Thứ Tư, 13 tháng 9, 2023

"NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM" - MỘT CHỈ DẪN QUAN TRỌNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ THỰC HÀNH ĐẠO ĐỨC

 

“Nói đi đôi với làm” là một trong những nguyên tắc căn bản của đạo đức cách mạng, là biểu hiện sinh động, cụ thể của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa ý thức đạo đức và hành vi đạo đức mà mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc và thực hành thường xuyên, hằng ngày trong công việc và đời sống. Vì vậy, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh về “Nói đi đôi với làm” là nhiệm vụ quan trọng và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phấn đấu, thực hiện.
Để hiểu thấu lời dạy của Người - Giá trị và ý nghĩa
“Nói đi đôi với làm” được diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau, mọi cách diễn đạt có thể khác nhau về mức độ, sắc thái, cả hình thức biểu đạt bằng ngôn từ, nhưng tất cả đều có một điểm chung, một điểm nhấn quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự thống nhất, tính nhất quán về mục đích hành động, động cơ tranh đấu, biện pháp thực hành trong lối sống, lẽ sống ở đời và làm người của người cách mạng.
“Nói đi đôi với làm” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất, sự gắn liền giữa nhận thức với hành động; lời nói và việc làm phải tương xứng với nhau, phải phù hợp với nhau, không được mâu thuẫn, trái ngược. Để xảy ra tình huống mâu thuẫn, trái ngược này là mắc vào một lỗi lớn, không chỉ là lỗi về tư duy, mà còn là lỗi lớn hơn, nặng hơn về đạo đức; do đó, nói đi đôi với làm là tiêu chí về đức tính trung thực. Ngược lại, nói không đi đôi với làm là bằng chứng của sự giả dối, dối trá, trước hết là thói vô trách nhiệm và thiếu vắng lòng tự trọng. Mệnh đề “nói đi đôi với làm”, quen thuộc, ngắn gọn, giản dị như chân lý của đời sống, hiển nhiên ai cũng hiểu như một lẽ phải thông thường, vậy mà trên thực tế, lại có biết bao nhiêu tình huống phức tạp vẫn xảy ra.
Suy ngẫm và trải nghiệm từ các sự kiện, việc làm, ứng xử với người, với việc, ngay cả với chính mình, chúng ta ngày càng tự ý thức rằng, hóa ra nói đi đôi với làm là chỗ khó nhất ở đời, để thực hiện được không chỉ cần sự hiểu biết, có lý trí, nghị lực và quyết tâm, mà còn cần có tình cảm, đạo đức trong sáng, hướng thiện. Vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đời thường ta gọi đó là sự tử tế, lương thiện. Nói đi đôi với làm đòi hỏi mỗi người phải thường xuyên biết tự vấn lương tâm, biết tự trọng mình và tôn trọng người khác, cao nhất là trọng dân, vì dân.
Đạo đức có vai trò rất quan trọng và nổi bật trong đánh giá về một con người đến mức, người mà “nói đi đôi với làm”, trong đánh giá của xã hội là người có đạo đức, chứ không nói đó là người có học vấn, học thức. Lẽ dĩ nhiên, học vấn, học thức rất cần thiết để sống ở đời, để vào đời, dấn thân, khởi nghiệp, lập nghiệp. Chính vì thế, nói đi đôi với làm, muốn thực hiện được ở mỗi người, thì đòi hỏi người đó phải có đạo đức; đồng thời, phải thực hành đạo đức thường xuyên, tự giác, bền bỉ và lâu dài.
Thống nhất giữa nói và làm sẽ làm cho con người trưởng thành về đạo đức, về nhân cách, làm cho người đó có đạo đức tốt hơn, để hoàn thiện nhân cách của mình. Đức là gốc, gốc của nhân cách, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh, nói đi đôi với làm không chỉ là yêu cầu nghiêm ngặt của đạo đức, mà nó còn phải trở thành văn hóa đạo đức, là thước đo văn hóa đạo đức, văn hóa nhân cách. Trên thực tế, không thiếu gì trường hợp, con người ta có thể có học vấn tốt, học thức cao, mà vẫn chưa đạt tới chuẩn mực “nói đi đôi với làm”. Những người đó, không chỉ tách rời giữa lời nói với việc làm, mà còn tệ hơn, xấu hơn khi “nói một đằng làm một nẻo”. Như thế, người tuy có học vấn, học thức, mà vẫn có thể giả dối về đạo đức và cơ hội về chính trị.
Trung thực và có bản lĩnh để giữ trọn vẹn lòng trung thực, tính trung thực, biến nó thành nhu cầu trong việc làm, trong lối sống và trong ứng xử, để “trí minh tâm sáng”; nhờ đó, nói đi đôi với làm trở thành đặc trưng trong lối sống, lẽ sống. Con người có đạo đức biết tự vấn lương tâm để hiểu điều phải và không phải, nên và không nên, tốt và xấu, đúng và sai,... cũng chưa đủ; mà phải hành động theo cái đúng, cái tốt, cái đẹp (Chân - Thiện - Mỹ - những giá trị văn hóa) và tự vượt lên chính mình, đánh bại chủ nghĩa cá nhân, “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất, vô hình, ẩn nấp ở ngay trong lòng mỗi người. Đó chính là biểu hiện của “nói đi đôi với làm”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn chúng ta rất tỉ mỉ, sâu sắc như thế; hơn nữa, Người còn suốt đời thực hành “nói đi đôi với làm”, nêu gương cho mọi người noi theo.
Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, viết từ năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu tác phẩm bằng cách nêu rõ: “Tư cách một người cách mệnh”(1). Một tác phẩm lý luận, viết trên lập trường, quan điểm mác-xít, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam, đặt nền móng tư tưởng lý luận, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng vào năm 1930, nhưng lại nhấn mạnh trước hết vào đạo đức, vào “tư cách một người cách mệnh”; điều đó có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại và những trù tính chiến lược của Người. Cách mạng là một sự nghiệp vĩ đại, phá cái cũ lỗi thời, lạc hậu đổi ra cái mới tiến bộ, phát triển. Người cách mạng, đảng cách mạng, muốn thực hiện được sự nghiệp vĩ đại đó, trước hết phải có đạo đức.
Thực tiễn và kinh nghiệm lịch sử của các đảng cộng sản đã từng lãnh đạo và cầm quyền, chỉ vì suy thoái về đạo đức, dẫn đến tự đánh mất vai trò lãnh đạo, địa vị cầm quyền của mình, tan rã và sụp đổ, như điều đã xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, đã xác nhận tính đúng đắn và sáng suốt của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Người nêu lên từ rất sớm, ngay từ khi Đảng còn chưa ra đời những điều hệ trọng, như phải “Giữ chủ nghĩa cho vững”, đồng thời “Ít lòng tham muốn về vật chất”(2). Người nêu rõ trong “tư cách một người cách mệnh” ba mối quan hệ, với 23 tiêu chí, yêu cầu cần phải thực hiện. Đó là những chuẩn mực về đạo đức mà mỗi cá nhân phải thể hiện trong thái độ, trong ứng xử, trong việc làm và hành vi, với tự mình, với người khác, với công việc, mà tổ chức, đoàn thể giao cho. Trong 23 tiêu chí, yêu cầu nêu ra, Người dành tới 14 yêu cầu đối với bản thân mỗi người, mà Người gọi là “tự mình phải”, 5 yêu cầu đối với người khác và 4 yêu cầu đối với công việc.
