Thứ Tư, 13 tháng 9, 2023

HỢP TÁC KÊNH ĐẢNG DẪN DẮT QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC PHÁT TRIỂN


Quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc có lịch sử khá đặc biệt. Những người cộng sản của hai nước có quan hệ gắn bó với nhau từ những ngày Đảng còn thai nghén, chưa ra đời. Bởi vậy suốt 100 năm qua, trong mọi hoàn cảnh khác nhau dù khó khăn hay thuận lợi, trục quan hệ hai đảng vẫn luôn đóng vai trò cốt lõi trong quan hệ giữa hai dân tộc, hai quốc gia.
Nhìn lại hơn 30 năm qua kể từ khi bình thường hóa quan hệ, có thể thấy đây là một giai đoạn mới trong quan hệ hai nước. Mặc dù trải qua những chặng gập ghềnh gian nan nhưng quan hệ hợp tác giữa hai nước đã từng bước được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề tồn tại đã được giải quyết. Đó là kết quả từ những nỗ lực của nhiều bộ ngành, từ Trung ương đến địa phương của cả hai phía, nhưng không thể phủ nhận vai trò dẫn dắt của quan hệ Đảng.
Hiếm có mối quan hệ song phương nào trong khu vực và trên thế giới, ngoài các kênh chính thức của nhà nước và kênh nhân dân, lại có một kênh giao lưu ổn định, có quyền uy và hiệu quả như kênh giao lưu giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Hơn 30 năm qua, mối quan hệ đó được thể hiện ở những thời điểm quan trọng.
Kênh Đảng được giữ vững trong mọi hoàn cảnh
Quan hệ Việt - Trung đã trải qua 10 năm vô cùng khó khăn và căng thẳng, bất lợi cho sự phát triển của mỗi nước và sự ổn định của khu vực giữa lúc tình hình thế giới có những chuyển biến phức tạp. Nhưng cùng thời điểm đó, công cuộc đổi mới của Việt Nam và cải cách mở cửa của Trung Quốc có những tiến triển tích cực. Xuất phát từ tình hình trong, ngoài nước và nhu cầu phát triển và ổn định lâu dài của cả Trung Quốc và Việt Nam, lãnh đạo cấp cao hai Đảng đã quyết định khởi động quá trình bình thường hóa quan hệ. Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6/1991) khẳng định tư duy đổi mới về quan hệ quốc tế với tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”, đồng thời công khai khẳng định chủ trương “thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, từng bước mở rộng sự hợp tác quan hệ Việt - Trung, giải quyết những vấn đề còn tồn tại giữa hai nước thông qua thương lượng”.
Chuyến thăm chính thức Trung Quốc tháng 11/1991 của Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ hai nước, hai bên ra tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ.
Kể từ khi bình thường hóa đến nay, về tổng thể quan hệ phát triển theo hướng đi lên dù vẫn trải qua những chặng gập ghềnh và thăng trầm. Có những thời điểm khó khăn, song song với giao lưu, đấu tranh, thúc đẩy giải quyết bất đồng, hai Đảng vẫn duy trì ổn định, thực hiện các kế hoạch trao đổi hằng năm, bao gồm cả gặp gỡ cấp cao, hội thảo lý luận, giao lưu các ban Đảng, các chương trình hợp tác đào tạo đều giữ đúng tiến độ.
Việc duy trì ổn định kênh Đảng trong những lúc quan hệ gặp khó khăn như vậy có tác dụng định hướng cho các mối quan hệ trên các lĩnh vực khác, không để các bất đồng song phương vượt ra ngoài tầm kiểm soát.
Những quyết định quan trọng từ các cuộc gặp giữa Tổng Bí thư hai Đảng
Kể từ năm 1991 đến nay, giao lưu cấp cao mà quan trọng nhất là các cuộc gặp gỡ giữa hai Tổng Bí thư hai Đảng diễn ra rất thường xuyên. Tổng Bí thư hai Đảng đã thực hiện 17 chuyến thăm lẫn nhau. Trừ mấy năm đại dịch không thể bố trí gặp gỡ. Kể từ năm 2013, hai Tổng Bí thư hàng năm có các cuộc điện đàm qua đường dây nóng trong những dịp diễn ra các sự kiện quan trọng của hai nước.
Những quyết định mang tính chỉ đạo quan hệ Việt - Trung trong suốt hơn 30 năm qua đều được đưa ra trong các chuyến thăm lẫn nhau của Tổng Bí thư hai Đảng. Xin điểm lại một số mốc quan trọng:
Tháng 11/1991, Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc, hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc Vụ viện Lý Bằng, hai bên ra Thông cáo chung, tuyên bố bình thường hóa quan hệ hai Đảng, hai nước.
Tháng 7/1997, Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc. Trước khi kết thúc chuyến thăm, rời thành phố Côn Minh về nước, Tổng Bí thư Đỗ Mười gửi đến Tổng Bí thư Giang Trạch Dân một lá thư, khẳng định lại một số thỏa thuận quan trọng, trong đó nêu kiến nghị xác định rõ ràng thời hạn giải quyết vấn đề biên giới trên bộ và trên Vịnh Bắc Bộ. Cụ thể là giải quyết xong vấn đề biên giới trên bộ trong năm 1999 và vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Một tháng sau (tháng 8-1997), Tổng Bí thư Giang Trạch Dân có thư phúc đáp, hoàn toàn tán thành ý kiến của Tổng Bí thư Đỗ Mười.
