Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

Việt Nam - điểm hẹn hòa bình!

 


Yêu chuộng hòa bình là nét văn hóa tốt đẹp, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong thời kỳ mới, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã không ngừng gìn giữ, bồi đắp, phát huy để giá trị thiêng liêng, cao quý đó càng tỏa sáng, vững bền.


1. Những năm qua, trong xu thế hội nhập quốc tế, hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam diễn ra phong phú, đa dạng trên các trụ cột và nhiều phương diện, bình diện. Công tác đối ngoại đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, cũng trong quá trình đó, những đối tượng hiềm khích và lực lượng chống phá cách mạng Việt Nam không ngừng tung ra các chiêu trò, thủ đoạn bôi nhọ, bẻ cong sự thật. Đã có nhiều bài viết, bài báo đăng trên các diễn đàn, website, cơ quan báo chí địa chỉ ở nước ngoài... chủ ý bịa đặt nhiều thông tin, cố tình quy chụp, cho rằng Việt Nam đang tăng cường quan hệ với nước này nhằm chống nước kia, hoặc dựa vào nước này để tránh sức ép từ nước khác, cố tình gây dựng đồng minh, phe cánh... Cùng với đó, chúng cố gắng xuyên tạc, bôi nhọ những giá trị truyền thống và giá trị văn hóa yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.


Những luận điệu nêu trên tuy không mới nhưng xuất hiện dày đặc ở những thời điểm diễn ra các hoạt động đối ngoại quan trọng của Việt Nam, cũng ít nhiều gây xáo trộn, nhiễu loạn thông tin. Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với mưu đồ gây bất hòa trong mối quan hệ giữa Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới... Mặc dù chỉ là những luận điệu vô căn cứ, bịa đặt, là tiếng nói lạc lõng, yếu ớt của một số cá nhân... nhưng hệ quả của nó sẽ hết sức nguy hại, nếu không sớm được nhận diện, đấu tranh phủ nhận, bóc gỡ kịp thời.


2. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của Việt Nam cho thấy: Dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Dù trải qua các cuộc trường kỳ kháng chiến, đối đầu với những kẻ thù hùng mạnh, nhưng dân tộc Việt Nam luôn khẳng định tính chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình bất diệt. Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động nhất cho khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, hòa bình là lợi ích của tất cả các dân tộc, do đó phải đấu tranh cho hòa bình trên thế giới được bền vững, “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí”. Cũng theo Người, trừ những người đi bóc lột, còn lại đều là bạn bè, là anh em, những người chung cảnh bị bóc lột. Người là hiện thân của tinh thần “Quan san muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” và lý tưởng “người với người là bạn”.


Thực tiễn cách mạng cho thấy, mỗi người dân Việt Nam khi bước ra chiến trường là vì độc lập, hòa bình của dân tộc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân và thực hiện tinh thần quốc tế cao cả. Họ luôn anh dũng, kiên cường chiến đấu bằng tinh thần "sẵn sàng hy sinh khi Tổ quốc cần", thế nhưng đến lúc giành thắng lợi cuối cùng, người dân lại hồn hậu, lạc quan đón nhận cuộc sống thái hòa bình dị, sẵn sàng "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai", đúng như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã đúc kết trong bài "Việt Nam quê hương ta": Đất nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên/ Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa- Đây là sự khái quát đầy đủ, sinh động về tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.


3. Đã có không ít lãnh đạo của các cường quốc trên thế giới và tổ chức quốc tế ghi nhận, bày tỏ cảm phục về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình và hành động vì hòa bình thế giới. Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres từng khẳng định với lãnh đạo cấp cao Việt Nam trong một cuộc điện đàm: “Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới”. Đại sứ Barbara Woodward, Trưởng phái đoàn thường trực Anh tại Liên hợp quốc từng đánh giá: “... Những đóng góp của Việt Nam có giá trị cao, giúp giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với hòa bình và an ninh quốc tế”. Phát biểu khi đến thăm Việt Nam (năm 2016), Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama khẳng định: “Đối với các bạn, xung đột trong quá khứ là một ký ức không vui. Nhưng ngày hôm nay, Việt Nam và Mỹ đã cho thế giới thấy rằng, trái tim có thể thay đổi và hòa bình là điều có thể”. Đặc biệt, đã có đến 5 lần các Tổng thống Mỹ sang thăm Việt Nam và chứng kiến những đổi thay của mối quan hệ hai nước, song tình cảm thân thiện, yêu chuộng hòa bình của người dân Việt Nam là giá trị bền vững làm lay động trái tim của những chính khách, như Tổng thống Obama gửi lời cảm ơn trước lúc rời Việt Nam trong chuyến thăm năm 2016: “Sự thân thiện của các bạn đã chạm đến trái tim tôi”. 


Đã từ lâu, Thủ đô Hà Nội được bạn bè quốc tế biết đến là điểm đến hòa bình, thân thiện, mến khách. Hình ảnh lãnh đạo cấp cao của các quốc gia trên thế giới đi dạo trên phố phường Việt Nam thanh bình, thưởng thức ẩm thực đường phố, uống cà phê vỉa hè... từ lâu đã không có gì mới mẻ hay lạ lẫm với người dân Việt Nam, cũng trở nên rất đỗi thân quen với truyền thông quốc tế. Đặc biệt, không phải tự dưng mà cách đây mấy năm, lãnh đạo của hai nước Mỹ và Triều Tiên đều đề nghị Việt Nam đứng ra làm nước chủ nhà tổ chức Hội nghị thượng đỉnh lần hai (năm 2019). Hội nghị diễn ra an toàn tuyệt đối không chỉ đối với phái đoàn hai nước mà còn với gần 3.000 phóng viên đến từ hơn 200 hãng thông tấn, báo chí quốc tế từ nhiều châu lục đến đưa tin về sự kiện này. Việt Nam đã rất nỗ lực, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối cho hội nghị, thể hiện rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Cả hai nguyên thủ trước khi rời Việt Nam đều gửi lời cảm ơn Việt Nam vì sự tiếp đón ân cần, chu đáo, thịnh tình và vì trách nhiệm chung với cộng đồng quốc tế.


Trong những năm gần đây, khi tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến mới, nhanh chóng và phức tạp, gây không ít khó khăn, thách thức lớn hơn so với dự báo, nhưng Việt Nam luôn là quốc gia giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển, đổi mới đất nước. Môi trường sống ở Việt Nam không ngừng được cải thiện, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, trong đó có nhiều tiêu chí gây ấn tượng, ngang với những nước phát triển. Môi trường ổn định, yên bình cùng người dân thân thiện đã thu hút các nhà đầu tư quốc tế, đồng thời thuyết phục rất nhiều người nước ngoài lựa chọn sinh sống và làm việc tại Việt Nam.


Không dừng lại ở đó, Việt Nam đã và đang mang khát vọng hòa bình vươn xa bằng cách tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Mỗi sĩ quan được cử đi làm nhiệm vụ đặc biệt này chính là đại sứ hòa bình, nắm trọng trách truyền đi khát vọng hòa bình của dân tộc. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện để cứu trợ nhân đạo, tái thiết cơ sở hạ tầng, rà phá bom, mìn, giúp nhân dân bản địa ổn định cuộc sống... đã trở thành biểu tượng cao đẹp, khiến hai tiếng Việt Nam được vang lên đầy tự hào ở những đất nước xa xôi.


