Thứ Tư, 13 tháng 9, 2023
SỐNG ẢO VÀ SỰ LỆCH CHUẨN GIÁ TRỊ THẬT!
Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự lễ khai giảng tại Học viện Quốc phòng
Ngày 12-9, tại Hà Nội, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh đã tới dự và phát biểu chỉ đạo Lễ khai giảng năm học 2023-2024 tại Học viện Quốc phòng.
Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023
ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU CHIA RẼ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
TRƯỞNG THÀNH
Trưởng thành chính là điều chỉnh tiếng khóc của bạn trở về chế độ im lặng. Phê phán là tốt nhưng chúng ta cũng cần tỉnh táo xem xét thấu đáo bản chất sự vật, hiện tượng đó xảy ra ở đâu, lúc nào, trong hoàn cảnh nào. Nếu không khéo chúng ta lại bị kẻ xấu dắt mũi làm tình hình phức tạp rối rắm thêm.
Tham gia mạng xã hội cần có trái tim nóng, cái đầu lạnh. Lấy sự việc không biết bản chất thực hư thế nào để chửi bới, công kích là hành vi không thể chấp nhận.
“Chim có đường bay của chim
Cây có hướng mọc của cây”…
Muốn nhẹ lòng hãy từ bỏ những phán xét người khác, những điều nhỏ nhặt xung quanh mình, gạt bớt những sân si để hướng về cái chân, thiện, mỹ. Có những chuyện cần nói thì hãy nói, cái gì cần hờ hững thì hờ hững, phải biết lắng nghe để thấu hiểu, sẻ chia. Người nào thích lấn lướt cứ mặc cho họ lấn lướt hơn thua chi một cái nhấn ga rồi ai cũng trở về nhà mình rốt cùng trở thành vô nghĩa.
Cuộc đời nếu như chỉ biết nói không biết nghe, chỉ tính toán mà không biết cho qua càng làm cho cuộc sống thêm nặng nề, phiền não. Chỉ cần nội tâm bình thản với tấm lòng bao dung vị tha chính là bạn đã biết sống một cuộc đời hạnh phúc./.
Phan Trung Can
Xây dựng thế trận phòng thủ Quân khu vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
Địa bàn Quân khu 3 bao gồm phần lớn Đồng bằng Bắc Bộ, có cả rừng núi, đồng bằng, hải đảo, đường biên giới trên bộ, trên biển; là vùng đất giàu tiềm năng, thế mạnh, có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), bảo đảm quốc phòng, an ninh (QP, AN) của đất nước.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng đánh giá: “Quân khu 3, Quân khu Đồng bằng, án ngữ Thủ đô, dựa vào Việt Bắc và Tây Bắc, nối liền với đất Thanh Nghệ miền Trung, lại nhìn ra biển cả, giàu tài nguyên và quan trọng về chiến lược. Thời bình, đây là một trong những vùng đất căn bản để xây dựng và phát triển, là cửa ngõ giao lưu quốc tế của đất nước...”.
Quán triệt, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, những năm qua, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 3 đã phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy, chính quyền tỉnh, thành phố trên địa bàn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng khu vực phòng thủ (KVPT) ở các cấp vững mạnh, hoạt động hiệu quả. Đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực sự là lực lượng nòng cốt trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn. Các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chuẩn mực đạo đức quân nhân cách mạng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ; xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong LLVT Quân khu.
Các cơ quan, đơn vị trong LLVT Quân khu 3 đã chủ động tham mưu, đề xuất, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp triển khai thực hiện tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức QP, AN cho các đối tượng, mở rộng đến đối tượng chức sắc, chức việc tôn giáo, trưởng các dòng họ, chủ doanh nghiệp, chủ tàu thuyền... Thường xuyên làm tốt công tác dân vận, tích cực tham gia giúp nhân dân phát triển kinh tế, củng cố hạ tầng cơ sở; chú trọng xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, tạo “phên giậu” vững chắc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; đồng thời, phát huy nội lực, trách nhiệm của các ngành, các địa phương, tạo sự đồng thuận cao, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, củng cố “thế trận lòng dân”.
Quán triệt quan điểm của Đảng về kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường, củng cố QP, AN, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 3 đã lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan quân sự các cấp tích cực tham gia quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương theo chủ trương “Mỗi bước phát triển KT-XH là một bước tăng cường tiềm lực QP, AN”. Chủ động phối hợp với các địa phương lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng thế trận phòng thủ Quân khu, như các chốt chiến dịch, các điểm tựa, cụm điểm tựa phòng ngự biên giới, ven biển, đảo gần bờ...; lập kế hoạch và huy động nguồn ngân sách đầu tư xây dựng, nâng cấp, sửa chữa công trình chiến đấu trong KVPT như: Căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần-kỹ thuật, sở chỉ huy các cấp... góp phần củng cố tiềm lực quân sự, nâng cao khả năng phòng thủ ở các cấp. Đồng thời, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo các địa phương tổ chức tốt các cuộc diễn tập KVPT cấp tỉnh, cấp huyện; diễn tập bảo đảm tác chiến phòng thủ đối với các sở, ngành và diễn tập chiến đấu phòng thủ cấp xã... Qua đó, nâng cao năng lực thực hành tác chiến, bảo đảm cho các địa phương, các lực lượng sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, xử trí tốt các tình huống.
Cùng với đó, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 3 triển khai đồng bộ các giải pháp xây dựng LLVT Quân khu theo hướng “tinh, gọn, mạnh”; thực hiện nghiêm các quy định về tổ chức, biên chế, ưu tiên quân số, vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tuyến biên giới, biển, đảo. Chú trọng nâng cao chất lượng huấn luyện theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, theo nhiệm vụ, tình huống, sát với đối tượng, địa bàn tác chiến và tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị... Kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao chất lượng huấn luyện với thực hiện các giải pháp tạo chuyển biến vững chắc về xây dựng chính quy, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; tập trung xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Chỉ đạo cơ quan quân sự các cấp chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ theo đúng quy định của pháp luật; nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, nhất là ở các xã, phường trọng điểm về quốc phòng và trong các cơ quan, doanh nghiệp.
Những năm tới, để tiếp tục xây dựng thế trận phòng thủ Quân khu vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 3 tập trung lãnh đạo, chỉ đạo LLVT Quân khu thực hiện tốt một số chủ trương, giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc, triển khai thực hiện hiệu quả đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng, nhất là các mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và các chiến lược về quân sự, quốc phòng như: Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Chiến lược Bảo vệ biên giới Quốc gia, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng...; lãnh đạo, chỉ đạo chấp hành nghiêm Nghị định số 21/2019/NĐ-CP ngày 22-2-2019 của Chính phủ cùng các thông tư của Bộ Quốc phòng về xây dựng, hoạt động KVPT. Chủ động làm tốt công tác phối hợp xây dựng cấp ủy, chính quyền, tổ chức chính trị-xã hội các cấp trong sạch vững mạnh. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng; sự quản lý, điều hành của chính quyền; phát huy trách nhiệm, vai trò tham mưu của các ban, ngành, đoàn thể, nhất là LLVT làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của KVPT các cấp.
Hai là, tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng kiến thức QP, AN cho các đối tượng; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu, độc. Làm tốt công tác dân vận, phối hợp với địa phương xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, địa bàn an toàn, nhất là trên tuyến biên giới, biển, đảo; không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chủ động xây dựng, hoàn thiện các kế hoạch, phương án ứng phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống bảo đảm thiết thực, phù hợp với nhiệm vụ của LLVT Quân khu và các địa phương trên địa bàn. Sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện tham gia phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, sự cố..., góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương phát triển KT-XH.
Ba là, chủ động tham mưu, phối hợp với các cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh các dự án kết hợp phát triển KT-XH gắn với củng cố QP, AN và xây dựng KVPT; ưu tiên quy hoạch chi tiết xây dựng một số khu, cụm công nghiệp sản xuất các mặt hàng lưỡng dụng, sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng. Tăng cường ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ trong lĩnh vực QP, AN. Chỉ đạo cơ quan quân sự các cấp tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương đầu tư xây dựng đồng bộ các công trình quân sự, quốc phòng trong KVPT; kết hợp diễn tập KVPT và phòng thủ dân sự các cấp với xây dựng các công trình quốc phòng. Triển khai xây dựng các thành phần thế trận KVPT theo quy hoạch, bảo đảm chất lượng tốt, có chiều sâu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Bốn là, tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của LLVT Quân khu. Xây dựng lực lượng thường trực theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, lực lượng dân quân tự vệ “vững mạnh, rộng khắp”, lực lượng dự bị động viên “hùng hậu, chất lượng cao”. Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; phối hợp nắm chắc tình hình, không để bị động, bất ngờ. Tiếp tục nâng cao chất lượng huấn luyện ở các cấp, nhất là ở các đơn vị cơ sở; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị; gắn huấn luyện với rèn luyện thể lực cho bộ đội, nâng cao khả năng cơ động trong mọi điều kiện; huấn luyện sát nhiệm vụ, đối tượng, địa bàn, thực tế chiến đấu và có cường độ cao, lấy thực hành là chính. Tăng cường tổ chức hội thi, hội thao, diễn tập KVPT, diễn tập chỉ huy-cơ quan có thực binh bắn đạn thật, hiệp đồng quân, binh chủng sát với thực tiễn chiến tranh hiện đại, điều kiện tác chiến hiện nay...