Tháng 2-1999, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc, hai bên điểm lại những bước tiến trong quan hệ sau 8 năm bình thường hóa và thấy rằng cần phải có định hướng rõ ràng hơn để quan hệ hai nước phát triển một cách ổn định và bền vững lâu dài. Hai bên đã xác định phương châm chỉ đạo quan hệ Việt - Trung trong thế kỷ 21 bằng 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Cũng trong chuyến thăm này, thực hiện thỏa thuận giữa hai Tổng Bí thư năm 1997, hai bên tuyên bố “quyết tâm đẩy nhanh tiến trình đàm phán, nâng cao hiệu suất công tác, ký kết Hiệp ước về biên giới trên bộ trong năm 1999; giải quyết xong vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000”. Như vậy, thời hạn giải quyết hai vấn đề quan trọng về biên giới lãnh thổ đã được xác định rõ ràng và công khai.
Tháng 11/2005, Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào thăm hữu nghị chính thức Việt Nam, hai bên lấy “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” làm mục tiêu phấn đấu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, sau này được gọi là “tinh thần 4 tốt”.
Tháng 6/2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc, hai bên nhất trí nâng quan hệ Việt - Trung lên thành “Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”.
Tháng 10/2011, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Trung Quốc, hai bên ký “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc”.
Tháng 10/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Trung Quốc là chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng. Đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sau Đại hội XIII của Đảng và diễn ra ngay sau khi Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc vừa kết thúc. Những nhận thức chung của hai Tổng bí thư đã tháo gỡ những bế tắc tồn tại trong thời gian cả hai nước phải đối phó với đại dịch Covid-19, mở ra một giai đoạn phát triển mới, thuận lợi hơn cho quan hệ hợp tác song phương.
Ngoài các cuộc gặp gỡ giữa hai Tổng Bí thư, thông qua kênh Đảng, các Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo các Ban Đảng hai bên đã tiến hành các chuyến thăm, giao lưu, trao đổi thông tin và thảo luận về những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm. Gặp gỡ tiếp xúc cấp cao hai Đảng đã trở thành truyền thống, giúp tăng cường hiểu biết lẫn nhau và giữ vững định hướng phát triển quan hệ hai Đảng, hai nước.
Trao đổi lý luận là hoạt động hợp tác thực sự bổ ích
Hợp tác nghiên cứu lý luận giữa hai Đảng đã trở thành điểm sáng trong quan hệ chính trị giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong bối cảnh các Đảng Cộng sản cầm quyền không còn nhiều, mấy chục năm qua, Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành công cuộc đổi mới và cải cách mở cửa, xây dựng những mô hình chưa có tiền lệ, việc trao đổi, tham khảo lẫn nhau về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn đã trở thành nhu cầu của cả hai bên.
Đến nay, hội thảo lý luận giữa hai Đảng đã diễn ra 17 cuộc (kể cả hội thảo trực tuyến). Ngoài hội thảo lý luận do lãnh đạo cấp Ủy viên Bộ Chính trị hai Đảng chủ trì, nhiều cơ quan nghiên cứu lý luận, các ban ngành liên quan cũng tiến hành nhiều cuộc trao đổi lý luận trên nhiều lĩnh vực, như Tạp chí Cộng sản với Tạp chí Cầu thị, Báo Nhân Dân với Nhân dân nhật báo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh với Trường Đảng Trung ương Trung Quốc, trao đổi chuyên đề giữa Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam với Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc v.v... Các cuộc hội thảo và trao đổi lý luận này không những là cơ hội tham khảo lẫn nhau về lý luận, bổ sung cho nhau về kinh nghiệm thực tiễn, mà còn tăng thêm hiểu biết lẫn nhau và góp phần tăng cường tin cậy lẫn nhau. Trao đổi lý luận giữa hai Đảng cũng đã làm phong phú thêm kho tàng lý luận xây dựng đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội của mỗi Đảng, mỗi nước, đồng thời có giá trị tham khảo cho các đảng anh em khác.
Tuy nhiên, học tập lẫn nhau không có nghĩa là bắt chước. Đó chỉ có giá trị tham khảo, còn phải trải qua quá trình nghiên cứu, chọn lọc để áp dụng thích hợp cho mỗi đảng, mỗi nước.
Trực tiếp tham gia thúc đẩy giải quyết các vấn đề bất đồng
Hơn 30 năm qua, thành tựu nổi bật nhất là hai bên đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản tồn tại giữa hai nước do lịch sử để lại. Hai bên đã đạt được nhiều thỏa thuận mang tính nguyên tắc và hai Chính phủ đã thiết lập các cơ chế giải quyết như Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương, các cơ chế đàm phán, các tổ công tác v.v... Trong đó, quan trọng nhất là thỏa thuận đạt được giữa hai Tổng Bí thư năm 1997, công bố năm 1999 về quyết tâm giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền và trên Vịnh Bắc Bộ đã được thực hiện thành công đúng thời hạn.
