Thứ Tư, 13 tháng 9, 2023

TÌNH YÊU THƯƠNG DÂN TỘC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cuộc đời của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Hình ảnh của Người là tấm gương sáng ngời trong lòng mỗi người dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đặc biệt, Người đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản cao quý đó là: tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người và chủ nghĩa Mác – Lênin luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tich Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho dân tộc, cho cách mạng, đến lúc từ biệt thế giới này, Người viết: “Chỉ tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa cho hạnh phúc của nhân dân và chỉ có một ham muốm tột bậc là làm sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Người luôn căn dặn cán bộ: “việc gì có lợi cho dân thì phải làm hết sức, việc gì hại đến dân thì phải hêt sức tránh” và Người luôn luôn tin tưởng vào sức mạnh vô địch của nhân dân, “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”, Người thường xuyên nhắc nhở mọi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần phục vụ trước nhân dân vì “nếu nước nhà độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Để làm tròn trách nhiệm “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, thì mọi cán bộ phải gần dân, hiểu được tâm tư nguyện vọng của nhân dân, kịp thời giúp đỡ và giải quyết mọi vướng mắc của nhân dân. Người phê phán những tư tưởng quan liêu xa dân, lên mặt quan cách mạng, cơ hội, cậy quyền, cậy thế đè đầu cưỡi cổ nhân dân.
“Thương dân Người đã dặn dò.
Đoàn kết thống nhất chăm lo đói nghèo.
Một lòng tin Đảng đi theo.
Chung tay xây dựng thoát nghèo vươn lên”.
Người đã để lại cho chúng ta một tấm gương mẫu mực về tinh thần phục vụ nhân dân, Người luôn luôn thực hành làm gương trước mọi việc như mười ngày nhịn ăn một bữa, tham gia xoá mù chữ, ra mặt trận với chiến sĩ, phát động và tham gia “Tết trồng cây”, … Trên cương vị là Người đứng đầu Nhà nước, mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng Người vẫn giành thời gian để thường xuyên đi cơ sở, tìm hiểu, lắng nghe ý kiến của nhân dân. Những chuyến đi công tác làm việc trực tiếp với cơ sở, hoặc đi tiếp dân. Người hiểu đúng tình hình, từ đó đưa ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp với lòng dân. Bác không bao giờ coi mình đứng cao hơn nhân dân, mà Người chỉ tâm niệm suốt đời là người phụ vụ trung thành, tận tụy vì lợi ích của nhân dân. Người nhiều lần viết thư thăm hỏi, tặng quà cho các cụ già nhân dịp mừng thọ, viết thư gửi các cháu thiếu niên, nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu, vào năm học mới, ….
Tư tưởng, đạo đức, phong cách và tấm gương suốt đời hy sinh chiến đấu, tận tụy phục vụ, vì nước, vì dân của Người là tài sản vô giá để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân học tập noi theo, là động lực tinh thần to lớn giúp cho dân tộc ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
“Biên cương Tổ quốc vững bền.
Quân dân quyết trí làm nên cơ đồ”.
Người không bao giờ đòi hỏi điều kiện, vật chất cho riêng mình, ngược lại Người thanh thản, lạc quan trong cuộc sống cần, kiệm liêm, chính, chí công vô tư nhưng những gì Người để lại cho nhân dân, cho đất nước có thể sánh ngang với núi cao, biển rộng. Vì vậy, đức tính khiêm tốn, giản dị của bác đã trở thành huyền thoại. Kính phục và yêu mến Bác nhà thơ Tố Hữu đã ca ngợi:
“Bác sống như trời đất của ta.
Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa.
Tự do cho mỗi đời nô lệ.
Sữa để em thơ, lụa tặng già.
Như đỉnh non cao tự giấu mình.
Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh.
Bác mong con cháu mau khôn lớn.
Tiếp bước cha anh, tiến kịp minh”.
Sau khi Người mất, căn nhà sàn của Người được mở rộng cửa đón đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế đến thăm. Không ai là không xúc động trước những vật dụng gắn bó với Người gần như suốt cuộc đời, như chiếc máy chữ và chiếc đồng hồ cũ kĩ trên bàn làm việc, đôi dép lốp cao su mòn gót, giường mây, chiếu cói đơn chăn gối, tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn, …
Nhận xét về Bác Hồ, nhà phê bình nghiên cứu văn học Quách Mạt Nhược của Trung Quốc viết: “Hồ Chí Minh là một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng. Với trí tuệ kiệt xuất, Bác đã hai tay xây dựng một cơ đồ, đó là sự nghiệp cách mạng vẻ vang, ghi dấu son trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc”./.
St

HỌC TẬP PHONG CÁCH NÊU GƯƠNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao sự cần thiết và vai trò của việc nêu gương đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Nêu gương được Người coi là một trong những cách thức quan trọng để cán bộ, đảng viên phát huy trách nhiệm của mình trước Đảng và trước nhân dân. Tư tưởng đó của Người có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay.

Trong các bài nói, bài viết của mình, rất nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng từ “nêu gương”, “làm gương”. Điều đó cho thấy, Người rất coi trọng việc “nêu gương”, “làm gương” của mọi tổ chức, mọi lực lượng cách mạng và mọi cá nhân trong xã hội. Theo Người, sở dĩ cần phải nêu gương là do đặc thù của nền văn hóa, đạo đức phương Đông luôn coi trọng tình cảm, luôn lấy cái tốt đẹp của người khác để làm tấm gương soi mình. Người viết: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(1). Do đó, ngay từ khi bắt tay vào công tác huấn luyện cán bộ, Người đã luôn nhắc nhở mỗi cán bộ phải nêu cao tinh thần gương mẫu.
Trong xây dựng và rèn luyện đội ngũ cán bộ, Người luôn căn dặn cán bộ phải nêu cao tinh thần “đầu tàu”, “gương mẫu” để phụng sự Đảng, phụng sự Tổ quốc và nhân dân bởi lẽ “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(2). Chính mục đích lớn lao, cao đẹp đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức phấn đấu và rèn luyện, nêu cao tinh thần trách nhiệm và gương mẫu.
“Muốn đẩy mạnh các mặt sản xuất, chiến đấu, văn hoá và các mặt khác, thì trước hết cán bộ, đảng viên, đoàn viên, phải làm đầu tàu, gương mẫu. Muốn làm gương mẫu thì điều quan trọng nhất là các chú từ tỉnh đến huyện, đến xã phải đoàn kết, đoàn kết thật sự, làm sao tự mình nêu gương và giáo dục cho đảng viên, đoàn viên, cán bộ giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Được thế thì cán bộ, đảng viên, đoàn viên cùng với quần chúng nhân dân càng đoàn kết, các công việc đều sẽ trôi chảy, trước hết là công việc sản xuất và chiến đấu”(3). Như vậy, theo Người nêu gương là một việc làm thường xuyên, liên tục và nghiêm túc của mỗi cán bộ, đảng viên.
Không chỉ nói về việc nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên nói chung; ngay từ lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao cần phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong “Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ” năm 1963, Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(4).
Không chỉ nói đến nêu gương nói chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phương pháp nêu gương đạo đức. Người luôn căn dặn cần phải lấy gương người tốt, việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau, đây là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới và cuộc sống mới. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để nêu gương, trước hết bản thân phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên; về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Cách thức nêu gương theo Người là: “Cán bộ, đảng viên phải làm gương mẫu cho nhân dân. Cán bộ cấp trên phải làm gương mẫu cho cán bộ cấp dưới”(5).
Một điều rất đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đưa ra những tư tưởng, quan điểm rất đúng đắn về nêu gương mà chính Người còn là hiện thân cao đẹp nhất về trách nhiệm nêu gương trước Đảng, trước nhân dân. Phong cách nêu gương trong tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện xuyên suốt trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng, phấn đấu hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì nhân dân của Người. Người không chỉ tiếp thu, kế thừa, bổ sung, phát triển và hoàn thiện lý luận về phương pháp, mà Người còn là hiện thân của phong cách nêu gương hết sức mẫu mực và tự nhiên. Chính bản thân Người là một tấm gương sáng về phong cách nêu gương, một hình ảnh mẫu mực về “người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Bản thân Người luôn ca ngợi và tự răn mình phải học tập tấm gương của các đảng viên cộng sản kiên trung của Đảng ta: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”(6).
Một dẫn chứng cụ thể và cảm động nhất, có sức lan tỏa mạnh mẽ nhất về phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người tiên phong đi đầu trong việc thực hành tiết kiệm, nhường cơm sẻ áo cho nhân dân trong những năm tháng nước nhà rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
Trong bài Tại sao dân ta đói? Cứu đói phải như thế nào? Với bút danh C.T trên Báo Cứu quốc, số 105 (ngày 30/11/1945), Người viết: “Hồ Chủ tịch đã nêu gương nhường cơm sẻ áo, mười ngày nhịn ăn một bữa, và đã đỡ đần cho Hội Cứu đói ra đời”(7). Vì là hiện thân cao đẹp nhất của việc nêu gương trong mọi hành động, việc làm nên tư tưởng của Người về nêu gương, làm gương không chỉ dừng lại ở những quan điểm mang tính lý luận mà còn có sức thuyết phục, lôi cuốn và lan tỏa rộng rãi đến toàn thể nhân dân và mỗi cán bộ, đảng viên. Do đó, ở Hồ Chí Minh luôn có sự thống nhất, hòa quyện giữa “tri” và “hành”, giữa tư tưởng và hành động. Đó cũng chính là sức lôi cuốn, hấp dẫn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà không phải nhà lý luận, nhà chính trị nào cũng có được./.
St