Với những kết quả đã đạt được, sự đoàn kết, nhất trí, quyết tâm chính trị cao của cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu cùng sự phối hợp, đồng thuận của cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân các địa phương, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 3 khẳng định sẽ tiếp tục xây dựng KVPT các cấp, thế trận phòng thủ Quân khu ngày càng vững chắc, xứng đáng với sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Trung tướng NGUYỄN QUANG NGỌC, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 3
Nguồn: Báo QĐND
"NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM" - MỘT CHỈ DẪN QUAN TRỌNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ THỰC HÀNH ĐẠO ĐỨC
“Nói đi đôi với làm” là một trong những nguyên tắc căn bản của đạo đức cách mạng, là biểu hiện sinh động, cụ thể của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa ý thức đạo đức và hành vi đạo đức mà mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc và thực hành thường xuyên, hằng ngày trong công việc và đời sống. Vì vậy, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh về “Nói đi đôi với làm” là nhiệm vụ quan trọng và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phấn đấu, thực hiện.
Để hiểu thấu lời dạy của Người - Giá trị và ý nghĩa
“Nói đi đôi với làm” được diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau, mọi cách diễn đạt có thể khác nhau về mức độ, sắc thái, cả hình thức biểu đạt bằng ngôn từ, nhưng tất cả đều có một điểm chung, một điểm nhấn quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự thống nhất, tính nhất quán về mục đích hành động, động cơ tranh đấu, biện pháp thực hành trong lối sống, lẽ sống ở đời và làm người của người cách mạng.
“Nói đi đôi với làm” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất, sự gắn liền giữa nhận thức với hành động; lời nói và việc làm phải tương xứng với nhau, phải phù hợp với nhau, không được mâu thuẫn, trái ngược. Để xảy ra tình huống mâu thuẫn, trái ngược này là mắc vào một lỗi lớn, không chỉ là lỗi về tư duy, mà còn là lỗi lớn hơn, nặng hơn về đạo đức; do đó, nói đi đôi với làm là tiêu chí về đức tính trung thực. Ngược lại, nói không đi đôi với làm là bằng chứng của sự giả dối, dối trá, trước hết là thói vô trách nhiệm và thiếu vắng lòng tự trọng. Mệnh đề “nói đi đôi với làm”, quen thuộc, ngắn gọn, giản dị như chân lý của đời sống, hiển nhiên ai cũng hiểu như một lẽ phải thông thường, vậy mà trên thực tế, lại có biết bao nhiêu tình huống phức tạp vẫn xảy ra.
Suy ngẫm và trải nghiệm từ các sự kiện, việc làm, ứng xử với người, với việc, ngay cả với chính mình, chúng ta ngày càng tự ý thức rằng, hóa ra nói đi đôi với làm là chỗ khó nhất ở đời, để thực hiện được không chỉ cần sự hiểu biết, có lý trí, nghị lực và quyết tâm, mà còn cần có tình cảm, đạo đức trong sáng, hướng thiện. Vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đời thường ta gọi đó là sự tử tế, lương thiện. Nói đi đôi với làm đòi hỏi mỗi người phải thường xuyên biết tự vấn lương tâm, biết tự trọng mình và tôn trọng người khác, cao nhất là trọng dân, vì dân.
Đạo đức có vai trò rất quan trọng và nổi bật trong đánh giá về một con người đến mức, người mà “nói đi đôi với làm”, trong đánh giá của xã hội là người có đạo đức, chứ không nói đó là người có học vấn, học thức. Lẽ dĩ nhiên, học vấn, học thức rất cần thiết để sống ở đời, để vào đời, dấn thân, khởi nghiệp, lập nghiệp. Chính vì thế, nói đi đôi với làm, muốn thực hiện được ở mỗi người, thì đòi hỏi người đó phải có đạo đức; đồng thời, phải thực hành đạo đức thường xuyên, tự giác, bền bỉ và lâu dài.
Thống nhất giữa nói và làm sẽ làm cho con người trưởng thành về đạo đức, về nhân cách, làm cho người đó có đạo đức tốt hơn, để hoàn thiện nhân cách của mình. Đức là gốc, gốc của nhân cách, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh, nói đi đôi với làm không chỉ là yêu cầu nghiêm ngặt của đạo đức, mà nó còn phải trở thành văn hóa đạo đức, là thước đo văn hóa đạo đức, văn hóa nhân cách. Trên thực tế, không thiếu gì trường hợp, con người ta có thể có học vấn tốt, học thức cao, mà vẫn chưa đạt tới chuẩn mực “nói đi đôi với làm”. Những người đó, không chỉ tách rời giữa lời nói với việc làm, mà còn tệ hơn, xấu hơn khi “nói một đằng làm một nẻo”. Như thế, người tuy có học vấn, học thức, mà vẫn có thể giả dối về đạo đức và cơ hội về chính trị.
Trung thực và có bản lĩnh để giữ trọn vẹn lòng trung thực, tính trung thực, biến nó thành nhu cầu trong việc làm, trong lối sống và trong ứng xử, để “trí minh tâm sáng”; nhờ đó, nói đi đôi với làm trở thành đặc trưng trong lối sống, lẽ sống. Con người có đạo đức biết tự vấn lương tâm để hiểu điều phải và không phải, nên và không nên, tốt và xấu, đúng và sai,... cũng chưa đủ; mà phải hành động theo cái đúng, cái tốt, cái đẹp (Chân - Thiện - Mỹ - những giá trị văn hóa) và tự vượt lên chính mình, đánh bại chủ nghĩa cá nhân, “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất, vô hình, ẩn nấp ở ngay trong lòng mỗi người. Đó chính là biểu hiện của “nói đi đôi với làm”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn chúng ta rất tỉ mỉ, sâu sắc như thế; hơn nữa, Người còn suốt đời thực hành “nói đi đôi với làm”, nêu gương cho mọi người noi theo.
Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, viết từ năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu tác phẩm bằng cách nêu rõ: “Tư cách một người cách mệnh”(1). Một tác phẩm lý luận, viết trên lập trường, quan điểm mác-xít, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam, đặt nền móng tư tưởng lý luận, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng vào năm 1930, nhưng lại nhấn mạnh trước hết vào đạo đức, vào “tư cách một người cách mệnh”; điều đó có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại và những trù tính chiến lược của Người. Cách mạng là một sự nghiệp vĩ đại, phá cái cũ lỗi thời, lạc hậu đổi ra cái mới tiến bộ, phát triển. Người cách mạng, đảng cách mạng, muốn thực hiện được sự nghiệp vĩ đại đó, trước hết phải có đạo đức.
Thực tiễn và kinh nghiệm lịch sử của các đảng cộng sản đã từng lãnh đạo và cầm quyền, chỉ vì suy thoái về đạo đức, dẫn đến tự đánh mất vai trò lãnh đạo, địa vị cầm quyền của mình, tan rã và sụp đổ, như điều đã xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, đã xác nhận tính đúng đắn và sáng suốt của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Người nêu lên từ rất sớm, ngay từ khi Đảng còn chưa ra đời những điều hệ trọng, như phải “Giữ chủ nghĩa cho vững”, đồng thời “Ít lòng tham muốn về vật chất”(2). Người nêu rõ trong “tư cách một người cách mệnh” ba mối quan hệ, với 23 tiêu chí, yêu cầu cần phải thực hiện. Đó là những chuẩn mực về đạo đức mà mỗi cá nhân phải thể hiện trong thái độ, trong ứng xử, trong việc làm và hành vi, với tự mình, với người khác, với công việc, mà tổ chức, đoàn thể giao cho. Trong 23 tiêu chí, yêu cầu nêu ra, Người dành tới 14 yêu cầu đối với bản thân mỗi người, mà Người gọi là “tự mình phải”, 5 yêu cầu đối với người khác và 4 yêu cầu đối với công việc.
Trong 14 yêu cầu “tự mình phải”, nổi bật yêu cầu nói đi đôi với làm, “nói thì phải làm”(3). Đủ thấy, theo Người, việc tự mình rèn luyện đạo đức quan trọng biết nhường nào. Tự mình có đạo đức, thì mới có thể biểu hiện thành ý thức và tình cảm đạo đức mà đối xử với người, với đồng chí, bạn bè, với dân chúng, đồng bào, nêu gương về tính trung thực, khiêm tốn, vị tha, khoan dung, nhân ái. Người đòi hỏi, với mình phải nghiêm, với người phải rộng lòng khoan thứ; phải tận tụy, trách nhiệm trong công việc, cương trực, thẳng thắn, tôn trọng tổ chức, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, không hiếu danh, không kiêu ngạo. Sau này, khi cách mạng đã thành công, Đảng đã cầm quyền, Người vẫn luôn nhấn mạnh, cán bộ, đảng viên phải ra sức tu dưỡng đạo đức, liên hệ mật thiết với dân chúng, phải dân chủ, chứ không biến thành “quan chủ”, phải là đầy tớ trung thành, công bộc tận tụy của nhân dân, chứ không lên mặt “quan cách mạng”, dẫn tới chỗ xa dân, quan liêu, mệnh lệnh, hách dịch, cửa quyền. Phải sống và làm việc sao cho nhân dân tin tưởng, nhân dân yêu mến, nếu có lỗi với nhân dân phải thật thà xin lỗi và có quyết tâm sửa lỗi. Dân vận là việc rất quan trọng, có nhân dân giúp sức, thì việc khó mấy cũng làm được, không có nhân dân giúp đỡ, không được nhân dân ủng hộ, thì dù có tài giỏi mấy, cũng không làm nên việc gì. Bởi vậy, trong sáu điều dạy cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân tháng 3-1948, Người đặc biệt nhấn mạnh, tư cách người công an cách mạng là: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính./ Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ./ Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành./ Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép./ Đối với công việc, phải tận tụy”(4). Với chiến sĩ quân đội nhân dân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” phải “Trung với Đảng, trung với Nước, hiếu với Dân”,... Những lời dạy quý báu đó của Người không chỉ dành riêng cho công an và quân đội, mà còn chung cho tất cả cán bộ, đảng viên, cho mỗi người cách mạng. Toát lên từ những lời dạy ấy là thước đo đạo đức “nói đi đôi với làm”, đã “nói thì phải làm”.
