công kích chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng cho rằng đó là tư tưởng chủ quan thoát li thực tế. Từ đó, chúng công kích, bôi xấu học thuyết chuyên chính vô sản, tuyên truyền “Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước chuyên chế” “Nhà nước cực quyền”. Thông qua sự sụp đổ của Liên Xô, chúng cho rằng chủ nghĩa Mác Lê nin là giáo lý phi khoa học qua thực nghiệm 70 năm và đã bộc lộ sai lầm; điều kiện xã hội Việt Nam theo giáo lý phương Tây là không thích hợp, là sự ngộ nhận, là xa xỉ đối với một quốc gia 90% là nông nghiệp. Mục đích của chúng là chuyển hóa ý thức hệ, xóa bỏ đấu tranh giai cấp, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, chúng đưa ra yêu cầu đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nghĩa là xóa bỏ cơ sở pháp lý về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội. Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch ở nước ngoài móc nói, cấu kết và chỉ đạo bọn phản động trong nước tuyên truyền kích động đòi đổi tên nước, tên Đảng, đòi thành lập cái gọi là “hội nhân dân chống tham nhũng”; chúng tuyên truyền rằng “tham nhũng chỉ được đẩy lùi khi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để các đảng phái giám sát lẫn nhau” thực chất là làm cho Đảng ta suy yếu, tan rã như đã thực hiện ở Liên Xô và Đông Âu. Lợi dụng tình hình sau những vụ việc phức tạp như vấn đề biển Đông, chúng xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng trong bảo vệ độc lập chủ quyền. Tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật gây khó khăn cho ta trong việc ban hành các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, điển hình như việc Quốc hội họp thông qua Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Luật an ninh mạng ... Sử dụng chiêu bài dân chủ nhân quyền đả kích chế độ, thể chế chính trị; khuyến khích cải tổ, đa nguyên, đa đảng.


     Hai là, lợi dụng những thiếu sót từ nội bộ Đảng, làm cho Đảng mất uy tín, mất hiệu lực lãnh đạo, mất đoàn kết dẫn đến tan rã về tổ chức.

Chúng cho rằng, phá hoại tổ chức Đảng và cán bộ lãnh đạo Đảng là mục tiêu then chốt để lật đổ chính quyền cơ sở, tiến tới lật đổ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch ở nước ngoài tích cực cài cắm, xây dựng lực lượng, móc nối với bọn phản động trong nước thu thập thông tin, tập trung vào những sơ hở của ta trong việc ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, chúng đưa thông tin sai lệch kích động nhân dân đứng lên đấu tranh nhằm hạ uy tín của Đảng. Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; trong thực hiện chính sách ở một số địa phương kích động nhân dân biểu tình, bạo loạn, đập phá cơ sở hạ tầng gây thiệt hại cho chính quyền; tung tin thất thiệt làm cho nhân dân mất lòng tin đối với Đảng. Chúng ra sức khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống xã hội để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để xuyên tạc vai trò lãnh đạo, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Dàn dựng, đưa tin bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những “thâm cung bí sử” trong Đảng làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm cho nội bộ Đảng mất đoàn kết, chia rẽ, giảm sút hiệu lực lãnh đạo, phá vỡ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Nhằm phá hoại về chủ trương, đường lối của Đảng, chúng mua chuộc cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu, nhất là số cán bộ bị kỉ luật, cán bộ có uy tín nhưng có mặt chưa đồng thuận với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước tham gia góp ý, hiến kế với Đảng, hoặc bằng thư ngỏ, thư khẩn, đối thoại, đề xuất chủ trương, chính sách thực chất là lái đường lối, chính sách của ta theo hướng tư bản, hoặc gây bất lợi cho ta trong phát triển kinh tế lâu dài, trong thực hiện chính sách công bằng xã hội, dẫn đến bất bình trong một bộ phận nhân dân; lợi dụng đấu tranh chống tham nhũng từ đó thổi phồng khuyết điểm làm giảm uy tín của Đảng. Lạm dụng quyền tự do dân chủ, moi móc đời tư cá nhân; vu khống, nói xấu, bôi nhọ thanh danh lãnh tụ, lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước trong các thời kỳ; đề cao người này, bôi xấu người kia làm giảm uy tín lãnh tụ, lãnh đạo các cấp, làm cho quần chúng nhân dân mất lòng tin  đối với Đảng xa rời Đảng. Nguy hiểm hơn thông qua không gian mạng, để kết nối thành viên, lôi kéo, tập hợp lực lượng, bàn bạc xây dựng kế hoạch chống đối, biểu tình, bạo loạn, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chúng tìm cách biến những mâu thuẫn thông thường trong xã hội thành mâu thuẫn giữa nhân dân với cán bộ, chính quyền; biến mâu thuẫn không cơ bản thành mâu thuẫn cơ bản đối kháng; biến các vụ khiếu kiện thành các vụ biểu tình bạo loạn quy mô lớn chống đối chính quyền các cấp.