VỮNG TIN THEO CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG ĐÃ LỰA CHỌN


Nhân dân thế giới cũng như nhân dân Việt Nam đã không lạ gì về cách mạng màu với những hậu quả nặng nề của nó. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại đang tỏ ra rất tôn sùng cách mạng màu và mong muốn cách mạng màu nhanh chóng diễn ra ở Việt Nam.
Vừa qua, trên cái gọi là “Kênh truyền thông của luật sư Nguyễn Văn Đài”, đối tượng Nguyễn Văn Đài đưa ra câu hỏi: “Cách mạng màu có xảy ra ở Việt Nam hay không? Hay là cách mạng màu sẽ là xu thế tất yếu ở Việt Nam” và có bài phân tích với chủ đề: “Cách mạng màu xu thế tất yếu ở Việt Nam”. Với bản chất và thói quen vốn có, Nguyễn Văn Đài vu cáo rằng, Việt Nam đang bị cai trị bởi một “Đảng Cộng sản với một chế độ độc tài cai trị dân rất hà khắc”. Y quy kết: Đảng và chế độ “là một cái Đảng phản động, phản quốc là một chế độ phản động, phản quốc”; “chế độ Cộng sản Việt Nam là chế độ tham nhũng, hủ bại”. Đài trắng trợn vu cáo chế độ cộng sản “đã biến người dân từ địa vị một người làm chủ đất nước” và “tước đoạt các quyền con người”.
Nguyễn Văn Đài xuyên tạc, vu cáo láo xược rằng: Duy trì chế độ độc tài cộng sản là không có lợi cho người dân Việt Nam; người dân bị bóc lột, người dân bị cai trị, người dân bị tước đoạt mọi thứ, làm gì có quyền gì. Đài đưa ra ý kiến rất vô lý: duy trì ổn định chính trị chế độ độc tài cộng sản Việt Nam có hại cho người dân, có hại cho đất nước… Thật hài hước khi Nguyễn Văn Đài khuyên Đảng Cộng sản Việt Nam “phải học bài học… Ngay từ bây giờ Đảng Cộng sản Việt Nam phải từng bước, từng bước tôn trọng các quyền dân chủ của người dân, như thả tự do cho tù chính trị, tôn trọng các quyền tự do ngôn luận, cho thành lập các báo chí tư nhân, từng bước thành lập các tổ chức dân sự độc lập rồi sau đó thành lập các đảng phái chính trị. Nó phải từng bước, từng bước một để cho người dân nâng cao dân trí của mình lên và họ biết cách thụ hưởng những thành quả mà cách mạng màu mang lại”. Đài cũng võ đoán, xấc xược đánh giá: “người dân sẽ mất kiểm soát và người ta sẽ hành động theo bản năng của người ta chứ không còn hành động theo lý trí và sự hiểu biết của họ nữa”. Nguyễn Văn Đài kích động, kêu gọi người dân Việt Nam: “có ý thức cùng nhau làm là cách mạng màu, cách mạng xã hội hay dân chủ để xóa bỏ chế độ độc tài”. Và Đài thể hiện ảo mộng ngông cuồng của mình khi cho rằng: “tôi tin là người Việt Nam hoàn toàn có thể giữ được ổn định đất nước sau khi chuyển đổi từ độc tài sang dân chủ thông qua cách mạng màu ở Việt Nam”.
Thực chất những thông tin trên của Nguyễn Văn Đài là xấu độc, trắng trợn, xuyên tạc, bịa đặt nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Những hành vi, thủ đoạn đó không mới và Nguyễn Văn Đài cũng chẳng kêu gọi, kích động được người dân Việt Nam đi theo con đường cách mạng màu. Người dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức trách nhiệm, bản lĩnh và trình độ hiểu biết để phòng, chống có hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ xấu. Nhân dân Việt Nam đã, đang và mãi mãi tin tưởng vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã lựa chọn: con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thực tế từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nhân dân Việt Nam đã vững vàng, tuyệt đối tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng. Chúng ta đã đánh đổ thực dân, đế quốc, giành và giữ vững độc lập, tự do, chung sức, đồng lòng xây dựng và bảo vệ đất nước giàu mạnh, như khẳng định của Đảng: “Thực tế từ ngày có Đảng, nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và nhờ thế chúng ta đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX”. Đặc biệt, sự nghiệp đổi mới với sức mạnh tổng hợp của ý Đảng, lòng dân đã đưa Việt Nam phát triển từng bước vững chắc, như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước… Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới… Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Thành tựu to lớn đó được dư luận trong nước và quốc tế đồng thuận, đánh giá cao. Từ năm 2016 đến 2019, kinh tế nước ta 4 năm liên tiếp đứng trong Tốp 10 nước có sự tăng trưởng cao nhất thế giới; Việt Nam cũng là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất. Năm 2020 nền kinh tế của chúng ta đứng thứ tư trong khối ASEAN. Mức sống của nhân dân được nâng lên với thu nhập đầu người tăng 17 lần; các quyền tự do dân chủ của người dân được tôn trọng, đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân ngày càng phát triển…
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cùng đồng thuận, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí với kết quả thu được rất toàn diện, có ý nghĩa sâu sắc về nhiều mặt.
Những thắng lợi về mọi mặt của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng được dư luận trong nước và quốc tế đồng thuận, đánh giá cao. Ví dụ như trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kết quả điều tra dư luận xã hội của Ban Tuyên giáo Trung ương cho thấy có đến 93% ý kiến người dân đồng tình, tin tưởng vào cuộc đấu tranh này. Nhân dân cũng tuyệt đối tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng, sự điều hành của chính phủ, hăng hái tham gia xây dựng Đảng, xây dựng đất nước, thực hiện tốt nghĩa vụ, trách nhiệm công dân của mình. Qua đó, Đảng càng thêm vững mạnh và nhân dân càng thêm tin tưởng, vững vàng đi theo Đảng, trong khi sự xuyên tạc, vu cáo của các thế lực thù địch, chống phá như Nguyễn Văn Đài thì trở nên “trơ trẽn, nực cười”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam chính là: “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”.
Sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã và đang tiếp tục được thực hiện với những thuận lợi lớn, nhưng vẫn còn không ít khó khăn, trở ngại, trong đó có sự chống phá của các thế lực thù địch, thế lực xấu với nhiều âm mưu, thủ đoạn trắng trợn, tinh vi, thâm độc. Nhưng chúng ta tin tưởng và kỳ vọng với sự đoàn kết thống nhất, niềm tin, ý chí quyết tâm và nỗ lực phấn đấu của cả dân tộc, nhất định chúng ta sẽ thành công trên con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh./.