Để đạt được sự thống nhất giữa nói và làm, nói đi đôi với làm, nói thì phải làm, người cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập để nâng cao hiểu biết, gắn liền học với hành, “tri để hành”, lý luận gắn liền với thực tiễn; đồng thời, phải rèn luyện phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, suốt đời chống chủ nghĩa cá nhân, không vụ lợi, vị kỷ, để toàn tâm, toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chống chủ nghĩa cá nhân, thì phải chống những thói hư tật xấu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi là những chứng bệnh phải tẩy sạch trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, được Người viết năm 1947 với bút danh X.Y.Z. Ba căn bệnh mà Người chỉ rõ là bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi và bệnh ba hoa, phải tự phê bình và phê bình nghiêm khắc khi mắc vào những bệnh rất có hại ấy và phải quyết tâm sửa chữa trong tư tưởng và trong hành động, trong các mối quan hệ.
Vào dịp kỷ niệm sinh nhật Đảng lần thứ 39, ngày 3-2-1969, Người đã có bài viết quan trọng đăng trên Báo Nhân Dân, với chủ đề: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Đây là tác phẩm Người viết vào cuối đời, vẫn chỉ xoay quanh chủ đề đạo đức cách mạng, với thiết tha mong muốn và đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên, phải nói đi đôi với làm, phải đánh bại “giặc nội xâm”, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, nêu cao trách nhiệm, sự gương mẫu, đức hy sinh, suốt đời vì Nước vì Dân, Ái Quốc để Ái Dân, Ái Dân vì Ái Quốc, đúng như tên gọi của Người.
Tóm lại, để lời nói đi đôi với việc làm, thống nhất giữa nói và làm, nói thì phải làm, mỗi cá nhân phải có động cơ, mục đích sống đúng đắn, chân chính, có đức trung thực và khiêm tốn, đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc, của Đảng, của cách mạng lên trên hết, trước hết; có ý chí, nghị lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, có dũng khí, bản lĩnh đứng ngoài vòng danh lợi, tuyệt đối không màng danh lợi, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hành và nêu gương.
Giá trị và ý nghĩa sâu xa từ lời dạy của Người, thống nhất giữa nói và làm, nói thì phải làm, chính là bài học làm người, là thực hành đạo đức cách mạng, coi phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý cao nhất, làm đầy tớ, công bộc cho nhân dân, tận tụy và trung thành là lựa chọn lối sống, lẽ sống cao thượng nhất, như tấm gương đạo đức vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh soi sáng cho mọi người, cho muôn đời noi theo.
Trong Di chúc để lại cho toàn dân, toàn Đảng, Người đã viết những dòng thiết tha, cảm động, bởi Người là hiện thân cao cả nhất của đức hy sinh, dâng hiến trọn vẹn, toàn vẹn đời mình cho độc lập của Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Người viết: “Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”(5). Đó là tiếng nói từ trái tim của Người, làm rung động muôn triệu trái tim đồng bào, đồng chí của Người, cũng như mọi tấm lòng bè bạn khắp năm châu. Cuộc đời và sự nghiệp của Người, với tư tưởng - đạo đức và phong cách của Người, là minh chứng sinh động và cảm động nhất về sự thống nhất giữa nói và làm.
Để học tập và làm theo những chỉ dẫn cao quý của Người
Sinh thời, Người căn dặn chúng ta không chỉ nói đi đôi với làm, nói thì phải làm - đó là nguyên tắc sống, mà còn chỉ dẫn cho chúng ta điều thiết thực; “nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động” - đó là phương châm sống, là thực hành lối sống. Thực hành nguyên tắc và phương châm sống như thế, xét đến cùng, cũng chỉ vì nhân dân, vì cuộc sống của nhân dân, vì lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân. Lo cho nhân dân thì phải hành động, phải bằng việc làm chứ không dừng lại ở lời nói. Ngay từ những ngày đầu đất nước mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện quan điểm nhất quán là Chính phủ phải quan tâm đến đời sống của nhân dân. Vì thế, trong cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Người nhấn mạnh, chúng ta phải thực hiện ngay 4 điều: Làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân có học hành. Bởi, theo Người, dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc ấm. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, sau lễ tuyên bố độc lập, Người đã đề nghị Chính phủ phát động trong toàn dân, mỗi người cứ mười ngày nhịn ăn một bữa để có gạo giúp người dân bị đói và Người đã nghiêm khắc thực hiện điều đó như một tấm gương. Nghĩa cử cao đẹp đó của Người đã có sức thúc đẩy và lan tỏa rộng khắp, đó thực sự là Chính phủ của dân, vì dân. Lời nói đi đôi với việc làm của Người đã tạo dựng một Chính phủ liêm chính bằng sự gương mẫu của người đứng đầu. Để tỏ lòng biết ơn các liệt sĩ đã hy sinh vì Nước, Người chính thức thông báo với toàn thể quốc dân đồng bào để mọi người được biết, Người sẽ nhận tất cả các con liệt sĩ là con mình. Người chuyển tiền lương của Người cho bác sĩ Vũ Đình Tụng, Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh đầu tiên của Việt Nam để cứu tế xã hội, góp thêm phần quà cho các cháu như một niềm động viên an ủi, thấm đẫm tình thương yêu của Người.
Để có nhân tài giúp nước, Người gửi thư cho đồng bào trong cả nước, nhờ dân giúp đỡ Chính phủ tìm kiếm các bậc tài đức, mách bảo với Chính phủ để Chính phủ trọng dụng. Bản thân Người đã đích thân lựa chọn, thuyết phục, động viên các bậc nhân sĩ, trí thức đem tài năng, tâm huyết của mình ra giúp nước, giúp dân và sắp đặt họ vào những công việc xứng đáng, cảm hóa, thu phục họ với tất cả lòng thành, tin cậy và quý trọng.
Người đã thực hành lối sống tiết kiệm, tiết kiệm đến mức khắc khổ, dành cho dân chúng phần tối đa, dành cho mình phần tối thiểu, bởi Người hiểu rõ hơn ai hết, mỗi đồng tiền, bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều từ mồ hôi, nước mắt của dân làm ra. Theo Người, thương dân thì phải biết tiết kiệm, còn lãng phí tức là không thương dân; tham ô, tham nhũng là làm hại dân, có tội với dân, với nước. Người chỉ rõ, phải nghiêm trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể chúng là ai, bất kể chúng ở cương vị nào. Vì bảo vệ cái thiện, mà cái thiện lớn nhất là dân, nên phải nghiêm trị cái ác, trừng trị tham ô, tham nhũng như trừng trị một tội ác, bởi giặc nội xâm cũng nguy hiểm không kém gì giặc ngoại xâm, thậm chí còn nguy hiểm hơn, vì nó phá từ trong phá ra, hại dân hại nước, làm ô uế, tổn thương tới uy tín, thanh danh của Đảng. Bản Quốc lệnh của Người và sự kiên quyết thi hành Quốc lệnh của Người từ năm 1946 là một minh chứng lịch sử cụ thể.
Người dạy, thanh niên phải ham học, ham làm, ham tiến bộ, chỉ có một điều ham muốn đó thôi, phải rèn chí khí, phải nuôi dưỡng hoài bão lớn sao cho ích quốc, lợi dân, phải tránh xa những cám dỗ, cạm bẫy của tiền bạc, địa vị, chức quyền, bởi những thứ đó dễ làm hư hỏng con người. Bản thân Người đã nêu gương sáng cho cán bộ, đảng viên, cho thế hệ trẻ và cho toàn dân từ những điều Người nói bằng những việc làm. Và Người đã chiêm nghiệm rằng “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(6), đã đúc kết “gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất”.
Cuộc đời và sự nghiệp của Người nổi bật ở thực hành với năm thực hành lớn, tiêu biểu nhất, đó là:
- Thực hành lý luận gắn liền với thực tiễn. Người nhấn mạnh: Thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận và lý luận lãnh đạo thực hành.
- Thực hành dân chủ. Suốt đời, Người phấn đấu thực hành dân chủ, nước độc lập thì dân là chủ và dân làm chủ. Theo Người, từ Chủ tịch nước đến các nhân viên trong các công sở đều phải nêu cao trách nhiệm phục vụ nhân dân, là đầy tớ trung thành và công bộc tận tụy của dân, tiếp thu, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, làm gương cho nhân dân noi theo, trọng dân gắn liền với trọng pháp. Người suốt đời gần dân, tin dân và thương dân. Chỉ tính riêng 10 năm cuối đời, dù tuổi đã cao, sức đã yếu, mà Người vẫn vô số lần về với nhân dân ở cơ sở, đặc biệt là với nông dân ở nông thôn.
Thực hành dân chủ là một trong những thực hành rất tiêu biểu của Người, là tấm gương cho tất cả mọi người noi theo, nhất là với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có chức, có quyền. Phải làm đúng phận sự, quyền hành mà nhân dân ủy thác, giao phó để thực hiện các quyền của nhân dân, thực hành dân chủ để chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Thực hành dân chủ tập trung hay tập trung dân chủ để bảo đảm cho Đảng là một tổ chức mạnh, kỷ luật nghiêm, có sức chiến đấu, thống nhất ý chí và hành động để Đảng vì nhân dân và nhân dân tin Đảng, theo Đảng đến cùng.
- Thực hành dân vận: Người là bậc thầy về dân vận và suốt đời chăm lo cho công tác dân vận. Người căn dặn và tự mình nêu gương cho đội ngũ cán bộ, đảng viên làm “Dân vận khéo”, “phải thật thà nhúng tay vào nhiệm vụ, không bỏ sót một người nào”, “phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, miệng nói, chân đi, tay làm” để nhân dân tin, nhân dân ủng hộ, nhân dân làm theo.
