Thứ Tư, 13 tháng 9, 2023

HỌC TẬP PHONG CÁCH NÊU GƯƠNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC 

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao sự cần thiết và vai trò của việc nêu gương đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Nêu gương được Người coi là một trong những cách thức quan trọng để cán bộ, đảng viên phát huy trách nhiệm của mình trước Đảng và trước nhân dân. Tư tưởng đó của Người có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay.


Trong các bài nói, bài viết của mình, rất nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng từ “nêu gương”, “làm gương”. Điều đó cho thấy, Người rất coi trọng việc “nêu gương”, “làm gương” của mọi tổ chức, mọi lực lượng cách mạng và mọi cá nhân trong xã hội. Theo Người, sở dĩ cần phải nêu gương là do đặc thù của nền văn hóa, đạo đức phương Đông luôn coi trọng tình cảm, luôn lấy cái tốt đẹp của người khác để làm tấm gương soi mình. Người viết: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(1). Do đó, ngay từ khi bắt tay vào công tác huấn luyện cán bộ, Người đã luôn nhắc nhở mỗi cán bộ phải nêu cao tinh thần gương mẫu.


Trong xây dựng và rèn luyện đội ngũ cán bộ, Người luôn căn dặn cán bộ phải nêu cao tinh thần “đầu tàu”, “gương mẫu” để phụng sự Đảng, phụng sự Tổ quốc và nhân dân bởi lẽ “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(2). Chính mục đích lớn lao, cao đẹp đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức phấn đấu và rèn luyện, nêu cao tinh thần trách nhiệm và gương mẫu.


“Muốn đẩy mạnh các mặt sản xuất, chiến đấu, văn hoá và các mặt khác, thì trước hết cán bộ, đảng viên, đoàn viên, phải làm đầu tàu, gương mẫu. Muốn làm gương mẫu thì điều quan trọng nhất là các chú từ tỉnh đến huyện, đến xã phải đoàn kết, đoàn kết thật sự, làm sao tự mình nêu gương và giáo dục cho đảng viên, đoàn viên, cán bộ giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Được thế thì cán bộ, đảng viên, đoàn viên cùng với quần chúng nhân dân càng đoàn kết, các công việc đều sẽ trôi chảy, trước hết là công việc sản xuất và chiến đấu”(3). Như vậy, theo Người nêu gương là một việc làm thường xuyên, liên tục và nghiêm túc của mỗi cán bộ, đảng viên.


Không chỉ nói về việc nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên nói chung; ngay từ lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao cần phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong “Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ” năm 1963, Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(4).


Không chỉ nói đến nêu gương nói chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phương pháp nêu gương đạo đức. Người luôn căn dặn cần phải lấy gương người tốt, việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau, đây là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới và cuộc sống mới. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để nêu gương, trước hết bản thân phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên; về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Cách thức nêu gương theo Người là: “Cán bộ, đảng viên phải làm gương mẫu cho nhân dân. Cán bộ cấp trên phải làm gương mẫu cho cán bộ cấp dưới”(5).


Một điều rất đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đưa ra những tư tưởng, quan điểm rất đúng đắn về nêu gương mà chính Người còn là hiện thân cao đẹp nhất về trách nhiệm nêu gương trước Đảng, trước nhân dân. Phong cách nêu gương trong tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện xuyên suốt trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng, phấn đấu hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì nhân dân của Người. Người không chỉ tiếp thu, kế thừa, bổ sung, phát triển và hoàn thiện lý luận về phương pháp, mà Người còn là hiện thân của phong cách nêu gương hết sức mẫu mực và tự nhiên. Chính bản thân Người là một tấm gương sáng về phong cách nêu gương, một hình ảnh mẫu mực về “người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Bản thân Người luôn ca ngợi và tự răn mình phải học tập tấm gương của các đảng viên cộng sản kiên trung của Đảng ta: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”(6).


Một dẫn chứng cụ thể và cảm động nhất, có sức lan tỏa mạnh mẽ nhất về phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người tiên phong đi đầu trong việc thực hành tiết kiệm, nhường cơm sẻ áo cho nhân dân trong những năm tháng nước nhà rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.


Trong bài Tại sao dân ta đói? Cứu đói phải như thế nào? Với bút danh C.T trên Báo Cứu quốc,  số 105 (ngày 30/11/1945), Người viết: “Hồ Chủ tịch đã nêu gương nhường cơm sẻ áo, mười ngày nhịn ăn một bữa, và đã đỡ đần cho Hội Cứu đói ra đời”(7). Vì là hiện thân cao đẹp nhất của việc nêu gương trong mọi hành động, việc làm nên tư tưởng của Người về nêu gương, làm gương không chỉ dừng lại ở những quan điểm mang tính lý luận mà còn có sức thuyết phục, lôi cuốn và lan tỏa rộng rãi đến toàn thể nhân dân và mỗi cán bộ, đảng viên. Do đó, ở Hồ Chí Minh luôn có sự thống nhất, hòa quyện giữa “tri” và “hành”, giữa tư tưởng và hành động. Đó cũng chính là sức lôi cuốn, hấp dẫn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà không phải nhà lý luận, nhà chính trị nào cũng có được./.

ST


TÌNH YÊU THƯƠNG DÂN TỘC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cuộc đời của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Hình ảnh của Người là tấm gương sáng ngời trong lòng mỗi người dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đặc biệt, Người đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản cao quý đó là: tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người và chủ nghĩa Mác – Lênin luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tich Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho dân tộc, cho cách mạng, đến lúc từ biệt thế giới này, Người viết: “Chỉ tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa cho hạnh phúc của nhân dân và chỉ có một ham muốm tột bậc là làm sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.


Người luôn căn dặn cán bộ: “việc gì có lợi cho dân thì phải làm hết sức, việc gì hại đến dân thì phải hêt sức tránh” và Người luôn luôn tin tưởng vào sức mạnh vô địch của nhân dân, “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”, Người thường xuyên nhắc nhở mọi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần phục vụ trước nhân dân vì “nếu nước nhà độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Để làm tròn trách nhiệm “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, thì mọi cán bộ phải gần dân, hiểu được tâm tư nguyện vọng của nhân dân, kịp thời giúp đỡ và giải quyết mọi vướng mắc của nhân dân. Người phê phán những tư tưởng quan liêu xa dân, lên mặt quan cách mạng, cơ hội, cậy quyền, cậy thế đè đầu cưỡi cổ nhân dân.


“Thương dân Người đã dặn dò.


Đoàn kết thống nhất chăm lo đói nghèo.


Một lòng tin Đảng đi theo.


Chung tay xây dựng thoát nghèo vươn lên”.


Người đã để lại cho chúng ta một tấm gương mẫu mực về tinh thần phục vụ nhân dân, Người luôn luôn thực hành làm gương trước mọi việc như mười ngày nhịn ăn một bữa, tham gia xoá mù chữ, ra mặt trận với chiến sĩ, phát động và tham gia “Tết trồng cây”, … Trên cương vị là Người đứng đầu Nhà nước, mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng Người vẫn giành thời gian để thường xuyên đi cơ sở, tìm hiểu, lắng nghe ý kiến của nhân dân. Những chuyến đi công tác làm việc trực tiếp với cơ sở, hoặc đi tiếp dân. Người hiểu đúng tình hình, từ đó đưa ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp với lòng dân. Bác không bao giờ coi mình đứng cao hơn nhân dân, mà Người chỉ tâm niệm suốt đời là người phụ vụ trung thành, tận tụy vì lợi ích của nhân dân. Người nhiều lần viết thư thăm hỏi, tặng quà cho các cụ già nhân dịp mừng thọ, viết thư gửi các cháu thiếu niên, nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu, vào năm học mới, ….


Tư tưởng, đạo đức, phong cách và tấm gương suốt đời hy sinh chiến đấu, tận tụy phục vụ, vì nước, vì dân của Người là tài sản vô giá để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân học tập noi theo, là động lực tinh thần to lớn giúp cho dân tộc ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


“Biên cương Tổ quốc vững bền.

Quân dân quyết trí làm nên cơ đồ”.