Trong 14 yêu cầu “tự mình phải”, nổi bật yêu cầu nói đi đôi với làm, “nói thì phải làm”(3). Đủ thấy, theo Người, việc tự mình rèn luyện đạo đức quan trọng biết nhường nào. Tự mình có đạo đức, thì mới có thể biểu hiện thành ý thức và tình cảm đạo đức mà đối xử với người, với đồng chí, bạn bè, với dân chúng, đồng bào, nêu gương về tính trung thực, khiêm tốn, vị tha, khoan dung, nhân ái. Người đòi hỏi, với mình phải nghiêm, với người phải rộng lòng khoan thứ; phải tận tụy, trách nhiệm trong công việc, cương trực, thẳng thắn, tôn trọng tổ chức, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, không hiếu danh, không kiêu ngạo. Sau này, khi cách mạng đã thành công, Đảng đã cầm quyền, Người vẫn luôn nhấn mạnh, cán bộ, đảng viên phải ra sức tu dưỡng đạo đức, liên hệ mật thiết với dân chúng, phải dân chủ, chứ không biến thành “quan chủ”, phải là đầy tớ trung thành, công bộc tận tụy của nhân dân, chứ không lên mặt “quan cách mạng”, dẫn tới chỗ xa dân, quan liêu, mệnh lệnh, hách dịch, cửa quyền. Phải sống và làm việc sao cho nhân dân tin tưởng, nhân dân yêu mến, nếu có lỗi với nhân dân phải thật thà xin lỗi và có quyết tâm sửa lỗi. Dân vận là việc rất quan trọng, có nhân dân giúp sức, thì việc khó mấy cũng làm được, không có nhân dân giúp đỡ, không được nhân dân ủng hộ, thì dù có tài giỏi mấy, cũng không làm nên việc gì. Bởi vậy, trong sáu điều dạy cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân tháng 3-1948, Người đặc biệt nhấn mạnh, tư cách người công an cách mạng là: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính./ Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ./ Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành./ Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép./ Đối với công việc, phải tận tụy”(4). Với chiến sĩ quân đội nhân dân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” phải “Trung với Đảng, trung với Nước, hiếu với Dân”,... Những lời dạy quý báu đó của Người không chỉ dành riêng cho công an và quân đội, mà còn chung cho tất cả cán bộ, đảng viên, cho mỗi người cách mạng. Toát lên từ những lời dạy ấy là thước đo đạo đức “nói đi đôi với làm”, đã “nói thì phải làm”.
Để đạt được sự thống nhất giữa nói và làm, nói đi đôi với làm, nói thì phải làm, người cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập để nâng cao hiểu biết, gắn liền học với hành, “tri để hành”, lý luận gắn liền với thực tiễn; đồng thời, phải rèn luyện phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, suốt đời chống chủ nghĩa cá nhân, không vụ lợi, vị kỷ, để toàn tâm, toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chống chủ nghĩa cá nhân, thì phải chống những thói hư tật xấu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi là những chứng bệnh phải tẩy sạch trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, được Người viết năm 1947 với bút danh X.Y.Z. Ba căn bệnh mà Người chỉ rõ là bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi và bệnh ba hoa, phải tự phê bình và phê bình nghiêm khắc khi mắc vào những bệnh rất có hại ấy và phải quyết tâm sửa chữa trong tư tưởng và trong hành động, trong các mối quan hệ.
Vào dịp kỷ niệm sinh nhật Đảng lần thứ 39, ngày 3-2-1969, Người đã có bài viết quan trọng đăng trên Báo Nhân Dân, với chủ đề: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Đây là tác phẩm Người viết vào cuối đời, vẫn chỉ xoay quanh chủ đề đạo đức cách mạng, với thiết tha mong muốn và đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên, phải nói đi đôi với làm, phải đánh bại “giặc nội xâm”, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, nêu cao trách nhiệm, sự gương mẫu, đức hy sinh, suốt đời vì Nước vì Dân, Ái Quốc để Ái Dân, Ái Dân vì Ái Quốc, đúng như tên gọi của Người.
Tóm lại, để lời nói đi đôi với việc làm, thống nhất giữa nói và làm, nói thì phải làm, mỗi cá nhân phải có động cơ, mục đích sống đúng đắn, chân chính, có đức trung thực và khiêm tốn, đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc, của Đảng, của cách mạng lên trên hết, trước hết; có ý chí, nghị lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, có dũng khí, bản lĩnh đứng ngoài vòng danh lợi, tuyệt đối không màng danh lợi, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hành và nêu gương.
Giá trị và ý nghĩa sâu xa từ lời dạy của Người, thống nhất giữa nói và làm, nói thì phải làm, chính là bài học làm người, là thực hành đạo đức cách mạng, coi phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý cao nhất, làm đầy tớ, công bộc cho nhân dân, tận tụy và trung thành là lựa chọn lối sống, lẽ sống cao thượng nhất, như tấm gương đạo đức vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh soi sáng cho mọi người, cho muôn đời noi theo.
Trong Di chúc để lại cho toàn dân, toàn Đảng, Người đã viết những dòng thiết tha, cảm động, bởi Người là hiện thân cao cả nhất của đức hy sinh, dâng hiến trọn vẹn, toàn vẹn đời mình cho độc lập của Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Người viết: “Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”(5). Đó là tiếng nói từ trái tim của Người, làm rung động muôn triệu trái tim đồng bào, đồng chí của Người, cũng như mọi tấm lòng bè bạn khắp năm châu. Cuộc đời và sự nghiệp của Người, với tư tưởng - đạo đức và phong cách của Người, là minh chứng sinh động và cảm động nhất về sự thống nhất giữa nói và làm.
Để học tập và làm theo những chỉ dẫn cao quý của Người
Sinh thời, Người căn dặn chúng ta không chỉ nói đi đôi với làm, nói thì phải làm - đó là nguyên tắc sống, mà còn chỉ dẫn cho chúng ta điều thiết thực; “nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động” - đó là phương châm sống, là thực hành lối sống. Thực hành nguyên tắc và phương châm sống như thế, xét đến cùng, cũng chỉ vì nhân dân, vì cuộc sống của nhân dân, vì lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân. Lo cho nhân dân thì phải hành động, phải bằng việc làm chứ không dừng lại ở lời nói. Ngay từ những ngày đầu đất nước mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện quan điểm nhất quán là Chính phủ phải quan tâm đến đời sống của nhân dân. Vì thế, trong cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Người nhấn mạnh, chúng ta phải thực hiện ngay 4 điều: Làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân có học hành. Bởi, theo Người, dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc ấm. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, sau lễ tuyên bố độc lập, Người đã đề nghị Chính phủ phát động trong toàn dân, mỗi người cứ mười ngày nhịn ăn một bữa để có gạo giúp người dân bị đói và Người đã nghiêm khắc thực hiện điều đó như một tấm gương. Nghĩa cử cao đẹp đó của Người đã có sức thúc đẩy và lan tỏa rộng khắp, đó thực sự là Chính phủ của dân, vì dân. Lời nói đi đôi với việc làm của Người đã tạo dựng một Chính phủ liêm chính bằng sự gương mẫu của người đứng đầu. Để tỏ lòng biết ơn các liệt sĩ đã hy sinh vì Nước, Người chính thức thông báo với toàn thể quốc dân đồng bào để mọi người được biết, Người sẽ nhận tất cả các con liệt sĩ là con mình. Người chuyển tiền lương của Người cho bác sĩ Vũ Đình Tụng, Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh đầu tiên của Việt Nam để cứu tế xã hội, góp thêm phần quà cho các cháu như một niềm động viên an ủi, thấm đẫm tình thương yêu của Người.
Để có nhân tài giúp nước, Người gửi thư cho đồng bào trong cả nước, nhờ dân giúp đỡ Chính phủ tìm kiếm các bậc tài đức, mách bảo với Chính phủ để Chính phủ trọng dụng. Bản thân Người đã đích thân lựa chọn, thuyết phục, động viên các bậc nhân sĩ, trí thức đem tài năng, tâm huyết của mình ra giúp nước, giúp dân và sắp đặt họ vào những công việc xứng đáng, cảm hóa, thu phục họ với tất cả lòng thành, tin cậy và quý trọng.