4. Mới đây, phát biểu tại Lễ kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 / 2-9-2023), Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định: Việt Nam là đất nước của hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, là điểm đến tươi đẹp, an toàn, thân thiện, giàu lòng mến khách. Việt Nam luôn nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối cho hợp tác và đối thoại, củng cố chủ nghĩa đa phương, thúc đẩy giải quyết bằng biện pháp hòa bình thông qua đối thoại về các tranh chấp trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; sẽ luôn là người bạn chân thành, thủy chung, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.


Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thiết lập quan hệ song phương, đa phương với các quốc gia trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 192 quốc gia trên thế giới. Trong đó, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước; bao gồm 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu (G7) và tất cả thành viên ASEAN. Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, trong đó 96 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Các tổ chức hữu nghị nhân dân có quan hệ với 1.200 tổ chức nhân dân và phi chính phủ nước ngoài. Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 220 đối tác, 71 nước đã công nhận quy chế kinh tế thị trường đối với Việt Nam. Việt Nam là thành viên của hơn 70 tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và toàn cầu... Kết quả đó cho thấy thành tích to lớn của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thế nhưng, điều đáng ghi nhận hơn là các đối tác đều tích cực, chủ động, bày tỏ lòng mong muốn hợp tác với Việt Nam; thể hiện sự cảm phục, tình yêu và sự trọng thị dành cho Việt Nam-một người bạn thủy chung-một đối tác tin cậy, luôn nỗ lực hợp tác vì lợi ích chung và vì hòa bình của thế giới.


Để tiếp tục khẳng định vai trò và sứ mệnh của một quốc gia yêu chuộng hòa bình, thời gian tới, Việt Nam tiếp tục nỗ lực giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm tốt an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra môi trường kinh tế-xã hội hòa bình, năng động, thân thiện. Việt Nam kiên định chủ trương: “Thêm bạn bớt thù, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, đẩy mạnh công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước để không ngừng khẳng định uy tín, vị thế của dân tộc; đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình của cả dân tộc và mỗi người dân Việt Nam.


Đặc biệt, triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) và thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc (tháng 12-2021), đối ngoại Việt Nam cần tiếp tục kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược; chú trọng triển khai hiệu quả, đồng bộ, toàn diện, linh hoạt trên cả 3 trụ cột (đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân); nỗ lực thực hiện vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; huy động mạnh mẽ các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước; nâng cao vai trò, vị thế, uy tín quốc tế của Đảng và đất nước. Hơn bao giờ hết, Việt Nam tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.


Nhóm PV Báo QĐND

Tiếp tục xây dựng Đảng vững vàng về tư tưởng, tiên phong về lý luận

 

Đây là một trong những nhiệm vụ cơ bản, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, niềm tin của cán bộ, đảng viên đối với Đảng ta và chế độ xã hội chủ nghĩa; tạo sự đoàn kết thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong Đảng và toàn xã hội, góp phần quan trọng đảm bảo cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận giành thắng lợi. V.I.Lênin từng chỉ rõ: “Chỉ Đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(2). Nhằm xây dựng Đảng vững mạnh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận giai đoạn hiện nay, cần tập trung một số nội dung sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể, cán bộ, đảng viên và Nhân dân về vị trí, vai trò của công tác tư tưởng, lý luận.

Để công tác tư tưởng, lý luận của Đảng đạt kết quả cao, trước hết cần xác định công tác tư tưởng, lý luận là trách nhiệm của toàn Đảng, Nhà nước, của từng cấp ủy, chính quyền, từng cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của công tác tư tưởng, lý luận cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân, làm cho mỗi cấp ủy, bí thư cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, đơn vị nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác tư tưởng, lý luận.

Hai là, tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh và điều kiện mới.

Trong điều kiện hiện nay, cần làm rõ những giá trị lý luận cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển những luận điểm lý luận mới cho phù hợp với thực tế.

Ba là, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức công tác tư tưởng, lý luận theo hướng chủ động, thiết thực, hiệu quả.

Cần xác định rõ nội dung công tác tư tưởng, lý luận cho phù hợp với từng đối tượng, từng thời gian, điều kiện hoàn cảnh. Nội dung công tác tư tưởng lý luận cần tập trung vào những vấn đề cụ thể, những vấn đề bức xúc mà thực tiễn công cuộc đổi mới, phát triển đất nước đang đặt ra, những vấn đề mà xã hội đang quan tâm; tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong quá trình phát triển đất nước. 

Đặc biệt, nội dung trọng tâm của công tác tư tưởng, lý luận hiện nay là phải tập trung vào việc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, các hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Coi trọng việc giáo dục, tuyên truyền để mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, mọi người dân, nhất là thanh, thiếu niên, học sinh, sinh viên nhận thức đầy đủ, sâu sắc vai trò, công lao của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Cần khắc phục tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ngại học tập lý luận chính trị. Xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế để mỗi cán bộ, đảng viên phải tích cực và thường xuyên học tập lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, không ngừng trau dồi bản lĩnh chính trị, giữ vững lập trường của giai cấp công nhân. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng cho mọi cán bộ, đảng viên và Nhân dân về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, trên cơ sở đó nâng cao “sức đề kháng” xã hội, nhất là cho thế hệ trẻ. 

Đổi mới mạnh mẽ phương thức công tác tư tưởng, lý luận theo hướng vừa giữ vững nguyên tắc, vừa mềm dẻo, linh hoạt, có cơ sở lý luận và thực tiễn, có tính khách quan và khả năng thuyết phục, phù hợp với trình độ, tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu của từng đối tượng. Xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng cần quán triệt phương châm “tích cực, chủ động, kịp thời, từ xa, từ sớm”; chủ động kịp thời nắm bắt, dự báo, xử lý những vấn đề tư tưởng nảy sinh trong đời sống xã hội, kiên quyết không để lây lan các hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, không để các thế lực thù địch lợi dụng nhằm xuyên tạc, chống phá. 

Bốn là, tăng cường phối hợp các tổ chức, cơ quan chức năng, các lực lượng nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. 

Cần có sự phối hợp chặt chẽ của cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội với quần chúng nhân dân; phải quán triệt nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, chính sách; Nhà nước quản lý bằng pháp luật, bằng các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Nhân dân làm chủ thông qua cơ chế dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, được bảo đảm bằng pháp luật. 

Năm là, tiếp tục củng cố tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận.

Sớm kiện toàn việc xây dựng các cơ quan tham mưu cấp ủy, các  lực lượng chuyên trách công tác tư tưởng, lý luận theo hướng tinh gọn, trong sạch, đủ mạnh, có nghiệp vụ tinh thông, sắc sảo, nhạy bén về chính trị, đủ sức tham mưu kịp thời, chính xác cho cấp ủy về công tác tư tưởng lý luận. Sắp xếp các cơ quan truyền thông đại chúng theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả. Tập trung xây dựng đội ngũ các nhà khoa học lý luận đầu ngành, có trình độ, năng lực phản bác lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Đây là vấn đề hết sức quan trọng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng và phát triển lý luận của Đảng hiện nay.

Sáu, tăng cường đầu tư nguồn lực, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cho công tác tư tưởng, lý luận; xây dựng môi trường văn hóa, xã hội lành mạnh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.

Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ phục vụ công tác tuyên truyền; kịp thời cung cấp thông tin cho Nhân dân về đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm định hướng dư luận xã hội, giữ vững niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Phát triển kinh tế - xã hội bền vững, xây dựng môi trường văn hóa xã hội lành mạnh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân là mục tiêu, yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước. Kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương, các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mỗi người dân.


KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp yêu cầu của lịch sử. 