Người không bao giờ đòi hỏi điều kiện, vật chất cho riêng mình, ngược lại Người thanh thản, lạc quan trong cuộc sống cần, kiệm liêm, chính, chí công vô tư nhưng những gì Người để lại cho nhân dân, cho đất nước có thể sánh ngang với núi cao, biển rộng. Vì vậy, đức tính khiêm tốn, giản dị của bác đã trở thành huyền thoại. Kính phục và yêu mến Bác nhà thơ Tố Hữu đã ca ngợi:


“Bác sống như trời đất của ta.


Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa.


Tự do cho mỗi đời nô lệ.


Sữa để em thơ, lụa tặng già.


Như đỉnh non cao tự giấu mình.


Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh.


Bác mong con cháu mau khôn lớn.


Tiếp bước cha anh, tiến kịp minh”.


Sau khi Người mất, căn nhà sàn của Người được mở rộng cửa đón đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế đến thăm. Không ai là không xúc động trước những vật dụng gắn bó với Người gần như suốt cuộc đời, như chiếc máy chữ và chiếc đồng hồ cũ kĩ trên bàn làm việc, đôi dép lốp cao su mòn gót, giường mây, chiếu cói đơn chăn gối, tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn, …


Nhận xét về Bác Hồ, nhà phê bình nghiên cứu văn học Quách Mạt Nhược của Trung Quốc viết: “Hồ Chí Minh là một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng. Với trí tuệ kiệt xuất, Bác đã hai tay xây dựng một cơ đồ, đó là sự nghiệp cách mạng vẻ vang, ghi dấu son trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc”.

ST

 “CÁN BỘ PHẢI ĐI ĐÚNG ĐƯỜNG LỐI QUẦN CHÚNG, DỰA VÀO NHÂN DÂN; TRƯỚC HẾT PHẢI TIN TƯỞNG LỰC LƯỢNG VÀ TRÍ TUỆ CỦA NHÂN DÂN LÀ VÔ CÙNG VÔ TẬN”


Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài nói chuyện tại “Hội nghị thủy lợi toàn miền Bắc”, ngày 14 tháng 9 năm 1959.


Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, qua thực tiễn hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh càng thấm sâu chân lý: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Quần chúng cách mạng chính là các tầng lớp nhân dân mà Hồ Chí Minh đã tìm thấy sức mạnh to lớn ở họ. Người cho rằng, nhân dân rất thông minh, sáng tạo; nhân dân là lực lượng đông đảo của toàn xã hội; nhân dân là người hiểu biết tất cả; nhân dân là nguồn sức mạnh vô tận ở mọi nơi, mọi lúc. Thực tiễn lịch sử đã minh chứng: Thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trong sự nghiệp đổi mới đất nước đều xuất phát từ đường lối “lấy dân làm gốc”.


Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì vậy, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không phải chỉ là việc riêng của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, đảng viên, mà là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Thực hiện tốt phương châm này là nhằm phát huy vai trò của nhân dân lao động tham gia quản lý mọi hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, còn có tác động tích cực đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội vững mạnh. Hoạt động của quần chúng nhân dân theo phương châm đó, trước hết, là giúp cho các tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng và đề cao trách nhiệm trước nhân dân, tôn trọng ý kiến và nguyện vọng của nhân dân; qua đó, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ mình là “là người lãnh đạo; đồng thời là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; luôn biết trăn trở với những thắc mắc, những lo lắng của nhân dân; biết cầu thị và lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, vận động nhân dân chung sức, đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Thấu triệt lời Bác dạy, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, thương yêu, tôn trọng bộ đội như “chân với tay”; luôn là hạt nhân đoàn kết, đã thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu, như óc”, như người thân trong gia đình; xây dựng tinh thần tự giác trong bộ đội, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”. Mối quan hệ cán - binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

ST

Tỏa sáng tình người trong hoạn nạn

 

Trong vụ cháy xảy ra ở chung cư số 37, ngách 29/70 phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội, các lực lượng chức năng, bà con nhân dân đã khẩn trương cứu giúp, hỗ trợ người bị nạn. Nhiều việc làm kịp thời, ý nghĩa thể hiện tinh thần tương thân tương ái, giúp đồng bào vượt qua cơn hoạn nạn.

Khắc phục tình trạng cán bộ né việc

 

Thời gian qua, tình trạng cán bộ né việc, né trách nhiệm diễn ra khá phổ biến ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế-xã hội đất nước, gây bức xúc trong xã hội.

VIỆT NAM - ĐẤT NƯỚC YÊU CHUỘNG HOÀ BÌNH

  

Yêu chuộng hòa bình là nét văn hóa tốt đẹp, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong thời kỳ mới, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã không ngừng gìn giữ, bồi đắp, phát huy để giá trị thiêng liêng, cao quý đó càng tỏa sáng, vững bền.

1. Những năm qua, trong xu thế hội nhập quốc tế, hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam diễn ra phong phú, đa dạng trên các trụ cột và nhiều phương diện, bình diện. Công tác đối ngoại đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, cũng trong quá trình đó, những đối tượng hiềm khích và lực lượng chống phá cách mạng Việt Nam không ngừng tung ra các chiêu trò, thủ đoạn bôi nhọ, bẻ cong sự thật. Đã có nhiều bài viết, bài báo đăng trên các diễn đàn, website, cơ quan báo chí địa chỉ ở nước ngoài... chủ ý bịa đặt nhiều thông tin, cố tình quy chụp, cho rằng Việt Nam đang tăng cường quan hệ với nước này nhằm chống nước kia, hoặc dựa vào nước này để tránh sức ép từ nước khác, cố tình gây dựng đồng minh, phe cánh... Cùng với đó, chúng cố gắng xuyên tạc, bôi nhọ những giá trị truyền thống và giá trị văn hóa yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

Những luận điệu nêu trên tuy không mới nhưng xuất hiện dày đặc ở những thời điểm diễn ra các hoạt động đối ngoại quan trọng của Việt Nam, cũng ít nhiều gây xáo trộn, nhiễu loạn thông tin. Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với mưu đồ gây bất hòa trong mối quan hệ giữa Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới... Mặc dù chỉ là những luận điệu vô căn cứ, bịa đặt, là tiếng nói lạc lõng, yếu ớt của một số cá nhân... nhưng hệ quả của nó sẽ hết sức nguy hại, nếu không sớm được nhận diện, đấu tranh phủ nhận, bóc gỡ kịp thời.

2. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của Việt Nam cho thấy: Dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Dù trải qua các cuộc trường kỳ kháng chiến, đối đầu với những kẻ thù hùng mạnh, nhưng dân tộc Việt Nam luôn khẳng định tính chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình bất diệt. Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động nhất cho khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, hòa bình là lợi ích của tất cả các dân tộc, do đó phải đấu tranh cho hòa bình trên thế giới được bền vững, “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí”. Cũng theo Người, trừ những người đi bóc lột, còn lại đều là bạn bè, là anh em, những người chung cảnh bị bóc lột. Người là hiện thân của tinh thần “Quan san muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” và lý tưởng “người với người là bạn”.