KHẮC PHỤC BỆNH GIÁO ĐIỀU TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ NHÂN DÂN

 Muốn chống được giáo điều phải hết sức chú trọng giáo dục tư duy khoa học, tư duy lý luận, thấm nhuần để thực hành phép biện chứng duy vật, thống nhất hữu cơ với quan điểm duy vật biện chứng.

1. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh trong chủ đề Đại hội, tiếp tục đổi mới sáng tạo, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc để dân tộc cường thịnh, trường tồn. Nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hướng tới mục tiêu đến năm 2045, vào giữa thế kỷ XXI, Việt Nam phải trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.
Muốn đổi mới sáng tạo, muốn đạt tới mục tiêu tổng quát nêu trên, trước hết phải khắc phục triệt để bệnh giáo điều, từ nhận thức đến hành động, từ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cấp, các ngành, ở trung ương, địa phương và cơ sở đến các cộng đồng dân cư trong xã hội, đến từng người. Bệnh giáo điều là một căn bệnh đã có từ lâu, tồn tại dai dẳng, bám sâu vào tư duy, vào cách ứng xử, vào các thói quen xấu trong nếp nghĩ, thâm nhập vào trong lối sống hằng ngày, vào các mối quan hệ: với mình, với người, với công việc và tổ chức bộ máy. Cùng với các bệnh khác, bệnh giáo điều gây ra những hậu quả tiêu cực, những hệ lụy xã hội phức tạp, thực sự là một lực cản xã hội ngăn trở chúng ta phát triển tới trình độ hiện đại.
Giáo điều là bệnh thuộc về tư duy, ý thức, nhận thức. Đó là lối suy nghĩ cứng nhắc, máy móc, rập khuôn theo những công thức đã có sẵn, không thích ứng với biến đổi mau lẹ trong thực tiễn cuộc sống, thoát ly khỏi những điều kiện lịch sử cụ thể. Do nhận thức giáo điều, dựa trên những phạm trù tĩnh nên hành động và ứng xử thường cứng nhắc, lệ thuộc vào những kết luận có sẵn trong sách vở, coi nó như một cái tuyệt đối, không thay đổi. Người mang bệnh giáo điều không thể linh hoạt, cản trở sự tìm tòi sáng tạo, không thích ứng với cái mới, ngại đổi mới thậm chí còn cố níu kéo cái cũ, dù đã tỏ ra lỗi thời, bị thực tiễn cuộc sống vượt qua từ lâu, sinh ra trì trệ, bảo thủ, chống lại cái mới và sự đổi mới, dù là không tự giác.
Bệnh giáo điều thường đi liền với bệnh giản đơn, hình thức, chủ nghĩa kinh nghiệm thực dụng, tư duy siêu hình.
Giáo đều có nguồn gốc nhận thức từ thế giới quan duy tâm chủ quan, duy ý chí và phương pháp tư duy siêu hình. Biểu hiện về mặt nhận thức là tách rời lý luận với thực tiễn, rơi vào “bệnh sách vở” mà thực chất là yếu kém về lý luận nhưng lại coi thường (“coi khinh” - chữ dùng của Hồ Chí Minh) lý luận, thường tuyệt đối hóa kinh nghiệm và bị chủ nghĩa kinh nghiệm trói buộc. Trong mối quan hệ giữa cái phổ biến và cái đặc thù, người mắc bệnh giáo điều thường tuyệt đối hóa cái phổ biến, phủ nhận cái đặc thù. Ngược lại thì rơi vào chủ nghĩa xét lại như Hồ Chí Minh giải thích.
Tóm lại, đã giáo điều thì tất sẽ chủ quan, phiến diện và siêu hình. Nó xa lạ với tư duy biện chứng, phép biện chứng duy vật vốn là khoa học về phát triển, xử lý một cách biện chứng, khách quan, khoa học giữa cái khách quan và cái chủ quan. Biểu hiện trong thực tiễn, nhất là qua thái độ và sự ứng xử, người giáo điều, nhất là giáo điều tới mức cực đoan thì thường hay phản đối một cách cảm tính những ai có tư duy độc lập sáng tạo, hay quy kết, chụp mũ về lập trường quan điểm, hay “đao to búa lớn”, “đại ngôn”, từ những khác biệt trong nhận thức, mà họ không có khả năng thuyết phục người khác về mặt lý luận, khoa học thì chuyển ngay sang những nhận định, đánh giá, phê phán về lập trường, quan điểm, rất có hại cả về nhận thức khoa học và hành động chính trị.
Người giáo điều rất hay có thói quen “chính trị hóa” mọi vấn đề, kể cả trong khoa học, dị ứng với những phê phán khoa học, hay định kiến đối với những ai và những gì khác mình. Cách nghĩ và hành xử như vậy là ở bên ngoài chân lý khoa học, ở bên ngoài dân chủ, xa lạ với văn hóa, bởi “văn hóa là biết lắng nghe”, bởi “văn hóa là thống nhất trong đa dạng, thống nhất bao hàm những khác biệt”, “văn hóa trong bản chất của nó là khoan dung”, (chấp nhận, thừa nhận cái khác mình, không tự lấy mình làm chuẩn để áp đặt người khác…)
Xét về mặt văn hóa dân chủ, người giáo điều thường hành động xa lạ với dân chủ (không quen đối thoại, thảo luận, tranh luận, phản biện) để cùng tìm tòi chân lý.
Xét về mặt đạo đức, người giáo điều dễ rơi vào hẹp hòi, đố kỵ, nhất là khi người đó lại có quyền hành và quyền uy, nếu mất bình tĩnh sáng suốt, thiếu tinh thần khách quan, tôn trọng khoa học và thực tiễn thì họ rất dễ mắc sai lầm về việc đàn áp tư tưởng, nhất là với giới trí thức sáng tạo. Xét về lãnh đạo của Đảng đối với trí thức, văn nghệ sĩ, lãnh đạo phải hiểu trí thức, nhất là với trí thức khoa học và nghệ thuật vì họ có cá tính mạnh, có nhu cầu lớn về tự do và sáng tạo, coi trọng khẳng định cái tôi - bản ngã độc lập nên khi dân chủ bị vi phạm, trí thức rất dễ tổn thương về tinh thần và các giá trị tinh thần. Lãnh đạo trí thức mà không dân chủ, không đủ sức thuyết phục họ về học thuật, tư tưởng và đạo đức thì tự nó tạo ra rào cản, thiếu sự đồng cảm, hợp tác và tin cậy lẫn nhau, khoa học thì thiếu động lực để phát triển và chính trị cũng không tiếp nhận được xung lực từ khoa học để “khoa học hóa” chính mình.
Bệnh giáo điều giản đơn thường đồng nhất hóa nhiều vấn đề, nhiều sự kiện, hiện tượng vốn chỉ thống nhất (bao hàm khác biệt) chứ không đồng nhất.
Trong đời sống, giải quyết mối quan hệ giữa khoa học và chính trị, giữa chân lý và quyền uy (quyền lực chính trị), giữa nhà khoa học và nhà chính trị, “con người khoa học” và “con người chính trị” vốn không đơn giản. Mối quan hệ phức tạp này sẽ được giải quyết bằng văn hóa, bằng ứng xử văn hóa tinh tế, bao dung của các nhà lãnh đạo mà Mác, Ăng ghen, Lênin, Hồ Chí Minh là những mẫu mực. Các ông là các nhà tư tưởng, đồng thời là những nhà bác học, nhuần nhuyễn giữa quan điểm duy vật và phương pháp biện chứng, sáng tạo chứ không giáo điều, linh hoạt uyển chuyển chứ không cứng nhắc, biết lắng nghe, biết đối thoại, biết thuyết phục. Hồ Chí Minh còn là bậc thầy về sự cảm hóa, thu phục nhân tâm, trọng dụng nhân tài, trọng đãi hiền tài một cách biện chứng chứ không siêu hình, một cách chân thành, tin cậy.
Một trong những tác hại của bệnh giáo điều, ở những người giáo điều là, dù không tự giác, không cố ý, họ cũng rơi vào sự kìm hãm dân chủ và tự do tư tưởng, có nguy cơ trở thành độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ và làm phương hại tới sự trong sạch, trong sáng của môi trường đạo đức, văn hóa đạo đức. Hệ lụy của nó là tạo ra những kẻ hở, những mảnh đất dung dưỡng cho thói dân chủ hình thức, đoàn kết hình thức, “giả đạo đức” và “giả khoa học”, “giả chính trị”, “giả cách mạng”. Kẻ cơ hội và chủ nghĩa cơ hội sẽ lợi dụng triệt để tình trạng này để thực hiện những ý đồ, những hành vi bất minh, bất chính để vụ lợi và trục lợi.
Đủ thấy vấn đề đặt ra phức tạp như thế nào và phải tìm tòi như thế nào để có một hệ giải pháp đồng bộ nhằm thanh toán triệt để bệnh giáo điều, từ nhận thức đến hành động trong cán bộ đảng viên và nhân dân.
2. Một cách cụ thể và trực tiếp, muốn chống được giáo điều phải hết sức chú trọng giáo dục tư duy khoa học, tư duy lý luận, thấm nhuần để thực hành phép biện chứng duy vật, thống nhất hữu cơ với quan điểm duy vật biện chứng. Đây là giải pháp cơ bản, hàng đầu. Nói một cách khác, phải khắc phục thế giới quan duy tâm (cả chủ quan lẫn khách quan) cùng với phép siêu hình. Phải trau dồi năng lực tư duy triết học - ở đây cái cốt lõi là triết học Mác-Lênin đồng thời với trang bị hệ thống tri thức về lịch sử tư tưởng triết học. Các tri thức triết học và tư tưởng trong lịch sử triết học phải được dạy và học trên tinh thần và phương pháp khoa học như những môn khoa học cơ bản nghiêm túc nhất. Đang có một mâu thuẫn giữa tinh giản chương trình, thu hẹp hay lồng ghép các loại hình tri thức với khuynh hướng giản lược hóa các tri thức mà người học phải được lĩnh hội. Phải khắc phục tình trạng người học “dường như cái gì cũng biết” nhưng trên thực tế thì không biết thấu đáo, ngọn ngành tri thức nào. Hiểu biết hời hợt là đồng minh của giáo điều. Cần làm cho người học, nhất là sinh viên chuyên ngành có ý thức và nhu cầu tự trau dồi trí thức triết học, không chỉ tồn tại ở các nguyên lý như cái kết luận được thừa nhận mà phải biết, phải hiểu “cái lịch sử” để nắm vững thực chất của “cái lô gích”. Phải khắc phục định kiến của không ít người trong chúng ta về “tri thức hàn lâm”, do đó dẫn đến sự hiểu biết hời hợt, thậm chí tầm thường hóa thực tiễn ứng dụng, tách rời thực tiễn với lý luận. Không hiểu lý luận, không trọng lý luận thì không thể tiếp cận thực tiễn một cách khoa học, không phải là mô tả cái bề ngoài của thực tiễn mà cái chính là đem lý luận soi sáng cho thực tiễn, là “lý luận hóa” chứ không phải “kinh nghiệm hóa” nó.