Người đã thực hành lối sống tiết kiệm, tiết kiệm đến mức khắc khổ, dành cho dân chúng phần tối đa, dành cho mình phần tối thiểu, bởi Người hiểu rõ hơn ai hết, mỗi đồng tiền, bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều từ mồ hôi, nước mắt của dân làm ra. Theo Người, thương dân thì phải biết tiết kiệm, còn lãng phí tức là không thương dân; tham ô, tham nhũng là làm hại dân, có tội với dân, với nước. Người chỉ rõ, phải nghiêm trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể chúng là ai, bất kể chúng ở cương vị nào. Vì bảo vệ cái thiện, mà cái thiện lớn nhất là dân, nên phải nghiêm trị cái ác, trừng trị tham ô, tham nhũng như trừng trị một tội ác, bởi giặc nội xâm cũng nguy hiểm không kém gì giặc ngoại xâm, thậm chí còn nguy hiểm hơn, vì nó phá từ trong phá ra, hại dân hại nước, làm ô uế, tổn thương tới uy tín, thanh danh của Đảng. Bản Quốc lệnh của Người và sự kiên quyết thi hành Quốc lệnh của Người từ năm 1946 là một minh chứng lịch sử cụ thể.
Người dạy, thanh niên phải ham học, ham làm, ham tiến bộ, chỉ có một điều ham muốn đó thôi, phải rèn chí khí, phải nuôi dưỡng hoài bão lớn sao cho ích quốc, lợi dân, phải tránh xa những cám dỗ, cạm bẫy của tiền bạc, địa vị, chức quyền, bởi những thứ đó dễ làm hư hỏng con người. Bản thân Người đã nêu gương sáng cho cán bộ, đảng viên, cho thế hệ trẻ và cho toàn dân từ những điều Người nói bằng những việc làm. Và Người đã chiêm nghiệm rằng “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(6), đã đúc kết “gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất”.
Cuộc đời và sự nghiệp của Người nổi bật ở thực hành với năm thực hành lớn, tiêu biểu nhất, đó là:
- Thực hành lý luận gắn liền với thực tiễn. Người nhấn mạnh: Thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận và lý luận lãnh đạo thực hành.
- Thực hành dân chủ. Suốt đời, Người phấn đấu thực hành dân chủ, nước độc lập thì dân là chủ và dân làm chủ. Theo Người, từ Chủ tịch nước đến các nhân viên trong các công sở đều phải nêu cao trách nhiệm phục vụ nhân dân, là đầy tớ trung thành và công bộc tận tụy của dân, tiếp thu, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, làm gương cho nhân dân noi theo, trọng dân gắn liền với trọng pháp. Người suốt đời gần dân, tin dân và thương dân. Chỉ tính riêng 10 năm cuối đời, dù tuổi đã cao, sức đã yếu, mà Người vẫn vô số lần về với nhân dân ở cơ sở, đặc biệt là với nông dân ở nông thôn.
Thực hành dân chủ là một trong những thực hành rất tiêu biểu của Người, là tấm gương cho tất cả mọi người noi theo, nhất là với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có chức, có quyền. Phải làm đúng phận sự, quyền hành mà nhân dân ủy thác, giao phó để thực hiện các quyền của nhân dân, thực hành dân chủ để chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Thực hành dân chủ tập trung hay tập trung dân chủ để bảo đảm cho Đảng là một tổ chức mạnh, kỷ luật nghiêm, có sức chiến đấu, thống nhất ý chí và hành động để Đảng vì nhân dân và nhân dân tin Đảng, theo Đảng đến cùng.
- Thực hành dân vận: Người là bậc thầy về dân vận và suốt đời chăm lo cho công tác dân vận. Người căn dặn và tự mình nêu gương cho đội ngũ cán bộ, đảng viên làm “Dân vận khéo”, “phải thật thà nhúng tay vào nhiệm vụ, không bỏ sót một người nào”, “phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, miệng nói, chân đi, tay làm” để nhân dân tin, nhân dân ủng hộ, nhân dân làm theo.
- Thực hành đoàn kết, đại đoàn kết: Người chăm lo cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy đoàn kết, thống nhất trong Đảng làm hạt nhân; đồng thời, ra sức củng cố tinh thần đoàn kết, hữu nghị với các dân tộc trên thế giới, với các đảng anh em trong phong trào cộng sản quốc tế. Suốt đời thực hành đoàn kết, Người là hiện thân, là linh hồn của đại đoàn kết toàn dân tộc, Người đã tổng kết thành nguyên lý:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công
Đặc biệt cảm động là những lời căn dặn của Người trong Di chúc, yêu cầu mỗi đảng viên và tổ chức đảng phải “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”, mà ngày nay Đảng ta đang nỗ lực thực hiện trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
- Thực hành đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Có thể nói, đó là “thực hành của mọi thực hành”, xuyên suốt và thấm nhuần trong mọi thực hành khác. Người là mẫu mực về đạo đức cách mạng, đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa cá nhân. Người nêu cao bản lĩnh và dũng khí đánh bại chủ nghĩa cá nhân, lại hết lòng nâng niu giá trị con người, quan tâm tới nhu cầu, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Từ những thực hành đó, Người suốt đời thực hiện nói đi đôi với làm, thống nhất giữa nói và làm. Từ việc nhỏ đến việc lớn, từ công việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, đến trù tính định liệu tương lai, lo việc đối nội và đối ngoại, gây dựng phong trào và lực lượng, ngày đêm suy nghĩ tìm tòi chăm lo việc Nước, việc Đảng, việc Dân... cho đến những việc làm đời thường trong sinh hoạt giản dị, tiết kiệm, thanh đạm hằng ngày, Người luôn nhất quán giữa nói và làm, nói ít làm nhiều, nhiều khi chỉ làm mà không nói, tự việc làm toát lên tư tưởng.
Bởi thế, trên tư cách một nhà tư tưởng, một triết gia, triết học của Người dường như là “triết học vô ngôn”. Người nói ngắn, viết ngắn, rõ ràng, khúc chiết, trong sáng, giản dị, không cao đạo, không hàn lâm, sách vở, xa lạ với những đại ngôn, phù phiếm, rỗng tuếch, mà luôn gần gũi với lời ăn tiếng nói, cách suy nghĩ, tâm trạng, ý nguyện của dân, bởi suốt đời Người tự coi mình là đầy tớ, công bộc của dân, gần dân, vì dân, nên luôn thấu hiểu dân tình, dân sinh, dân ý, dân nguyện. Cho đến phút cuối cùng, Người cũng chỉ nghĩ về dân. Người nói “không thể bỏ dân mà đi được”. Câu nói ấy của Người mãi mãi lắng đọng vào lịch sử, là kết tinh tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người...
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào lúc này, khi đất nước đã bước vào thời kỳ phát triển mới, hướng tới sự phát triển bền vững, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và tăng cường hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; đồng thời, khi Đảng ta đang ra sức xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, tạo nên sức mạnh tổng hợp từ sự gắn kết “Ý Đảng với lòng Dân” và trở thành phép Nước... thì một trong những điều thiết thực nhất là thống nhất giữa nói và làm, nói đi đôi với làm, nói thì phải làm, theo tấm gương của Người.
Đó là cách tốt nhất để dân tin Đảng thông qua tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Đó cũng là điều cần nhất vào lúc này, để nâng cao trách nhiệm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, gắn liền “xây” với “chống”, “kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” đúng như dự kiến ban đầu của Người khi đặt tên cho bài báo lúc cuối đời. Thống nhất giữa nói và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đội ngũ hơn 5 triệu đảng viên của Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, với gần 100 triệu dân; khi có nhân dân hỗ trợ, thúc đẩy, giám sát, kiểm tra,... thì nhất định sẽ làm cho Đảng xứng đáng là Đảng chân chính cách mạng, là đạo đức, là văn minh./.
Tạp chí Cộng sản
Có thể là hình ảnh về 1 người và đám đông