Thực tiễn cách mạng cho thấy, mỗi người dân Việt Nam khi bước ra chiến trường là vì độc lập, hòa bình của dân tộc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân và thực hiện tinh thần quốc tế cao cả. Họ luôn anh dũng, kiên cường chiến đấu bằng tinh thần "sẵn sàng hy sinh khi Tổ quốc cần", thế nhưng đến lúc giành thắng lợi cuối cùng, người dân lại hồn hậu, lạc quan đón nhận cuộc sống thái hòa bình dị, sẵn sàng "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai", đúng như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã đúc kết trong bài "Việt Nam quê hương ta": Đất nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên/ Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa- Đây là sự khái quát đầy đủ, sinh động về tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

3. Đã có không ít lãnh đạo của các cường quốc trên thế giới và tổ chức quốc tế ghi nhận, bày tỏ cảm phục về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình và hành động vì hòa bình thế giới. Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres từng khẳng định với lãnh đạo cấp cao Việt Nam trong một cuộc điện đàm: “Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới”. Đại sứ Barbara Woodward, Trưởng phái đoàn thường trực Anh tại Liên hợp quốc từng đánh giá: “... Những đóng góp của Việt Nam có giá trị cao, giúp giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với hòa bình và an ninh quốc tế”. Phát biểu khi đến thăm Việt Nam (năm 2016), Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama khẳng định: “Đối với các bạn, xung đột trong quá khứ là một ký ức không vui. Nhưng ngày hôm nay, Việt Nam và Mỹ đã cho thế giới thấy rằng, trái tim có thể thay đổi và hòa bình là điều có thể”. Đặc biệt, đã có đến 5 lần các Tổng thống Mỹ sang thăm Việt Nam và chứng kiến những đổi thay của mối quan hệ hai nước, song tình cảm thân thiện, yêu chuộng hòa bình của người dân Việt Nam là giá trị bền vững làm lay động trái tim của những chính khách, như Tổng thống Obama gửi lời cảm ơn trước lúc rời Việt Nam trong chuyến thăm năm 2016: “Sự thân thiện của các bạn đã chạm đến trái tim tôi”.

Đã từ lâu, Thủ đô Hà Nội được bạn bè quốc tế biết đến là điểm đến hòa bình, thân thiện, mến khách. Hình ảnh lãnh đạo cấp cao của các quốc gia trên thế giới đi dạo trên phố phường Việt Nam thanh bình, thưởng thức ẩm thực đường phố, uống cà phê vỉa hè... từ lâu đã không có gì mới mẻ hay lạ lẫm với người dân Việt Nam, cũng trở nên rất đỗi thân quen với truyền thông quốc tế. Đặc biệt, không phải tự dưng mà cách đây mấy năm, lãnh đạo của hai nước Mỹ và Triều Tiên đều đề nghị Việt Nam đứng ra làm nước chủ nhà tổ chức Hội nghị thượng đỉnh lần hai (năm 2019). Hội nghị diễn ra an toàn tuyệt đối không chỉ đối với phái đoàn hai nước mà còn với gần 3.000 phóng viên đến từ hơn 200 hãng thông tấn, báo chí quốc tế từ nhiều châu lục đến đưa tin về sự kiện này. Việt Nam đã rất nỗ lực, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối cho hội nghị, thể hiện rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Cả hai nguyên thủ trước khi rời Việt Nam đều gửi lời cảm ơn Việt Nam vì sự tiếp đón ân cần, chu đáo, thịnh tình và vì trách nhiệm chung với cộng đồng quốc tế.

Trong những năm gần đây, khi tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến mới, nhanh chóng và phức tạp, gây không ít khó khăn, thách thức lớn hơn so với dự báo, nhưng Việt Nam luôn là quốc gia giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển, đổi mới đất nước. Môi trường sống ở Việt Nam không ngừng được cải thiện, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, trong đó có nhiều tiêu chí gây ấn tượng, ngang với những nước phát triển. Môi trường ổn định, yên bình cùng người dân thân thiện đã thu hút các nhà đầu tư quốc tế, đồng thời thuyết phục rất nhiều người nước ngoài lựa chọn sinh sống và làm việc tại Việt Nam.

Không dừng lại ở đó, Việt Nam đã và đang mang khát vọng hòa bình vươn xa bằng cách tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Mỗi sĩ quan được cử đi làm nhiệm vụ đặc biệt này chính là đại sứ hòa bình, nắm trọng trách truyền đi khát vọng hòa bình của dân tộc. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện để cứu trợ nhân đạo, tái thiết cơ sở hạ tầng, rà phá bom, mìn, giúp nhân dân bản địa ổn định cuộc sống... đã trở thành biểu tượng cao đẹp, khiến hai tiếng Việt Nam được vang lên đầy tự hào ở những đất nước xa xôi.

4. Mới đây, phát biểu tại Lễ kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 / 2-9-2023), Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định: Việt Nam là đất nước của hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, là điểm đến tươi đẹp, an toàn, thân thiện, giàu lòng mến khách. Việt Nam luôn nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối cho hợp tác và đối thoại, củng cố chủ nghĩa đa phương, thúc đẩy giải quyết bằng biện pháp hòa bình thông qua đối thoại về các tranh chấp trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; sẽ luôn là người bạn chân thành, thủy chung, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thiết lập quan hệ song phương, đa phương với các quốc gia trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 192 quốc gia trên thế giới. Trong đó, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước; bao gồm 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu (G7) và tất cả thành viên ASEAN. Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, trong đó 96 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Các tổ chức hữu nghị nhân dân có quan hệ với 1.200 tổ chức nhân dân và phi chính phủ nước ngoài. Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 220 đối tác, 71 nước đã công nhận quy chế kinh tế thị trường đối với Việt Nam. Việt Nam là thành viên của hơn 70 tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và toàn cầu... Kết quả đó cho thấy thành tích to lớn của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thế nhưng, điều đáng ghi nhận hơn là các đối tác đều tích cực, chủ động, bày tỏ lòng mong muốn hợp tác với Việt Nam; thể hiện sự cảm phục, tình yêu và sự trọng thị dành cho Việt Nam-một người bạn thủy chung-một đối tác tin cậy, luôn nỗ lực hợp tác vì lợi ích chung và vì hòa bình của thế giới.

Để tiếp tục khẳng định vai trò và sứ mệnh của một quốc gia yêu chuộng hòa bình, thời gian tới, Việt Nam tiếp tục nỗ lực giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm tốt an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra môi trường kinh tế-xã hội hòa bình, năng động, thân thiện. Việt Nam kiên định chủ trương: “Thêm bạn bớt thù, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, đẩy mạnh công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước để không ngừng khẳng định uy tín, vị thế của dân tộc; đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình của cả dân tộc và mỗi người dân Việt Nam.

Đặc biệt, triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) và thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc (tháng 12-2021), đối ngoại Việt Nam cần tiếp tục kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược; chú trọng triển khai hiệu quả, đồng bộ, toàn diện, linh hoạt trên cả 3 trụ cột (đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân); nỗ lực thực hiện vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; huy động mạnh mẽ các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước; nâng cao vai trò, vị thế, uy tín quốc tế của Đảng và đất nước. Hơn bao giờ hết, Việt Nam tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế./.

PBVN ST 

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH ĐỐI VỚI

NHỮNG KẺ “HAI MẶT”, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ

Cơ hội chính trị tinh vi ứng biến với thời cuộc, diễn biến tình hình để lợi dụng “mặt tích cực” và né tránh “bất lợi” đối với bản thân; luôn mang trong mình mưu mô, toan tính và yếu tố bất mãn chính trị; ngược lại, bất mãn chính trị theo đuôi, đồng lõa với cơ hội chính trị và có thể chuyển hóa thành cơ hội chính trị. Xu hướng chung của các phần tử này là câu kết với nhau, dựa vào nhau và gắn bó chặt chẽ với các thế lực thù địch, hoặc bị các thế lực thù địch tìm mọi cách lôi kéo, mua chuộc, hà hơi, tiếp sức nhằm chống đối, cản trở cái tiến bộ, tích cực; thậm chí biến thành kẻ phản bội, phản động, đứng hẳn về phía đối lập, chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.

Để đấu tranh, chặt đứt “cái vòi”, “chân tay”, “râu ria” của những kẻ cơ hội và bất mãn chính trị một cách hiệu quả, cần có các giải pháp toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ, cơ chế, chính sách, pháp luật với quyết tâm cao. Muốn vậy, cần phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu các tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Cần chú trọng thực hiện một số biện pháp sau.

Một là, thực hiện kiên quyết, có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện nghiêm quy định về những điều đảng viên không được làm; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; không bị mắc mưu vào các âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Đây là biện pháp cơ bản, toàn diện và bao trùm trong đấu tranh với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị ở nước ta hiện nay. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng, bí thư cấp ủy phải quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng; đồng thời, nêu cao tinh thần trách nhiệm nêu gương của cán bộ chủ chốt các cấp. Cần phải nêu gương thật sự trong lời nói, hành động, công việc, cuộc sống và thực hiện nghiêm chế tài giám sát, kiểm soát sự nêu gương ấy.