Tuy vậy, các thế lực thù địch vẫn đưa ra các nội dung xấu độc, các luận điệu gây nghi ngờ, đầy sự kích động. Trước những luận điệu phi lý, xuyên tạc sự thật và phản động này, cần phải khẳng định rằng:


NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG


Có thể nói, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại; là sự vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước; đồng thời được thực hiện xuyên suốt trong tiến trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nhà nước pháp quyền là phương thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật. Đó phải là một nhà nước tuân thủ nguyên tắc chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân, thực hiện phân quyền, pháp quyền, dân chủ, tôn trọng quyền con người và quyền công dân… Đó phải “là thể chế, là chế độ mà ở đó, mọi chủ thể như nhà nước, cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước, cá nhân hay mọi chủ thể khác trên lãnh thổ đều phải chấp hành, thực hiện, tuân thủ pháp luật đã được ban hành”(1). Song trên thực tế, không có các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền chung, áp dụng thống nhất cho mọi nhà nước nhà nước pháp quyền cụ thể, mà là tùy thuộc từng quốc gia sẽ tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền hay tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập… Vì thế, việc Việt Nam tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc phân quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản/Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chẳng có gì trái với nguyên tắc tổ chức của một Nhà nước pháp quyền, dù không thực hiện tam quyền phân lập.


Hơn nữa, để đảm bảo Nhà nước pháp quyền trước hết phải là một nhà nước hợp pháp, hợp hiến, không lâu sau khi khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được triển khai thực hiện thông qua việc tổ chức Tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, đoàn kết để bầu Quốc hội khóa I (6/1/1946); để Quốc hội trao quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ chính thức và thông qua Hiến pháp 1946. Theo đó, Điều 1, Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Đây chính là minh chứng cho quan điểm nhân dân là chủ thể tối cao, duy nhất của quyền lực Nhà nước. Cho nên, mọi luận điệu cho rằng, không thể có một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị của các thế lực thù địch đều là xuyên tạc, bôi đen sự thật.


Thực tế, từ bản chất Nhà nước của dân, do dân, vì dân, ở Việt Nam, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (29/11/1991); tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (1/1994) là “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”(2) cũng như trong các văn kiện khác của Đảng sau đó như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. Đặc biệt, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp (lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001)(3); đến Điều 2, Hiến pháp năm 2013 thì khẳng định rõ: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” và nhất là vấn đề “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(4) (một nội dung quan trọng của Đại hội XIII)… chính là những dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng, củng cố và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo. Đó đồng thời cũng là quá trình hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trên tinh thần dựa vào dân, lấy dân làm gốc; nhân dân là nguồn gốc và chủ thể của quyền lực Nhà nước; tất cả vì lợi ích của nhân dân: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức lên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(5).


NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA KHẲNG ĐỊNH VÀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN


Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ của công dân không chỉ được pháp luật thừa nhận, tôn trọng, mà còn được bảo đảm thực hiện, thúc đẩy trong khuôn khổ pháp luật; quyền con người, quyền công dân, sự bình đẳng của mọi cá nhân không chỉ được khẳng định mà còn được bảo vệ, tôn trọng trong việc thụ hưởng và phát triển, không có sự phân biệt đối xử. Những nguyên tắc này không chỉ được khẳng định trong các bản Hiến pháp, mà còn được bổ sung, điều chỉnh và ngày càng hoàn thiện, đảm bảo để mọi người dân đều được tôn trọng, thụ hưởng, bảo vệ ngày càng đầy đủ hơn. Cụ thể, Chương “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” đứng vị trí thứ hai trong Hiến pháp năm 1946; trong đó ghi rõ công dân Việt Nam có các nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật; công dân Việt Nam có quyền bình đẳng trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, nhất là mọi công dân đều có thể tham gia vào chính quyền và công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước…


Sau đó, lần đầu tiên thuật ngữ “quyền con người” được ghi nhận chính thức tại Điều 50, Hiến pháp năm 1992: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Quyền công dân ở Hiến pháp năm 1992 cũng được mở rộng hơn so với Hiến pháp 1946, 1959, 1980 rất nhiều; trong đó có nhiều quyền mới trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội lần đầu được ghi nhận như quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 57); quyền của cá nhân được suy đoán vô tội (Điều 72)…


Khoản 1 Điều 14 tại Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” của Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đặc biệt, khoản 2 Điều 14 bổ sung nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đây không chỉ là sự phát triển, ghi nhận quyền con người, quyền công dân so với các bản Hiến pháp trước, mà còn là điều kiện để bảo đảm sự cân bằng, minh bạch trong mối quan hệ giữa Nhà nước với con người, công dân phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên cũng như hạn chế tối đa sự lạm dụng, tùy tiện quyền con người, quyền công dân…


Vì thế, theo Hiến pháp Việt Nam, thì không có cá nhân hay tổ chức nào có ý kiến tâm huyết nhằm làm cho đất nước phát triển mà “bị Nhà nước vu khống, bắt giam”; đồng thời, cũng càng không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” bị giam giữ, mà chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng truy tố, xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Thực chất việc đột lốt dân chủ, giả danh đấu tranh cho dân chủ để vi phạm pháp luật khác về bản chất với những ý kiến tâm huyết, đóng góp vì sự phát triển cảu đất nước. “Tù nhân lương tâm” chỉ là sự đánh tráo khái niệm, là cách gọi của các phần tử cơ hội, phản động dành để gọi những người, bị kết án và phải chấp hành hình phạt tù. Đó chính là những người đã tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017). Đó cũng là những người lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo Điều 331, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).


Cho nên, cần phải khẳng định chắc chắn rằng, không phải trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì mọi ý kiến “phản biện”, “tâm huyết” để “phát triển đất nước”, để “giúp người dân được sống tự do, hạnh phúc” của những người “yêu nước” đều bị bỏ tù như luận điệu phản động của các thế lực thù địch, mà chỉ có những người vi phạm pháp luật như Phạm Thị Đoan Trang, Cấn Thị Thêu,  Nguyễn Văn Túc, Huỳnh Trương Ca, Lê Đình Lượng, Bùi Hiếu Võ, Đoàn Khánh Vinh Quang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Văn Hoá... thì phải chịu sự xử lý nghiêm minh của luật pháp. Cho nên, không có việc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, mà là ở Việt Nam thì thượng tôn pháp chế xã hội chủ nghĩa là tất yếu!


Cuối cùng, phải khẳng định rằng: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(6). Vì thế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyện vọng và sự lựa chọn của nhân dân, phù hợp với xu hướng phát triển nhà nước trên thế giới, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cân nhắc, vận dụng và triển khai phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đó là sự thật và cũng là yêu cầu của lịch sử, chứ không phải là “nhà nước này không do dân chọn” mà là bị Đảng “nhét chữ vào miệng” như quy chụp; đồng thời cũng cho thấy nhận định “Nhà nước ở Việt Nam thời cộng sản không phải của dân, do dân và vì dân mà là “của Đảng, do Đảng và vì Đảng” của các thế lực thù địch là không khách quan, là bôi đen sự thật, là sự dối trá.


Thực tế, quá trình xây dựng và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được thực thi vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn “dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm”(7) và “đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(8) cũng như những kết quả đạt được về chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, thực hiện an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo; về đảm bảo và thực thi quyền con người, quyền công dân, bảo vệ công lý... của Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là minh chứng cho thấy luận điệu “nhân dân không bầu ra nhà nước này mà do Đảng tự lập ra để cai trị độc tài” của các thế lực thù địch là phản động, là nhằm mục đích kích động, phủ nhận bản chất “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên cần phải bác bỏ!