Giáo điều tất yếu sẽ biệt phái, chỉ thấy “cái một” - cái duy nhất mà không thấy sự muôn vẻ, sự đa dạng của trí thức, khoa học là phản ánh tính đa dạng của thực tiễn được khái quát hóa, lý luận hóa kinh nghiệm thực tiễn để vượt lên chủ nghĩa kinh nghiệm, tự giải phóng mình khỏi tình trạng biệt phái, giáo điều.
Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng biện chứng của các nhà kinh điển và thực hành xuất sắc phép biện chứng đó. Người không chỉ giác ngộ và tin theo chủ nghĩa Mác-Lênin, trung thành một cách sáng tạo bằng cách phát triển sáng tạo chủ nghĩa, học thuyết đó. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin là quan trọng và quyết định nhất trong ý thức hệ của mình, nhưng Người không xem đó là cái duy nhất. Người tiếp thu nhiều nguồn tri thức khác của văn hóa phương Đông và phương Tây, nhờ đó mà càng hiểu biết sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác-Lênin, thấy ở đó cả tinh thần và phương pháp, hiểu thực chất để thực hành sáng tạo, kết hợp nhuần nhuyễn khoa học với chính trị và đạo đức, tổng hợp lại đó là văn hóa. Ta phải học và làm theo Người cả về quan điểm và phương pháp là vì vậy. Để chống giáo điều biệt phái, kinh nghiệm và siêu hình, cần ghi nhớ và thực hành chỉ dẫn của Người qua các luận điểm điển hình:
+ “Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là bản chất, là nguyên tắc tối cao của chủ nghĩa Mác-Lênin”.
+ “Thực hành sinh ra hiểu biết
Hiểu biết tiến lên lý luận
Lý luận lãnh đạo thực hành”.
+ Nghiên cứu, học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là thuộc lòng từng câu từng chữ như một con vẹt mà phải nắm lấy thực chất, tiếp thu tinh thần và phương pháp Mác-Lênin để độc lập sáng tạo giải quyết những vấn đề đặt ra, để ứng xử với con người và công việc cho đúng.
+ Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ là khoa học mà còn là đạo đức. Đọc hàng trăm hàng nghìn quyển sách Mác-Lênin mà ăn ở với nhau không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu Mác-Lênin được.
+ Phương Tây có gì hay cũng học. Phương Đông có gì hay cũng học. Học để làm phong phú chính mình. Học để biết, để hành cho đúng, cho sáng tạo. Tiếp thu có chọn lọc với tinh thần phê phán, không bắt chước, không sao chép máy móc… Ta và Liên Xô rất khác nhau... Ta có thể đi con đường khác với Liên Xô để tiến tới chủ nghĩa xã hội… Phải thấy đặc điểm to nhất của nước ta là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từng bước quá độ tới chủ nghĩa xã hội…
Đó là những chỉ dẫn quý báu của Người, cần hiểu đúng, làm đúng.
Thứ hai, phải hiểu đúng “bệnh sách vở” và xử lý đúng căn bệnh sinh ra giáo điều này và vượt qua nó. Bệnh sách vở như chúng ta thường gọi có biểu hiện là lệ thuộc hoàn toàn vào sách, nhất nhất tuân theo như những giáo điều. những tín điều, sinh ra mù quáng, không có khả năng phê phán, tiếp thu cái gì, sàng lọc và từ bỏ cái gì (cái sai, cái lỗi thời) và phải đối xử với sách, với tri thức sao cho đúng, không rơi vào tư biện, không “coi khinh lý luận”, không “lý luận suông”. Bệnh sách vở thật ra là bệnh ở những người “đọc sách mà không hiểu sách”, thành con mọt sách đọc quá ít sách nên tri thức hạn hẹp, hời hợt, không có khả năng phân tích, phê phán để vận dụng cho đúng. Để chống bệnh sách vở mà thực chất là chống giáo điều thì không phải máy móc phê phán sách, coi thường sách, vứt bỏ sách mà trái lại phải quý trọng sách vở, đọc nhiều sách hơn, tích lũy nhiều trí thức hơn, “không có sách thì không có tri thức. Không có tri thức thì không có chủ nghĩa cộng sản”, “không làm giàu tri thức của mình bằng tất cả kho tàng tri thức nhân loại, thì chủ nghĩa cộng sản chỉ dừng lại là nguyện vọng mà thôi” .
Điều quan trọng là đọc sách, tiếp thu tri thức sách vở bằng phương pháp khoa học, có mục đích đúng khi đọc sách, tránh bệnh hình thức, phô trương, “đọc dăm ba quyển sách, biết được dăm ba điều để khoe khoang, để loè thiên hạ”. Không để sách vở che lấp cuộc sống, rơi vào chủ quan, tư biện, thoát ly thực tiễn.
Thứ ba, phải có tinh thần dân chủ, khiêm tốn, thực sự cầu thị, rèn luyện, tu dưỡng thường xuyên cả về tri thức (học vấn, chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ), về tình cảm và đạo đức cách mạng, bồi dưỡng niềm tin khoa học, kỹ năng thực hành và văn hóa giao tiếp ứng xử. Theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, phải ra sức “phê bình và sửa chữa” bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi và thói ba hoa được nêu trong “Sửa đổi lối làm việc” . Thói “coi khinh lý luận” lại “coi khinh dân vận” mà cán bộ đảng viên mắc phải là do cái bệnh này gây ra, phải ra sức sửa chữa. Biết lắng nghe, biết thảo luận, tranh luận, biết phân biệt đúng - sai, thật - giả, xấu - tốt, biết học hỏi từ trong sách vở nhà trường đến cuộc sống, học dân, hỏi dân, học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tiễn, nêu cao đức trung thực trong tự phê bình và phê bình, tự học, tự đào tạo suốt đời… Đó là những phẩm chất cần có của những người giác ngộ, những người cộng sản có trí tuệ, khác với người cộng sản tuy nhiệt thành nhưng thiếu hiểu biết, không đáp ứng được đòi hỏi ngày một cao của tình hình, nhiệm vụ mới. Lênin đã từng cảnh báo “nhiệt tình mà không có hiểu biết, rốt cuộc có thể dẫn đến phá hoại một cách vô ý thức”. Lênin cũng đòi hỏi học “Học nữa, học mãi” và Hồ Chí Minh nhấn mạnh “đường đời là một chiếc thang không có nước chót, học tập là một quyển vở không có trang cuối cùng”.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới sáng tạo, nuôi dưỡng tinh thần cống hiến, để thực hiện khát vọng phát triển bằng ý chí và hành động sáng tạo thực sự có hiệu quả thì phải tiếp tục đề cao, coi trọng “đổi mới tư duy”. Phải đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý và quản trị sao cho phù hợp với yêu cầu đặt ra của thời đại đang bùng nổ thông tin, xã hội đang chuyển đổi mạnh mẽ sang “xã hội số”, “kinh tế số”, “chính phủ điện tử”, “trí tuệ nhân tạo”, “thế giới phẳng” và “công dân toàn cầu” ... với không ít điều mới lạ, tác động tới tâm lý, ý thức, lối sống, lựa chọn giá trị mới…Xã hội hiện đại mà chúng ta đang sống, đang vươn tới vừa đòi hỏi phải khắc phục căn bản lối tư duy giáo điều, trì trệ, bảo thủ… lại vừa tạo ra tiền đề, điều kiện và môi trường để thanh toán giáo điều, định hình cả trình độ, phương pháp và phong cách của tư duy hiện đại. Khi Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành nước công nghiệp hiện đại thì môi trường xã hội ấy, cái cốt vật chất kỹ thuật - công nghệ hiện đại ấy sẽ dọn sạch mảnh đất sinh ra và nuôi dưỡng giáo điều, kinh nghiệm, siêu hình, biệt phái như đã nói.
Thứ năm, phải đổi mới thật sự triệt để, toàn diện, đồng bộ mọi lĩnh vực công tác và hoạt động của ngành Tuyên giáo, giáo dục và văn hóa, thông tin truyền thông. Đây là lĩnh vực cần có những cải biến cách mạng sâu sắc, mang tầm vóc một cuộc cách mạng trong lĩnh vực ý thức, tinh thần. Từ quan niệm đến nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo - tuyên truyền đến phong cách, đến đội ngũ cán bộ, đào tạo chuyên gia, tạo hiệu ứng xã hội rộng lớn, có sức truyền cảm hứng mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn dân. Hồ Chí Minh là bậc thầy trong lĩnh vực này mà ta cần học tập, làm theo. Càng không thể quên lời cảnh báo phê phán nghiêm khắc của Lênin về công tác này. Ông nói tới tác hại của giáo điều, sự xuyên tạc làm mất tín nhiệm của chủ nghĩa Mác cần phải thanh toán. Trong việc gây ra tội ác này, “những người Mác xít có môn bài” phải chịu phần trách nhiệm và ra sức sửa chữa./.
St