Hai là, chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự trung thành, cần, kiệm, liêm, chính, không tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mất đoàn kết. Thực hiện có nền nếp và chất lượng việc đấu tranh tự phê bình và phê bình, chủ động ngăn chặn, ngăn ngừa xu hướng cơ hội, bất mãn chính trị. Đặc biệt là cần chú trọng việc nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận, nâng cao trình độ lý luận, trình độ nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Ba là, chủ động, tích cực đấu tranh chống những biểu hiện của tư tưởng cơ hội và bất mãn chính trị trong cơ quan, đơn vị và các quan điểm sai trái, thù địch. Đề cao cảnh giác với các phần tử cơ hội chính trị muốn luồn sâu, leo cao vào bộ máy công quyền các cấp. Phát huy sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng chức năng nhằm phân loại và phát hiện kịp thời, đấu tranh hiệu quả với hoạt động phá hoại của các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

Bốn là, trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động của các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị, cần bám sát vào quan điểm, chủ trương, đường lối, kết luận, chỉ thị và hướng dẫn của Đảng và các cơ quan chức năng Trung ương. Dựa trên cơ sở khoa học xác đáng, với luận điểm đúng đắn, luận cứ rõ ràng, luận chứng sắc bén, có tính thuyết phục cao, nhất là đấu tranh bảo vệ chính trị nội bộ, không để lộ, lọt thông tin, bí mật Nhà nước, tình hình nội bộ của cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ các phương tiện thông tin truyền thông, nhất là internet và mạng xã hội; kiểm soát, tổ chức tốt việc thu hồi tài liệu, ấn phẩm mà các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị phát tán để xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Trong bối cảnh hiện nay, các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; đặc biệt là những biểu hiện chống phá tinh vi, lươn lẹo của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị. Trên cơ sở đó có biện pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả, không để chúng “tác oai tác quái”, cản trở chúng ta thực hiện sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 

 

 Phải nâng cao hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong tình hình hiện nay

Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thật sự coi công tác phòng, chống tham nhũng là một nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.

Nâng cao vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp phải cam kết về sự liêm khiết và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Các cấp ủy quản lý chặt chẽ đảng viên, cán bộ; thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở, ngăn ngừa và phát hiện cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Ủy ban Kiểm tra các cấp cần làm tốt công tác tham mưu giúp cấp ủy kiểm tra, giám sát trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao, dễ xảy ra sai phạm. Tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các ban cán sự đảng, các tổ chức đảng và đảng viên ở các cơ quan nhà nước. Tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty nhà nước, các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước. Cơ quan kiểm tra của Đảng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng của Nhà nước để kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý kịp thời và công khai kết quả xử lý tổ chức, cán bộ, đảng viên có vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng.


 TET ĐỘC LẬP TRONG TÔI.

Dù không trực tiếp có mặt trong những thời khắc lịch sử năm 1945 nhưng những thế hệ đi sau chúng tôi vẫn không nén được cảm xúc, bồi hồi mỗi khi cả nước tưng bừng kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9.    

Khi còn nhỏ, tôi được dạy rằng, Quốc khánh 2/9 là ngày sinh của đất nước, cả dân tộc ta giành được độc lập tự do, là ngày Tết Độc lập. Khi ấy, đối với lũ trẻ, chỉ hiểu ngày này là một ngày lễ lớn, được nghỉ học, nghỉ làm, cả phố xóm treo cờ, hân hoan chào mừng. Lớn hơn một chút, tôi hiểu được, để có được Ngày Độc lập ấy, thế hệ cha ông đã phải đánh đổi bằng máu xương, mồ hôi và trí lực... Vì giá trị thiêng liêng đó, ngày lịch sử trọng đại này được người dân chờ đón, như một nét văn hóa của cuộc sống hiện đại.

Ký ức của tôi nối dài cho đến hiện tại không hề thay đổi. Những ngày này, phụ bố treo cờ Tổ quốc, nghe thấy tiếng bác tổ trưởng tổ dân phố hào hứng đi nhắc nhở từng nhà, nhìn thấy mái nhà ai cũng tung bay cờ đỏ sao vàng, từ hẻm nhỏ đến phố lớn ngập trong sắc cờ, hoa, biểu ngữ…, đúng là không khí “vui như Tết”.

Tết Độc lập trong tôi, và hẳn là trong lòng mọi người khác nữa, ngoài không khí nô nức đi xem lễ thượng cờ, xem diễu binh ở quảng trường Ba Đình, còn là bữa cơm sum họp gia đình. Vào ngày vui của đất nước, đại gia đình tôi có truyền thống họp mặt đầy đủ, những người đi làm xa, những người bận rộn hay vắng mặt đều quây quần bên mâm cơm. Người lớn sẽ nói chuyện về những tháng ngày xưa cũ, kể cho nhau nghe về những câu chuyện họ được nghe hoặc những kỷ niệm chính họ trải qua về cuộc chiến giành độc lập dân tộc, về ký ức những ngày đất nước mới thống nhất… Có lẽ vì đó là câu chuyện chân thực của bố mẹ, của các bác, của cậu, dì nên chạm đến trái tim tôi, khơi dậy nhiều cảm xúc.

Quả thực, sự kiện Ngày Độc lập vẫn luôn sống động, gần gũi khi trở thành nét văn hóa thường niên, nhắc nhở thế hệ sau về đạo lý uống nước nhớ nguồn, có trách nhiệm đối với lịch sử dân tộc.

Lớn lên, được nghe nhiều, hiểu nhiều, đi nhiều mới thấm thía những giá trị của “độc lập”, tôi càng xúc động, tự hào về Ngày Quốc khánh, rung cảm sâu lắng trước khung cảnh phố phường bừng sáng bởi cờ đỏ sao vàng. Xúc động, tự hào vì đất nước qua bao gian khó vẫn quật cường vươn lên, kinh tế phát triển, đời sống mọi người ấm no, hạnh phúc hơn.

Hiểu được giá trị của cuộc sống thì mới càng biết cách gìn giữ. Và, bằng nhiều cách khác nhau, mỗi người trẻ chúng tôi đang thể hiện tình yêu đất nước theo những cách riêng, từ các công việc đơn giản, thiết thực nhất.

Trước đây, dưới những mái trường, thầy và trò thực hiện nghi thức chào cờ vào mỗi sáng thứ 2 đầu tuần và nghi thức ấy vẫn được duy trì đến bây giờ. Tôi không quên được cảm xúc của mình khi hát theo bản quốc ca trầm hùng vang dội và nhìn lá cờ Tổ quốc tung bay. Tôi tin là mỗi thanh niên đứng dưới cờ đều có chung cảm xúc như tôi, đó là niềm tự hào dân tộc.

Sau này đi làm trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, nghề nghiệp cho tôi cơ hội may mắn được gặp gỡ các nhân vật lịch sử, các cựu chiến binh, những con người đã trải qua thăng trầm của đất nước. Tôi được nghe, được nhìn, được lắng lại để chiêm nghiệm về giá trị thiêng liêng của từ “độc lập”.

Tôi tin rằng, tại nhiều nơi khác nhau, những người Việt trẻ giống như tôi, cho dù không có những trải nghiệm tự thân trong quá khứ để cảm nhận được hết cảm xúc lớn lao của Ngày Độc lập, nhưng luôn học cách gìn giữ, phát huy những giá trị đó. Bắt đầu từ việc nỗ lực hoàn thành những nhiệm vụ, công việc thường nhật, đến việc đóng góp phát triển kinh tế, góp sức xây dựng một cộng đồng xã hội bền vững hơn… Bằng bản lĩnh, trí tuệ của tuổi trẻ, kết nối để tạo nên một thế hệ tốt đẹp, lành mạnh và lan tỏa tinh thần dân tộc đến cả những thế hệ sau này. Mỗi người có một cách yêu nước khác nhau nhưng tình cảm cho dân tộc, cho Tổ quốc chỉ là một, tình cảm đó luôn hiện hữu trong mỗi con người Việt Nam.