- Thực hành đoàn kết, đại đoàn kết: Người chăm lo cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy đoàn kết, thống nhất trong Đảng làm hạt nhân; đồng thời, ra sức củng cố tinh thần đoàn kết, hữu nghị với các dân tộc trên thế giới, với các đảng anh em trong phong trào cộng sản quốc tế. Suốt đời thực hành đoàn kết, Người là hiện thân, là linh hồn của đại đoàn kết toàn dân tộc, Người đã tổng kết thành nguyên lý:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công
Đặc biệt cảm động là những lời căn dặn của Người trong Di chúc, yêu cầu mỗi đảng viên và tổ chức đảng phải “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”, mà ngày nay Đảng ta đang nỗ lực thực hiện trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
- Thực hành đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Có thể nói, đó là “thực hành của mọi thực hành”, xuyên suốt và thấm nhuần trong mọi thực hành khác. Người là mẫu mực về đạo đức cách mạng, đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa cá nhân. Người nêu cao bản lĩnh và dũng khí đánh bại chủ nghĩa cá nhân, lại hết lòng nâng niu giá trị con người, quan tâm tới nhu cầu, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Từ những thực hành đó, Người suốt đời thực hiện nói đi đôi với làm, thống nhất giữa nói và làm. Từ việc nhỏ đến việc lớn, từ công việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, đến trù tính định liệu tương lai, lo việc đối nội và đối ngoại, gây dựng phong trào và lực lượng, ngày đêm suy nghĩ tìm tòi chăm lo việc Nước, việc Đảng, việc Dân... cho đến những việc làm đời thường trong sinh hoạt giản dị, tiết kiệm, thanh đạm hằng ngày, Người luôn nhất quán giữa nói và làm, nói ít làm nhiều, nhiều khi chỉ làm mà không nói, tự việc làm toát lên tư tưởng.
Bởi thế, trên tư cách một nhà tư tưởng, một triết gia, triết học của Người dường như là “triết học vô ngôn”. Người nói ngắn, viết ngắn, rõ ràng, khúc chiết, trong sáng, giản dị, không cao đạo, không hàn lâm, sách vở, xa lạ với những đại ngôn, phù phiếm, rỗng tuếch, mà luôn gần gũi với lời ăn tiếng nói, cách suy nghĩ, tâm trạng, ý nguyện của dân, bởi suốt đời Người tự coi mình là đầy tớ, công bộc của dân, gần dân, vì dân, nên luôn thấu hiểu dân tình, dân sinh, dân ý, dân nguyện. Cho đến phút cuối cùng, Người cũng chỉ nghĩ về dân. Người nói “không thể bỏ dân mà đi được”. Câu nói ấy của Người mãi mãi lắng đọng vào lịch sử, là kết tinh tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người...
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào lúc này, khi đất nước đã bước vào thời kỳ phát triển mới, hướng tới sự phát triển bền vững, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và tăng cường hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; đồng thời, khi Đảng ta đang ra sức xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, tạo nên sức mạnh tổng hợp từ sự gắn kết “Ý Đảng với lòng Dân” và trở thành phép Nước... thì một trong những điều thiết thực nhất là thống nhất giữa nói và làm, nói đi đôi với làm, nói thì phải làm, theo tấm gương của Người.
Đó là cách tốt nhất để dân tin Đảng thông qua tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Đó cũng là điều cần nhất vào lúc này, để nâng cao trách nhiệm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, gắn liền “xây” với “chống”, “kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” đúng như dự kiến ban đầu của Người khi đặt tên cho bài báo lúc cuối đời. Thống nhất giữa nói và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đội ngũ hơn 5 triệu đảng viên của Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, với gần 100 triệu dân; khi có nhân dân hỗ trợ, thúc đẩy, giám sát, kiểm tra,... thì nhất định sẽ làm cho Đảng xứng đáng là Đảng chân chính cách mạng, là đạo đức, là văn minh./.
ST
TIỀN NHIỀU ĐỂ LÀM GÌ ?
Tham làm gì ? Tiền nhiều để làm gì ? Ăn thì cũng đến thế, mặc thì cũng đến thế, con cái đấy à “ Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào”, quan trọng là cho nó sự tự lập, cho nó ăn học đến nơi đến chốn, dậy cho con cái biết đạo lý ở đời. “Của cho không bằng cách cho”.
Nên sống một cuộc đời ý nghĩa, đáng sống, đáng tồn tại, khi chết đi người giàu sang cũng như người nghèo khó, cũng đều ra nghĩa địa nằm cả thôi, có biết gì đâu, có khác gì đâu. Điều quan trọng mỗi người chết đi để lại tiếng thơm cho đời, hay lời nguyền rủa của nhân gian mới là quan trọng, tiếng thơm cháu con hưởng, tiếng dữ cháu con gánh chịu .
Tiền vô cùng quan trọng trong cuộc sống, thiếu tiền thì vất vả cơ cực lắm, có ai chê tiền đâu, quan trọng là cách làm ra tiền thế nào? Cách sử dụng đồng tiền ra sao mới thể hiện cái tâm cái tầm của mỗi người. Còn tham đến mức bất chấp để vướng vào chốn lao tù thì mù quáng và vô đạo Đức
Tiền là phương tiện của người thông minh và là mục đích của kẻ tham lam, bất chấp thủ đoạn để kiếm tiền thì cái giá phải trả là không hề rẻ. Ngẫm câu nói của Bác TBT Nguyễn Phú Trọng “Tiền nhiều để làm gì chết có mang theo được đâu” càng thấm thía.
Hà Thanh
Ý NGHĨA LÂU BỀN CỦA TÁC PHẨM “THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY”
"Cái quý nhất của con người là đời sống. Ðời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được vì tật bệnh vô lý hay một sự tình cờ bi đát nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời".
Ðó là đoạn văn miêu tả tâm trạng của Pavel trong nghĩa địa quê hương, nơi những bạn bè bị quân thù treo cổ, khi anh vừa thoát khỏi cái chết do bệnh thương hàn ở công trường Bayarka.
Ðoạn văn tiêu biểu cho nhân sinh quan cộng sản ấy đã được nhiều bạn trẻ trên khắp thế giới thuộc lòng và lấy làm châm ngôn sống.
Lý tưởng cao đẹp nhất - sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người, không chỉ bó hẹp trong một giai đoạn lịch sử đấu tranh giành chính quyền, không chỉ ở phạm vi một quốc gia nào, mà càng ngày, chúng ta càng thấy rõ sự nghiệp ấy chỉ mới bắt đầu. Nó không chỉ là một sự lựa chọn của một cá nhân, một giai cấp mà là sự nghiệp thống nhất của nhân dân toàn thế giới. Sau cuộc đấu tranh chống áp bức là cuộc đấu tranh chống đói nghèo bệnh tật, chống sự kỳ thị, khủng bố..., cuộc đấu tranh để hoàn thiện bản thân và dân tộc. Chỉ khi đó từ "giải phóng" mới có một ý nghĩa thật sự.
Vì vậy, "Thép đã tôi thế đấy" không chỉ là khúc tráng ca về thế hệ đầu tiên của thanh niên Xô-viết, những con người đã được tôi luyện trong lửa đỏ và nước lạnh như Pavel, Sergey, Valia, Rita, Pankratov, Okuniev... mà là những vấn đề của hôm nay và của tương lai.
Sau khi Liên Xô sụp đổ, những giá trị lớn của văn học Xô-viết bị xem xét lại. Người ta không dám công khai đả kích vào "Thép đã tôi thế đấy" nhưng cũng có người cho rằng, đó là một thứ văn nghệ tuyên truyền, văn nghệ của một thời đã qua, ít có giá trị văn hóa...
N.Ostrovsky là một chiến sĩ, có học vấn không cao, cả đời ông chỉ viết được hai cuốn sách ("Ra đời trong bão táp" cũng đã được dịch ra tiếng Việt) nhưng không phải vì thế mà giá trị văn hóa của tác phẩm lại không cao.
Trước đây, nhà văn Ilia Erenbua đã từng coi "Thép đã tôi thế đấy" là Thánh kinh mới của thanh niên Xô-viết. Nó là cuốn sách gối đầu giường của nữ anh hùng Liên Xô Zoya, của Lý Tự Trọng, người thanh niên cộng sản Việt Nam đầu tiên. Ngay trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuốn sách đã được nhà báo Thép Mới (báo Nhân Dân) và Huy Vân dịch ra tiếng Việt, xuất bản năm 1954 và từ đó đến nay đã làm say mê hàng triệu trái tim tuổi trẻ, là nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ thanh niên.
Hiện nay, ở nước Nga sau cải tổ một tờ báo lớn viết: "Nokolai Ostrovsky và hình tượng của nhà văn là Pavel Corchaghin đã và đang là biểu tượng lớn của một nền văn minh vĩ đại".
Vào dịp này, hai cuốn tiểu thuyết "Ra đời trong bão táp" và "Thép đã tôi thế đấy" của nhà văn lại được tái bản tại Việt Nam. Một cậu bé lớp 9 đã thức suốt đêm để đọc một mạch 700 trang "Thép đã tôi thế đấy" vì không dứt được. Sức sống của tác phẩm không hề giảm sút ...
Cho đến nay, "Thép đã tôi thế đấy" vẫn là một trong những tác phẩm thành công nhất khắc họa chân dung người thanh niên cộng sản.