Trước những vấn đề nảy sinh làm quan hệ trở nên xấu đi, thậm chí căng thẳng, ngoài việc trao đổi ý kiến tại các cơ chế đã có, hai bên đã phải tiếp xúc, trao đổi ý kiến qua kênh Đảng. Thực tế cho thấy cách tiếp xúc kênh đảng là thiết thực và hiệu quả, góp phần thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề nhanh chóng và thỏa đáng hơn.
Nhìn lại hơn 30 năm qua và xa hơn là 100 năm qua, quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn đóng vai trò cốt lõi trong lịch sử quan hệ hai nước. Đến nay, trong bối cảnh mới, quan hệ đó có thể không giống như những năm 1950, 1960 của thế kỷ trước, nhưng vẫn giữ một vai trò quan trọng. Thời gian tới, với vai trò nòng cốt của quan hệ Đảng và truyền thống hợp tác giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, chúng ta thấy rằng những thỏa thuận quan trọng mà lãnh đạo cấp cao hai bên đã đạt được sẽ là phương hướng phấn đấu đúng đắn cho quan hệ hữu nghị Việt -Trung, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì sự ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.
Nguồn: Báo QĐND

THẮNG KHÔNG KIÊU, BẠI KHÔNG NẢN


“Chớ thấy thất bại mà nản, chớ thấy đắc thắng mà kiêu” (1). Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi đồng bào Khu 3”, ngày 12 tháng 9 năm 1947.
Sau hơn nửa năm kể từ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược chính thức bùng nổ, quân Pháp đã tạm thời chiếm được nhiều thành phố, thị xã lớn trên cả nước; đồng thời, tích cực chuẩn bị lực lượng đánh ra vùng nông thôn rộng lớn. Tuy nhiên, thế trận chiến tranh nhân dân của ta đã và đang ngày càng phát triển rộng khắp; vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ; vùng rừng núi Việt Bắc và các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên vẫn là hậu phương an toàn của cuộc kháng chiến. Trước tình hình đó, trong Đảng, nhân dân và lực lượng vũ trang ta xuất hiện hai luồng tư tưởng: Một bộ phận nhỏ dao động, bi quan, mất niềm tin vào tương lai của cuộc kháng chiến; một bộ phận khác lại tự mãn, chủ quan, khinh địch, cho rằng thực lực của quân Pháp chỉ có vậy, khó có khả năng tiếp tục đánh chiếm các vùng hậu phương chiến lược của ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện và kịp thời chấn chỉnh nhằm khắc phục cả hai luồng tư tưởng trên, động viên đồng bào và chiến sĩ ta đừng vì những thất bại, khó khăn trước mắt của công cuộc kháng chiến mà nản lòng, thoái chí, cam phận trở lại kiếp sống nô lệ; đồng thời, cũng lưu ý toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta không được tự đắc, chủ quan, nóng vội, mà phải tiếp tục tích cực chuẩn bị, sẵn sàng cho những thử thách gian nan hơn nữa ở phía trước. Lời nhắc nhở trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào việc định hướng tư tưởng, củng cố quyết tâm, hướng dẫn hành động cho quân dân cả nước khắc phục mọi khó khăn, phát huy những thành quả đã đạt được tiếp tục xây dựng Quân đội, củng cố hậu phương, từng bước đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Khu 3 năm xưa đã ghi sâu vào tiềm thức của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và đã trở thành một trong những phẩm chất truyền thống tiêu biểu được kết thành 10 Lời thề danh dự của quân nhân; là niềm tự hào, nguồn cổ vũ, động viên thôi thúc các thế hệ cán bộ, chiến sĩ không ngừng rèn luyện ý chí chiến đấu kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Hơn 70 năm đã trôi qua, những phẩm chất tiêu biểu "...thắng không kiêu, bại không nản...” của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục được tỏa sáng trong mọi hoạt động chiến đấu, công tác, lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học... cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 14/9


“Cán bộ phải đi đúng đường lối quần chúng, dựa vào nhân dân; trước hết phải tin tưởng lực lượng và trí tuệ của nhân dân là vô cùng vô tận”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài nói chuyện tại “Hội nghị thủy lợi toàn miền Bắc”, ngày 14/9/1959.
Tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, qua thực tiễn hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh càng thấm sâu chân lý: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Quần chúng cách mạng chính là các tầng lớp nhân dân mà Hồ Chí Minh đã tìm thấy sức mạnh to lớn ở họ. Người cho rằng, nhân dân rất thông minh, sáng tạo; nhân dân là lực lượng đông đảo của toàn xã hội; nhân dân là người hiểu biết tất cả; nhân dân là nguồn sức mạnh vô tận ở mọi nơi, mọi lúc. Thực tiễn lịch sử đã minh chứng: Thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trong sự nghiệp đổi mới đất nước đều xuất phát từ đường lối “lấy dân làm gốc”.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì vậy, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không phải chỉ là việc riêng của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, đảng viên, mà là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Thực hiện tốt phương châm này là nhằm phát huy vai trò của nhân dân lao động tham gia quản lý mọi hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, còn có tác động tích cực đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội vững mạnh. Hoạt động của quần chúng nhân dân theo phương châm đó, trước hết, là giúp cho các tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng và đề cao trách nhiệm trước nhân dân, tôn trọng ý kiến và nguyện vọng của nhân dân; qua đó, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ mình là “là người lãnh đạo; đồng thời là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; luôn biết trăn trở với những thắc mắc, những lo lắng của nhân dân; biết cầu thị và lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, vận động nhân dân chung sức, đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thấu triệt lời Bác dạy, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, thương yêu, tôn trọng bộ đội như “chân với tay”; luôn là hạt nhân đoàn kết, đã thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu, như óc”, như người thân trong gia đình; xây dựng tinh thần tự giác trong bộ đội, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”. Mối quan hệ cán – binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há» CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

HỌC TẬP PHONG CÁCH NÊU GƯƠNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao sự cần thiết và vai trò của việc nêu gương đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Nêu gương được Người coi là một trong những cách thức quan trọng để cán bộ, đảng viên phát huy trách nhiệm của mình trước Đảng và trước nhân dân. Tư tưởng đó của Người có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay.
Trong các bài nói, bài viết của mình, rất nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng từ “nêu gương”, “làm gương”. Điều đó cho thấy, Người rất coi trọng việc “nêu gương”, “làm gương” của mọi tổ chức, mọi lực lượng cách mạng và mọi cá nhân trong xã hội. Theo Người, sở dĩ cần phải nêu gương là do đặc thù của nền văn hóa, đạo đức phương Đông luôn coi trọng tình cảm, luôn lấy cái tốt đẹp của người khác để làm tấm gương soi mình. Người viết: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(1). Do đó, ngay từ khi bắt tay vào công tác huấn luyện cán bộ, Người đã luôn nhắc nhở mỗi cán bộ phải nêu cao tinh thần gương mẫu.
Trong xây dựng và rèn luyện đội ngũ cán bộ, Người luôn căn dặn cán bộ phải nêu cao tinh thần “đầu tàu”, “gương mẫu” để phụng sự Đảng, phụng sự Tổ quốc và nhân dân bởi lẽ “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(2). Chính mục đích lớn lao, cao đẹp đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức phấn đấu và rèn luyện, nêu cao tinh thần trách nhiệm và gương mẫu.
“Muốn đẩy mạnh các mặt sản xuất, chiến đấu, văn hoá và các mặt khác, thì trước hết cán bộ, đảng viên, đoàn viên, phải làm đầu tàu, gương mẫu. Muốn làm gương mẫu thì điều quan trọng nhất là các chú từ tỉnh đến huyện, đến xã phải đoàn kết, đoàn kết thật sự, làm sao tự mình nêu gương và giáo dục cho đảng viên, đoàn viên, cán bộ giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Được thế thì cán bộ, đảng viên, đoàn viên cùng với quần chúng nhân dân càng đoàn kết, các công việc đều sẽ trôi chảy, trước hết là công việc sản xuất và chiến đấu”(3). Như vậy, theo Người nêu gương là một việc làm thường xuyên, liên tục và nghiêm túc của mỗi cán bộ, đảng viên.
Không chỉ nói về việc nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên nói chung; ngay từ lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao cần phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong “Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ” năm 1963, Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(4).
Không chỉ nói đến nêu gương nói chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phương pháp nêu gương đạo đức. Người luôn căn dặn cần phải lấy gương người tốt, việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau, đây là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới và cuộc sống mới. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để nêu gương, trước hết bản thân phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên; về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Cách thức nêu gương theo Người là: “Cán bộ, đảng viên phải làm gương mẫu cho nhân dân. Cán bộ cấp trên phải làm gương mẫu cho cán bộ cấp dưới”(5).
Một điều rất đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đưa ra những tư tưởng, quan điểm rất đúng đắn về nêu gương mà chính Người còn là hiện thân cao đẹp nhất về trách nhiệm nêu gương trước Đảng, trước nhân dân. Phong cách nêu gương trong tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện xuyên suốt trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng, phấn đấu hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì nhân dân của Người. Người không chỉ tiếp thu, kế thừa, bổ sung, phát triển và hoàn thiện lý luận về phương pháp, mà Người còn là hiện thân của phong cách nêu gương hết sức mẫu mực và tự nhiên. Chính bản thân Người là một tấm gương sáng về phong cách nêu gương, một hình ảnh mẫu mực về “người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Bản thân Người luôn ca ngợi và tự răn mình phải học tập tấm gương của các đảng viên cộng sản kiên trung của Đảng ta: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”(6).