GHEN GHÉT VÀ ĐỐ KỊ!


Một ngày đẹp trời nào đó của những năm trước, bọn mồm lông (gọi chung bọn chống phá) đưa ra luận điểm phải “bám vào Mỹ, đi theo Mỹ thì đất nước mới phát triển”, “có đủ tiềm lực kinh tế, quốc phòng chống lại Bắc Kinh bành trướng, nhất là ở biển Đông”! Hôm nay, thấy Mỹ và Việt Nam sau 10 năm quan hệ hợp tác toàn diện và có chung dụng ý nâng tầm quan hệ là “đối tác chiến lược toàn diện” thì chúng lại quay ngoắt cảnh báo ta “hãy coi chừng những hệ lụy xấu sau chuyến thăm”?! Không hiểu chúng đang nghĩ gì? Phải chăng là đang lo lắng cho đất nước!?
Thứ nhất, bọn mồm lông là những bọn chuyên chọc gây bánh xe, nó nói bất kỳ thứ gì mà chúng cảm thấy có thể gây khó khăn cho Đảng và Nhà nước Việt Nam, không ngoài mục đích lái dư luận sang hướng công kích chế độ, chính sánh của Đảng, từng bước là thui chột lòng tin của nhân dân. Và hơn thế nữa, những bài viết của chúng dù ở đâu thì cũng được trả tiền, vì vậy chúng sẽ tìm mọi kẽ hở để viết sao cho thành bài, thành vở. Gọi là kiếm tý cơm canh.
Thứ hai, Chủ trương của chúng ta là xây dựng quan hệ đối tác chiến lược không chỉ với 5 cường quốc lớn mà cả với tất các nước, miễn là cả hai bên cùng có lợi. Điều đó cho thấy chủ trương đối ngoại của Đảng là “làm bạn với tất cả các nước” có chung lợi ích theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ quốc tế. Một điều chắc chắn rằng, chúng ta không thiết lập mối quan hệ với nước này để chống nước khác. Sau nâng tầm quan hệ đối tác với Mỹ sẽ là Australia, Singapore, vv..
Thứ ba, Quan hệ quốc tế không không đơn giản như mấy đứa trẻ con chơi với nhau: Nếu mày chơi với bạn kia thì tau ứ chơi với mày nữa. Vì vậy, chúng ta không lo ngại thân Mỹ sẽ bị Trung tự ái, vì suy cho cùng nước nào cũng vậy thôi, tất cả đều vì lợi ích của chính nước họ, nên không thể nói là chơi hay không chơi, hợp tác luôn cả hai bên cùng có lợi. Đừng vẽ ra những thứ xấu xí để quy chụp cho những điều mà chúng ta chưa thật sự hiểu hết!
Chúc chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Mỹ thành công như mong đợi!
ST
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'Việt Nam THỜI BẢO facebook/vntbnew acebook Fanpage: Việt Nam Thời Báo NÂNG TẦM QUAN HỆ VIỆT MỸ'

XÂY DỰNG VĂN HÓA "MẠNG"