Pavel Corchaghin-ghin từ con nhà "mụ nấu bếp", nghịch ngợm, đầy tính tự phát, trong con mắt của con bé quý tộc hàng xóm là "du côn", đã trở thành một anh hùng trong nội chiến, anh hùng trong lao động, và thể hiện rõ là chân dung một con người thuộc về văn hóa tương lai. Cách mạng không chỉ tôi luyện chí anh hùng mà còn có khả năng hoàn thiện và mở rộng những tính cách, những khả năng tốt đẹp của con người. Cái nhìn của tư sản mới kỳ thị. Cái nhìn của vô sản mới thật sự cầu thị và bao dung. Pavel mê tít sách ở nhà Tonya, nhìn mẹ Tonya trong mối thiện cảm, dành nửa tháng lương để may áo xa-tanh mới và húi tóc, biết làm ngoại giao, giữ thể diện quốc gia khi gặp lại con bé nhà Lesinsky... là một khả năng cách mạng, khả năng tự cải biến mình nhưng không bao giờ xa rời nguyên tắc, xa rời lý tưởng sống cao đẹp. Ðoạn đối thoại với Tonya khi gặp lại Pavel, một bên sực nức mùi son phấn, giàu có, một bên là anh xúc tuyết (để làm đường sắt chở củi cứu thành phố khỏi cái rét mùa đông) là đoạn bộc lộ sự tự tin của một tầm cao văn hóa: "Tonya khó khăn lắm mới nhận ra cái người mặc rách rưới này là Pavel đứng ngay đó, trước mặt Tonya, mình khoác manh áo rách bươm, chân xỏ đôi ủng kỳ quái, cổ buộc cái khăn mặt cáu bẩn, mặt đã lâu không rửa. Chỉ độc có đôi mắt là vẫn như xưa, đôi mắt ánh lên một ngọn lửa không gì dập tắt được: đôi mắt Pavel... Tonya ngại ngùng không dám đưa tay ra bắt. Vasili, chồng chị, sẽ nghĩ thế nào, nếu chị bắt tay Pavel? Ðời Pavel đã xuống dốc đến thế thì mình cũng ngượng với mình thật ...
- Chào Pavlusa. Nói thật với anh, tôi không ngờ thấy anh như thế này. Hóa ra chính quyền Xô-viết không có việc gì khác tốt hơn đáng giao cho anh hay sao mà lại để anh đi xúc đất như vậy? Tôi cứ tưởng đã từ lâu anh làm chính ủy hay là giữ một chức vụ gì đại khái như vậy rồi kia đấy"...
Suy nghĩ của Tonya có thể coi là một suy nghĩ bình thường vì Pavel có công trạng, đã từng cứu sống cán bộ cấp trên. Nhưng Pavel đi làm cách mạng để hiến dâng chứ không phải đi kiếm lợi lộc, chức vụ. Nếu như vậy, chỉ là từ thân phận hèn kém này sang thân phận hèn kém khác dù có được sự "bọc đường" dễ chịu. Ðây là tấm gương soi cho những ai theo cách mạng chỉ nhằm kiếm lợi lộc mà Lenin đã hết sức đả đảo. Giải phóng nhân loại, giải phóng cá nhân, trước hết là sự tiến lên về tư tưởng, nhân cách. Tầm cao và ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm được toát lên từ hình tượng Pavel chính là ở chỗ đó. Sức cuốn hút, sự tất thắng của con người và CNCS cũng chính là ở chỗ đó.
Chừng nào con người còn những khát vọng cao cả, chừng đó, "Thép đã tôi thế đấy" vẫn còn là cuốn sách hấp dẫn, thôi thúc tiến lên.
Nguồn: Báo Nhân dân điện tử
ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC: TỪ KHÁT VỌNG ĐẾN HIỆN THỰC
Trong thời đại Hồ Chí Minh lịch sử, Ðộc lập - Tự do - Hạnh phúc đã không chỉ là khát vọng mà còn là hệ giá trị vô giá và trở thành trở thành lẽ sống, lý tưởng phấn đấu, hy sinh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân kiên định thực hiện. Trân trọng giá trị và thành quả của Cách mạng Tháng Tám, không lâu sau khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 12/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 49 về việc ghi tiêu đề: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm thứ nhất; bên dưới là Độc lập - Tự do - Hạnh phúc trên các công văn, điện văn, công điện, trát, đơn từ, báo chí, chúc từ, v.v..
Trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam yêu nước, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc không chỉ là khát vọng lưu truyền mà còn là một hành trình đấu tranh kiên cường, luôn được tiếp sức, để mỗi người dân và con cháu muôn đời mai sau được thụ hưởng những quyền cao cả đó và thấu hiểu sâu sắc hơn giá trị cao quý của những mỹ từ đó.
ĐẤU TRANH CHO ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC
Trong trái tim mỗi người dân Việt Nam yêu nước, Tổ quốc giản dị, thân thương là dải đất hình chữ S; là khoảng trời, vùng biển, đảo, biên giới thiêng liêng thấm đẫm máu xương của tiền nhân, của các vị anh hùng dân tộc và các thế hệ cha anh. Vì thế, tiếp nối truyền thống dựng nước và giữ nước bao đời, không cam tâm khi đất nước đắm chìm trong đêm trường nô lệ; khi nhân dân bị áp bức, bóc lột tận xương tủy, không được thụ hưởng quyền con người, đến ngay cả quyền được sống của một con người cũng bị chà đạp, nên với mỗi người dân thuộc địa nói chung, người dân Việt Nam của xứ Đông Dương thuộc Pháp nói riêng, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc đã không chỉ dừng lại ở khát vọng mà trở thành động lực, đích phấn đấu.
Vì yêu chuộng độc lập, tự do cho Tổ quốc và khát khao hạnh phúc cho đồng bào; vì muốn cứu nước giải phóng dân tộc, người thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã rời Tổ quốc bôn ba tìm đường cứu nước. Trên hành trình bôn ba qua nhiều quốc gia, châu lục để tìm con đường giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, giải phóng đồng bào mình khỏi áp bức bất công và cao hơn nữa là giải phóng giai cấp, giải phóng con người, để mỗi dân tộc - mỗi con người đều được sống trong Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, khảo nghiệm và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đã lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn theo kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917: Con đường cách mạng vô sản.
Từ đó, Hồ Chí Minh đã nỗ lực hoạt động trong thực tiễn và trên phương diện lý luận để khẳng định vai trò, vị trí của cách mạng thuộc địa, tính chủ động của cách mạng ở thuộc địa; phát huy sức mạnh của khối đoàn kết của nhân dân ở các thuộc địa trong sự nghiệp đấu tranh để giải phóng dân tộc mình, giai cấp mình và chính bản thân mình. Theo Người, chỉ khi nào dân tộc được độc lập, tự do thì người dân mới được thụ hưởng giá trị của Độc lập - Tự do - Hạnh phúc thật sự và độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bởi độc lập dân tộc là điều kiện đầu tiên bảo đảm cho sự phát triển của đất nước và chỉ được bảo đảm vững chắc, có ý nghĩa tiến bộ khi gắn liền với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho tất cả mọi người và con người được giải phóng hoàn toàn để vươn tới cái tất yếu của tự do chính là đích đến của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Cho nên, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”.
Vì thế, cũng chính Người đã bằng những việc làm cụ thể sau đó để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, vào trong phong trào công nhân và phong trào đấu tranh yêu nước; đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán; thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; cổ vũ, động viên và tập hợp quần chúng nhân dân trong các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất, trong các đoàn thể chính trị, các tổ chức hội phù hợp với yêu cầu từng giai đoạn cách mạng để nhân nguồn sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, tạo dựng và tích bồi nguồn sức mạnh của lực lượng cách mạng nhằm "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".
Ngay từ khi ra đời, ngọn cờ độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội đã được Đảng Cộng sản Việt Nam giương cao khi khẳng định trong Chánh cương vắn tắt "chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản", để "Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập", "Dân chúng được tự do tổ chức", "Nam nữ bình quyền"… Trong suốt những năm sau đó, thông qua các cuộc tổng diễn tập (1930-1931), (1936-1939), Đảng đã lãnh đạo quần chúng nhân dân phát huy sức mạnh của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết để từng bước đấu tranh cho độc lập, tự do. Đặc biệt, khi tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định trở về nước, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước (28/1/1941).
Kịp thời và chủ động trước sự phát triển nhanh mạnh của phong trào cách mạng, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương thứ 8 (5/1941): quyết định thay đổi chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và nhấn mạnh: "Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được"; đồng thời, thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp "lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp - Nhật xâm chiếm nước ta"…
Chuẩn bị cho ngày vùng lên của toàn dân tộc, Người và Trung ương Đảng đã nỗ lực xây dựng và chuẩn bị lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang cách mạng; xây dựng căn cứ địa cách mạng và thành lập Khu giải phóng khi thời cơ chín muồi; cổ vũ và động viên mọi người Việt Nam yêu nước không phân biệt giai tầng, tôn giáo, đảng phái, già, trẻ, gái, trai, đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức Cứu quốc của Mặt trận Việt Minh,v.v.. để chuẩn bị tạo dựng thời cơ và chờ thời cơ đến. Giữa tháng 8/1945, khi thời cơ có một không hai đã chín muồi, đồng bào cả nước theo kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Giờ quyết định cho vận mệnh của dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta" đã vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và các địa phương trong cả nước. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Tháng Tám năm 1945 đã thành công. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố nước Việt Nam đã được độc lập, tự do sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp thống trị; nhân dân Việt Nam đã trở thành chủ nhân của nước Việt Nam mới - nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chứ không còn là thần dân, là nô lệ ở xứ Đông Dương thuộc địa…
Vậy là, với 15 năm kiên trì đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta", đã biến khát vọng Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của muôn đời, của muôn dân trở thành hiện thực trên mảnh đất Việt Nam "đầu sóng, ngọn gió" - mảnh đất mà lịch sử oai hùng luôn phải dựng nước đi liền cùng giữ nước.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc đổi đời lịch sử, đã biến xứ An Nam thuộc địa bị xóa tên trên bản đồ thế giới trở thành một quốc gia độc lập, tự do; nhân dân Việt Nam đã giành lại được quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và tự quyền tự quyết định sự tồn tại và phát triển của dân tộc mình. Thắng lợi của cuộc cách mạng vĩ đại đó và Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân và thế giới "là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường. Bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam”. Vì thế, đó không chỉ là hiện thân khát vọng của một dân tộc muốn được độc lập, con người muốn được sống trong tự do, được thụ hưởng những quyền con người cao cả nhất mà còn khẳng định quyết tâm, thành quả sự phấn đấu, hy sinh của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước.