Nhìn lớp lớp cờ đỏ sao vàng tung bay trên các con phố, tôi bất giác gợi lên những câu ca mộc mạc, sâu lắng trong bài hát “Lá cờ” của nhạc sĩ trẻ Tạ Quang Thắng: “Một thời chiến đấu, cha tôi anh hùng. Một thời gian khó, mẹ tôi đảm đang. Vẫn giữ nụ cười và tiếng hát át tiếng bom. Để rồi nay bước trên con đường đời, dù bao gian khó, chông gai đời tôi, đứng dưới bóng cờ, là con tim ngân lên tiếng ca: Đoàn quân Việt Nam đi…”./. 

 KHÔNG MƠ HỒ, LẪN LỘN GIỮA TƯ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ VỚI NGÔN LUẬN TỰ DO, BÁO CHÍ TỰ DO (P1)


Một trong những luận điệu thiếu thiện chí của một số tổ chức, cá nhân đối với Việt Nam là xuyên tạc ở đất nước Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, lập luận của họ đa phần có sự đánh tráo khái niệm giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do.
 Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí
Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.
Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.
Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...
Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân.
Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã hội.
Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.

 Cần tiếp tục hoàn thiện Luật phòng, chống tham nhũng bảo đảm ngày một chặt chẽ trong công tác phòng chống

Cần tiếp tục sửa đổi để quy định một cách toàn diện, bao quát, nhất là quy định cụ thể các biện pháp để bảo đảm thực hiện việc công khai, minh bạch đầy đủ, kịp thời các hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị để mọi người biết. Cần quy định rõ các nguyên tắc, hình thức, nội dung, thời gian, trách nhiệm thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, để từ đó hạn chế sự tham nhũng.

Cần quy định các biện pháp hữu hiệu để quản lý, xác minh các tài sản, thu nhập của những người có chức vụ, quyền hạn; cần có các cơ quan, tổ chức chuyên trách quản lý, xác minh các bản kê khai tài sản, thu nhập xem có đúng không, có trung thực, chính xác không. Đặc biệt, cần quy định một cơ chế hữu hiệu theo dõi sự biến động tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và trách nhiệm giải trình, làm rõ tài sản, thu nhập gia tăng không hợp lý, không rõ ràng.

Hoàn thiện các quy định tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng.

 BẢO VỆ HÒA BÌNH LÀ NHIỆM VỤ TỐI THƯỢNG CỦA QUỐC PHÒNG VIỆT NAM 


Đây cũng là nhiệm vụ tối thượng của Quốc phòng Việt Nam trong thời đại mới được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong cuốn sách mới ra mắt.

Mới đây, cuốn sách "Một số vấn đề về: đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Bí thư Quân uỷ Trung ương đã được ra mắt. Trong cuốn sách này, tư tưởng cốt lõi được Tổng Bí thư nhấn mạnh, đó là bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hoà bình.

Cuốn sách tập hợp 39 bài nói, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đề cập về những vấn đề lớn, cơ bản về quốc phòng, đặc biệt là tiếp tục khẳng định vấn đề cốt tử, có tính nguyên tắc, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng trong mọi tình huống.

Với sự am hiểu, trách nhiệm đối với nền quốc phòng Việt Nam, Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương qua cuốn sách đã thể hiện việc tiếp cận đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng qua việc tìm câu trả lời cho các câu hỏi về tính chất chiến tranh trong tương lai, xu thế phát triển của khoa học - kỹ thuật; Mặt trận nào, lĩnh vực nào sẽ là trọng tâm. Một trong những điểm được coi là đột phá trong tư duy của Người đứng đầu của Đảng đối với vấn đề quốc phòng chính là tư tưởng "bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hoà bình".

Khái quát những vấn đề lý luận dựa trên thực tiễn phát triển của nền quốc phòng Việt Nam, cuốn sách định hướng rất rõ về xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.

Trong thời gian tới, những nội dung lý luận trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương sẽ tiếp tục được quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, làm nền tảng cho việc triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quân sự quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới./.

 

CHIÊU TRÒ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ

CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và các đối tượng chống đối trong và ngoài nước thường sử dụng để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” là phủ nhận ý nghĩa, giá trị của những thành quả, thắng lợi, nhất là các thắng lợi có ý nghĩa lịch sử mà các quốc gia ấy đã giành được. Đối với cách mạng Việt Nam, những kẻ cố tình không nhìn ra thành quả, ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám lập luận rằng, đó không phải là thành quả có được dưới sự lãnh đạo của Đảng mà là “một sự ăn may”!

Họ biện minh, vào đầu năm 1945, Việt Nam không còn là thuộc địa của Pháp. Kể từ sau cuộc đảo chính ngày 9/3/1945, Nhật đã hất cẳng Pháp và khi phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện thì ở Việt Nam xuất hiện “khoảng trống quyền lực”. Họ cho rằng, khi xuất hiện “khoảng trống quyền lực” thì không chỉ với Việt Nam mà ở mọi quốc gia trên thế giới, cách mạng cứ nổ ra là giành thắng lợi, không cần ai phải “dày công lãnh đạo”.

Từ cách nhìn phiến diện và đơn giản ấy, họ cho rằng Cách mạng tháng Tám của Việt Nam thành công “là một sự ăn may” và phủ nhận vai trò của Đảng, phủ nhận quá trình chuẩn bị lực lượng, xây dựng cơ sở, khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa của cách mạng Việt Nam.

Các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong và đối tượng chống đối xuyên tạc rằng, Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công không phải là do sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc đứng lên làm cách mạng. Thậm chí, họ còn xuyên tạc lịch sử rằng “dù không có Đảng Cộng sản, nhiều thuộc địa vẫn giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tổn xương máu là do Đảng Cộng sản Việt Nam gây ra”. Thậm chí, có kẻ còn trắng trợn “kết tội” rằng, thành quả Cách mạng tháng Tám nhanh chóng rơi vào tay Đảng Cộng sản và đây là nguyên nhân khiến dân tộc Việt Nam rơi vào “thảm họa” chiến tranh, đất nước bị tàn phá, dân tộc phân ly và ngày nay tiếp tục tình trạng nghèo đói, lạc hậu. Đồng thời suy diễn, nếu không đi theo con đường cách mạng vô sản, Việt Nam vẫn có độc lập mà tránh được chiến tranh, đi theo con đường của nước tư bản phát triển tới phồn vinh (!)...

Những luận điệu sai trái, bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử nói trên của các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong và đối tượng chống đối hòng hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hạ thấp, coi nhẹ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phủ nhận vai trò và giá trị thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ. Việc phủ nhận thành quả, tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng tháng Tám còn gây tâm lý mơ hồ, hoài nghi trong xã hội, nhất là trong giới trẻ để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ngăn trở hòa hợp dân tộc, đẩy một bộ phận nhân dân xa rời Đảng, Nhà nước, hướng lái dân tộc Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa… Do đó, chúng ta cần tỉnh táo nhận diện, nâng cao tinh thần cảnh giác để tăng cường đấu tranh phản bác các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Thời gian càng lùi xa thì ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại, sức sống mãnh liệt của Cách mạng tháng Tám càng lan tỏa. Trách nhiệm của những người Việt Nam yêu nước trước hết là hiểu đúng, nhận thức rõ về ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của Cách mạng tháng Tám. Mặt khác, mỗi người dân phải luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác, nhận rõ những âm mưu và hành động thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động để kiên quyết vạch trần, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, vu cáo, nhất là trên không gian mạng.