Trong thời đại 4.0, mạng xã hội dần trở nên gần gũi và phổ biến, thậm chí đã trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống của hết thảy người dân hầu như trên toàn thế giới. Nó đã làm thay đổi thế giới một cách sâu sắc. Các mối quan hệ xã hội từ chính trị đến kinh tế, khoa học công nghệ, văn hoá, nghệ thuật đều được tác động, thúc đẩy.
Sự thay đổi có mặt thuận và mặt không thuận, nếu biết khai thác, phát huy những lợi thế ưu việt của thông tin từ mạng xã hội này thì người dân và quốc gia có thêm điều kiện hội nhập, phát triển, nếu không sẽ có những tác động tiêu cực và để lại nhiều hệ lụy khôn lường.
Trên thế giới hiện đang tồn tại hàng triệu website có nội dung không lành mạnh, thậm chí độc hại ảnh hưởng rất xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của mỗi người và cả cộng đồng, đã gây ra nhiều hệ lụy cho đời sống văn hóa, xã hội khi cộng đồng mạng sử dụng trang cá nhân như một thế giới tự do phát ngôn, tự do cung cấp thông tin, hình ảnh không được kiểm soát, cả những phát ngôn bốc đồng nông nổi bất chấp hậu quả. Từ đó, đạo đức bị băng hoại, văn hoá bị tầm thường hoá, méo mó, an toàn xã hội bị đổ vỡ… Đó là chưa nói đến những ảnh hưởng bất lợi khác về chính trị, kinh tế do một số website cố tình hay vô tình gây ra.
Đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất từ các website xấu chủ yếu là thanh, thiếu niên, vì họ chưa được trang bị đầy đủ tri thức và kinh nghiệm về cuộc sống, xã hội. Sự ham hiểu biết của tuổi trẻ nếu không được hướng dẫn sẽ bị các thông tin từ trang "website đen" đánh lừa, chinh phục.Rất nhiều vụ việc, vụ án đã có căn nguyên từ ảnh hưởng của lối sống buông thả và bạo lực trên các website.
Đây là điều chúng ta đã biết từ lâu. Để góp phần bảo vệ thế hệ trẻ và toàn xã hội khỏi bị ảnh hưởng xấu từ mạng xã hội, ngày 17-6-2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Quyết định số 874/QĐ-BTTTT về việc ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội nhằm tạo điều kiện lành mạnh mạng xã hội tại Việt Nam, đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền tự do kinh doanh, không phân biệt đối xử nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước, phù hợp với chuẩn mực, thông lệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
Mỗi người phải hiểu rằng một khi đã mở lòng mình ra trên thế giới ảo thì cũng phải đến với mọi người bằng tâm thế thiện chí, chân thật; phê phán vấn đề, hiện tượng cũng cần mang tính phản biện, xây dựng chứ không phải buông tuồng tùy tiện, nói gì thì nói. Không chỉ ở Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia, dân tộc nào đều có một điểm chung bắt buộc là các quyền tự do ngôn luận phải trong khuôn khổ pháp luật, những ý kiến phát biểu có trách nhiệm và đúng sự thật.
Nhiều nước trên thế giới, chỉ cần bôi bác, vu khống người khác trên mạng là có thể bị ra tòa. Tất nhiên, ai cũng có quyền bày tỏ chính kiến nhưng mọi thứ đều phải dựa trên nguyên tắc xây dựng, tự do nhưng cũng phải trong vòng kiểm soát của pháp luật. Một khi những quy định của phát luật không điều chỉnh theo kịp với sự phát triển của xã hội, không thay đổi cách thức quản lý thì tất yếu sẽ có những rối loạn.
Chúng ta rất cần hình thành một văn hoá cộng đồng mạng, xác lập được những chuẩn mực, giá trị trong quá trình sử dụng internet, bao gồm cả mục đích, lợi ích, hiệu quả thiết lập mạng và khai thác, các quan hệ ứng xử… Đây là phương tiện hữu ích để mỗi người dân có thể bày tỏ quan điểm cá nhân, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm sống, nêu gương người tốt, việc tốt để mọi người học tập và làm theo; hoặc phản ánh những tiêu cực, bất hợp lý, những hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân để cơ quan chức năng của Nhà nước xử lý theo quy định pháp luật.
Mỗi người dân chúng ta cần phải sáng suốt nhận biết và hiểu đúng về "tự do ngôn luận" và "ngôn luận tự do" để không rơi vào "bẫy" của những kẻ bất mãn, có quan điểm thù địch, vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá; cảnh giác với những thông tin xấu độc, không chia sẻ bừa bãi trên mạng xã hội một cách vô cảm, để rồi có các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa, thậm chí vô tình vi phạm pháp luật.
Hướng đến xây dựng chuẩn mực đạo đức về hành vi ứng xử trên mạng xã hội, giáo dục ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử của người dùng trên mạng xã hội, góp phần xây dựng mạng an toàn, lành mạnh tại Việt Nam, trước nhất vẫn là cần ở ý thức cá nhân của mỗi người. Những ý kiến đóng góp, phản ánh của cộng đồng mạng phải đúng, chân thành, mang tinh thần xây dựng, vì lợi ích chính đáng của đất nước, của người dân, dần hình thành những tập quán mới, đúng đắn, phù hợp với truyền thống văn hoá, đạo đức dân tộc hướng đến chân, thiện, mỹ trong việc khai thác, sử dụng hiệu quả những thông tin từ internet./.
ST
Có thể là hình ảnh về văn bản

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp yêu cầu của lịch sử.
Tuy vậy, các thế lực thù địch vẫn đưa ra các nội dung xấu độc, các luận điệu gây nghi ngờ, đầy sự kích động. Trước những luận điệu phi lý, xuyên tạc sự thật và phản động này, cần phải khẳng định rằng:
NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
Có thể nói, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại; là sự vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước; đồng thời được thực hiện xuyên suốt trong tiến trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà nước pháp quyền là phương thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật. Đó phải là một nhà nước tuân thủ nguyên tắc chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân, thực hiện phân quyền, pháp quyền, dân chủ, tôn trọng quyền con người và quyền công dân… Đó phải “là thể chế, là chế độ mà ở đó, mọi chủ thể như nhà nước, cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước, cá nhân hay mọi chủ thể khác trên lãnh thổ đều phải chấp hành, thực hiện, tuân thủ pháp luật đã được ban hành”(1). Song trên thực tế, không có các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền chung, áp dụng thống nhất cho mọi nhà nước nhà nước pháp quyền cụ thể, mà là tùy thuộc từng quốc gia sẽ tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền hay tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập… Vì thế, việc Việt Nam tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc phân quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản/Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chẳng có gì trái với nguyên tắc tổ chức của một Nhà nước pháp quyền, dù không thực hiện tam quyền phân lập.
Hơn nữa, để đảm bảo Nhà nước pháp quyền trước hết phải là một nhà nước hợp pháp, hợp hiến, không lâu sau khi khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được triển khai thực hiện thông qua việc tổ chức Tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, đoàn kết để bầu Quốc hội khóa I (6/1/1946); để Quốc hội trao quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ chính thức và thông qua Hiến pháp 1946. Theo đó, Điều 1, Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Đây chính là minh chứng cho quan điểm nhân dân là chủ thể tối cao, duy nhất của quyền lực Nhà nước. Cho nên, mọi luận điệu cho rằng, không thể có một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị của các thế lực thù địch đều là xuyên tạc, bôi đen sự thật.
Thực tế, từ bản chất Nhà nước của dân, do dân, vì dân, ở Việt Nam, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (29/11/1991); tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (1/1994) là “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”(2) cũng như trong các văn kiện khác của Đảng sau đó như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. Đặc biệt, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp (lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001)(3); đến Điều 2, Hiến pháp năm 2013 thì khẳng định rõ: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” và nhất là vấn đề “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(4) (một nội dung quan trọng của Đại hội XIII)… chính là những dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng, củng cố và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo. Đó đồng thời cũng là quá trình hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trên tinh thần dựa vào dân, lấy dân làm gốc; nhân dân là nguồn gốc và chủ thể của quyền lực Nhà nước; tất cả vì lợi ích của nhân dân: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức lên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(5).
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA KHẲNG ĐỊNH VÀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ của công dân không chỉ được pháp luật thừa nhận, tôn trọng, mà còn được bảo đảm thực hiện, thúc đẩy trong khuôn khổ pháp luật; quyền con người, quyền công dân, sự bình đẳng của mọi cá nhân không chỉ được khẳng định mà còn được bảo vệ, tôn trọng trong việc thụ hưởng và phát triển, không có sự phân biệt đối xử. Những nguyên tắc này không chỉ được khẳng định trong các bản Hiến pháp, mà còn được bổ sung, điều chỉnh và ngày càng hoàn thiện, đảm bảo để mọi người dân đều được tôn trọng, thụ hưởng, bảo vệ ngày càng đầy đủ hơn. Cụ thể, Chương “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” đứng vị trí thứ hai trong Hiến pháp năm 1946; trong đó ghi rõ công dân Việt Nam có các nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật; công dân Việt Nam có quyền bình đẳng trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, nhất là mọi công dân đều có thể tham gia vào chính quyền và công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước…
Sau đó, lần đầu tiên thuật ngữ “quyền con người” được ghi nhận chính thức tại Điều 50, Hiến pháp năm 1992: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Quyền công dân ở Hiến pháp năm 1992 cũng được mở rộng hơn so với Hiến pháp 1946, 1959, 1980 rất nhiều; trong đó có nhiều quyền mới trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội lần đầu được ghi nhận như quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 57); quyền của cá nhân được suy đoán vô tội (Điều 72)…
Khoản 1 Điều 14 tại Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” của Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đặc biệt, khoản 2 Điều 14 bổ sung nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đây không chỉ là sự phát triển, ghi nhận quyền con người, quyền công dân so với các bản Hiến pháp trước, mà còn là điều kiện để bảo đảm sự cân bằng, minh bạch trong mối quan hệ giữa Nhà nước với con người, công dân phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên cũng như hạn chế tối đa sự lạm dụng, tùy tiện quyền con người, quyền công dân…
Vì thế, theo Hiến pháp Việt Nam, thì không có cá nhân hay tổ chức nào có ý kiến tâm huyết nhằm làm cho đất nước phát triển mà “bị Nhà nước vu khống, bắt giam”; đồng thời, cũng càng không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” bị giam giữ, mà chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng truy tố, xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Thực chất việc đột lốt dân chủ, giả danh đấu tranh cho dân chủ để vi phạm pháp luật khác về bản chất với những ý kiến tâm huyết, đóng góp vì sự phát triển cảu đất nước. “Tù nhân lương tâm” chỉ là sự đánh tráo khái niệm, là cách gọi của các phần tử cơ hội, phản động dành để gọi những người, bị kết án và phải chấp hành hình phạt tù. Đó chính là những người đã tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017). Đó cũng là những người lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo Điều 331, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).
Cho nên, cần phải khẳng định chắc chắn rằng, không phải trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì mọi ý kiến “phản biện”, “tâm huyết” để “phát triển đất nước”, để “giúp người dân được sống tự do, hạnh phúc” của những người “yêu nước” đều bị bỏ tù như luận điệu phản động của các thế lực thù địch, mà chỉ có những người vi phạm pháp luật như Phạm Thị Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Văn Túc, Huỳnh Trương Ca, Lê Đình Lượng, Bùi Hiếu Võ, Đoàn Khánh Vinh Quang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Văn Hoá... thì phải chịu sự xử lý nghiêm minh của luật pháp. Cho nên, không có việc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, mà là ở Việt Nam thì thượng tôn pháp chế xã hội chủ nghĩa là tất yếu!
Cuối cùng, phải khẳng định rằng: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(6). Vì thế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyện vọng và sự lựa chọn của nhân dân, phù hợp với xu hướng phát triển nhà nước trên thế giới, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cân nhắc, vận dụng và triển khai phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đó là sự thật và cũng là yêu cầu của lịch sử, chứ không phải là “nhà nước này không do dân chọn” mà là bị Đảng “nhét chữ vào miệng” như quy chụp; đồng thời cũng cho thấy nhận định “Nhà nước ở Việt Nam thời cộng sản không phải của dân, do dân và vì dân mà là “của Đảng, do Đảng và vì Đảng” của các thế lực thù địch là không khách quan, là bôi đen sự thật, là sự dối trá.
Thực tế, quá trình xây dựng và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được thực thi vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn “dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm”(7) và “đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(
😎
cũng như những kết quả đạt được về chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, thực hiện an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo; về đảm bảo và thực thi quyền con người, quyền công dân, bảo vệ công lý... của Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là minh chứng cho thấy luận điệu “nhân dân không bầu ra nhà nước này mà do Đảng tự lập ra để cai trị độc tài” của các thế lực thù địch là phản động, là nhằm mục đích kích động, phủ nhận bản chất “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên cần phải bác bỏ!
Tạp chí tuyên giáo
Có thể là hình ảnh về văn bản