Một dẫn chứng cụ thể và cảm động nhất, có sức lan tỏa mạnh mẽ nhất về phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người tiên phong đi đầu trong việc thực hành tiết kiệm, nhường cơm sẻ áo cho nhân dân trong những năm tháng nước nhà rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
Trong bài Tại sao dân ta đói? Cứu đói phải như thế nào? Với bút danh C.T trên Báo Cứu quốc, số 105 (ngày 30/11/1945), Người viết: “Hồ Chủ tịch đã nêu gương nhường cơm sẻ áo, mười ngày nhịn ăn một bữa, và đã đỡ đần cho Hội Cứu đói ra đời”(7). Vì là hiện thân cao đẹp nhất của việc nêu gương trong mọi hành động, việc làm nên tư tưởng của Người về nêu gương, làm gương không chỉ dừng lại ở những quan điểm mang tính lý luận mà còn có sức thuyết phục, lôi cuốn và lan tỏa rộng rãi đến toàn thể nhân dân và mỗi cán bộ, đảng viên. Do đó, ở Hồ Chí Minh luôn có sự thống nhất, hòa quyện giữa “tri” và “hành”, giữa tư tưởng và hành động. Đó cũng chính là sức lôi cuốn, hấp dẫn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà không phải nhà lý luận, nhà chính trị nào cũng có được./.
Tạp chí Tuyên giáo
Có thể là hình ảnh về 4 người

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO THANH, THIẾU NIÊN: TRÁCH NHIỆM THUỘC VỀ AI?


Sự tha hóa đạo đức, lối sống là vấn đề nổi cộm trong đời sống xã hội hiện nay. Giới trẻ sẽ hành xử như thế nào trước những 'tấm gương' xấu, nếu họ không được trang bị một kỹ năng sống đúng đắn?
Phần lớn thanh niên hiện nay có lập trường chính trị vững vàng
Ngày 28/8 vừa qua, Thành ủy Hà Nội tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả bước đầu kết nạp học sinh THPT vào Đảng theo Đề án số 20-ĐA/TU ngày 24/10/2022 của Ban Thường vụ Thành ủy. Báo cáo cho thấy, thời gian qua, các cấp ủy Đảng trực thuộc và các đơn vị liên quan đã nghiêm túc triển khai thực hiện, đạt kết quả bước đầu quan trọng. Đến nay, có 19 Đảng bộ quận, huyện, thị xã đã kết nạp được 82 đảng viên là học sinh THPT. Đảng viên mới được kết nạp thật sự là những học sinh xuất sắc tiêu biểu, nổi trội trong học tập và phong trào đoàn, là tấm gương cho các học sinh THPT khác noi theo.
Sự kiện này minh chứng cho kết quả nghiên cứu nhiều năm gần đây của Viện Nghiên cứu Thanh niên rằng, phần lớn thanh niên hiện nay có lập trường chính trị vững vàng, có lòng tin mạnh mẽ vào mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của Đảng, của dân tộc và sự lãnh đạo của Đảng. Những băn khoăn, suy nghĩ, trăn trở của thanh niên đối với xã hội, đất nước và của chính bản thân thanh niên đã nói lên chính những vấn đề mà chúng ta cần phải quan tâm để hoàn thiện hơn. Đơn cử, khi được hỏi trong tình huống hay hoàn cảnh nhất định đòi hỏi tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, dân tộc, có tới 82,7% thanh niên có thái độ quan tâm và bày tỏ mong muốn được làm gì đó giúp ích cho đất nước khi chủ quyền Tổ quốc bị xâm phạm. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về giá trị sống hiện nay của thanh niên, đa số thanh niên đều hướng đến những giá trị tốt đẹp của xã hội như: hạnh phúc, hòa bình, cống hiến…
Theo số liệu điều tra qua các năm của Viện Nghiên cứu Thanh niên, có một tỷ lệ rất lớn từ 60 - 70% thanh niên mong muốn, nguyện vọng được vào Đảng. Đây là một điều đáng mừng về mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của thanh niên. Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, trong những năm qua đã thực hiện tốt vai trò giáo dục, xây dựng lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng, thường xuyên bổ sung đội ngũ đảng viên trẻ cho Đảng...
Nguyên nhân nào khiến giới trẻ suy thoái đạo đức, lối sống?
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng tồn tại một thực tế báo động về việc suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận giới trẻ như: thiếu lý tưởng, không có động lực phấn đấu cụ thể và rõ ràng cho bản thân; thói dối trá, không trung thực, không tuân theo những chuẩn mực đạo đức mà xã hội quy định; không chuyên tâm vào việc nâng cao năng lực trình độ bản thân, có ý ỷ lại người khác; không chịu rèn luyện, cống hiến, lao động mà chỉ muốn sung sướng... Mặt khác, tình trạng giới trẻ sống buông thả, không coi trọng những giá trị đạo đức như số lượng thanh, thiếu niên phạm tội ngày càng tăng, trẻ vị thành niên cũng gây ra nhiều vụ án mạng; tình trạng bạo lực học đường cũng có xu hướng gia tăng; thực trạng nạo phá thai rất đáng lo ngại: khoảng 300.000 ca nạo phá thai mỗi năm ở độ tuổi 15 - 19...
Vẫn biết rằng, “giới trẻ là tương lai của toàn nhân loại”, nhưng với thực tế giới trẻ sống thực dụng chỉ chạy theo những giá trị vật chất mà bỏ quên những giá trị tinh thần thì “tương lai của nhân loại” sẽ đi về đâu? Nguyên nhân của suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận giới trẻ do đâu? Những câu hỏi này đã từng làm nóng diễn đàn cuộc Hội thảo chuyên đề “Giáo dục lý tưởng cách mạng đạo đức lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ theo Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh “do Trung ương Đoàn chủ trì tổ chức vào năm 2019.