ST


Tăng cường công tác xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị

 


Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị là quá trình xây dựng cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan và tổ chức thực hiện thắng lợi cương lĩnh, đường lối đó trong thực tiễn, bảo đảm cho quyền lực chính trị và vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng không ngừng được củng cố và nâng cao. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với Đảng, mà cả đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, là tiền đề cho công tác xây dựng Đảng về mọi mặt. Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị cần tập trung một số nội dung sau đây:

Một là, tiếp tục tuyên truyền, giáo dục, quán triệt sâu sắc, rộng rãi cho mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong bất kỳ hoàn cảnh nào; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và người dân nhận thức sâu sắc, đầy đủ và tạo sự đồng thuận trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng.

Hai là, các cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị khẩn trương cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng. Đây là văn kiện có giá trị cao nhất của Đảng, tập trung trí tuệ, thể hiện ý chí và khát vọng của toàn Đảng và Nhân dân ta. Tất cả các tổ chức, cơ quan, đơn vị, các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị, tất cả cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc thực hiện. 

Ba là, tập trung lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị.

Bốn là, tập trung củng cố, nâng cao trí tuệ, năng lực lãnh đạo và cầm quyền  của Đảng. Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội; là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, là hạt nhân chính trị, quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, cần thường xuyên chăm lo củng cố vị trí, vai trò lãnh đạo, nâng cao trí tuệ, năng lực cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị và đối với toàn xã hội. Để nâng cao trí tuệ, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, mọi tổ chức đảng phải chủ động nâng cao năng lực dự báo, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; phải thường xuyên chăm lo nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp, nâng cao trình độ, năng lực mọi mặt cho mọi cán bộ, đảng viên, xứng đáng là những chiến sĩ tiên phong, vững vàng về lập trường, quan điểm chính trị, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tận tụy phục vụ Nhân dân.

Năm là, tập trung đẩy mạnh cuộc đấu tranh bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, xuyên tạc lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, xa rời Nhân dân, đặc quyền, đặc lợi và các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.


GHEN GHÉT VÀ ĐỐ KỊ!

  Một ngày đẹp trời nào đó của những năm trước, bọn mồm lông (gọi chung bọn chống phá) đưa ra luận điểm phải “bám vào Mỹ, đi theo Mỹ thì đất nước mới phát triển”, “có đủ tiềm lực kinh tế, quốc phòng chống lại Bắc Kinh bành trướng, nhất là ở biển Đông”! Hôm nay, thấy Mỹ và Việt Nam sau 10 năm quan hệ hợp tác toàn diện và có chung dụng ý nâng tầm quan hệ là “đối tác chiến lược toàn diện” thì chúng lại quay ngoắt cảnh báo ta “hãy coi chừng những hệ lụy xấu sau chuyến thăm”?! Không hiểu chúng đang nghĩ gì? Phải chăng là đang lo lắng cho đất nước!?

Thứ nhất, bọn mồm lông là những bọn chuyên chọc gây bánh xe, nó nói bất kỳ thứ gì mà chúng cảm thấy có thể gây khó khăn cho Đảng và Nhà nước Việt Nam, không ngoài mục đích lái dư luận sang hướng công kích chế độ, chính sánh của Đảng, từng bước là thui chột lòng tin của nhân dân. Và hơn thế nữa, những bài viết của chúng dù ở đâu thì cũng được trả tiền, vì vậy chúng sẽ tìm mọi kẽ hở để viết sao cho thành bài, thành vở. Gọi là kiếm tý cơm canh.
Thứ hai, Chủ trương của chúng ta là xây dựng quan hệ đối tác chiến lược không chỉ với 5 cường quốc lớn mà cả với tất các nước, miễn là cả hai bên cùng có lợi. Điều đó cho thấy chủ trương đối ngoại của Đảng là “làm bạn với tất cả các nước” có chung lợi ích theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ quốc tế. Một điều chắc chắn rằng, chúng ta không thiết lập mối quan hệ với nước này để chống nước khác. Sau nâng tầm quan hệ đối tác với Mỹ sẽ là Australia, Singapore, vv..
Thứ ba, Quan hệ quốc tế không không đơn giản như mấy đứa trẻ con chơi với nhau: Nếu mày chơi với bạn kia thì tau ứ chơi với mày nữa. Vì vậy, chúng ta không lo ngại thân Mỹ sẽ bị Trung tự ái, vì suy cho cùng nước nào cũng vậy thôi, tất cả đều vì lợi ích của chính nước họ, nên không thể nói là chơi hay không chơi, hợp tác luôn cả hai bên cùng có lợi. Đừng vẽ ra những thứ xấu xí để quy chụp cho những điều mà chúng ta chưa thật sự hiểu hết!
Chúc chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Mỹ thành công như mong đợi!
St

Quyết tâm chính trị của Đảng ta trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng

 


Ngày 9/12/2021, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai kết luận và quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thể hiện tầm quan trọng và quyết tâm chính trị rất cao, thể hiện việc cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta về vấn đề này.

Từ nhiều năm nay, Trung ương Đảng đã nhận thấy rõ những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, coi đây là một vấn đề then chốt đảm bảo nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Nếu không, Đảng sẽ không thể đáp ứng được sứ mệnh lịch sử mà nhân dân giao phó. 

Hội nghị Trung ương 4, khóa XI ban hành Nghị quyết Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; tiếp đến Hội nghị Trung ương 4, khóa XII tiếp tục ban hành Nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, thể hiện rõ quyết tâm chính trị, nhằm lập lại kỷ cương trong Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Và đến Hội Nghị Trung ương 4 khóa XIII mới đây, Trung ương Đảng ban hành Kết luận Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; và Quy định mới Về những điều đảng viên không được làm.

Càng thấy rõ quyết tâm chính trị và sự tâm huyết, trách nhiệm của người đứng đầu Đảng ta thể hiện trong bài phát biểu chỉ đạo Hội nghị ngày 9/12, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát hết sức rõ ràng các nội dung, đưa ra các luận cứ khoa học và thực tiễn để giải đáp các vấn đề cấp bách và lâu dài trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

 Hội nghị cán bộ toàn quốc về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. (Ảnh: Phạm Cường)

Tổng Bí thư đã lý giải vì sao lần này Trung ương lại tiếp tục bàn và ra Nghị quyết về vấn đề này? Đó là: "... bên cạnh những kết quả, thành tích đã đạt được, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII của Đảng cũng còn những hạn chế, khuyết điểm: Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu, đặc biệt là sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình; công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Hệ thống chính trị ở nước ta chưa thực sự trong sạch, vững mạnh như mong muốn; không ít cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền, làm việc ở những ngành, lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực vẫn thiếu tu dưỡng và rèn luyện, vẫn sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bị xử lý kỷ luật của Đảng và xử lý hình sự. ..."