HIỆN THỰC ĐỘC LẬP- TỰ DO- HẠNH PHÚC Ở VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc chính những quyền làm người cao cả nhất theo Hiến chương Liên hợp quốc và Công ước quốc tế về quyền con người, song những quyền đó chỉ được thực thi trong một quốc gia độc lập. Vì những giá trị cao quý đó, suốt chiều dài lịch sử, nhân loại tiến bộ, trong đó có nhân dân Việt Nam đã không quản ngại hy sinh, gian khổ đấu tranh để giành lấy/giành lại. Trân trọng giá trị và thành quả của Cách mạng Tháng Tám, không lâu sau khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 12/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 49 về việc ghi tiêu đề: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm thứ nhất; bên dưới là Độc lập - Tự do - Hạnh phúc trên các công văn, điện văn, công điện, trát, đơn từ, báo chí, chúc từ, v.v..
6 chữ quý giá Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ghi dưới quốc hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hiện thân khát vọng của toàn dân tộc; là sự hiện thực hóa tâm nguyện và ý chí "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu” của Hồ Chí Minh từ thập niên 1920; đồng thời cũng là sự chắt lọc, vận dụng chất tinh túy trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, ham muốn tột bậc của Người là "làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" và Người nguyện cùng Đảng ta, nhân dân ta kiên trì thực hiện "ham muốn tột bậc" đó. Song thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã bị thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ phá bỏ. Vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất, không cam tâm làm nô lệ, không để quyền sống của mỗi người dân Việt Nam lại bị tước đoạt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thề quyết tâm cùng đồng bào và chiến sĩ cả nước tiến hành trường kỳ chống thực dân Pháp với tinh thần và ý chí “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước; đã tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với khát vọng: “Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình, hòa bình thật sự, hòa bình trong độc lập tự do” và niềm tin chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do"...
Trong 30 năm trường chinh kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đầy gian khổ và hy sinh, thắng lợi của trận Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và thắng lợi của cuộc Tổng tiến công Mùa xuân 1975 đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Miền Nam đã được giải phóng, hai miền Nam Bắc đã “sum họp một nhà”, cả nước hòa bình, độc lập, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, những nỗ lực của nhân dân Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc trải dài mấy thập niên cũng chính là để bảo đảm cho mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ nhất quyền con người; trong đó, có quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do và quyền tự quyết của dân tộc - được quyết định vận mệnh, con đường phát triển của mình. Vì vậy, thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đã trở thành nguồn cảm hứng, khích lệ cho cuộc đấu tranh của hàng chục quốc gia khác ở châu Phi, Mỹ La tinh trong thập niên 1960, 1970.
Có thể nói, trong thời đại Hồ Chí Minh lịch sử, Ðộc lập - Tự do - Hạnh phúc đã không chỉ là khát vọng mà còn là hệ giá trị vô giá và trở thành trở thành lẽ sống, lý tưởng phấn đấu, hy sinh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân kiên định thực hiện. Chính lý tưởng ấy, lẽ sống ấy và niềm tin được sống Ðộc lập - Tự do - Hạnh phúc trong một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhất đã trở thành động lực để nhân dân ta nguyện một lòng đi theo Ðảng, làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước và tiếp tục trong hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên trì thực hiện những căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”, chính thể chế nhà nước cùng những quyền lợi và nghĩa vụ công dân được quy định trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 đã cho thấy, trong điều kiện cụ thể của đất nước, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nỗ lực thực thi quyền con người theo quy định của pháp luật. Theo đó, trong điều kiện có chiến tranh, chính quyền phải vừa cứng rắn vừa mềm dẻo để thực hiện thắng lợi mục tiêu kháng chiến và kiến quốc (kháng chiến chống thực dân Pháp); trong điều kiện vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vừa đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà ở miền Nam (kháng chiến chống Mỹ, cứu nước), mục tiêu bảo đảm độc lập dân tộc và một nền dân chủ rộng rãi của nhân dân, quyền tự do, dân chủ của nhân dân cũng đã được thực hiện…phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, nước nhà hòa bình, độc lập và thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân cả nước lại tiếp tục đoàn kết, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng vượt qua khó khăn về mọi mặt sau những năm dài chiến tranh, tiến hành khôi phục và phát triển kinh tế, thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Chiến tranh đã lùi xa, song để có Độc lập - Tự do - Hạnh phúc trọn vẹn, mỗi người dân Việt Nam lại càng nhận thức rõ hơn trách nhiệm của mình trong thực thi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trong hòa bình, mỗi người dân trên đất nước Việt Nam đều cảm nhận được sâu sắc hơn giá trị của độc lập, tự do, của niềm vui được sống trong Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, để ngày mỗi ngày đều được đóng góp công sức, trách nhiệm vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
Hơn 90 năm sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, 75 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập, sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và 35 năm kiên trì thực hiện đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng,v.v.. đã góp phần tạo dựng một diện mạo mới của Việt Nam, một vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện đáng kể, bộ mặt của đất nước và cuộc sống của người dân có những thay đổi. Trên hành trình đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã không ngừng nỗ lực để mỗi người dân được thụ hưởng đầy đủ các quyền cơ bản của con người, quyền công dân, quyền dân chủ của nhân dân; đồng thời coi trọng thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết giữa các quốc gia, trong đó, có việc thực hiện tốt các cam kết quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.
Chủ trương, đường lối của Đảng, chiến lược, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ đều được xây dựng trên cơ sở lấy người dân làm trung tâm, hướng về người dân và phục vụ người dân đã mang lại những kết quả tích cực trong việc bảo đảm quyền con người, từ quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đến quyền dân sự, chính trị, quyền của các nhóm dễ bị tổn thương… Những đóng góp và nỗ lực đầy trách nhiệm của một dân tộc yêu chuộng độc lập, tự do, hòa bình và công lý trên nhiều lĩnh vực, không chỉ trong khu vực mà còn trong cộng đồng quốc tế theo quan điểm "bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển… là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế"; trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; trong tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển bền vững đất nước, nhất là trong phòng và chống đại dịch Covid-19; đặc biệt, việc tham gia và thực hiện hầu hết các công ước của Liên hợp quốc về quyền con người: “Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc” (1981); “Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” (1981); “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội” (1982); “Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị” (1982); “Công ước về quyền trẻ em” (1990); “Công ước chống tra tấn (CAT) và “Công ước về quyền của người khuyết tật” (2014)… và trong thực thi quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp 1980, 1992 và 2013 càng làm sâu sắc hơn giá trị lớn lao của Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, càng cho thấy Việt Nam đang chuyển mình với những bước phát triển đột phá để bảo vệ vững chắc Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
Đến với đất nước và con người Việt Nam - đến với đất nước đã lọt vào tốp 10 “Quốc gia đáng sống” trên thế giới, được cảm nhận giá trị của Độc lập - Tự do - Hạnh phúc; tìm hiểu về hành trình đấu tranh cho các giá trị làm người cao cả đó và quá trình hiện thực hóa các quyền con người đó tại Việt Nam, bạn bè quốc tế từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, từ các nước xã hội chủ nghĩa hay tư bản, "có người theo đạo Hồi, có người theo đạo Phật, đạo Tin lành, đạo Thiên chúa, trước chúng tôi không hiểu nhau, qua hai ngày hội thảo, chúng tôi có thể ngồi lại nói chuyện vui vẻ với nhau, vì chúng tôi có cái chung là lý tưởng Hồ Chí Minh: “Muốn cho nhân loại được tự do, hạnh phúc”. Đó chính là minh chứng vừa giản dị vừa sinh động nhất cho khát vọng, tinh thần, ý chí và quyết tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam cho/vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc trong hơn 90 năm qua!
Độc lập, tự do, hạnh phúc là khát vọng cháy bỏng, đồng thời cũng là quyền của mỗi con người, của mỗi dân tộc. Trong dòng chảy lịch sử nhân loại và xuyên suốt hàng ngàn năm dựng xây gắn liền với bảo vệ giang sơn gấm vóc Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc luôn là khát vọng, là nỗ lực phấn đấu, hy sinh của biết bao thế hệ. Với Việt Nam, 75 năm qua từ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945 đến nay, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc luôn xuất hiện cùng quốc hiệu Việt Nam, khẳng định giá trị lớn lao và ý nghĩa trường tồn của 6 chữ quý báu này; và Hạnh phúc hiện đang được coi là một điểm nhấn trong Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng./.
ST
Con đường thắm tình quân dân
“Cảm ơn thủ trưởng và cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 148 nhiều lắm. Những việc các anh làm không chỉ giúp góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn của xã Khâu Tinh mà còn thay đổi nhận thức của người dân nơi đây. Từ nay, việc tuyên truyền cho người dân thực hiện nông thôn mới sẽ dễ dàng hơn trước rất nhiều!”. Đây là những dòng tin nhắn đồng chí Tô Viết Hiệp, Phó bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Na Hang (Tuyên Quang) gửi đến cán bộ Trung đoàn 148 (Sư đoàn 316, Quân khu 2).