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH NHẰM CHIA RẼ QUÂN ĐỘI VỚI CÔNG AN, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VỚI NHÂN DÂN

 Chia rẽ quân đội với công an, lực lượng vũ trang với nhân dân là hoạt động thường xuyên chưa bao giờ dừng của các thế lực thù địch, nhằm chia rẽ, gây mất đoàn kết nội bộ. Chúng cho rằng Đảng, Nhà nước phân biệt đối xử, coi quân đội quan trọng hơn công an trong khi chiến tranh đã kết thúc. Nguồn lực đất nước đầu tư cho quân đội nhiều hơn công an, trong khi tổ chức bộ máy của công an đã sắp xếp lại, giảm đi đáng kể, quân đội lại cơ bản giữ nguyên, nhiều lĩnh vực, địa bàn không cần thiết, làm cho quy mô quân số lớn, lãng phí trong khi nhiệm vụ an ninh ngày càng lớn hơn. Lực lượng vũ trang hiện nay lẽ ra tập trung vào chống Trung Quốc, trong khi xử lý vấn đề Biển Đông lại sợ Trung Quốc, nhưng lại đàn áp nhân dân. Một số cán bộ quân đội, công an, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp thoái hoá, biến chất bảo kê cho tội phạm, xã hội đen, tham nhũng tiêu cực, giữ nhiều trọng trách quan trọng ở Trung ương và địa phương.

Một số quan điểm quốc phòng, an ninh của Việt Nam là không phù hợp, nhất là trong điều kiện tình hình Biển Đông hết sức phức tạp; Việt Nam chủ trương “3 không”, đặc biệt là không liên minh quân sự là cứng nhắc, ấu trĩ, mơ hồ về tình đồng chí với Trung Quốc hoặc sợ Trung Quốc. Trên thế giới nhiều nước tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn Việt Nam, họ vẫn liên minh quân sự với Mỹ, nhờ đó có nhiều nguồn lực để phát triển kinh tế, có đủ sức mạnh để răn đe sự xâm lăng từ bên ngoài. Trong khi Việt Nam, tiềm lực kinh tế và quốc phòng đều yếu, bị Trung Quốc đe doạ trực diện, xâm chiếm trái phép nhiều đảo của Việt Nam trên biển đông rất ngang ngược, phi lý nhưng Việt Nam bỏ lỡ nhiều cơ hội để liên minh với Mỹ, tranh thủ sức mạnh của Mỹ để răn đe Trung Quốc…

Về một số quan điểm liên quan đến quốc phòng, an ninh, đặc biệt là chủ trương 3 không, nhất là quan điểm không liên minh với nước này để chống nước kia… Điều này thể hiện sự nhất quán, yêu chuộng hoà bình của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Quân đội, công an Việt Nam là công cụ để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, bảo vệ công cuộc đổi mới, bảo vệ lợi ích dân tộc, lợi ích chính đáng của Nhân dân…Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng, bảo vệ nền độc lập của mình không ai khác, phải bằng sức mạnh của chính mình, “ lấy sức ta mà giải phóng cho ta”. Từ mục tiêu cao cả, tính chính nghĩa của sự nghiệp cách mạng mà tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè, nhân dân quốc tế, nhất quán quan điểm: “ nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng”, “ sức mạnh dân tộc kết hợp sức mạnh của thời đại”, đây là những quan điểm sâu sắc, được thực hiện trên nhiêu lĩnh vực, trong đó có quốc phòng, an ninh. Không ai có thể làm thay, không dựa hẳn vào lực lượng, quốc gia nào để giải quyết công việc của chính mình. Nhờ có những quan điểm đúng đắn về quốc phòng, an ninh nói riêng, giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, Việt Nam không những bảo vệ vững chắc, đất nước phát triển, không phụ thuộc vào một quốc gia nào.