 

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ

MỐI QUAN HỆ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một vấn đề hệ trọng không chỉ của Việt Nam mà của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có tính quy luật, dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Do vậy, các thế lực cơ hội, thù địch cũng luôn tìm cách chống phá, gây mất ổn định, mong muốn chúng ta giải quyết sai, xử lý không đúng dẫn tới đổ vỡ, thất bại. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, nếu tập trung quá nhiều nguồn lực, tách riêng các nhiệm vụ, không có quan điểm đúng, dẫn tới tập trung quá nhiều cho quốc phòng, an ninh, dẫn tới không đủ nguồn lực cho xây dựng và phát triển kinh tế, tất yếu kinh tế kém phát triển và ngược lại, nếu chỉ tập trung cho phát triển kinh tế, coi nhẹ quốc phòng, an ninh dẫn tới hoặc phải dựa vào sự hỗ trợ từ bên ngoài, hoặc luôn trong tình trạng bị đe doạ, phụ thuộc. Vì vậy, âm mưu, thủ đoạn của chúng là tạo ra sự mất cảnh giác, lợi dụng những khó khăn trong từng thời điểm, nhất là khó khăn về kinh tế, khó khăn về bảo vệ chủ quyền biển đảo để phê phán, xuyên tạc.

Các quan điểm sai trái, thù địch về quốc phòng, an ninh, về lực lượng vũ trang, từ lâu luôn nhấn mạnh rằng, cần phải phi chính trị hoá lực lượng vũ trang, lực lượng vũ trang chỉ tuân thủ pháp luật, không chịu sự lãnh đạo của Đảng; rằng lực lượng vũ trang muốn chuyên nghiệp, muốn có sức mạnh và khách quan thì không chịu sự chi phối của chính trị và ngược lại. Một đảng cầm quyền dễ mất dân chủ, độc đoán chuyên quyền, khi chi phối lực lượng vũ trang sẽ biến lực lượng vũ trang trở thành công cụ cho độc đoán, chuyên quyền, phe phái trong xã hội. Điều này dẫn tới suy yếu trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước đối với bên ngoài, nhưng là công cụ bạo lực đối với trong nước….

Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần hết sức cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhận rõ âm mưu của chúng hòng gây hoang mang, dao động, mất phương hướng chính trị, chia rẽ rẽ quân đội với công an, lực lượng vũ trang với nhân dân, nhân dan với Đảng … nhằm thực hiện xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

 ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU CHIA RẼ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

"Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước", Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định.
- Cảnh giác trước những thông tin sai sự thật.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữa nước của cả dân tộc. Bởi vậy, có thể khẳng định, lịch sử hình thành, phát triển các dân tộc gắn với lịch sử hình thành và phát triển đất nước Việt Nam. Thời gian qua, nhiều thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng vấn đề quyền của người dân tộc để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong đó phải kể đến tổ chức Khmer Kampuchea Krom.
Khmer Kampuchea Krom là một tổ chức hoạt động trên phạm vi quốc tế có xu hướng bài Việt Nam và tham gia các hoạt động chống Đảng, chính quyền, Nhà nước Việt Nam. Tổ chức này gồm nhiều đối tượng xấu, trước nay thường xuyên vu cáo về cái gọi là "Việt Nam cướp đất của Campuchia". Khmer Kampuchea Krom sử dụng hình ảnh 3 màu xanh - vàng - đỏ làm biểu tượng tuyên truyền, vận động, lôi kéo, móc nối với số phần tử thù địch, phản động trong nước với mục tiêu mặc định sự tồn tại của tổ chức trong vùng dân tộc Khmer, tiến tới đòi quyền "dân tộc tự quyết" cho người Khmer, lập "Nhà nước Khmer Krom".
Hồi tháng 7, tổ chức này còn lợi dụng việc phá bỏ cổng chào tỉnh Trà Vinh, vốn bị hư hỏng nặng và có khả năng gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông để bịa đặt thông tin chính quyền không cho người dân tổ chức các trò chơi dân gian nhân dịp lễ Chôl Thnăm Thmây năm 2023 và đưa ra luận điệu xuyên tạc rằng "chính quyền người Việt muốn xóa bỏ văn hóa của người Khmer", muốn thực hiện chính sách "đồng hóa dân tộc Khmer".
Thậm chí, nhiều đối tượng thù địch, quá khích còn công khai thách thức chính quyền nhân dân, treo cờ của tổ chức Khmer Kampuchea Krom, xuyên tạc "Lịch sử vùng đất Nam bộ - Việt Nam"… Chưa hết, chúng tiếp tục lợi dụng những người Khmer bức xúc về giải quyết tranh chấp đất đai, lôi kéo, xúi giục họ không chấp hành sự giải quyết của chính quyền địa phương… Gần đây, Khmer Kampuchea Krom lại tiếp tục bịa đặt về tình hình người Khmer ở Việt Nam.
Liên quan đến vấn đề này, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng ngày 31/8 đã khẳng định: “Chúng tôi bác bỏ những thông tin không có cơ sở, sai sự thật về tình hình người Khmer ở Việt Nam. Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Các dân tộc Việt Nam đều được đối xử bình đẳng. Nhà nước Việt Nam bảo đảm và tạo điều kiện phát triển về mọi mặt nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp, đóng góp củng cố khối đại đoàn kết dân tộc”.
- Nét đặc trưng riêng biệt và độc đáo của người Khmer.
Dân tộc Khmer là một trong 54 dân tộc ở Việt Nam và được đánh giá là dân tộc sở hữu nhiều nét đặc trưng riêng biệt và độc đáo. Thống kê cho thấy, dân tộc Khmer ở Việt Nam có khoảng 1,3 triệu người, sống tập trung ở tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ, Vĩnh Long và phân bố rải rác ở một vài nơi khác. Người Khmer có ngôn ngữ và chữ viết riêng. Tiếng nói của dân tộc Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me. Trang phục truyền thống của người dân Khmer mang những đặc trưng riêng về tạo hình và mặt thẩm mỹ. Nam nữ đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm, người có tuổi mặc quần áo bà ba màu đen còn nam giới khá giả sẽ mặc bộ bà ba màu trắng, khăn rằn quấn trên đầu hoặc vắt qua vai. Trong đám cưới, trang phục của chú rể là áo xà rông có màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng. Cô dâu sẽ mặc váy màu tím hoặc màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống.
Đồng bào Khmer có nhiều lễ hội đặc sắc, tiêu biểu là Tết đón năm mới và Lễ cúng trăng. Trong những dịp này, bà con thăm hỏi, chúc lẫn nhau, tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, thể thao. Ngoài ra, dân tộc Khmer còn có nền âm nhạc sân khấu truyền thống Dù kê, một sự kết hợp có nguồn gốc từ cả Ấn Độ lẫn Đông Nam Á, bao gồm các loại hình nghệ thuật như: ca, múa, âm nhạc, vũ thuật, phục trang, hóa trang, hội họa và ẩm thực. Nghệ thuật sân khấu Dù kê vừa phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí, vừa giúp người xem cảm nhận được điều hay lẽ phải, nhận thức được thiện - ác, chính - tà, định hướng cho con người. Với những giá trị đặc biệt đó, sân khấu Dù kê đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian.
Người Khmer Nam Bộ hầu hết đều theo tín ngưỡng Phật giáo, hệ phái Nam Tông. Di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer cũng chính là nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp: chùa có mái cao thẳng đứng, hoa văn họa tiết sơn vàng, hệ thống tượng Phật, thần Kabil Maha Prum, nữ thần đất, hung thần Reahu, tiên nữ, vũ nữ Apsara, người chim, vua khỉ Hanuaman.
Chùa là nơi người Khmer thực hiện nghi lễ của Phật giáo, dạy chữ Khmer, lễ hội, truyền bá kinh nghiệm sản xuất; là nơi gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc. Đồng thời, đây cũng là nơi tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào dân tộc Khmer tuân thủ các quy định của pháp luật, tích cực tham gia phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự.
Như ở tỉnh Sóc Trăng, sau vài năm hoạt động, mô hình “Sư sãi và phật tử tham gia phòng, chống tội phạm, đảm bảo ANTT” đạt được mục tiêu chung là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh tuân thủ các quy định của pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự. Đặc biệt là từ mô hình này, việc cung cấp cho lực lượng Công an những thông tin có liên quan đến tình hình an ninh trật tự tại khuôn viên chùa cũng như trên địa bàn các xã, huyện, thị xã ở tỉnh Sóc Trăng ngày càng nhanh chóng, kịp thời hơn.
Thượng tọa Trần Văn Tha – Phó trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chánh Thư ký Hội đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng, trụ trì chùa Sê Rây Ta Mơn chia sẻ thêm rằng, đến nay, Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước của tỉnh đã thực hiện tốt chức năng hướng dẫn đồng đào dân tộc Khmer sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, phối hợp với các ngành chức năng tuyên truyền; vận động chức sắc, đồng bào phật tử tham gia các phong trào xã hội ở địa phương, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và cùng chung tay tham gia phòng chống tội phạm, bảo đảm ANTT. Bên cạnh sự quan tâm của Đảng, Nhà nước tới tôn giáo, đời sống bà con cũng đang từng bước được nâng cao nên càng tạo thêm sự tin tưởng, đoàn kết giữa các dân tộc trong tỉnh.
- Những chính sách phát triển hiệu quả.
Thực hiện nhất quán đường lối “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng tiến bộ”, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống chính sách đầu tư, hỗ trợ đồng bộ, ưu tiên bố trí nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer. Trong đó phải kể đến Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 14/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI và Thông báo số 67-TB/TW ngày 14/3/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X “Về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer”; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Kết luận số 57-KL/TW, ngày 03/11/2009, của Bộ Chính trị “Về công tác dân tộc”; Kết luận số 28-KL/TW, ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị về “Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long, thời kỳ 2011 - 2020” nhằm xây dựng tổng thể các chính sách ưu đãi riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long, trọng tâm là đồng bào Khmer giai đoạn 2014 - 2020 và có Chiến lược phát triển toàn diện đối với đồng bào dân tộc Khmer đến năm 2030, định hướng đến năm 2050; Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/1/2018 của Ban Bí thư về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới...
Việc thể chế hóa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã được Chính phủ, các ban, bộ, ngành và các tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer thực hiện nghiêm túc, cụ thể, phù hợp với sự phát triển chung của cả vùng và từng địa phương. Đến nay, Chính phủ ban hành 100 văn bản thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng đang triển khai thực hiện trên địa bàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có 58 chính sách chung có liên quan đến chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số và 42 chính sách riêng đối với đồng bào dân tộc thiểu số; chủ yếu là các quyết định phê duyệt các chính sách, dự án quan trọng, toàn diện đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, đối với đồng bào Khmer nói riêng.
Hòa thượng Tăng Nô - Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Sóc Trăng, Phó Hội trưởng Thường trực Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng cho biết, những năm qua, nhờ các chủ trương, chính sách hỗ trợ về mọi mặt của Đảng và Nhà nước, diện mạo vùng đồng bào dân tộc Khmer đã thay đổi, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào được nâng lên rõ rệt; đặc biệt là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; phát triển kinh tế - xã hội trong vùng đồng bào Khmer sinh sống và các chính sách về an sinh xã hội. Tại thời điểm trước khi Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII ban hành Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/1/2018, theo thống kê của Ủy ban Dân tộc, các chương trình, dự án triển khai ở vùng đồng bào dân tộc Khmer, đã xây dựng 90 nghìn nhà ở, hỗ trợ đất sản xuất, đất ở cho 30.025 hộ; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm cho 18.609 lao động và 5.139 hộ.
“Bà con rất phấn khởi vì được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, vì thế luôn nỗ lực và thực hiện đúng nếp sống “tốt đời đẹp đạo”, Hòa thượng Tăng Nô nói. Trong khi đó, Thượng toạ Trần Văn Tha, Phó trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Sóc Trăng, trụ trì chùa Sê Rây Ta Mơn thì nhấn mạnh: “Cấp uỷ Đảng, chính quyền luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các cơ sở tôn giáo, chức sắc, chức việc ở thị xã hoạt động; góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá truyền thống. Đặc biệt, trong việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Khmer, chính quyền cũng đã hỗ trợ các kinh phí về giảng dạy và giúp các sư sãi trong chùa vận động bà con xung quanh cho phép con em mình được tham gia các lớp học tiếng Khmer vào dịp hè. Những việc này đã thể hiện rõ chính sách nhất quán của Nhà nước về việc bình đẳng và đoàn kết các dân tộc Việt Nam”.
________________
Điều 5 Hiến pháp 2013 ghi rõ:
1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.
4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.

 NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT XUNG QUANH QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - HOA KỲ 

 Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden xác nhận hai quốc gia sẽ có mối quan hệ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN. Tức là nhảy 2 bậc so với cấp bậc ngoại giao trước đó là ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN. Đây là cấp bậc ngoại giao song phương cao nhất của Việt Nam. Quan hệ ngoại giao Đối tác chiến lược toàn diện có nghĩa là gắn bó lợi ích lâu dài, hỗ trợ lẫn nhau và thúc đẩy sự hợp tác sâu rộng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực mà các bên cùng có lợi. Hoa Kỳ cam kết tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ, chính trị Việt Nam. Coi trọng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với đất nước Việt Nam. Trước đó, Việt Nam đã thiết lập quan hệ này với Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc. Hoa Kỳ là quốc gia thứ 5 thiết lập mối quan hệ này. Dự kiến năm tới, có thể sẽ có Nhật Bản, Singapore, Úc và Indonesia trở thành đối tác chiến lược toàn diện tiếp theo. Trong bài phát biểu, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc lại rất rõ cam kết của Việt Nam là "bốn không". Tức là: - Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác - Việt Nam không tham gia liên minh quân sự - Việt Nam không liên kết với nước này để chống nước kia - Việt Nam không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế Ủng hộ quan hệ giữa hai quốc gia. Thật mừng vì vị thế Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, mở rộng và thiết lập quan hệ ngày càng gắn bó với các cường quốc trên thế giới! 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GIÁM SÁT MẠNG XÃ HỘI - CUỘC CHIẾN ĐẦY THÁCH THỨC!

     Nhiều nước đang quyết liệt nâng cao năng lực phân tích và giám sát mạng xã hội. Đây là một công việc hết sức phức tạp, khó khăn trên nhiều phương diện, cả về kỹ thuật, tài chính và pháp lý.

NHỮNG CÔNG NGHỆ VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT MẠNG XÃ HỘI
Những năm gần đây, đăng thông tin sai sự thật, hình ảnh phản cảm, lừa đảo trên internet, mạng xã hội đã trở thành vấn nạn gây bất an cho toàn xã hội. Tuy nhiên, việc giám sát mạng xã hội lại không hề đơn giản, cả về phương pháp và công nghệ, nguồn lực, nhân sự cũng như các chế tài, quy định pháp luật… Thế giới đang thúc đẩy nghiên cứu cho sự ra đời nhiều công cụ, phần mềm giám sát thông tin trên mạng xã hội nhằm vào nhiều mục tiêu khác nhau. Các phương pháp giám sát mạng xã hội tiếp cận dựa trên những yếu tố cơ bản như:

Phân tích mạng lưới xã hội (SNA): bao gồm việc nhận dạng và hiển thị hình ảnh các cấu trúc xã hội, sử dụng kiến thức của các ngành như tâm lý học, nhân học, lý thuyết đồ thị trong toán học. Dùng thuật toán để tự động phát hiện các cộng đồng trong một đại tập hợp dữ liệu mạng xã hội.

Công chúng: loại phân tích này tập trung vào một nhóm người cùng quan tâm tới một vấn đề và sử dụng một diễn ngôn chung trên mạng xã hội để tranh luận.

Phân tích từ vựng: phương pháp phân tích văn bản được phát triển từ nghiên cứu ngôn ngữ học khối liệu (corpus linguistics). Thông qua các đánh giá số liệu, phân tích từ vựng đếm tần suất của từ, khoảng cách giữa các từ và những đặc tính khác để phát hiện cấu trúc, khuôn mẫu trong dữ liệu văn bản. Người ta chủ yếu dùng nó để xác định thực nghiệm xem một tập hợp văn bản muốn nói gì, thông qua những từ được cố ý dùng nhiều hoặc ít, qua sự liên kết giữa các từ.

Phân tích lập trường: Đó là một phiên bản tinh vi và chi tiết hơn của phân tích cảm xúc. Phân tích lập trường khảo sát tần suất của các hạng mục từ và cụm từ (ví dụ như tức giận, buồn bã, tương lai, quá khứ, tính chắc chắn, tính bất ổn). Nó rất hữu ích trong việc trả lời những câu hỏi văn hóa - xã hội về thái độ, tình cảm, giá trị.