      Ba là, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, chia rẽ quân đội với công an. Thông qua các sự kiện lịch sử trong đấu tranh giải phóng, chúng đưa thông tin sai lệch, lật lại sự kiện, thổi phồng khuyết điểm của một số cá nhân, đơn vị làm mất uy tín của Quân đội ta; đòi Quân đội đứng ngoài Đảng nhằm làm cho lực lượng vũ trang mất phương hướng chính trị, mất mục tiêu chiến đấu. Chúng mua chuộc cán bộ cao cấp, cài cắm lực lượng vào quân đội, thực hiện âm mưu chui sâu, leo cao hoạt động chống phá từ bên trong. Trên các trang mạng xã hội chúng tuyên truyền, xuyên tạc truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội; lợi dụng không gian mạng biên tập video dạng lồng ghép, cắt xén, bịa đặt, đăng tải nói xấu, xúc phạm danh dự quân đội, làm cho nhân dân mất niềm tin đối với quân đội. Đối với công an, chúng lợi dụng các vụ việc xử lý vi phạm của công dân trong đời sống hàng ngày, bịa đặt, dựng chuyện nhằm hạ thấp uy tín của công an; xuyên tạc, kích động, gây mâu thuẫn giữa công an với quân đội.

     Bốn là, thông qua giáo dục đào tạo để chuyển hóa ý thức hệ của học sinh, sinh viên. Chúng cho rằng giáo dục đào tạo là mũi đột phá quan trọng, hiệu quả nhằm thực hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Dưới các hình thức như tổ chức tọa đàm, hội thảo, triển lãm; tham quan các trường đại học danh tiếng, cung cấp học bổng, trong đó ưu tiên con em cán bộ lãnh đạo, cán bộ lão thành cách mạng. Trong quá trình đào tạo sẽ tuyên truyền những "giá trị", lối sống phương Tây làm cho học sinh, sinh viên nhạt phai lý tưởng, lệch lạc nhận thức chính trị, đối lập quan điểm tư tưởng của Đảng. Chúng tìm mọi cách để đưa số cán bộ thân phương Tây đảm nhiệm các cương vị trọng yếu trong trong hệ thống chính trị, đủ điều kiện để chuyển đổi chính sách kinh tế, ý thức hệ, từng bước làm tan rã hệ thống chính trị.


     Năm là, bằng chiêu bài "tự do", "dân chủ", "nhân quyền", các thế lực phản động nước ngoài hỗ trợ cho bọn phản động trong nước hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Chúng áp đặt "Luật nhân quyền" nhằm yêu sách đòi ta phải nới lỏng sự kiểm soát đối với các tổ chức xã hội dân sự, trả tự do cho các đối tượng cầm đầu đang bị Nhà nước quản chế, hỗ trợ, cung cấp cho số đối tượng chống đối trong nước phương tiện kĩ thuật hiện đại, tài chính nhằm hoạt động khủng bố. Điển hình là tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã chủ trương: “Dân chủ, nhân quyền, đối đầu bất bạo động là mũi tiến công trực diện Cộng sản nhưng để tạo biến động, lôi kéo quần chúng vào cuộc thì phải dùng vũ lực; các vụ cháy, nổ sẽ phá vỡ bức tường sợ hãi trong quần chúng, đẩy chính quyền vào thế bị động”. Chúng đã chỉ đạo đặt bom; phát tán bài viết, đăng tải video clip kích động nhân dân biểu tình.

      Thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược "diễn biến hòa bình” ngày càng tinh vi, phức tạp, khó nhận biết. Vì vậy, nghiên cứu, phân tích làm rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng trước công luận để mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhận biết. Từ đó nâng cao cảnh giác góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu của chúng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa là vấn đề quan trọng hàng đầu của mọi cấp, mọi ngành trong giai đoạn hiện nay. Để đấu tranh làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, một biện pháp cấp bách, quan trọng là cần tận dụng triệt để không gian mạng tăng cường đấu tranh, chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài, biến không gian mạng thành vũ khí của tất cả mọi người đập tan âm mưu của các thế lực thù địch bảo vệ và nâng cao uy tín của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ Đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì; tích cực tuyên truyền, định hướng thông tin cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Coi trọng công tác kiểm tra giám sát, có biện pháp ngăn chặn kịp thời biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống./.


 

Việt Nam vẫn là trọng điểm chống phá của “diễn biến hòa bình”

 

       Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

       Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.


Biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay,

  Đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”.         Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong.

Các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam(6). Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.