Tổng Bí thư cũng chỉ ra nội dung mới của lần này, đó làkhông chỉ xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả xây dựng hệ thống chính trị; không chỉ đối với đảng viên và các cấp uỷ, tổ chức đảng mà còn mở rộng ra cả đối với cán bộ, công chức, viên chức, các cấp chính quyền, các cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị. Và tinh thần mới, xác định mục tiêu mới là: đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Bổ sung, nhấn mạnh thêm nhóm nhiệm vụ, giải pháp về "Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả". Bổ sung, hoàn thiện toàn diện hơn các thể chế, thiết chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Đồng thời, Tổng Bí thư đã chỉ rõ những việc phải làm và làm ngay để thực hiện có kết quả, biến Nghị quyết thành hiện thực sinh động, đó là: Phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của Kết luận và Quy định, nắm vững những tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm; mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Các cấp uỷ và tổ chức đảng các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị cần khẩn trương xây dựng kế hoạch hành động, chương trình học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Kết luận, Quy định, tránh hời hợt, hình thức. Phải thực hiện đồng bộ, toàn diện, đồng thời có trọng tâm, trọng điểm. Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là người đứng đầu, người chủ trì phải gương mẫu, tự giác làm trước, nghiêm túc tự phê bình, kiểm điểm, tự soi lại mình, đơn vị mình, gia đình mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình.

Có thể nói, việc Bộ Chính trị tổ chức một hội nghị với quy mô toàn quốc đã thể hiện sự chỉ đạo tập trung, trực tiếp từ Trung ương đến các tổ chức cơ sở Đảng, Nhân dân tin tưởng nhiều hơn vào quyết tâm chính trị của Tổng Bí thư cùng toàn Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hy vọng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong, là lực lượng lãnh đạo đất nước.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, là nhiệm vụ then chốt, có vị trí đặc biệt quan trọng, thể hiện trong một số luận điểm sau: Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Hồ Chí Minh đặt “Tư cách của một người cách mệnh” lên hàng đầu, quan điểm người cách mệnh “phải giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng tham muốn về vật chất”.

Người rất coi trọng việc chỉnh đốn Đảng, trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" năm 1947 Bác nói: Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

Trong bài nói chuyện tại lớp chỉnh huấn đầu tiên của Trung ương (ngày 11/5/1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Vì điều kiện khó khăn, mà số đông cán bộ và đảng viên chưa được huấn luyện hẳn hoi cho nên tư tưởng và trình độ chính trị còn thấp kém và lệch lạc. Điều đó tỏ rõ ra ở mỗi khuyết điểm như: không nắm vững chính sách trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh; không phân biệt rõ ràng bạn và địch, bệnh quan liêu, công thần và nạn tham ô hủ hóa khá nặng, v.v..."

“Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”, đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (năm 1969).

Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người cũng đề ra những yêu cầu cơ bản về đạo đức của cán bộ, đảng viên và yêu cầu xuất phát từ bản chất cách mạng của Đảng, từ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân:“Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” .

Những nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị cần tập trung thực hiện trong thời gian tới theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 

Trên cơ sở kế thừa và đánh giá kết quả việc thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng đề ra 10 nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị để thực hiện; trong đó, có nhiều nội dung được bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới.

Thứ nhất, đẩy mạnh xây dựng Đảng về tổ chức; tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Về hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị, kế thừa Đại hội XII, Đại hội XIII bổ sung thêm một số nhiệm vụ, giải pháp mới; trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tới việc cần tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị. Tổng kết các mô hình thí điểm về tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị, khắc phục sự chồng chéo và những bất hợp lý trong tổ chức của Đảng và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Sơ kết, tổng kết, nhân rộng những mô hình thí điểm có hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và nghiên cứu triển khai thực hiện ở cấp tỉnh theo lộ trình phù hợp với quy hoạch tổng thể các đơn vị hành chính các cấp. Đồng thời, Đại hội XIII cũng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm”(6).

Theo đó, cần tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Hoàn thiện thể chế, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa pháp luật của Nhà nước với quy định của Đảng về tổ chức bộ máy. Đánh giá, hoàn thiện mô hình tổ chức đảng theo ngành, lĩnh vực và những nơi có đặc điểm riêng.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đặc biệt là đối với Nhà nước trong điều kiện mới.

Phương thức lãnh đạo của Đảng có vai trò quan trọng, đặc biệt là trong huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là khâu quan trọng nhất, do vậy, cần tập trung đổi mới theo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước. Nhà nước quản lý xã hội, nhưng không xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Đổi mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn công tác lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; đồng thời, kết hợp chặt chẽ việc đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo nên sự đồng bộ, sức mạnh tổng hợp trong hệ thống chính trị nhằm thực hiện có kết quả, đưa nghị quyết của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Trên tinh thần đó, Đại hội XIII của Đảng đưa ra yêu cầu: “Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương; đổi mới việc xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng các nghị quyết của Đảng; khắc phục tình trạng ban hành nghị quyết chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi”(7).

Thứ ba, đẩy mạnh thực hành dân chủ trong Đảng, xây dựng văn hóa Đảng là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Để xây dựng Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như mọi công việc khác, “thực hành dân chủ rộng rãi” là phương thuốc để phát huy quyền làm chủ và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong đấu tranh và loại trừ những kẻ thoái hóa, biến chất, quan liêu - những kẻ “miệng nói dân chủ nhưng làm việc theo lối quan chủ”. Muốn xứng đáng với vai trò tiền phong, Đảng phải chú trọng công tác xây dựng Đảng, thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn; trong đó, mọi hoạt động đều phải tuân thủ Điều lệ Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ phải được thực thi và dân chủ phải được mở rộng.

Chỉ có thực hành dân chủ trong Đảng rộng rãi thì mới có thể tiến hành mở rộng dân chủ trong xã hội. Thấm nhuần, vận dụng tư tưởng của Người, Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội”(8).

Đảng ta đặc biệt chú trọng xây dựng văn hóa Đảng, xem đây là nền tảng, là sức mạnh nội sinh bảo đảm cho việc thực hiện mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa Đảng, Đảng ta đã nhiều lần đề cập, coi đây là nhân tố quan trọng, là hạt nhân để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Thứ tư, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp.

Đại hội XIII nhấn các mạnh nhiệm vụ: Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp. Coi trọng đánh giá chất lượng, hiệu quả thực tế theo chức trách, nhiệm vụ được giao và đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Chú trọng cơ cấu hợp lý, sớm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là ở cơ sở. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tàiChương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Thứ năm, kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Cần kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Nâng cao chất lượng cán bộ ủy ban kiểm tra các cấp, để họ xứng đáng là đội ngũ tiên phong trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tăng cường phối hợp giữa giám sát, kiểm tra của Đảng với thanh tra, kiểm toán của Nhà nước và giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Thứ sáu, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị.

Nhận thức sâu sắc về vai trò, vị thế đặc biệt quan trọng của nhân dân nói chung và trong công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị nói riêng, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định và đề ra nhiệm vụ cần tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, cả hệ thống chính trị về công tác dân vận; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới.

Đảng xác định cần đổi mới và đẩy mạnh công tác vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và trách nhiệm của công dân; đồng thời, chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức, mị dân. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả các quy định, quy chế về phát huy dân chủ ở cơ sở; thực hiện tốt công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết những kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân; xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân, các vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài, không để hình thành các “điểm nóng” về an ninh chính trị, trật tự xã hội.

Để đáp ứng được sự gửi gắm niềm tin của nhân dân, Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự khắc phục sai lầm, hạn chế, khuyết điểm, phải thật sự là đảng chân chính, cách mạng, “là đạo đức, là văn minh”, mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, thành tâm học hỏi quần chúng nhân dân, dựa vào nhân dân để cùng xây dựng, chỉnh đốn, bảo vệ, phát triển Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, đưa đất nước ta phát triển nhanh, bền vững, sớm đạt được mục tiêu trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI./.