Cách đây chưa lâu, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 148 đã vượt chặng đường gần 200km về xã Khâu Tinh (Na Hang) để giúp người dân nơi đây. Mặc cho thời tiết không ủng hộ, khi đang là những ngày nắng nóng đỉnh điểm ở miền Bắc, nhưng trên con đường liên thôn ở thôn Tát Kẻ, xã Khâu Tinh, các chiến sĩ trong quân phục dã chiến cùng bà con nhân dân hăng say lao động. Người cầm cuốc, xẻng cào, xúc đất, người di chuyển những bao cát, xi măng ra chỗ tập kết, không khí rộn ràng, phấn khởi.
Giữa đoàn quân tràn đầy sức trẻ trên đường làng là hình ảnh các cụ ông, cụ bà ra động viên bộ đội và con cháu làm đường. Trên khuôn mặt và ánh mắt họ ánh lên niềm vui khôn tả vì đây là lần đầu tiên được đón các chú bộ đội về làng. Chị Phùng Thị Hoa, Trưởng thôn Tát Kẻ, bộc bạch: “Trước đây, việc đi vào thôn và nhà văn hóa rất khó khăn do đường đã xuống cấp với nhiều ổ voi, ổ gà. Nay nhờ sự giúp sức của bộ đội, những con đường liên thôn trở nên khang trang, sạch đẹp hơn. Chúng tôi rất vui và biết ơn cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 148”.
Xã Khâu Tinh có địa hình đồi núi cao, với các dân tộc Mông, Tày, Nùng, Dao cùng sinh sống, lại xa trung tâm huyện nên đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn. Bà con thường có thói quen kết hợp chuồng trại, chăn nuôi ngay cạnh nhà ở hoặc buộc trâu, bò ngay nền nhà sàn. Vì thế, việc thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới ở đây còn gặp nhiều khó khăn. Theo đồng chí Tô Viết Hiệp, để vận động nhân dân thay đổi lối sống, nếp nghĩ và những hủ tục, chính quyền địa phương phải rất kiên trì, vất vả. Vậy mà từ khi bộ đội Trung đoàn 148 về xã, đồng bào đã thay đổi từ suy nghĩ đến hành động. Nhiều hộ dân còn tự giác mua vật liệu, đề nghị chính quyền địa phương và bộ đội giúp đỡ, hỗ trợ.
Thực hiện Phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới” tại xã Khâu Tinh, trong đợt hành quân dã ngoại kết hợp làm công tác dân vận vừa qua, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 148 đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền và huy động người dân đóng góp hơn 2.000 ngày công, tham gia phát dọn ta-luy; khơi thông cống rãnh, đắp lề đường. Đơn vị cũng tham gia giúp đỡ 16 gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn di chuyển nhà, xây bếp, đổ bê tông nền nhà; hỗ trợ 30 hộ dân di chuyển chuồng trại, đào rãnh thoát nước...
Trung tá Lê Thanh Hiệp, Chính ủy Trung đoàn 148 cho biết: "Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đơn vị thường xuyên rút kinh nghiệm, tìm ra những phương pháp hay, cách làm hiệu quả, đồng thời khắc phục những hạn chế, thiếu sót. Bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 148 đã để lại ấn tượng tốt đẹp về hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân địa phương".
Nguồn: Báo QĐND
HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG GÓP PHẦN TÍCH CỰC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUÂN ĐỘI
Chủ tịch nước đề nghị Học viện Quốc phòng nỗ lực phấn đấu xứng đáng là đầu tàu về đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo, góp phần tích cực vào xây dựng đội ngũ cán bộ của Quân đội.
Sáng 12/9, tại Hà Nội, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự Lễ Khai giảng năm học 2023-2024 tại Học viện Quốc phòng - Trung tâm Đào tạo, Nghiên cứu Khoa học Quân sự hàng đầu của Quân đội và cả nước.
Cùng dự có Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Phát biểu tại Lễ Khai giảng, Chủ tịch nước đề nghị Học viện Quốc phòng nỗ lực phấn đấu xứng đáng là đầu tàu về đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo, góp phần tích cực vào xây dựng đội ngũ cán bộ của Quân đội, cán bộ cấp chiến lược của Đảng, Nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Năm học 2022-2023, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, phương châm của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Học viện Quốc phòng đã đẩy mạnh thực hiện "Ba khâu đột phá": Nâng cao huấn luyện-đào tạo, nghiên cứu khoa học; xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên; xây dựng hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin.
Với phương châm "lấy người học làm trung tâm", Học viện đã hoàn thành huấn luyện cho 28 lớp học tập trung với 817 học viên.
Hoạt động Nghiên cứu Khoa học của Học viện được đẩy mạnh, triển khai nghiên cứu nhiều đề tài khoa học cấp quốc gia, cấp Bộ Quốc phòng; tham gia nghiên cứu tổng kết thực tiễn, nhất là tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tổng kết Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự và nhiều chiến lược khác.
Học viện đã bám sát tình hình thực tiễn, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng hoạch định chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh, quân sự; xây dựng lực lượng vũ trang, Quân đội; về phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội gắn với quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Cùng với đó, Học viện đã có nhiều cố gắng, đóng góp quan trọng trong thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo quan chức quốc phòng quốc tế; mở rộng trao đổi tiếp xúc đoàn, nghiên cứu học thuật, chia sẻ kinh nghiệm trên các diễn đàn quốc tế song phương và đa phương, nhất là trên Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và quốc tế.
Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng biểu dương, đánh giá cao những thành tích Học viện Quốc phòng đã đạt được trong năm học vừa qua.
Học viện đã quán triệt, thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chỉ thị, chỉ lệnh, kế hoạch của cấp trên về công tác giáo dục-đào tạo, sẵn sàng chiến đấu; xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật, đề ra nhiều giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, xác định "Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị".
Bên cạnh đó, chủ động cập nhật tình hình, bám sát thực tiễn đất nước, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, sự phát triển của lực lượng vũ trang, Quân đội để đưa vào nội dung, chương trình huấn luyện-đào tạo.
Chủ tịch nước nhấn mạnh những thành tích, kết quả Học viện Quốc phòng đạt được trong năm học 2022-2023, góp phần quan trọng vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, Quân đội.
Cho biết năm học 2023-2024 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực dự báo còn diễn biến phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều yếu tố mất ổn định, Chủ tịch nước đề nghị Học viện Quốc phòng tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện-đào tạo, nhất là đổi mới chương trình đào tạo cán bộ chiến dịch-chiến lược của Quân đội; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ diện Trung ương quản lý, bảo đảm sát nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của đất nước, sự phát triển của Quân đội; phù hợp với đối tượng tác chiến và phương thức chiến tranh trên thế giới hiện nay.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển khoa học quốc phòng, an ninh, quân sự, Chủ tịch nước cho rằng Học viện cần kế thừa, vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự của cha ông, tập trung nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới để phát triển lý luận quân sự, quốc phòng, an ninh, nhất là nhận thức mới, tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, làm tốt công tác phân tích, nghiên cứu, đánh giá và dự báo chính xác tình hình liên quan đến quốc phòng, an ninh, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các chủ trương, biện pháp chủ động phòng ngừa, có đối sách phù hợp để bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa," không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống.
Cùng với đó, đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ giảng viên, các nhà khoa học đầu ngành của Học viện có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội; có trình độ chuyên môn cao, am hiểu thực tiễn, giàu năng lực sáng tạo, say mê nghiên cứu khoa học.
Mỗi giảng viên, cán bộ nghiên cứu phải phấn đấu có sản phẩm nghiên cứu có giá trị được ứng dụng trong thực tiễn.
Bằng nghiên cứu của mình góp phần khẳng định và làm phong phú, sâu sắc thêm lý luận đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, Quân đội ta.
Chủ tịch nước lưu ý mỗi học viên phải ý thức sâu sắc, xác định trách nhiệm, vinh dự của mình khi là học viên của Học viện Quốc phòng, từ đó cùng nhau xây dựng môi trường học tập thân thiện, hiện đại, giàu tính tranh luận, trau dồi tri thức, kinh nghiệm, nâng cao năng lực tư duy để nhận thức đúng vấn đề, có phương pháp, tự tin giải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
Phải xác định động cơ học tập đúng đắn, "Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại" như Bác Hồ đã dạy.
Mỗi học viên phải luôn rèn luyện lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị, đạo đức, tác phong, lối sống; khắc phục tình trạng ngại và lười học tập lý luận chính trị.
Có ý thức tổ chức kỷ luật, có tác phong, lối sống lành mạnh, chấp hành nghiêm nội quy, quy chế của Học viện.
Phải coi thời gian được học tập tại Học viện Quốc phòng là cơ hội, là môi trường để nâng cao trình độ, kiến thức quốc phòng, an ninh, được học hỏi kinh nghiệm thực tiễn từ các học viên khác.
Về hợp tác quốc tế, Chủ tịch nước đề nghị Học viện tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác với các Học viện, Trường Đại học Quốc phòng-Quân sự trên thế giới tiếp tục mở các lớp đào tạo quan chức quốc phòng quốc tế. Đây là những nhiệm vụ rất quan trọng, góp phần thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước trong tình hình hiện nay.
Chủ tịch nước lưu ý công tác xây dựng Đảng bộ Học viện vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức; gắn với xây dựng Học viện vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu".
Học viện tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, của Quân ủy Trung ương về "Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới"; tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng và đường lối của Đảng.
Học viện không ngừng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên và chiến sỹ; chú trọng xây dựng môi trường văn hóa, môi trường sư phạm tiên tiến, mẫu mực, kiên quyết không để tiêu cực xâm nhập vào Học viện.