Tư duy chiến lược trong định hướng phát triển khoa học - công nghệ

 Tư duy chiến lược cần xác định rõ các chủ trương, định hướng phát triển khoa học - công nghệ trong Chiến lược phát triển khoa học - công nghệ đến năm 2030 của Bộ Quốc phòng, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng bộ Quân đội xác định: Xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, cùng với triển khai đồng bộ các mặt công tác, cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; trong đó, chú trọng nâng cao năng lực, đổi mới sáng tạo,... cơ cấu lại các chương trình nghiên cứu khoa học - công nghệ theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy phục vụ hiệu quả làm mục tiêu. Đồng thời, “Rà soát, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ gắn với đổi mới toàn diện chính sách nhân lực khoa học và công nghệ”. Đây là định hướng chiến lược của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức đẩy mạnh nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ quân sự theo lộ trình xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại đặt ra.



[1] ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 141.

Đừng để nêu gương trở thành bêu gương

 


Nêu gương của cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) luôn có một vị trí rất quan trọng, không những góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng công việc, mà còn là tấm gương “đảng viên đi trước”, dẫn dắt quần chúng, để quần chúng tin tưởng đi theo. Đặc biệt là những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, việc mới, việc khó được CB, ĐV gương mẫu tiên phong thực hiện, thì có tác động rất tích cực đến quần chúng nhân dân. Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn một bộ phận CB, ĐV chưa thực sự gương mẫu đi đầu, chỉ tiên phong “miệng” làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước

Tự giác nêu gương là phương thức chủ yếu. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” để việc công lên trên, lên trước việc tư, đã phụ trách việc gì thì phải tận tâm, tận lực làm cho kỳ được, không sợ khó khăn, gian khổ, việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”. Trải qua 93 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, “nêu gương” luôn được Đảng ta xác định là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó CB, ĐV phải “tự giác nêu gương” là luận điểm nổi bật. Những thành tựu vĩ đại, to lớn, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo tới nay đã khẳng định, một trong những phương thức lãnh đạo đúng đắn của Đảng là vấn đề “tự giác nêu gương” của CB, ĐV. 

Tự giác nêu gương của CB, ĐV không tự nhiên mà có, mà phải thông qua quá trình tự phấn đấu, tự tu dưỡng, rèn luyện hàng ngày. Vì vậy, để phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của CB, ĐV, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, phát huy việc “tự giác nêu gương” của CB, ĐV là giải pháp chủ yếu. Do đó, cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, đội ngũ CB, ĐV cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Đảng, như: Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Đặc biệt là Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 09/3/2021 của Bộ Chính trị “Về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”. Trên cơ sở quy định của Đảng, cấp ủy, tổ chức Đảng cần quán triệt, cụ thể hóa, xây dựng thành những quy định cụ thể về “tự giác nêu gương” phù hợp với chức trách, nhiệm vụ của CB, ĐV. 

Đối với mỗi CB, ĐV, trong cuộc sống hàng ngày phải tự giác nêu gương toàn diện, không chỉ về tư tưởng chính trị mà còn về đạo đức, lối sống, không chỉ trong lời nói mà trong cả việc làm trên mọi lĩnh vực, trong mọi hoàn cảnh, cả trong tổ chức, xã hội và ở gia đình một cách tự giác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Người đảng viên dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp, ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Như vậy, nếu CB, ĐV không có uy tín với xóm làng, khối phố, khu dân cư thì không thể nói họ gương mẫu được; cũng không thể nói là nêu gương, nếu người CB, ĐV đó chỉ thuyết giáo, giảng giải và yêu cầu mọi người hãy chấp hành pháp luật, còn mình thì “đứng ngoài pháp luật, đứng trên pháp luật”. Cho nên, để nâng cao tính tự giác nêu gương, mỗi CB, ĐV không chỉ tự học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, qua sách, báo, qua các phương tiện thông tin đại chúng, mà phải tự học tập lẫn nhau và thông qua hoạt động thực tiễn để thâm nhập vào phong trào cách mạng của quần chúng, làm cho phong trào đó phát triển đúng định hướng chính trị và qua đó tự rèn luyện mình. Qua hoạt động thực tiễn sẽ cung cấp nhiều loại thông tin đa dạng hơn, đồng thời kiểm định lý luận và càng nâng cao tầm hiểu biết, có thêm nghị lực để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao hơn và thời gian ngắn hơn. Do đó, CB, ĐV phải thực sự sâu sát với quần chúng, tin yêu quý trọng nhân dân, gương mẫu về mọi mặt, có như vậy mới tổ chức, tuyên truyền và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đạt hiệu quả cao./.