Định vị địa lý và tham chiếu địa lý: đây là hai phương pháp thuần - địa lý để xác định nguồn gốc của một thông điệp mạng xã hội. Định vị địa lý dùng tín hiệu từ GPS và có tính chính xác cao; nhưng người dùng thường tắt tính năng này. Tham chiếu địa lý có thể thu về một mẫu dữ liệu lớn hơn, bằng cách dùng siêu dữ liệu (metadata) để truy ra vị trí của người đăng tải.

Các mạng neuron sâu DNN: giúp máy tính thực hiện các tác vụ phân loại, qua việc chia nhỏ các nhóm trừu tượng, phức tạp thành các lớp nhỏ hơn. 

Giám sát mạng xã hội để ngăn chặn mạng lưới khủng bố và tội phạm
Năm 2015, một trong những chiến dịch ném bom của quân đội Mỹ nhằm vào trụ sở của Nhà nước Hồi giáo tự xưng ISIL ở Iraq đạt kết quả thành công, xuất phát từ một bài viết trên mạng xã hội. Người đăng thông tin này đã vô tình gắn “thẻ địa lý” (một tính năng của mạng xã hội) trong bài viết của mình, và ngay lập tức nó trở thành dấu vết để các chuyên gia phân tích lần ra sào huyệt của những kẻ khủng bố.

Dung lượng và phạm vi thông tin trên mạng xã hội khiến nó trở thành một nguồn lý tưởng để tập hợp tin tình báo. Mỗi ngày, người dùng Twitter đăng hơn 500 triệu dòng tweet, đăng ảnh, video, cập nhật trạng thái lên mạng xã hội. Hồ sơ của họ thường bao gồm thông tin cá nhân như tuổi, giới, thành viên gia đình, nơi làm việc… tập hợp những bài viết này giúp tìm hiểu về đời sống hàng ngày của cá nhân, cũng như những thái độ và hành vi của các mạng xã hội.

Thông tin trên mạng xã hội không chỉ hữu ích với nhà chức trách Hoa Kỳ, ngay cả với các công ty vận tải biển hàng đầu thế giới cũng theo sát những bài viết trên Twitter và Facebook của hải tặc Somali để tìm hiểu kế hoạch truy tìm và tấn công tàu thuyền của các tổ chức tội phạm. Rất nhiều hệ thống lọc dữ liệu Machine learning được xử dụng để xử lý một lượng thông tin lớn trên mạng xã hội, có thể giúp cộng đồng an ninh quốc tế thu thập dữ liệu thời gian thực về các mối đe dọa và sự kiện an ninh, tăng cường dự báo những bất ổn tại khu vực. Những dữ liệu này cũng đi sâu vào hoạt động của các nhóm tội phạm và khủng bố, giúp nhận dạng các thành viên cùng nơi chúng tụ tập.

Các nhà nghiên cứu đã có thể phát hiện những biểu hiện bất thường giữa những mạng lưới liên cá nhân, qua việc phân tích thông tin mà người dùng đăng tải trên các nền tảng này. Thông qua khảo sát mối quan hệ của người dùng trên Twitter, có thể định vị các nhóm dư luận khác nhau, xác định những cá nhân nào có xu hướng cực đoan hóa hoặc có thể phạm tội.

Thông tin từ mạng xã hội có thể bổ sung và cập nhật cho tin tức và phân tích tình báo. Thông qua mạng xã hội, người ta có thể xác định được “bức tranh” thời sự, những mâu thuẫn tiềm ẩn và xu hướng phát triển của nó trong mỗi khu vực. Những thay đổi đặc trưng trong dư luận ở một nước hay một khu vực, hoặc những biến tấu về ngôn ngữ và giọng điệu trong một cuộc thảo luận nào đó, cũng có thể là thông tin hữu ích trong môi trường xung đột.

KIỂM CHỨNG SỰ KIỆN VÀ PHẢN ỨNG NHẠY BÉN VỚI KHỦNG HOẢNG THÔNG TIN
Mạng xã hội đã được dùng để ngay lập tức kiểm chứng những diễn biến, sự kiện và cải thiện độ nhạy bén của các lực lượng an ninh. Khi các sự kiện nổi cộm diễn ra, rất có thể những người quan sát thụ động sẽ trở thành “các nhà báo công dân”, thường xuyên cung cấp và truyền tải thông tin từ thực địa một cách liên tục.

Năm 2011, trong thời điểm diễn ra các vụ bạo loạn, xả xúng vào đám đông ở London và các thành phố Anh khác, cảnh sát Anh đã thiết lập một kênh trực tuyến để giúp người dân thông báo về tình hình ở cộng đồng và nhận dạng những cá nhân tham gia cướp bóc và bạo động, dựa vào tập hợp ảnh về những nghi phạm mà cơ quan hành pháp đã đăng tải. Qua phân tích luồng thông tin Twitter trong khoảng thời gian này, người ta thấy rằng, các nội dung phản ánh về một vụ việc nổi cộm thường nổi lên rất tập trung trên các trang mạng xã hội. Các cơ quan hành pháp cũng dùng thông tin này để cải thiện khả năng phản ứng kịp thời với các sự vụ bất thường. Họ dùng những dữ liệu này để lên kế hoạch can thiệp, nhằm thu hẹp phạm vi của cuộc bạo loạn, xác định những kẻ chủ mưu, gây ảnh hưởng hay bắt giữ một số cá nhân.

Việc giám sát, phát hiện các đầu mối tin tức đáng chú ý từ khối lượng thông tin khổng lồ trên mạng xã hội có thể được hỗ trợ bằng các phần mềm chuyên dụng. Những phần mềm này đang được phát triển để hướng tới việc phân tích cảm xúc thực của người dùng, để phân biệt, định vị rõ hơn những người ủng hộ hay chống đối. Vượt qua những rào cản về ngôn ngữ và văn hóa đặc thù, các phần mềm giám sát mạng xã hội machine learning trong tương lai gần có thể được dùng để phân tích cảm xúc của các đám đông biểu tình trong tương lai, nắm bắt tâm trạng và xu hướng bạo lực vào bất cứ thời điểm nào

Mạng xã hội còn được dùng rộng rãi bởi các chính phủ và các chủ thể phi nhà nước để gây ảnh hưởng công luận ở những khu vực có xung đột. Trong lịch sử, nhiều quốc gia khác nhau đã từng khởi động nhiều chiến dịch truyền thông để hỗ trợ cho các mục tiêu chính trị, đáp trả những chiến dịch gây ảnh hưởng của địch thủ. Mạng xã hội và khả năng chia sẻ thông tin dễ khiến nó trở thành nơi lý tưởng để thực hiện các chiến dịch tuyên truyền.

Truyền thông xã hội độc đáo ở chỗ nó có thể nhanh chóng truyền hình ảnh, tuy những hình ảnh này thường sai lệch hoặc bị tách khỏi bối cảnh. Một tấm hình, một đoạn phim ngắn có thể là công cụ hữu hiệu để thay đổi cách khái quát hóa một vấn đề.

Khả năng lan truyền thông tin giả của mạng xã hội có thể bị các đối tượng xấu dùng để kích động bạo lực và gây hoảng loạn. Những bản tin và lời đồn thất thiệt thường được lan tỏa trên mạng xã hội, nhất là sau các vụ tấn công khủng bố lớn. Một số bản tin này đã được các kênh truyền chính thống vô tình sử dụng. Việc giám sát và phân tích mạng xã hội giúp các chính phủ nhanh chóng nhận dạng và đẩy lùi sự lan tỏa của thông tin giả.

Giám sát hoạt động mạng xã hội có thể ngăn ngừa những biến cố khủng hoảng, hoặc giúp lực lượng hành pháp ứng phó hiệu quả hơn. Cuộc chiến thông tin đầy cam go, thách thức này sẽ còn biến chuyển rất khôn lường, khiến tất cả mọi quốc gia đều phải dành sự quan tâm nhất định cho vấn đề này./.
Yêu nước ST.