Chủ tịch nước tin tưởng với truyền thống vẻ vang 46 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, Học viện Quốc phòng nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 2023-2024; đồng thời xác định bước đi vững chắc trên nền tảng lý luận và thực tiễn mà Quân đội, Đảng ta đã đạt được./.
ST
Xây dựng Đảng tinh gọn về tổ chức và nâng cao chất lượng cán bộ
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy về công tác tổ chức của Đảng.
Đây là khâu đầu tiên để đổi mới công tác tổ chức của Đảng. Đổi mới tư duy về công tác tổ chức cần quán triệt các quan điểm, phương châm: 1) Việc ra đời, tách nhập, sắp xếp một cơ quan, tổ chức là do nhu cầu xã hội, không lấy ý chí chủ quan của người lãnh đạo để áp đặt một cách tùy tiện, thiếu cơ sở khoa học - thực tiễn; 2) Đẩy mạnh xã hội hóa một số lĩnh vực cung ứng dịch vụ sự nghiệp công nhằm giảm biên chế, kinh phí, tạo cơ hội, khai thác tiềm năng của xã hội. Đối với những lĩnh vực mà xã hội đảm đương được thì Nhà nước không thành lập tổ chức, cơ quan trong lĩnh vực đó; 3) Một lĩnh vực hoạt động chỉ có một cơ quan đảm nhiệm, không để chồng chéo, trùng lắp. Tiếp tục thực hiện thí điểm hợp nhất một số cơ quan, tổ chức Đảng và Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ trùng lặp hoặc gần nhau; 4) Việc sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bộ máy phải bảo đảm theo hướng “gọn” trước, “tinh” sau; có nghĩa là, kết hợp rà soát lại chức năng của các cơ quan, tổ chức gắn với việc mô tả vị trí công việc, chức danh để kết hợp giảm biên chế với giảm đầu mối tổ chức, sau đó, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy tổ chức và con người.
Thứ hai, tập trung xây dựng, kiện toàn mô hình tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị thật sự khoa học theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6, khóa XII.
Cần tăng cường đổi mới, sắp xếp nhằm bảo đảm cho bộ máy của toàn hệ thống chính trị thực sự gọn nhẹ, hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả; vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị, bảo đảm quyền làm chủ thực sự của Nhân dân.
Thứ ba, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ vững về chính trị, tư tưởng, trong sạch về đạo đức; nâng cao về trình độ, năng lực, nghiêm minh về kỷ luật.
Để xây dựng được một đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, có kỷ luật nghiêm minh, cần tập trung vào một số nội dung: 1) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, người đứng đầu, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược thực sự vững vàng, trong sạch, gương mẫu; 2) Tập trung kiểm soát quyền lực và trách nhiệm; đảm bảo nhiệm vụ được giao luôn gắn với trách nhiệm. Khi đã được giao trách nhiệm, quyền lực thì quyền lực, trách nhiệm phải được kiểm soát, rõ ràng. Nguyên tắc là, ở đâu được giao trách nhiệm và quyền lực thì quyền lực và trách nhiệm phải được kiểm soát chặt chẽ; 3) Quyết liệt hơn nữa trong cuộc đấu tranh chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; xây dựng cơ chế, quy chế để sàng lọc, loại bỏ những kẻ cơ hội, thoái hóa, biến chất ra khỏi bộ máy. Phải thực hiện cơ chế “có vào, có ra, có lên, có xuống”. Có cơ chế khen thưởng, xử phạt nghiêm minh, công bằng, công khai.
Thứ tư, thể chế hóa và hoàn thiện các quy chế, quy định về công tác tổ chức và cán bộ, tăng cường kiểm tra, giám sát công tác tổ chức và cán bộ.
Cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống các nguyên tắc, cơ chế, quy chế về công tác tổ chức và cán bộ một cách đồng bộ, đồng thời triển khai việc thực hiện các nguyên tắc, kỷ luật đảng nghiêm minh, nhất là thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung, dân chủ. Phải thông qua cơ chế, quy định của Đảng, Nhà nước, của các tổ chức đảng, chính quyền, thông qua hệ thống công cụ pháp lý để kiểm tra, kiểm soát, giám sát công tác tổ chức và quản lý chặt đội ngũ cán bộ; đề cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu trong công tác tổ chức và cán bộ. Cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của các cơ quan cấp trên đối với các tổ chức, cơ quan cấp dưới. Dựa vào Nhân dân để kiểm tra, quản lý, giám sát hoạt động và chất lượng cán bộ.
Đồng thời, gắn việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức và đội ngũ cán bộ với cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Công tác tổ chức và cán bộ phải góp phần quan trọng trong việc sàng lọc cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất; kiên quyết không để những kẻ cơ hội núp bóng tổ chức để mưu lợi cho bản thân./.
Tập trung xây dựng Đảng trong sạch về đạo đức
Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, xây dựng Đảng trong sạch về đạo đức là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, tạo nên uy tín và lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Do đó, xây dựng Đảng trong sạch về đạo đức trở thành vấn đề cấp bách; vì đạo đức cách mạng là “cái gốc” của mỗi cán bộ, đảng viên, của mỗi tổ chức đảng. Để tăng cường xây dựng Đảng trong sạch về đạo đức, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, tăng cường giáo dục, phát huy vai trò gương mẫu, ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Đạo đức là gốc của người cách mạng”; “Không có đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(3). Tuy nhiên, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên “không phải từ trên trời rơi xuống” mà phải được nhận thức đầy đủ, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện. Vì vậy, các tổ chức đảng phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ ý nghĩa của đạo đức cách mạng, của việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức; phải thường xuyên xây dựng ý thức tự phê bình và phê bình, rèn luyện thói quen, hành vi đạo đức, ý chí phấn đấu, hy sinh, tính kỷ luật, tinh thần trách nhiệm… cho cán bộ, đảng viên.
Hai là, xây dựng các cơ chế, quy chế, quy định cụ thể và tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh loại bỏ những kẻ cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống ra khỏi bộ máy của các cơ quan công quyền .
Quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên thông qua các cơ chế, quy chế, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước là một trong những biện pháp giáo dục, rèn luyện và giữ gìn đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Thực tế trong thời gian qua cho thấy, tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực có chiều hướng phức tạp, có nguy cơ tăng cao là một phần do hệ thống các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước, của các cơ quan, đơn vị chưa đồng bộ, thực hiện thiếu nghiêm túc, công tác kiểm tra, giám sát thiếu thường xuyên. Vì vậy, cần cụ thể hóa các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và xây dựng các quy chế, quy định làm căn cứ, cơ sở cho việc tư dưỡng, rèn luyện đạo đức và làm căn cứ để đánh giá đạo đức của cán bộ, đảng viên.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để phát hiện những tấm gương tiêu biểu; kịp thời cảnh báo, răn đe những biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống, mức độ uy tín, tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng đối với Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm soát khéo, về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”(4).
Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng; việc đấu tranh tự phê bình và phê bình trong nội bộ; việc xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm đạo đức, lối sống; việc hiện các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đặc biệt kiểm tra, giám sát vai trò gương mẫu của người đứng đầu tổ chức đảng trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.
Tăng cường kiểm tra, giám sát thường xuyên của cấp trên, các cơ quan chuyên môn và của Nhân dân, kiên quyết không để một cá nhân, tổ chức nào đứng ngoài sự kiểm tra, giám sát của Đảng, pháp luật của Nhà nước; không có “vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Phương châm là, bất cứ ai, ở đâu, cấp nào được giao quyền lực và trách nhiệm thì quyền lực và trách niệm phải được kiểm soát.
Ba là, gắn công tác xây dựng Đảng về đạo đức với công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Những nội dung xây dựng Đảng về đạo đức luôn gắn với xây dựng bản lĩnh, lập trường, quan điểm chính trị; với xây dựng bộ máy tổ chức trong sạch, vững mạnh. Một đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn tận tụy với công việc, có trách nhiệm với Nhân dân, luôn trung thành với Đảng, với Tổ quốc… thì nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ vững chắc, bộ máy tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu quả, có kỷ luật nghiêm minh, nội bộ luôn đoàn kết, nhất trí. Nền tảng tư tưởng của Đảng được xây dựng vững chắc, bộ máy tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu quả sẽ góp phần rất quan trọng trong việc giáo dục, rèn luyện tác phong, lối sống, thái độ, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Vì vậy, xây dựng Đảng về đạo đức phải gắn liền với xây dựng Đảng về tổ chức và xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng vững mạnh.
Bốn là, thực hiện hiệu quả đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.
Tập trung thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XI, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4, lần thứ 7, lần thứ 8 khóa XII, gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Những điều đảng viên không được làm”; Quy định số 101-QÐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” và một số văn bản quy phạm pháp luật khác.
Năm là, xác định rõ tiêu chí, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức làm căn cứ để giáo dục, rèn luyện và đánh giá đạo đức của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.
Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được quan tâm, được các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng. Tuy nhiên, nội dung xây dựng Đảng về đạo đức còn chung chung, thiếu cụ thể. Trong nhận thức, chúng ta mới tiếp cận nội dung đạo đức của cá nhân mà chưa cụ thể hóa thành những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể về đạo đức của cá nhân và của tổ chức đảng; khi nhận xét, đánh giá, khi giáo dục, rèn luyện đạo đức thường là chung chung, trừu tượng. Vì vậy, cần xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng và của cán bộ, đảng viên. Xác định tiêu chí, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức phải cụ thể, gắn với từng chức danh, từng cương vị công tác của mỗi người. Đây là nội dung rất quan trọng, là căn cứ để đánh giá đạo đức, là cơ sở để xây dựng, rèn luyện đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.