QUYỀN LỰC ẢO TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 


Sự phát triển của công nghệ truyền thông và các nền tảng mạng xã hội đã giúp cho người sử dụng đạt được nhiều tiện ích trong tiếp nhận, chia sẻ thông tin, hình ảnh, đồng thời được bộc lộ chính kiến, quan điểm và thảo luận đa chiều về nhiều vấn đề xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những tác dụng tích cực, việc sử dụng mạng xã hội (MXH) cũng gây ra rất nhiều hệ lụy cho người dùng.


“NGÁO” PHÂY, “HÁO” LIKE, “NGHIỆN” TRANH LUẬN


Với cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới vật lý đang được số hóa. Đời sống thực đang được phản chiếu vào không gian mạng. Chỉ cần có một chiếc điện thoại thông minh và có sóng wifi, 4G người ta có thể tham gia thế giới ảo trên MXH mọi lúc, mọi nơi. Chính vì vậy, MXH ngày càng chiếm ưu thế và là phương tiện truyền thông rộng rãi và nhanh nhất thế giới với lượng người dùng lên tới hàng tỷ người, tính tương tác cao.


Đặc trưng nổi bật của MXH là sự bình đẳng trong tranh luận và bày tỏ quan điểm chính kiến, thể hiện sự yêu - ghét đối với các vấn đề được đăng tải công khai trên các nền tảng MXH. Trên MXH, một vị giáo sư, bác tiến sỹ hay anh lái xe công nghệ, bà bán trà đá, cô công nhân vệ sinh môi trường cũng đều có quyền như nhau khi thả các nút “yêu thích”, “thương thương” hay “phẫn nộ”, “buồn chán”; đồng thời được thoải mái “bình luận” thể hiện kiến thức, cảm xúc, phông văn hóa của mình đối với một chủ đề. Các nền tảng MXH xuyên quốc gia cho phép người dùng tranh luận, đưa ra quan điểm, chính kiến cá nhân một cách công khai, “tự do” đăng tải hình ảnh, bài viết về các sự kiện mà không bị “kiểm duyệt”, không phải xác minh, không chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của thông tin, hình ảnh đã lôi kéo được rất nhiều người sử dụng. Việc tham gia MXH có nhiều đối tượng ở nhiều ngành nghề, mỗi người tham gia đều mang một tâm thế, sở thích khác nhau. Có người tham gia chỉ thuần túy giải trí, thư giãn; tìm hiểu thông tin cho công việc; người khác lại tìm kiếm lợi nhuận từ việc bán hàng “online”... Một số người nhờ những bài viết của mình mà trở thành thành KOLs (người dẫn dắt ý tưởng), có vị thế, uy tín trên MXH…


Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực là những mảng tối. Một bộ phận không nhỏ người dùng MXH vướng vào “quyền lực ảo” trên không gian mạng với một số biểu hiện đặc trưng sau:


Thứ nhất, mất quá nhiều thời gian truy cập MXH. Người sử dụng liên tục ở trạng thái “online”, mất thời gian lướt mạng, luôn phải tìm kiếm, nghĩ ra đề tài, bài viết nhằm duy trì lượng người người đọc, người hâm mộ. Thậm chí, MXH luôn còn khiến người dùng luôn “nơm nớp” một cảm giác FOMO (sợ hãi về việc sẽ bỏ lỡ một điều gì đó). Cảm giác này ám ảnh rằng nếu không thường xuyên vào mạng sẽ bị bỏ lỡ những điều hay ho, rồi trở thành “lạc hậu” trong mắt cộng đồng mạng.


Thứ hai, được tung hô thái quá, quên đi xuất phát điểm, quên vị trí và công việc chuyên môn của mình. Có một thực tế là, một số nhà báo, giảng viên, nhà nghiên cứu, cán bộ công chức do đặc thù nghề nghiệp nên được tiếp cận sớm với nhiều thông tin, trong đó có những thông tin quan trọng, thông tin mang tính chất “nội bộ” hơn các đối tượng khác. Nhờ việc được tiếp cận, biết thông tin sớm cộng với có kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành theo dõi nên họ viết bài đăng tải trên trang cá nhân và được cộng động mạng hưởng ứng, khích lệ bằng lượt “thích”, “chia sẻ”, “bình luận”... Hiệu ứng từ việc hưởng ứng và “tung hô” của “cư dân mạng” khiến cho người viết trước mắt có được cảm giác hân hoan, được thừa nhận, được chứng tỏ, nhưng về lâu dài khi cảm giác được “tung hô” và những lời khen “vô thưởng vô phạt” luôn thường trực sẽ khiến người viết sa vào ngộ nhận về một thứ quyền lực ảo mà quên đi trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp.


Nguy hiểm hơn, một bộ phận có biểu hiện “hai mặt”, chẳng hạn như có những phóng viên, nhà báo khi viết tin bài đăng báo theo nhiệm vụ thì ủng hộ chủ trương chính sách, nhưng trong các bài viết đăng tải trên MXH thì luôn đi ngược lại những quy định, chủ trương, đường lối, thể hiện thái độ tiêu cực; có những cán bộ ngành trong họp chuyên môn thuần túy không phát biểu ý kiến, nhưng trên trang cá nhân lại gay gắt bày tỏ thái độ bất mãn, phản đối các chủ trương, định hướng của lãnh đạo ngành… Chưa kể một số KOLs, một số nhà báo có fanpages có lượng theo dõi lớn chỉ chú tâm đăng tải bài viết với mục đích “tống tiền” doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân có dấu hiệu sai phạm.


Thứ ba, có quan điểm lệch lạc, sai trái dẫn đến lèo lái, định hướng dư luận xã hội một cách tiêu cực. Thực tế việc duy trì chế độ “online” trên mạng đã khiến một số KOLs đắm chìm trong thế giới ảo gây nên những hệ lụy thật. Không ít người đã đăng tải trạng thái, bài viết với những thông điệp cực đoan, lệch lạc, tiêu chuẩn kép, công kích về giới tính, tôn giáo, đạo đức và pháp luật. Xu thế chửi bới, bôi nhọ, “bóc phốt”, tấn công cá nhân trên không gian mạng là những biểu hiện “lệch chuẩn”, đang thu hút một lượng lớn người theo dõi, lấn át các thông tin quan trọng của đất nước, của đời sống xã hội. Nó là sự thách thức đối với thể chế, khi một số lượng lớn những người theo dõi trở thành “fan cuồng” có thể quay ra “tấn công” các cơ quan nhà nước, các cơ quan truyền thông chính thống bằng nhiều hình thức.


Để được cộng đồng mạng tung hô, chia sẻ, bình luận nhiều một số người dùng MXH đã không ngần ngại đánh tráo khái niệm, sao chép, trích dẫn, cắt dán tùm lum để dựng nên những bài viết không chính xác, đi ngược dòng dư luận, phản biện lại các thông tư, nghị định, dự thảo luật đang được đệ trình, xin ý kiến… mà không căn cứ vào cơ sở khoa học, cơ sở pháp luật, văn hóa… miễn sao nhiều like, nhiều chia sẻ là vui.


Thứ tư, xa rời thực tế, đắm chìm trong không gian ảo khiến họ trở nên lạc lõng, không bắt nhịp được với đời sống thực tại. Điều nguy hại này không chỉ xảy đến với những người lớn tuổi mà có một bộ phận không nhỏ giới trẻ cũng đang mắc phải biểu hiện sống ảo. Vì quá đắm chìm trong sự “tung hô”, cổ vũ mà không ít người luôn có biểu hiện, thái độ thờ ơ, vô cảm với mọi diễn biến cuộc sống xung quanh. Đi ăn, đi cà phê, đi du lịch cũng chỉ “loay hoay” chụp ảnh, nghĩ ý tứ minh họa cho ảnh rồi đăng tải, xong rồi “cắm mặt” vào đếm “like”! Có người chỉ vì mê mải với “cõi ảo” khiến năng lực công tác giảm sút, không đáp ứng và theo kịp yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn...