Chủ nghĩa cá nhân: “Kẻ thù” của quân đội

 

Chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới chính là “giặc nội xâm”, nó có thể phá sập mọi thành quả cách mạng. Đối với quân đội, chủ nghĩa cá nhân không chỉ làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, phai nhạt hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị ngay từ cơ sở.

Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và sự tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, một số ít quân nhân không giữ được mình, đã sa vào chủ nghĩa cá nhân, biểu hiện rõ nhất là phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, kỷ luật của Quân đội; sa sút ý chí phấn đấu, không phục tùng mệnh lệnh, không gương mẫu trong công tác, thiếu tính kỷ luật và chấp hành kỷ luật không nghiêm. Điều này không chỉ làm phai nhạt hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị ngay từ cơ sở.

Đặc điểm chung của những quân nhân khi sa vào chủ nghĩa cá nhân, là thường không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; cụ thể là thích phán xét, soi mói đến hoạt động của cá nhân và tập thể đơn vị, đặc biệt là so sánh sự quan tâm đến chế độ chính sách, duy trì nền nếp chế độ của người chỉ huy.

 Vì vậy, để ngăn chặn, đẩy lùi bệnh chủ nghĩa cá nhân, cần phải có giải pháp nền tảng, xuyên suốt là thường xuyên giáo dục, tuyên truyền làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ thực sự giác ngộ mục tiêu, lý tưởng cách mạng; luôn thấm sâu trong nhận thức rằng: Giữ gìn và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân vừa là trách nhiệm của thế hệ hôm nay với những cống hiến, hy sinh to lớn của thế hệ cha anh đi trước, vừa là nhu cầu khẳng định bản thân cũng như giá trị của “Bộ đội Cụ Hồ” trong xã hội hiện nay.

Cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp cần nhận thức đúng và coi trọng lãnh đạo thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với tinh thần đổi mới, sáng tạo, thực chất. Nội dung giáo dục phải toàn diện, song cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi là: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng cách mạng; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương; đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tinh thần suốt đời phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân của người quân nhân cách mạng. Trong tiến hành giáo dục phải không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, sinh động, phù hợp với từng đối tượng. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ với nắm bắt tư tưởng, kịp thời phát hiện, giải quyết từ gốc những vấn đề nảy sinh, đặc biệt là tư tưởng bất mãn, dao động.

Cùng với đó, trên cơ sở 10 biểu hiện về chủ nghĩa cá nhân được Quân ủy Trung ương chỉ ra, các cấp ủy, tổ chức Đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải xây dựng, đề ra các tiêu chí cụ thể hóa tiêu chuẩn “Bộ đội Cụ Hồ” sát hợp với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình, như chỉ huy phải có kế hoạch thực hiện, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải có bản cam kết phấn đấu và được đánh giá hàng tuần, từ đó làm cơ sở cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị chủ động đấu tranh, khắc phục những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân. Đồng thời lấy đó là một trong những tiêu chí để đánh giá, phân loại, bình xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ đơn vị. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài; “chống”, đấu tranh, phòng, chống, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, là công việc thường xuyên như “rửa mặt hàng ngày”. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân thành một nội dung trong kế hoạch kiểm tra, giám sát đảng viên hàng năm, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhất là giám sát thường xuyên và tiến hành sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, nhân rộng điển hình tiên tiến trong quá trình thực hiện. Có như vậy, chủ nghĩa cá nhân mới không có cơ hội nảy sinh trong môi trường quân đội./.

Khả năng nhận thức, sáng tạo và chiếm lĩnh được những tri thức mới về kỹ thuật quân sự của cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược

         Cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược phải có khả năng nhận thức, sáng tạo và chiếm lĩnh được những tri thức mới về kỹ thuật quân sự; vận dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ vào lĩnh vực quốc phòng, quân sự; hiểu khoa học, công nghệ của đối phương, của đối tượng tác chiến để có quyết tâm và tìm kiếm những giải pháp khoa học tối ưu, giải quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn quốc phòng, quân sự đặt ra trước ưu thế về vũ khí và phương tiện chiến tranh rất hiện đại của đối tượng tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại,…” . Đây là tư duy mới, quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng đối với vai trò của khoa học - công nghệ trong tiến trình phát triển đất nước. Đối với lĩnh vực quân sự, quốc phòng, tư duy và tầm nhìn đó lại càng có ý nghĩa quan trọng, trong xây dựng và phát triển ngành công nghiệp quốc phòng, nghiên cứu, sản xuất các loại vũ khí hiện đại, không bị chi phối bởi các yếu tố nước ngoài, tự chủ phát triển khoa học kỹ thuật, kỹ thuật công nghệ, công nghệ lõi, nhất là tự chủ từ nghiên cứu thiết kế đến sản xuất, phù hợp với điều kiện địa hình và cách đánh của Quân đội ta, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.



[1] ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 140.