Mang tới Hội thảo nhiều trăn trở về sự suy thoái đạo đức, lối sống trong thanh niên hiện nay, PGS. TS Lê Quý Đức, nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nêu quan điểm hiện tượng khủng hoảng lý tưởng, đạo đức và lối sống biểu hiện ở một bộ phận thế hệ trẻ khiến người lớn phải suy ngẫm hai điều: “Thứ nhất, hiện tượng tiêu cực trong thế hệ trẻ hiện nay tại sao lại nổi cộm như vậy? Thái độ của những người có trách nhiệm đối với thế hệ trẻ lý giải điều đó thế nào”.
Đặc biệt, ông Đức đã chỉ ra cái “gốc” của hiện tượng tiêu cực trong một bộ phận thế hệ trẻ do hiện tượng tiêu cực trong xã hội “lây lan” sang giới trẻ, khiến giới trẻ suy giảm niềm tin. Sự tha hóa đạo đức, lối sống là vấn đề nổi cộm trong đời sống xã hội hiện nay. Giới trẻ sẽ hành xử như thế nào trước những “tấm gương” xấu, nếu họ không được trang bị một kỹ năng sống đúng đắn, bởi giới trẻ luôn lấy người lớn làm mẫu mực để hướng tới và hành động.
Do đó, giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, vừa giải quyết những vấn đề trước mắt, vừa mang tính chiến lược, có giá trị định hướng lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là vấn đề được đặc biệt nhấn mạnh tại Hội nghị trực tuyến triển khai thực hiện Quyết định số 1895/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống hiến cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2021 - 2030” do Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức tháng 4/2022.
Phát biểu tại Hội nghị, ông Nguyễn Trọng Nghĩa - Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh, giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ, trong đó có thanh niên, thiếu niên, học sinh, sinh viên luôn được xác định là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, mang tính chiến lược của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định sự quan tâm đối với công tác giáo dục, nhất là công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức lối sống, trong đó nhấn mạnh: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm với đất nước”.
Cũng tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn khẳng định ngành Giáo dục sẽ triển khai giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, khát vọng trong chính nhà trường, trong mỗi môn học và trong quá trình đổi mới giáo dục.
Giúp thanh thiếu niên kỹ năng nhận biết và giải quyết vấn đề
Ngày 24/8/2023 trước thềm năm học mới 2023 - 2024, Bộ GD&ĐT đã ban hành Công văn 4567/BGDĐT-GDCTHSSV năm 2023 hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục chính trị và công tác học sinh, sinh viên (HSSV) năm học 2023 - 2024 đối với các sở GD&ĐT; các đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng sư phạm. Theo đó, đối với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, văn hóa, Bộ GD&ĐT yêu cầu: đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập đối với môn lý luận chính trị, đạo đức, giáo dục công dân, kinh tế - pháp luật; các nội dung về giáo dục lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và văn hóa trong trường học... Đồng thời, thực hiện công tác phát triển đảng viên trong trường học, bồi dưỡng nhận thức về Đảng trong HSSV...; theo dõi, nắm bắt tình hình chính trị, tư tưởng trong HSSV; tổ chức hiệu quả hoạt động đối thoại giữa lãnh đạo nhà trường, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục với HSSV để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và kịp thời xử lý những vấn đề khó khăn, bức xúc trong HSSV...
Có thể nói, việc kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và kịp thời xử lý những vấn đề khó khăn, bức xúc của giới trẻ để từ đó giúp người trẻ trang bị được kiến thức, hiểu biết cách thức, kỹ năng nhận biết và giải quyết vấn đề là rất quan trọng. Năm 2019, trong một bài trả lời phỏng vấn, từ góc độ nghiên cứu về thanh niên, TS. Đỗ Ngọc Hà - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thanh niên, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã cho biết, cùng với những thay đổi của cơ chế kiểm soát xã hội đối với việc thực hiện các quy định của pháp luật, thì đối với bản thân thanh, thiếu niên, họ cũng cần phải được trang bị về kiến thức, hiểu biết cách thức, kỹ năng nhận biết và giải quyết vấn đề.
“Vì thế, việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh, thiếu niên hiện nay không thể là trách nhiệm của riêng ai” - theo TS. Đỗ Ngọc Hà - “Chúng ta không thể đổ lỗi cho mỗi gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội, các tổ chức Đoàn, Hội hay đổ lỗi cho quản lý nhà nước và truyền thông. Vấn đề quan trọng là các giải pháp xã hội cùng làm thế nào để mỗi người trẻ có được sự hiểu biết, văn hóa thực hành quy tắc, chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Bởi khi thanh, thiếu niên đã tự mình xây dựng được “màn chắn” tự bảo vệ, thì tác động của những thông tin sai lệch hay các trường hợp như Khá “bảnh” chỉ như một hiện tượng, nổi lên rồi chìm đi. Kiến thức, kỹ năng giúp thanh, thiếu niên biết nhận biết đúng - sai và không bị dẫn dắt bởi những thông tin sai lệch chuẩn mực”./.