Thứ năm, ảo tưởng, sẵn sàng công kích cá nhân, nhãn hàng, cơ quan nếu như không được cung cấp dịch vụ vừa ý. Từ khi MXH phát triển một số bộ phận người dân đã nảy sinh thái độ ứng xử không đúng mực, ra đường khi vi phạm pháp luật, gặp cảnh sát giao thông thay vì xuất trình giấy tờ hợp lệ chỉ “lăm lăm” dùng điện thoại để quay phim, chụp ảnh. Khi xếp hàng thực hiện các dịch vụ công thay vì lấy số thứ tự chờ đến lượt thì xông vào giơ điện thoại “livestream” chất vấn người tiếp nhận hồ sơ. Một số khác khi đi du lịch về thì đăng hóa đơn thanh toán dịch vụ, viết các bài đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch nhằm hạ uy tín nhà hàng, khách sạn, nhãn hàng… Đến khi bị phản biện, biết sai thì ầm thầm hạ tút, xóa bài không một lời xin lỗi, giải thích. Việc “sống ảo” của một số người dùng MXH đã gây thiệt hai không nhỏ cho một số tổ chức, cơ quan và các nhãn hàng.


Thứ sáu, chuyện gì cũng đưa lên MXH. Chính nhờ MXH có tính tương tác cao, kết nối nhiều thành phần, nhiều tổ chức, nhiều đối tượng nên tạo ra sự tự do kết nối, tự do tiếp cận, tương tác, giao lưu, chia sẻ; thực tế MXH cũng có sự hữu ích khi có không ít các vụ việc, sự vụ được giải quyết nhanh chóng và kịp thời. Tuy nhiên, một số người vì ngộ nhận “quyền lực ảo” nên luôn hiếu thắng, manh động, “cầm đèn chạy trước ô tô”, chuyện gì cũng đưa lên MXH để bàn thảo.


TỈNH TÁO, THẬN TRỌNG, KHÔN NGOAN KHI SỬ DỤNG MXH


Ngày nay, con người không thể sống mà thiếu môi trường mạng, nhưng điều quan trọng là phải sử dụng MXH một cách thông minh hơn. Hiểu được luật chơi của những nhà cung cấp dịch vụ MXH, sẽ có các giải pháp để đảm bảo việc sử dụng MXH không ảnh hưởng đến công việc và đời sống thực.


Một là, khuyến cáo người dùng luôn tuân thủ các quy định, quy chế sử dụng MXH đã được Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành, nên sử dụng MXH một cách đúng đắn và chuẩn mực. Việc bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan điểm; tự do trao đổi các thông tin trên hệ thống báo chí, xuất bản, Internet, MXH là quyền tự do của mỗi công dân…, tuy nhiên phải tuân thủ theo quy định pháp luật. Đó là những điều đã được quy định pháp luật được cụ thể hóa trong Hiến pháp và các bộ luật như: Luật Xuất bản, Luật Báo chí, Luật Công nghệ thông tin, Luật An ninh mạng...


Hai là, với cá nhân người sử dụng MXH cần xây dựng cơ chế phản biện, phân tích, chọn lọc, chắt lọc thông tin; tự mình “gạn đục khơi trong”, phân biệt và chọn lọc những thông tin được đưa ra là chính xác, phù hợp với bản thân. Tránh thích (like), chia sẻ (share) những bài viết, hình ảnh chưa rõ ràng, chưa được kiểm chứng thông tin và và những bài có quan điểm đi ngược với chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước.


Ba là, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử phạt các hình thức sử dụng MXH để tung tin bịa đặt, tin giả nhằm tăng tính răn đe và tuyên truyền pháp luật. Đồng thời, có cơ chế, hình thức biểu dương, tôn vinh kịp thời những tổ chức, cá nhân có những bài viết thuyết phục phản bác lại các thông tin sai trái, thù địch


Bốn là, nâng cao nhận thức cán bộ quản lý thông tin, truyền thông; lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương, lãnh đạo, công chức, viên chức về MXH, Luật An ninh mạng cũng như các biện pháp, quy trình xử lý khủng hoảng truyền thông nhằm nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ công tác…


Năm là, xây dựng cơ chế, chính sách thu hút các tổ chức, doanh nghiệp xây dựng hệ thống MXH của Việt Nam, tạo diễn đàn, sân chơi MXH cho người dùng trong nước cạnh tranh với các nền tảng MXH đa quốc gia. Việc này vừa đảm bảo được quản lý thông tin, dữ liệu người dùng vừa đảm bảo chủ quyền an ninh trên không gian mạng./.

Tạp chí Tuyên giáo

Quan điểm của Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

 

Trong thời kỳ tiến hành công cuộc đổi mới, nhiệm vụ xây dựng Đảng đã được đề cập một cách thường xuyên và toàn diện; qua các đại hội gần đây, Đảng ta đều có những điểm nhấn quan trọng. Đại hội X (năm 2006) tập trung vào “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”, Đại hội XI (năm 2011) lấy “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” làm một trong những thành tố quan trọng của chủ đề Đại hội, Đại hội XII (năm 2016) nhấn mạnh: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” ngay trong tiêu đề của Báo cáo chính trị.

Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, liên quan đến sự tồn vong của Đảng và sự sống còn của chế độ. Đại hội đã nêu bật những kết quả quan trọng trong công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nhất là đã triển khai và thực hiện nghiêm túc, mang lại kết quả bước đầu Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng và Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, bổ sung thêm nội dung về đạo đức trong công tác xây dựng Đảng. Đó là cơ sở để “Đảng ta giữ vững được bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới. Đảng ta xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(2).

Phương hướng, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Đại hội XII đề ra dựa trên những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ và cả 30 năm đổi mới. Chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, Đảng ta chủ trương phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Cùng với việc nhấn mạnh mục tiêu, yêu cầu xây dựng Đảng “trong sạch, vững mạnh”, được coi là thành tố đầu tiên của chủ đề Đại hội, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của cả nhiệm kỳ là “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng”. Hơn thế, trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của cả nhiệm kỳ Đại hội XII, thì 2 nhiệm vụ đầu tiên là về công tác xây dựng Đảng, đó là: 1Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; 2Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

Giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng có mối liên hệ chặt chẽ, cần được tiến hành đồng thời và có tác động qua lại, bổ sung và bổ khuyết cho nhau. Lịch sử Đảng ta cho thấy, xây dựng Đảng bao giờ cũng phải được xem là công việc cơ bản, thường xuyên; chỉnh đốn Đảng được đặt ra cấp bách khi xuất hiện tình hình đặc biệt cần có giải pháp để giúp Đảng xốc lại đội ngũ, vượt qua những khó khăn, thử thách. Chính vì vậy, Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội XIII đã chỉ rõ: “Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, toàn diện, hiệu quả giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trong đó xây dựng Đảng là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách; đồng thời, xác định đúng trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá”(3).

Tiếp tục truyền thống và kế thừa tinh thần của các đại hội trước đó, Đại hội XIII của Đảng đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng được thể hiện rõ cả trong chủ đề, bài học kinh nghiệm, quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển.