ÔNG TRỜI CŨNG KHÓC CHO HÀ NỘI ĐÊM QUA!

 Có người ôm con nhảy từ trên lầu xuống rồi tử vong cả 2 cha con tại chỗ.

Có người đàn ông ngồi khóc thất thanh nói với bác hàng xóm con trai tôi cao to đẹp trai 20 tuổi nó chết rồi.
người cha ôm con nhảy xuống và gãy tay, vợ gãy chân.
Có một người bà đau chân thường quăng dây xuống dưới để kéo đồ ăn lên tầng 3 mỗi lần đi chợ về và không ai có thể ngờ rằng chính sợi dây đó đã cứu được đứa cháu của mình khi bà bỏ bé trong xô, tấp chăn thấm nước và chuyền cháu tiếp đất. Trong gang tấc, đứa trẻ được sống.
Có anh lính cứu hỏa chạy thất thần đưa một bé trai lên xe cứu thương và vội vã nói: "Cháu mất rồi, không còn thở nữa, tôi phải cứu cháu khác".
Có người con biết sẽ không thể qua khỏi vì không thể nhảy cũng không thể chạy thoát biển lửa, gọi cho bố lần cuối : "Bố ơi, chỗ con cháy rồi, các cháu đã mất, con cũng c.h.ế.t đây".
Rồi trước cảnh tượng hỗn loạn đó, giữa biển lửa và biển khói nghi ngút, nhiều người liên tục nhảy và có cả người chết vì nhảy, các chiến sĩ đã loa lên: "Lực lượng cứu hỏa đến rồi, không được nhảy nữa". Họ, đã hoảng loạn như thế, đau đớn như thế, cùng đường như thế, và rồi họ đã ra đi như thế.
Và với mỗi một người đã ngừng thở trên tay được khiêng ra, chắc các chiến sĩ cứu hỏa đau đớn lắm, nhưng các anh vẫn phải tiếp tục hành trình giật người khỏi tay thần chết.
Thương tiếc vô ngần!
St