Báo Pháp luật
Có thể là hình ảnh về 3 người và văn bản

TÓM GỌN PHÁT BIỂU SAU THÔNG BÁO NÂNG CẤP QUAN HỆ


1. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiệt liệt chào mừng, đánh giá cao Tổng thống Biden thăm Việt Nam đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm xác lập quan hệ Đối tác Toàn diện.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc lại Việt Nam đã hợp tác với Hoa Kỳ chống phát-xít trong Chiến tranh Thế giới thứ II. Chủ tịch Hồ Chí Minh trích một phần Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ ngay trong phần mở đầu của Bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, gửi thư đến Chính phủ Hoa Kỳ đề nghị thiết lập quan hệ đầy đủ với Hoa Kỳ. Tuy nhiên quan hệ hai nước đã trải qua không ít thăng trầm, đặc biệt là cuộc chiến tranh dài ngày, khốc liệt nhất trong Thế kỷ XX sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Việt Nam vui mừng nhận thấy kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, đặc biệt là sau khi xác lập quan hệ Đối tác Toàn diện vào năm 2013, quan hệ đã có bước phát triển mạnh mẽ, sâu sắc, thực chất, hiệu quả.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Việt Nam thực hiện đường lối quốc phòng "bốn không". Đối với các tình hình phức tạp và xung đột quốc tế, Việt Nam mong muốn các bên đối thoại, giải quyết hòa bình trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.
2. Tổng thống Joe Biden bày tỏ sự trân trọng đối với đất nước Việt Nam, đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam về phát triển, đóng góp vào công việc quốc tế và những đóng góp, vai trò lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và đánh giá cao việc hai nước nâng cấp quan hệ lên quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện có lợi cho cả hai nước và lợi ích quốc tế chung.
Đồng thời, nhấn mạnh sự coi trọng đối với vai trò, vị trí của Việt Nam ở khu vực, đánh giá cao vai trò tích cực của Việt Nam trên nhiều vấn đề khu vực và toàn cầu, trong đó có vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu; cũng như nhấn mạnh Biển Đông có vị trí quan trọng đối với thịnh vượng, ổn định quốc tế và khẳng định lại quan điểm của Hoa Kỳ về Biển Đông.
Cuối cùng, Tổng thống Mỹ nhấn mạnh chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử không chỉ đối với quan hệ hai nước đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và thế giới, nêu quan điềm của Hoa Kỳ về ủng hộ một khu vực mở, ổn định, an toàn, liên kết và thịnh vượng.
Có thể là hình ảnh về 4 người

VĂN HÓA XIN LỖI VÀ NHẬN LỖI TRONG ĐẢNG


Quy định số 117/QĐ-TW về xin lỗi, phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan là vô cùng cần thiết. Điều đó không chỉ thể hiện nét đẹp nhân văn của Đảng mà chắc chắn sẽ làm cho dân chủ trong Đảng thực chất hơn, minh bạch hơn, công khai hơn, góp phần khắc phục oan sai đối với tổ chức đảng, đảng viên khi bị kỷ luật oan.
Ngày 18/8/2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định 117/QĐ-TW về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Quy định là bước hoàn thiện Quy định 22-QĐ/TW ngày 28/7/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Quy định gồm 4 chương, 15 điều, đề cập cụ thể từ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc, căn cứ, trình tự thủ tục, thời hạn giải quyết việc xin lỗi và phục hồi quyền lợi… cũng như những trường hợp bị oan thật nhưng không được xin lỗi, phục hồi quyền lợi và các điều khoản thi hành.
Theo đó, căn cứ để xác định một đảng viên hoặc tổ chức đảng bị oan gồm: Kết luận hoặc quyết định của tổ chức đảng có thẩm quyền xác định tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Kết luận, quyết định, bản án của cơ quan pháp luật xác định đảng viên bị điều tra, truy tố, xét xử oan dẫn đến tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan.
Về nguyên tắc, theo Quy định 117, việc xin lỗi, phục hồi quyền lợi cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan phải thực hiện kịp thời, công khai, khách quan và do chính tổ chức đảng đã ra quyết định gây oan chịu trách nhiệm thực hiện.
Cùng với đó là bãi bỏ, thu hồi quyết định kỷ luật oan; xem xét trách nhiệm của tổ chức, đảng viên tham mưu, quyết định kỷ luật oan. Giải quyết oan phải triệt để, kể cả khi người bị oan đã qua đời thì vẫn phải tổ chức xin lỗi với thân nhân đảng viên...
Đó là về mặt tinh thần. Còn bồi thường về vật chất và các lợi ích hợp pháp khác cho người bị oan thì Quy định 117 yêu cầu thực hiện theo pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Đối tượng áp dụng Quy định khá rộng, không chỉ với tổ chức đảng, đảng viên đang làm việc, mà cả những tổ chức đảng đã giải tán, đảng viên đã qua đời…
Sau một thời gian ngắn ban hành, Quy định 117 đã thu hút sự chú ý, quan tâm, ủng hộ rất lớn của đảng viên cả nước vì đây là văn bản có tính pháp quy đầu tiên của Đảng, cụ thể hóa quan điểm đảng viên, tổ chức đảng bị kỷ luật oan thì được phục hồi quyền lợi bằng văn bản một cách chặt chẽ, hoàn chỉnh. Điều này đã được nhiều lần đề ra trong các cuộc họp, hội nghị các cấp từ nhiều khóa trước. Trung ương khóa XIII quyết định tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Do đó, quy định này cũng cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Đề cập đến Quy định này, nhiều người cho rằng, trong thực tế cuộc sống chắc chắn không thể nào tránh khỏi được sai sót. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng nói riêng cũng không ngoại lệ. Vì thế, làm thế nào để khắc phục được các kết luận oan sai mới là cái cốt của vấn đề.