Chủ đề Đại hội XIII đã phát triển thành tố “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” của Đại hội XII thành “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Điểm mới ở đây là đã bổ sung “xây dựng hệ thống chính trị” cùng với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và không chỉ đề cập đến xây dựng Đảng, mà còn nhấn mạnh cả đến chỉnh đốn Đảng.

Không phải ngẫu nhiên mà Đại hội XIII của Đảng lại xác định, đặt ra yêu cầu đầu tiên là cần tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Trên thực tế, xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau; trong đó, xây dựng, chỉnh đốn Đảng có vai trò hạt nhân, quan trọng vì Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đặc biệt là Đảng lãnh đạo, giới thiệu những đảng viên ưu tú của mình ứng cử vào các vị trí chủ chốt của Nhà nước và cả hệ thống chính trị.

Xây dựng Đảng phải gắn liền với xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bởi lẽ, chỉ khi nào Nhà nước mạnh, liêm chính, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy mạnh mẽ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình thì mới đưa được những đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống. Nói cách khác, Đảng muốn vững mạnh và thể hiện được vai trò lãnh đạo toàn diện của mình thì Nhà nước cũng phải được xây dựng vững mạnh, liêm chính, vì Nhà nước chính là người thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, đưa các quyết sách lãnh đạo của Đảng thành chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch cụ thể, sát hợp với thực tiễn phát triển đất nước. Cũng như vậy, Đảng và Nhà nước chỉ vững mạnh, hoàn thành được nhiệm vụ của mình khi và chỉ khi có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy hết vai trò, trách nhiệm, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thành hành động thực tế của nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

 

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh còn giúp cho Đảng có được mối quan hệ mật thiết với nhân dân, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, khát vọng phát triển vì một Việt Nam hùng cường, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khuyến khích, động viên nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước; đáp ứng ngày càng tốt hơn sự kỳ vọng, xứng đáng với sự gửi gắm niềm tin của nhân dân.

Như vậy, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là yêu cầu quan trọng, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính đồng bộ, sự phù hợp giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, đưa nước ta phát triển nhanh, bền vững. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, do vậy, là nhân tố quyết định tạo nên những thắng lợi, thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở Việt Nam trong suốt 35 năm qua.

Nhìn chung, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong nhiệm kỳ Đại hội XII đã đạt được kết quả nổi bật là: Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và tinh giản biên chế của hệ thống chính trị; đổi mới công tác cán bộ và ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền; tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, xử lý nghiêm những tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng các nhiệm kỳ vừa qua và nhiệm kỳ Đại hội XII đã góp phần rất quan trọng để đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đảng ta đoàn kết, thống nhất và trong sạch, vững mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, tăng cường hơn, tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới(4).

Một số hạn chế, yếu kém cần được tập trung xử lý

Một là, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị nói chung vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị: Việc tổ chức thực hiện một số nghị quyết của Đảng vẫn là khâu yếu. Công tác tư tưởng còn có mặt hạn chế, thiếu kịp thời, tính thuyết phục chưa cao. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, thiếu gương mẫu. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng. Việc hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị cho phù hợp với tình hình thực tiễn còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu.

Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả hoạt động ở một số nơi thực hiện thiếu quyết liệt, chưa đạt mục tiêu đề ra; cá biệt có nơi còn nóng vội, chưa có bước đi vững chắc. Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa thực sự gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Xây dựng vị trí việc làm còn nhiều lúng túng, tiến độ triển khai còn chậm so với mục tiêu đề ra. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn thấp, chưa được củng cố kịp thời. Chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc; chưa có cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.

Hai là, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói riêng và hệ thống chính trị nói chung còn nhiều bất cập, chậm được đổi mới.

Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các hình thức, phương pháp, cách thức, quy chế, quy định, quy trình, phong cách, lề lối… mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện thắng lợi cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã thẳng thắn nhìn nhận: “Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt còn lúng túng. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Việc thể chế hóa, cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của Đảng thành pháp luật của Nhà nước chưa đầy đủ, kịp thởi. Việc ban hành nghị quyết của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi; việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nghị quyết chưa nghiêm, hiệu quả thấp, chưa đạt yêu cầu đề ra. Tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng còn xảy ra ở một số nơi”(5).

Có thể thấy, việc phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức đảng và các cơ quan nhà nước chưa thực sự rõ ràng. Chưa có sự phân định thật rõ quyền hạn, trách nhiệm giữa Bộ Chính trị, Ban Bí thư với Đảng đoàn Quốc hội và Ban Cán sự Đảng Chính phủ, cũng như giữa ban thường vụ, thường trực cấp ủy với ban cán sự đảng ủy ban nhân dân, đảng đoàn hội đồng nhân dân ở địa phương. Các quy chế phối hợp đã có, nhưng vẫn còn tình trạng chung chung, khó triển khai trong thực tiễn. Cùng với đó, việc phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa tập thể lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu cơ quan nhà nước còn chưa thật rạch ròi và còn thiếu thống nhất, gây nên những chồng chéo, lúng túng nhất định trong chỉ đạo, điều hành ở các địa phương, cơ quan, đơn vị.

Ba là, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn chưa thực sự được đẩy lùi, còn có những hiểu hiện, diễn biến phức tạp

Đảng ta là đảng cầm quyền, đội ngũ đảng viên nắm giữ hầu hết các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước, có quyền lực rất lớn và đi liền với đó là nguy cơ tha hóa quyền lực, quan liêu, tham nhũng, biến chất, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm” cũng rất cao. Trên thực tế, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả ở cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao còn nhiều diễn biến tinh vi, phức tạp, khó lường.

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay đã “làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng”, nếu không bị ngăn chặn, đẩy lùi, thì đây sẽ “là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng đã xác định đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng.

Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả người đứng đầu, trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, không đủ bản lĩnh để vượt qua những cám dỗ. Do vậy, muốn ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì phải bắt đầu từ việc cán bộ, đảng viên “tự soi, tự sửa”. “Tự soi, tự sửa” là việc mỗi người phải nghiêm túc tự kiểm điểm, tự nhìn lại mình; cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa chữa.

Bốn là, chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng còn những hạn chế.

Bên cạnh những chuyển biến tích cực, kết quả đã đạt được, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng hiện vẫn còn những hạn chế. Không ít địa phương, cơ quan, đơn vị tiến hành kiểm tra, giám sát còn chiếu lệ, hình thức, chưa quyết liệt, nên hiệu quả chưa cao, chưa đủ sức răn đe; đấu tranh với vi phạm vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, đùn đẩy, không nghiêm túc. Một số tổ chức đảng còn tỏ ra bị động trong phát hiện tiêu cực; công tác kiểm tra, giám sát chỉ được thực hiện khi có đơn tố cáo, thiếu kiểm tra chấp hành và giám sát thường xuyên, đã làm cho vai trò, uy tín của cấp ủy và tổ chức chính quyền bị giảm sút; nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, vi phạm kỷ luật, nhưng chỉ được phát hiện bởi báo chí, truyền thông, chứ không phải do tổ chức đảng hay cơ quan kiểm tra, giám sát... Một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy chưa coi trọng đúng mức công tác kiểm tra, giám sát; chưa kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo; việc xác định nội dung kiểm tra, giám sát còn dàn trải, chưa đi vào những lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, dễ nảy sinh tiêu cực.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là “thanh bảo kiếm” giữ nghiêm kỷ luật đảng. Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng vẫn còn những hạn chế, yếu kém cần được nhận diện và nhanh chóng khắc phục.