SỐNG ẢO VÀ SỰ LỆCH CHUẨN GIÁ TRỊ THẬT


Cách sống ảo, kéo theo đó là hệ lụy giá trị đạo đức đang bị xói mòn ở một bộ phận người trẻ, bỏ qua những giá trị chuẩn mực đạo đức, truyền thống vốn là nền tảng cốt cách của mỗi con người.
Sống ảo là một trào lưu ngày càng xuất hiện phổ biến trên Facebook và các mạng xã hội khác. Sống ảo là hành động, việc làm xa rời với thực tế, tự tạo ra niềm vui cho riêng mình qua những lượt tương tác trên mạng xã hội như câu like, thả tim, lượt theo dõi…
Sống ảo là một tình trạng rất phổ biến của giới trẻ hiện nay. Dù ở bất cứ đâu, chúng ta đều dễ dàng thấy nhiều người chăm chú vào màn hình điện thoại, mạng xã hội hàng nhiều giờ. Báo giấy, sách hay, những trò chơi truyền thống đang dần bị mai một, triệt tiêu, nhường chỗ cho điện thoại di động sử dụng các trang mạng, trong đó tràn lan, đầy dẫy những thông tin, hình ảnh không lành mạnh, các ứng dụng trò chơi.
Nhiều khi là những hình ảnh đồi truỵ không phù hợp với lứa tuổi, thông tin, luận điệu sai trái, thù địch nhiều người thiếu hiểu biết hùa theo tạo nên một không gian mạng, thế giới phẳng vô cùng phức tạp, hỗn loạn, xóa nhòa danh giới cuộc sống hiện thực và sống “ảo”.
Điển hình, trong thời gian vừa qua, mạng xã hội lan truyền hình ảnh, video clip 4 người đàn ông khỏa thân đi xe motor trên đèo Mã Pí Lèng (huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang). Đặc biệt, nhóm người này còn đứng tạo dáng phản cảm để chụp ảnh trước tòa nhà Panorama, nơi đang gây nhiều tranh cãi. Tài khoản Facebook Trần Chí Hiếu người có biệt danh Hiếu Orion, nhóm trưởng trong 4 thành viên khỏa thân cho biết họ thực hiện việc này với mục đích nhằm kêu gọi bảo vệ môi trường.
Hành vi của nhóm người này thể hiện cách nhìn nhận, việc làm lệch chuẩn, phản cảm, trái thuần phong mỹ tục, giá trị tốt đẹp đạo đức truyền thống xã hội.
Nhóm này cho rằng đây là hành động kêu gọi bảo vệ môi trường? Bảo vệ môi trường phải bằng hành động cụ thể làm xanh, sạch, đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái chứ không phải bảo vệ môi trường bằng cách… “cởi chuồng” và “cưỡi” motor chạy lông nhông bản năng ngoài đường trước bàn dân thiện hạ, quay video phát trực tiếp (livestream), chụp ảnh phát tán trên mạng xã hội Facebook.
Điều lo ngại đáng báo động đặt ra sau sự việc này, rõ ràng rằng đây là hành vi sống ảo lệch chuẩn, có tác động xấu đến ý thức, tâm lý xã hội, tác động tiêu cực, ảnh hưởng giá trị thẩm mỹ thì trên mạng xã hội, nhiều người lại nhìn nhận cho rằng đây là sự việc rất bình thường, tỏ ra vui vẻ, phấn khích, có những bình luận khích lệ, cổ xuý cho hành động, việc làm phản cảm, thiếu văn hóa này.
Nhiều người đặt ra câu hỏi: Phải chăng đạo đức xã hội xuống cấp? Sống ảo đang làm mai một, băng hoại những giá trị thật - Giá trị đạo đức, truyền thống, thuần phong mỹ tục, những yếu tố tạo nên nền tảng, cốt cách, bản chất nhân văn, hồn cốt trong tâm hồn mỗi con người?
Bên cạnh là biểu hiện của suy thoái đạo đức, lối sống, hành vi này còn có dấu hiệu xâm phạm quyền con người, quyền công dân vì nó ảnh hưởng đến đời sống của nhiều người khác, nhất là giới trẻ. Bởi những hành vi thiếu chuẩn mực, thấp hèn, lạc hậu, nghiêm trọng hơn là cái xấu, cái ác, sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến môi trường thông tin, môi trường sống của con người có văn hóa; nếu không có nền tảng nhận thức, có thể dễ bị tác động tiêu cực làm nhận thức, tình cảm, định hướng nhân cách lệch lạc, nhất là trong giới trẻ.
Mặt khác, thật nực cười, Hiếu Orion không thấy xấu hổ, với vai trò trong công ty “Sáng tạo truyền thông” của mình, ông này còn muốn làm “Thầy” khi giao giảng, dạy các lớp làm truyền thông trên mạng xã hội. Dạy ai? dạy cái gì? ai quản lý? Đạo làm thầy phải có phẩm chất đạo đức, tư cách tác phong chuẩn mực vì nó tác động trực tiếp đến nhận thức, tình cảm, hình thành nhân cách con người. Từ đó đặt ra vấn đề cơ quan quản lý nhà nước đã có quy định trong sự việc này hay chưa? Nếu có quy định thì người này có đủ tư cách hay không xét về chuẩn mực đạo đức xã hội, đạo làm thầy?
Trước đó, nhiều trường hợp tương tự đã từng xuất hiện trên truyền thông, mạng xã hội như hình ảnh cặp đôi chụp ảnh khỏa thân tại Đà Lạt, cô gái không mảnh vải che thân tạo dáng dưới hồ sen tại Bắc Giang, một Á hậu cùng ê kíp của mình chụp ảnh hở hang tại Tuyệt tình Cốc – Lâm Đồng, sự việc người mẫu ăn mặc lố lăng tại thảm đỏ Liên hoan phim Cannes 2019… những hình ảnh lố lăng, phản cảm, làm mất thuần phong mỹ tục Việt Nam.
Tuy nhiên, điều đáng nói là những vụ việc vẫn cứ diễn ra, lặp đi lặp lại. Các cơ quan liên quan đang lúng túng trong việc xử lý? Phải chăng chưa có cơ chế, chế tài áp dụng? Hay có chế tài nhưng chưa quyết liệt trong xử lý của cơ quan chức năng?
Ở một phương diện khác, truyền thông đại chúng có vai trò đặc biệt trong việc định hướng dư luận, bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp trong cuộc sống. Tuy nhiên trong những sự việc này, truyền thông, nhất là nhiều trang báo mạng, chỉ tập trung khai thác, phản ánh mô tả lại sự việc theo hướng giật gân, câu khách để thu hút sự chú ý của độc giả mà chưa thể hiện thái độ lên án mạnh mẽ, chưa thật kiên quyết, đấu tranh, tẩy chay, một số ít có chăng thì đề cập nửa vời; từ đó không phát huy được tính giáo dục đối bản thân người trong cuộc nhận rõ vấn đề, chưa thể hiện được vai trò định hướng dư luận, dẫn đến làm cho nhiều người hoang mang trong nhận thức không biết hành vi như vậy là đúng hay không đúng để điều chỉnh hành vi, ứng xử trong cuộc sống.
Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội là mục tiêu, động lực phát triển bền vững.
Trong xu hướng hội nhập quốc tế, xã hội thông tin, truyền thông số, mạng xã hội, góp phần đảm bảo an ninh văn hóa, môi trường văn minh, lành mạnh trên không gian mạng, ngăn chặn những sự việc nêu trên, theo chúng tôi, cần làm tốt một số vấn đề sau đây:
Một là, mỗi người xây dựng và phát huy lối sống "Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người"; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi trường; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội. Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn trong hiện thực đời sống và trên không gian mạng.
Hai là, cơ quan quản lý Nhà nước hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước. Hoàn thiện việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chế tài xử lý, răn đe, giáo dục những hành vi tương tự.
Ba là, cơ quan báo chí, truyền thông phát huy vai trò tuyên truyền, định hướng dư luyện, giá trị thâm mỹ, lan tỏa truyền thống văn hóa dân tộc, nhân lên gương người tốt, việc tốt; có thái độ kiên quyết, kịp thời lên án hành vi thiếu lành mạnh, trái với thuần phong, mỹ tục, đạo lý, truyền thống dân tộc. Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, đời sống tinh thần văn minh, lành mạnh.
Bốn là, gia đình, nhà trường xây dựng lối sống hướng tới chân - thiện - mỹ. Gắn xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; đây thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người nhất là thanh, thiếu niên./.