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ VẤN ĐỀ QUÂN ĐỘI LÀM KINH TẾ

 Vấn đề quân đội làm kinh tế, sử dụng lính nghĩa vụ làm kinh tế quân đội, là một hình thức bóc lột sức lao động và kém hiệu quả, các thế lực cơ hội, thù địch cho rằng, ngày nay trên thế giới, rất ít quốc gia sử dụng quân đội làm kinh tế, ngay cả Trung Quốc cũng hạn chế và đang có xu hướng bỏ hình thức này. Quân đội làm kinh tế vừa thiếu chuyên nghiệp, vừa mở rộng quy mô quân đội không cần thiết, đặc biệt là dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, vì đây là lãnh địa riêng khó kiểm soát. Quân đội làm kinh tế sẽ dẫn tới cạnh tranh không lành mạnh, thậm trí làm lãng phí nguồn lực của đất nước. Việc sử dụng đất quốc phòng, an ninh không minh bạch, lãng phí; sử dụng ngân sách nhà nước mua vũ khí, trang thiết bị cho quân đội, công an luôn không minh bạch, công khai, dẫn tới nhiều tiêu cực.

Vấn đề quân đội, công an làm kinh tế, do đặc điểm lịch sử, tính tổ chức chặt chẽ, lực lượng vũ trang Việt Nam được giao một số nhiệm vụ làm kinh tế, trên thực tế, nhiều nhiệm vụ rất hiệu quả. Như, một số lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp quốc phòng, an ninh; đường tuần tra biên giới; một số nhiệm vụ liên quan đến chủ quyền biển đảo, một số nhiệm vụ kinh tế- xã hội, phòng chống thiên tai, đóng góp thêm kinh phí cho quốc phòng, an ninh, xoá đói giảm nghèo, …Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, Đảng, Nhà nước và trực tiếp quân đội, công an đã điều chỉnh nhiều nhiệm vụ, thích ứng với điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quân đội, công an chỉ còn thực hiện một số rất ít nhiệm vụ kinh tế - xã hội cụ thể, phù hợp. Đất đai quốc phòng, an ninh được quy hoạch lại, những vị trí, địa bàn không thật sự cần thiết liên quan đến chiến lược phòng thủ của đất nước, đều được bàn giao để thực hiện các chương trình dân sự, phục vụ cho phát triển đất nước.
Do vậy, cần có cái nhìn biện chứng về vấn đề này, tích cực đấu tranh bảo vệ bản chất truyền thống tốt đẹp của lực lượng vũ trang nhân dan Việt Nam, tránh để các thế lực phản động thù địch xuyên tạc nhằm thực hiện âm mưu phi chính trị hóa lực lượng vũ trang Việt Nam.

QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ QUỐC PHÒNG, AN NINH VIỆT NAM

 

Các quan điểm sai trái, thù địch về quốc phòng, an ninh, về lực lượng vũ trang, từ lâu luôn nhấn mạnh rằng, cần phải phi chính trị hoá lực lượng vũ trang, lực lượng vũ trang chỉ tuân thủ pháp luật, không chịu sự lãnh đạo của Đảng; rằng lực lượng vũ trang muốn chuyên nghiệp, muốn có sức mạnh và khách quan thì không chịu sự chi phối của chính trị và ngược lại. Một đảng cầm quyền dễ mất dân chủ, độc đoán chuyên quyền, khi chi phối lực lượng vũ trang sẽ biến lực lượng vũ trang trở thành công cụ cho độc đoán, chuyên quyền, phe phái trong xã hội. Điều này dẫn tới suy yếu trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước đối với bên ngoài, nhưng là công cụ bạo lực đối với trong nước….

Các thế lực cơ hội, thù địch thường rêu rao rằng, vì sợ mất vị trí lãnh đạo, mất vai trò cầm quyền, chính phủ cộng sản thường xuyên hù doạ nguy cơ từ bên ngoài, sử dụng công an, quân đội trấn áp ở bên trong để đàn áp nhân dân, để bảo vệ đặc quyền đặc lợi, tham nhũng tiêu cực, phe nhóm và lợi ích cha truyền con nối. Trong điều kiện đất nước kém phát triển, nguồn lực phát triển kinh tế, xã hội còn hạn chế, việc đề cao vai trò, tầm quan trọng của quốc phòng, an ninh thực chất là tạo ra một lãnh địa riêng, dùng tiền thuế của dân để đặc quyền đặc lợi, tham nhũng, tiêu cực ngay trong lực lượng vũ trang, không ai kiểm soát được, dẫn đến làm suy yếu đất nước.

Ở Việt Nam, quân đội, công an đều tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân. Khác với các nước trên thế giới, các lực lượng vũ trang ở Việt Nam đều từ Nhân dân mà ra, do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và rèn luyện, là đội quân cách mạng, đội quân công tác, có tổ chức chặt chẽ. Sức mạnh của quốc phòng, an ninh ở Việt Nam là sức mạnh tổng hợp, không chỉ là sự lớn mạnh không ngừng về trang thiết bị, vũ khí mà còn là ở sức mạnh ý chí, tinh thần do Đảng giáo dục và rèn luyện. Thực tế này lý giải vì sao, Việt Nam là một nước nhỏ, kém phát triển, nhưng luôn đánh bại các đế quốc lớn xâm lược. Vì vậy, quân đội và công an ở Việt Nam không chỉ tuân thủ theo pháp luật, mà còn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Việc có một số cán bộ quân đội, công an, trong đó có cả cán bộ cao cấp thoái hoá, biến chất, không làm thay đổi bản chất tốt đẹp, trong sáng của lực lượng vũ trang từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trong lịch sử cách mạng nước ta, kể cả những lúc khó khăn, cũng có những cán bộ thoái hoá, biến chất và đều bị xử lý nghiêm, đó là quy luật của sự đào thải, nhờ đó, lực lượng vũ trang của ta vững mạnh, tinh nhuệ và phát triển như ngày nay. 

  ĐỘC LẬP DÂN TỘC PHẢI GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam luôn là một trong những chủ đề thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước quan tâm. Vấn đề này một lần nữa được đề cập và phân tích sâu sắc, đầy sức thuyết phục trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. 

 

🌿 Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nào? Vì sao Việt Nam lại lựa chọn con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội?

 

Trên cơ sở tổng kết lịch sử phát triển của nhân loại, và từ bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa, C. Mác cho rằng: chủ nghĩa tư bản là chế độ áp lức bóc lột, tất yếu sẽ bị lịch sử vượt qua, thay thế nó bằng chủ nghĩa cộng sản, mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, C. Mác, Ph. Ănghen, và sau này là V.I. Lênin đã chỉ rõ quy luật ra đời của chủ nghĩa xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Vậy, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nào? Vì sao Việt Nam lại lựa chọn con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội? Về vấn đề này, trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn sai đường, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường xã hội chủ nghĩa! Thực tế có phải như vậy không? Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không?”.