Mặt khác, việc nhận ra sai sót và xin lỗi công khai sẽ làm cho dân chủ trong Đảng thực chất hơn, minh bạch hơn, thể hiện chia sẻ nỗi oan của tổ chức đảng và đảng viên. Đây không phải là vấn đề mới bởi trong quá khứ, tổ chức Đảng của chúng ta đã từng nhận sai, chủ động sửa sai. Nhìn lại lịch sử, cố Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Kim Ngọc từng “bị kiểm điểm và tự phê bình” vì chủ trương “khoán hộ, đổi mới nông nghiệp”. 20 năm sau chủ trương khoán hộ của Bí thư Kim Ngọc, năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về khoán hộ (còn được gọi là khoán 10) đã chính thức được ban hành, việc sửa sai đã được thực hiện.
Hay sau những sai lầm về cải cách ruộng đất, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa I (29/12/1956 - 25/1/1957), Bác Hồ đã thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn nhận khuyết điểm trước Quốc hội. Nước mắt Người đã rơi trước những khuyết điểm do chủ quan, thiếu lắng nghe Nhân dân, thiếu sâu sát thực tiễn cơ sở. Trước quốc dân đồng bào, Người đã không ngần ngại công khai khuyết điểm của Đảng, của người lãnh đạo cao nhất là chính Người. Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy khăn lau nước mắt chính là lời xin lỗi chân thành nhất của một người suốt cả cuộc đời chỉ biết hy sinh, một lòng một dạ vì nước, vì dân.
Sau này trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Bác đã chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
Đồng tình, ủng hộ với Quy định 117, không ít chuyên gia cũng cho rằng, sự ra đời của Quy định là một tiến bộ rất lớn, cho thấy cùng với kỷ luật nghiêm minh những tổ chức đảng, đảng viên có sai phạm thì Đảng cũng đặt ra yêu cầu phải giải quyết hợp tình, hợp lý đối với những trường hợp bị kỷ luật oan sai. Tinh thần là công tội rạch ròi, cán bộ làm sai phải bị xử lý, ngược lại cán bộ bị kỷ luật sai phải được xin lỗi, khắc phục.
Tuy nhiên, trong cuộc sống có những thứ xin lỗi được, phục hồi được, nhưng có những cái không thể xin lỗi, không thể phục hồi. Bởi khi nhân cách, sự nghiệp chính trị của mỗi con người bị chà đạp sẽ kéo theo nhiều hệ lụy. Thậm chí có người đã từ giã cuộc sống vì những nỗi oan khuất không phải do mình gây ra. Cũng có người khi được xin lỗi thì đã quá muộn bởi gia đình, con cái của họ cũng phải gánh chịu hậu quả của những quyết định oan sai. Do đó, Quy định 117 như chính là một lời nhắc nhở, cảnh báo tổ chức đảng có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật phải thận trọng, cân nhắc, trách nhiệm để không xảy ra oan sai phải xin lỗi. Đi liền với trách nhiệm là các biện pháp xử lý đối với tổ chức đảng có thẩm quyền ra quyết định và cá nhân tham mưu kỷ luật, góp phần hạn chế oan sai, tăng trách nhiệm thực thi công vụ.
Để Quy định 117 đi vào cuộc sống, một số chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng Đảng cho rằng, cần phải tạo sự thông suốt trong nhận thức để củng cố thêm lòng tin của Nhân dân vào Đảng, chế độ. Đồng thời, quá trình tổ chức thực hiện cần phải có sự kiểm tra, giám sát để nơi nào làm tốt thì nhân rộng, nơi nào làm chưa tốt kịp thời nhắc nhở, thậm chí kể cả đến mức phải xử lý kỷ luật...
Quy định cán bộ đảng viên làm sai phải nhận khuyết điểm và xin lỗi Nhân dân sẽ góp phần hoàn thiện các văn bản trong các lĩnh vực về xây dựng Đảng. Việc của từng cán bộ, đảng viên từ trung ương xuống cơ sở phải luôn thường xuyên học tập, tu dưỡng bản thân, ý thức làm việc có trách nhiệm, thận trọng, khách quan để ít xảy ra lỗi nhất. Làm được như vậy chính là góp phần xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.
Mặt khác, Quy định này cùng với những quy định khác nhanh chóng đi vào cuộc sống cũng sẽ kịp thời bảo vệ và khuyến khích những cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung như Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Qua đó sẽ tiếp thêm niềm tin, động lực để cán bộ đảng viên yên tâm cống hiến, đương đầu với khó khăn, thử thách để phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; hiện thực hóa khát vọng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045./.
Tạp chí ĐCS Việt Nam
Có thể là hình ảnh về 1 người và đang học