NGUY CƠ LỘ LỌT DỮ LIỆU CÁ NHÂN TỪ CÁC TIỆN ÍCH MỞ RỘNG TRÊN GOOGLE CHROME


Thông qua các tiện ích mở rộng (extension) trên Google Chrome, tin tặc (hacker) có thể truy cập vào dữ liệu cá nhân của người dùng, bao gồm số an sinh xã hội, mật khẩu và thông tin tài khoản ngân hàng.
Các nhà nghiên cứu tại Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ) vừa lên tiếng cảnh báo về nguy cơ lộ lọt dữ liệu cá nhân người dùng từ các tiện ích mở rộng dành cho trình duyệt Google Chrome.
Theo đó, tin tặc có thể thông qua những tiện ích mở rộng này để truy cập và đánh cắp dữ liệu cá nhân của người dùng như số an sinh xã hội, mật khẩu và thông tin tài khoản ngân hàng.
Các nhà nghiên cứu còn phát hiện những lỗ hổng liên quan đến mật khẩu được lưu trữ dưới dạng văn bản thuần túy trong mã nguồn HTML trên các trang web của một số tập đoàn lớn trên thế giới, bao gồm Google, Amazon, Citibank, Capital One và IRS.
Nguồn gốc của những lỗ hổng nói trên đến từ cách mà các tiện ích mở rộng truy cập mã nguồn trang web nội bộ.
Google hiện cung cấp hàng nghìn tiện ích mở rộng nhằm giúp người dùng sắp xếp các sự kiện theo lịch, quản lý mật khẩu, chặn quảng cáo, truy cập email, lưu dấu trang (bookmark), dịch thuật và các hoạt động tìm kiếm.
Theo ông Asmit Nayak, thành viên nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Wisconsin-Madison, mặc dù các tiện ích mở rộng giúp tăng cường khả năng của trình duyệt và khiến việc duyệt web trở nên dễ dàng hơn, song chúng cũng tiềm ẩn nguy cơ làm lộ lọt dữ liệu riêng tư người dùng trước sự xâm nhập của các tác nhân xấu.
“Nếu không có bất kỳ biện pháp bảo vệ nào, như trường hợp một số website IRS.gov, Capital One, USENIX, Google và Amazon, tất cả tiện ích mở rộng đang chạy trên trang web đều có thể ngay lập tức truy cập được các dữ liệu nhạy cảm như SSN và thông tin thẻ tín dụng. Điều này dẫn đến nguy cơ lớn về bảo mật”, ông Nayak nói.
Google đã đưa ra một số biện pháp bảo vệ trong năm nay nhằm giới hạn chặt chẽ hơn về những loại thông tin mà các tiện ích mở rộng được phép truy cập. Tuy nhiên, vẫn chưa có lớp bảo vệ giữa các trang web và các tiện ích mở rộng trên trình duyệt, vì vậy những tác nhân xấu vẫn có thể trốn tránh không bị phát hiện.
Các nhà nghiên cứu cũng cảnh báo nguy cơ lộ lọt mật khẩu được lưu trữ trong các tệp nguồn HTML văn bản thuần túy khi mà “một tỷ lệ đáng kể các tiện ích mở rộng được quyền khai thác những lỗ hổng này”. Nayak cho biết ông và đồng nghiệp đã xác định được 190 tiện ích mở rộng “truy cập trực tiếp vào các trường mật khẩu”.
Để xác minh mối nghi ngờ về lỗ hổng mật khẩu nói trên, các nhà nghiên cứu đã tải lên một tiện ích mở rộng có thể khai thác điểm yếu và đánh cắp mật khẩu lưu ở dạng văn bản thuần túy từ các trang HTML của website. Do không chứa mã độc nên tiện ích mở rộng này đã vượt qua quá trình sàng lọc bảo mật tại Cửa hàng Chrome trực tuyến của Google.
Nayak cho rằng, việc các nhà nghiên cứu có thể dễ dàng tải lên một tiện ích mở rộng có khả năng gây hại như vậy đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có “các biện pháp bảo mật mạnh mẽ hơn”.
Nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Wisconsin-Madison đề xuất 2 phương pháp, bao gồm thiết lập một tiện ích bổ sung (add-on) JavaScript cho tất cả các tiện ích mở rộng để tạo lớp bảo vệ vững chắc cho các trường dữ liệu nhạy cảm; bên cạnh đó là bổ sung một tính năng trình duyệt nhằm cảnh báo người dùng khi dữ liệu nhạy cảm có dấu hiệu bị truy cập trái phép.

HỢP TÁC KÊNH ĐẢNG DẪN DẮT QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC PHÁT TRIỂN


Quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc có lịch sử khá đặc biệt. Những người cộng sản của hai nước có quan hệ gắn bó với nhau từ những ngày Đảng còn thai nghén, chưa ra đời. Bởi vậy suốt 100 năm qua, trong mọi hoàn cảnh khác nhau dù khó khăn hay thuận lợi, trục quan hệ hai đảng vẫn luôn đóng vai trò cốt lõi trong quan hệ giữa hai dân tộc, hai quốc gia.
Nhìn lại hơn 30 năm qua kể từ khi bình thường hóa quan hệ, có thể thấy đây là một giai đoạn mới trong quan hệ hai nước. Mặc dù trải qua những chặng gập ghềnh gian nan nhưng quan hệ hợp tác giữa hai nước đã từng bước được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề tồn tại đã được giải quyết. Đó là kết quả từ những nỗ lực của nhiều bộ ngành, từ Trung ương đến địa phương của cả hai phía, nhưng không thể phủ nhận vai trò dẫn dắt của quan hệ Đảng.
Hiếm có mối quan hệ song phương nào trong khu vực và trên thế giới, ngoài các kênh chính thức của nhà nước và kênh nhân dân, lại có một kênh giao lưu ổn định, có quyền uy và hiệu quả như kênh giao lưu giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Hơn 30 năm qua, mối quan hệ đó được thể hiện ở những thời điểm quan trọng.
Kênh Đảng được giữ vững trong mọi hoàn cảnh
Quan hệ Việt - Trung đã trải qua 10 năm vô cùng khó khăn và căng thẳng, bất lợi cho sự phát triển của mỗi nước và sự ổn định của khu vực giữa lúc tình hình thế giới có những chuyển biến phức tạp. Nhưng cùng thời điểm đó, công cuộc đổi mới của Việt Nam và cải cách mở cửa của Trung Quốc có những tiến triển tích cực. Xuất phát từ tình hình trong, ngoài nước và nhu cầu phát triển và ổn định lâu dài của cả Trung Quốc và Việt Nam, lãnh đạo cấp cao hai Đảng đã quyết định khởi động quá trình bình thường hóa quan hệ. Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6/1991) khẳng định tư duy đổi mới về quan hệ quốc tế với tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”, đồng thời công khai khẳng định chủ trương “thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, từng bước mở rộng sự hợp tác quan hệ Việt - Trung, giải quyết những vấn đề còn tồn tại giữa hai nước thông qua thương lượng”.
Chuyến thăm chính thức Trung Quốc tháng 11/1991 của Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ hai nước, hai bên ra tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ.
Kể từ khi bình thường hóa đến nay, về tổng thể quan hệ phát triển theo hướng đi lên dù vẫn trải qua những chặng gập ghềnh và thăng trầm. Có những thời điểm khó khăn, song song với giao lưu, đấu tranh, thúc đẩy giải quyết bất đồng, hai Đảng vẫn duy trì ổn định, thực hiện các kế hoạch trao đổi hằng năm, bao gồm cả gặp gỡ cấp cao, hội thảo lý luận, giao lưu các ban Đảng, các chương trình hợp tác đào tạo đều giữ đúng tiến độ.
Việc duy trì ổn định kênh Đảng trong những lúc quan hệ gặp khó khăn như vậy có tác dụng định hướng cho các mối quan hệ trên các lĩnh vực khác, không để các bất đồng song phương vượt ra ngoài tầm kiểm soát.
Những quyết định quan trọng từ các cuộc gặp giữa Tổng Bí thư hai Đảng
Kể từ năm 1991 đến nay, giao lưu cấp cao mà quan trọng nhất là các cuộc gặp gỡ giữa hai Tổng Bí thư hai Đảng diễn ra rất thường xuyên. Tổng Bí thư hai Đảng đã thực hiện 17 chuyến thăm lẫn nhau. Trừ mấy năm đại dịch không thể bố trí gặp gỡ. Kể từ năm 2013, hai Tổng Bí thư hàng năm có các cuộc điện đàm qua đường dây nóng trong những dịp diễn ra các sự kiện quan trọng của hai nước.
Những quyết định mang tính chỉ đạo quan hệ Việt - Trung trong suốt hơn 30 năm qua đều được đưa ra trong các chuyến thăm lẫn nhau của Tổng Bí thư hai Đảng. Xin điểm lại một số mốc quan trọng:
Tháng 11/1991, Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc, hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc Vụ viện Lý Bằng, hai bên ra Thông cáo chung, tuyên bố bình thường hóa quan hệ hai Đảng, hai nước.
Tháng 7/1997, Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc. Trước khi kết thúc chuyến thăm, rời thành phố Côn Minh về nước, Tổng Bí thư Đỗ Mười gửi đến Tổng Bí thư Giang Trạch Dân một lá thư, khẳng định lại một số thỏa thuận quan trọng, trong đó nêu kiến nghị xác định rõ ràng thời hạn giải quyết vấn đề biên giới trên bộ và trên Vịnh Bắc Bộ. Cụ thể là giải quyết xong vấn đề biên giới trên bộ trong năm 1999 và vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Một tháng sau (tháng 8-1997), Tổng Bí thư Giang Trạch Dân có thư phúc đáp, hoàn toàn tán thành ý kiến của Tổng Bí thư Đỗ Mười.
Tháng 2-1999, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc, hai bên điểm lại những bước tiến trong quan hệ sau 8 năm bình thường hóa và thấy rằng cần phải có định hướng rõ ràng hơn để quan hệ hai nước phát triển một cách ổn định và bền vững lâu dài. Hai bên đã xác định phương châm chỉ đạo quan hệ Việt - Trung trong thế kỷ 21 bằng 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Cũng trong chuyến thăm này, thực hiện thỏa thuận giữa hai Tổng Bí thư năm 1997, hai bên tuyên bố “quyết tâm đẩy nhanh tiến trình đàm phán, nâng cao hiệu suất công tác, ký kết Hiệp ước về biên giới trên bộ trong năm 1999; giải quyết xong vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000”. Như vậy, thời hạn giải quyết hai vấn đề quan trọng về biên giới lãnh thổ đã được xác định rõ ràng và công khai.
Tháng 11/2005, Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào thăm hữu nghị chính thức Việt Nam, hai bên lấy “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” làm mục tiêu phấn đấu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, sau này được gọi là “tinh thần 4 tốt”.
Tháng 6/2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc, hai bên nhất trí nâng quan hệ Việt - Trung lên thành “Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”.
Tháng 10/2011, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Trung Quốc, hai bên ký “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc”.
Tháng 10/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Trung Quốc là chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng. Đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sau Đại hội XIII của Đảng và diễn ra ngay sau khi Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc vừa kết thúc. Những nhận thức chung của hai Tổng bí thư đã tháo gỡ những bế tắc tồn tại trong thời gian cả hai nước phải đối phó với đại dịch Covid-19, mở ra một giai đoạn phát triển mới, thuận lợi hơn cho quan hệ hợp tác song phương.
Ngoài các cuộc gặp gỡ giữa hai Tổng Bí thư, thông qua kênh Đảng, các Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo các Ban Đảng hai bên đã tiến hành các chuyến thăm, giao lưu, trao đổi thông tin và thảo luận về những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm. Gặp gỡ tiếp xúc cấp cao hai Đảng đã trở thành truyền thống, giúp tăng cường hiểu biết lẫn nhau và giữ vững định hướng phát triển quan hệ hai Đảng, hai nước.
Trao đổi lý luận là hoạt động hợp tác thực sự bổ ích
Hợp tác nghiên cứu lý luận giữa hai Đảng đã trở thành điểm sáng trong quan hệ chính trị giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong bối cảnh các Đảng Cộng sản cầm quyền không còn nhiều, mấy chục năm qua, Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành công cuộc đổi mới và cải cách mở cửa, xây dựng những mô hình chưa có tiền lệ, việc trao đổi, tham khảo lẫn nhau về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn đã trở thành nhu cầu của cả hai bên.
Đến nay, hội thảo lý luận giữa hai Đảng đã diễn ra 17 cuộc (kể cả hội thảo trực tuyến). Ngoài hội thảo lý luận do lãnh đạo cấp Ủy viên Bộ Chính trị hai Đảng chủ trì, nhiều cơ quan nghiên cứu lý luận, các ban ngành liên quan cũng tiến hành nhiều cuộc trao đổi lý luận trên nhiều lĩnh vực, như Tạp chí Cộng sản với Tạp chí Cầu thị, Báo Nhân Dân với Nhân dân nhật báo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh với Trường Đảng Trung ương Trung Quốc, trao đổi chuyên đề giữa Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam với Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc v.v... Các cuộc hội thảo và trao đổi lý luận này không những là cơ hội tham khảo lẫn nhau về lý luận, bổ sung cho nhau về kinh nghiệm thực tiễn, mà còn tăng thêm hiểu biết lẫn nhau và góp phần tăng cường tin cậy lẫn nhau. Trao đổi lý luận giữa hai Đảng cũng đã làm phong phú thêm kho tàng lý luận xây dựng đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội của mỗi Đảng, mỗi nước, đồng thời có giá trị tham khảo cho các đảng anh em khác.
Tuy nhiên, học tập lẫn nhau không có nghĩa là bắt chước. Đó chỉ có giá trị tham khảo, còn phải trải qua quá trình nghiên cứu, chọn lọc để áp dụng thích hợp cho mỗi đảng, mỗi nước.
Trực tiếp tham gia thúc đẩy giải quyết các vấn đề bất đồng
Hơn 30 năm qua, thành tựu nổi bật nhất là hai bên đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản tồn tại giữa hai nước do lịch sử để lại. Hai bên đã đạt được nhiều thỏa thuận mang tính nguyên tắc và hai Chính phủ đã thiết lập các cơ chế giải quyết như Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương, các cơ chế đàm phán, các tổ công tác v.v... Trong đó, quan trọng nhất là thỏa thuận đạt được giữa hai Tổng Bí thư năm 1997, công bố năm 1999 về quyết tâm giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền và trên Vịnh Bắc Bộ đã được thực hiện thành công đúng thời hạn.
Trước những vấn đề nảy sinh làm quan hệ trở nên xấu đi, thậm chí căng thẳng, ngoài việc trao đổi ý kiến tại các cơ chế đã có, hai bên đã phải tiếp xúc, trao đổi ý kiến qua kênh Đảng. Thực tế cho thấy cách tiếp xúc kênh đảng là thiết thực và hiệu quả, góp phần thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề nhanh chóng và thỏa đáng hơn.
Nhìn lại hơn 30 năm qua và xa hơn là 100 năm qua, quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn đóng vai trò cốt lõi trong lịch sử quan hệ hai nước. Đến nay, trong bối cảnh mới, quan hệ đó có thể không giống như những năm 1950, 1960 của thế kỷ trước, nhưng vẫn giữ một vai trò quan trọng. Thời gian tới, với vai trò nòng cốt của quan hệ Đảng và truyền thống hợp tác giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, chúng ta thấy rằng những thỏa thuận quan trọng mà lãnh đạo cấp cao hai bên đã đạt được sẽ là phương hướng phấn đấu đúng đắn cho quan hệ hữu nghị Việt -Trung, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì sự ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.
Nguồn: Báo QĐND