 

Xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là chế độ nữa phong kiến, nữa thuộc địa, đã thối nát và lạc hậu. Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc hết sức sâu sắc, không thể điều hòa, điều kiện cho một cuộc cách mạng xã hội đang đến gần. Trong bối cảnh đó, đã có rất nhiều phong trào yêu nước chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi khắp Bắc, Trung, Nam. Từ phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX, cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài đến đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng có xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, phong trào có xu hướng cải cách của Phan Chu Trinh, đến cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học. Các phong trào này đều sáng ngời tinh thần yêu nước theo những ý thức hệ khác nhau, từ những phong trào theo hệ tư tưởng phong kiến, theo lập trường nông dân, hoặc theo hệ tư tưởng tư sản, đều đã được lịch sử kiểm nghiệm, song tất cả đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại. Thực tiễn đó cho thấy, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải tìm con đường khác, phù hợp với thực tiễn dân tộc và xu thế phát triển khách quan của thời đại.

 

Trong bối cảnh lịch sử đó, Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911), theo tiếng gọi của ngọn cờ “Tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng tư sản, với mong muốn sang các nước tư bản phát triển để học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây để về giúp đồng bào thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Vì vậy, Người đã đến các nước tư bản phát triển như: Pháp, Anh, Mỹ và nhiều nước thuộc địa của các nước đế quốc, quan sát và tìm hiểu chủ nghĩa tư bản, tìm hiểu cuộc sống của người dân ở chính quốc và các nước thuộc địa. Từ đó, Người nhận ra rằng, các cuộc cách mạng dân chủ tư sản là không triệt để, vì cách mạng thành công nhưng chỉ đem lại lợi ích cho thiểu số giai cấp tư sản, còn đông đảo quần chúng lao động vẫn chịu cảnh áp bức bóc lột. Vì vậy, nếu đi theo con đường dân chủ tư sản cùng lắm chỉ giải phóng được dân tộc. Điều đó không đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

 

Khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã mở ra thời đại mới - quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Chính từ “tiếng vang” của Cách mạng tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Sau này như Người nói: giống như một mặt trời chói lọi, cách mạng Nga đã chiếu rọi khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính vì vậy, chỉ khi Nguyễn Ái Quốc đến với Cách mạng tháng Mười, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó Người tin rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Trong bối cảnh lịch sử đó, khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam, thì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được cả dân tộc đón nhận như là hệ quả tất yếu. Bởi vì, “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”.

 

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Trong đó, có nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp là, trong cải tổ, Ðảng Cộng sản Liên Xô đã mắc những sai lầm rất nghiêm trọng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Ðó là đường lối xét lại, phản bội chủ nghĩa Mác - Lênin của một số nhân vật lãnh đạo đảng. Chủ nghĩa đế quốc đã lợi dụng những khó khăn và sai lầm về đường lối của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Ðông Âu, chúng đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hòa bình”, “không đánh mà thắng”.” cực kỳ thâm độc, can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn vào nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa.  Dĩ nhiên, chúng không thể làm được điều này, nếu cải tổ có đường lối đúng đắn, nếu hơn 20 triệu đảng viên cộng sản Liên Xô có tinh thần cảnh giác cách mạng và sức chiến đấu cao, không để nội bộ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khiến cho bọn cơ hội, xét lại và phản bội thao túng cơ quan lãnh đạo của Ðảng, nếu có sự cố kết chặt chẽ giữa Ðảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô.

Trước hiện thực đó, Đảng ta chỉ rõ, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đó là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, chứ không phải là sự lạc hậu hay sụp đổ của một học thuyết khoa học và cách mạng, của chủ nghĩa xã hội khoa học. Tại Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991), trước những khó khăn và phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định con đường cách mạng của nước ta là “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đây cũng là lần đầu tiên trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta phác thảo ra mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đã đưa ra quan niệm, cách thức, biện pháp, bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể đất nước. Để từ đó, chúng ta định hướng con đường, để không mắc phải những sai lầm, đồng thời khẳng định Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

 

🌿 Một vấn đề rất quan trọng được đề cập trong cuốn sách là, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như thế nào cho đúng và đầy đủ?

 

 Như V.I.Lênin từng nhắc nhở: các dân tộc sẽ tùy vào điều kiện cụ thể sẽ có những hình thức và bước đi khác nhau, song sớm hay muộn tất cả các dân tộc sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội. Nếu chủ nghĩa xã hội trước Mác nó chỉ là mơ ước, khó trở thành hiện thực, thì chủ nghĩa xã hội khoa học đã chỉ ra con đường, lực lượng, biện pháp, cách thức, bước đi để thực hiện được mục tiêu. Vấn đề đặt ra là, chúng ta phải nhận thức đúng bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo vào điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu, những hạn chế, khó khăn của quá trình đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta không phải là bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà là do cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực không tuân theo những nguyên lý chỉ dẫn của chủ nghĩa xã hội khoa học và sự nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội chưa đầy đủ. Vì vậy, “trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự  tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...”.

 

Từ quá trình đổi mới đất nước cho thấy, bên cạnh những thành tựu đạt được, thì còn có nhiều khó khăn, thách thức. “Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”. Chính điều đó, Đảng ta đã đưa ra đường lối lãnh đạo đúng đắn, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, “nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỉ đôla Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỉ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 4% từ kinh tế tập thể, 30% từ kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài…Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”. Những thành tựu đạt được đó đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

Chủ nghĩa tư bản hiện có điểm chung là sự phát triển không đều và không phải cứ quốc gia nào đi theo chủ nghĩa tư bản thì đều phát triển, mà phần lớn là đói nghèo, xã hội bất ổn. Chính chủ nghĩa tư bản đang tạo ra khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc, dựa trên bóc lột người lao động, đó là bản chất của chủ nghĩa tư bản. Mặc dù, “từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức “tự điều chỉnh”, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu, nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó… Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: Đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc. Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế…Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ…”. Vì thế, chủ nghĩa tư bản không phải là mục tiêu của nhân loại, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới giải quyết được những tồn tại, bất công mà chủ nghĩa tư bản đã và đang tạo ra, đưa xã hội loài người đến dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội. Nghĩa là, chỉ bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, hay nói cách khác là bỏ qua việc xác lập thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, còn những thành tựu nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản chúng ta phải kế thừa để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhất là những thành tựu về kinh tế, khoa học và công nghệ. Do đó, chúng ta bỏ qua mà không bỏ qua, chỉ bỏ qua chế độ chính trị áp bức bóc lột. Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

 

Đặc biệt, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: hiện nay Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng… Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống.

 

Dù thời thế có đổi thay, nhưng mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta là không bao giờ thay đổi. Độc lập dân tộc là điều kiện để đi lên chủ nghĩa xã hội, ngược lại chủ nghĩa xã hội là điều kiện để đảm bảo độc lập dân tộc. Vì đây là mục tiêu đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đương nhiên, vấn đề không chỉ là mục tiêu, lý tưởng, mà điều không kém phần quan trọng là phải tìm ra giải pháp, bước đi, cách làm khoa học, sáng tạo nhằm thực hiện cho bằng được mục tiêu, lý tưởng đã xác định. Chủ nghĩa xã hội của chúng ta xây dựng là chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa xã hội đổi mới đúng đắn trên tinh thần phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn đất nước. Với những đặc trưng và phương hướng, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có giá trị khoa học và thực tiễn rất to lớn, là định hướng chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Mỗi cán bộ, đảng viên cần quán triệt, tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, để tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, phát huy sức mạng tổng hợp trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.