Thứ Tư, 13 tháng 9, 2023

 

Hồ Chí Minh với công tác dân vận tại Cao Bằng những năm 1941 - 1942

(LLCT) - Trong hơn 2 năm hoạt động cách mạng tại Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác dân vận. Người trực tiếp giảng bài, truyền đạt kinh nghiệm, phương pháp tuyên truyền vận động cho đội ngũ cán bộ cách mạng, giúp họ có đủ những kỹ năng cần thiết để thức tỉnh, cổ vũ, đoàn kết và tập hợp quần chúng hăng hái tham gia cách mạng. Nhờ đó, từ Cao Bằng, Mặt trận Việt Minh đã phát triển rộng khắp khu Việt Bắc, góp phần quan trọng tạo nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.Sau gần 30 năm hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Ngày 28-1-1941, Người đặt chân lên mảnh đất Cao Bằng. Thời gian sống ở Cao Bằng (1941-1942), Người đặc biệt quan tâm đến công tác dân vận và để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị về công tác dân vận.

 

Trước hết, Hồ Chí Minh rất quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận. Đối với Người, một hạt giống không thể để nó tự lớn lên và chết dần mà phải làm cho nó nảy nở ra trăm ngàn hạt giống khác. Giữa năm 1941, một số lớp huấn luyện cán bộ đã được tổ chức và Hồ Chí Minh trực tiếp giảng bài. Trong các bài giảng, Người tập trung nhấn mạnh, làm rõ các bước vận động quần chúng mà mỗi cán bộ dân vận phải nắm vững và thực hiện. Sau những buổi lên lớp là những buổi thực hành. Người đóng vai một quần chúng, các học viên đóng vai cán bộ tuyên truyền vận động quần chúng. Sau buổi thực tập, Người rút kinh nghiệm, chỉ ra chỗ sai, chỗ đúng của mỗi người. Người lấy một đoạn trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô giảng giải: Khi Cách mạng tháng Hai lật đổ Nga hoàng, bọn Kêrenxki nắm chính quyền, Lênin chủ trương phải đi giải thích cho quần chúng rõ. Lênin nhấn mạnh: giải thích và giải thích. Muốn giải thích phải có đội quân chính trị. Nói xong, Người kết luận: Ở nước ta hiện nay, muốn đánh Pháp, đuổi Nhật thì ai là người vác súng, ai là người tự giác, tự nguyện đứng dậy làm cách mạng. Đó là quảng đại quần chúng. Cho nên ta phải tuyên truyền vận động quần chúng. Có như vậy cách mạng mới thắng được. Người nói: Chúng ta muốn có một đội võ trang mạnh, trước hết phải có một đội quân tuyên truyền mạnh, đội quân chính trị vững và đề nghị phải làm thế nào giáo dục quần chúng để trong một thời gian ngắn ta có được một phong trào chống Pháp đuổi Nhật như thủy triều dâng lên ở các địa phương (1).

Trong số cán bộ cơ sở được tham gia lớp huấn luyện có chị Trương Thị Mỹ. Trước khi đi, chị được giao nhiệm vụ chuyển một lá thư cho đồng chí Thu nhưng chị phân vân mãi không biết ai là đồng chí Thu để đưa thư. Hôm sau, Người đến và nói, tôi là người giao thông của đồng chí Thu rồi xin nhận thư đem về. Vào lớp, chị Mỹ cố tìm xem đồng chí Thu là ai nhưng đến khi xong lớp huấn luyện vẫn không thấy mà chỉ thấy người giao thông ấy giảng bài. Chị nghĩ: Cách mạng tài thật. Người giao thông lại có thể giảng giải mọi việc thông suốt, rõ ràng, dễ hiểu. Có những việc thật rắc rối, thật phức tạp, tưởng không thể nào hiểu nổi với trình độ những người như chị nhưng người giao thông chỉ lấy những việc hết sức cụ thể, hết sức thực tế để chứng minh, phân tích, giảng đến đâu chị hiểu ngay đến đấy. Cách giải thích của đồng chí cứ như đèn soi óc của chị vậy (2). Người đem ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin rọi vào trí óc của mọi người, giúp mọi người có nhận thức đúng và vững vàng trên con đường cách mạng, trở thành những hạt nhân tích cực trong công tác dân vận ở cơ sở, nhờ đó mà phong trào lan rộng rất nhanh.

Thứ hai, Hồ Chí Minh chú trọng đặc biệt đến phương pháp tuyên truyền vận động phù hợp với từng đối tượng quần chúng.

Theo Hồ Chí Minh, cách mạng không phải là việc của một hai người, lật đổ ông vua, giết vài anh quan mà là việc chung của dân chúng(3). Vì vậy, Người yêu cầu dân vận phải miệng nói, tay làm để quần chúng tin theo. Người phê phán hiện tượng quan liêu, xa rời quần chúng và đòi hỏi phải thật thà nhúng tay vào việc. Người rất chú ý đến đời sống của các hội viên và khéo léo lồng ghép trong sự quan tâm thường nhật nhiều nội dung dân vận. Khi trong làng có một nữ hội viên cứu quốc qua đời, Người gọi một đồng chí ở cơ sở đến hỏi rất kỹ, đoàn thể có tổ chức thăm viếng không? Thể lệ thường xưa nay đi thăm viếng có phải mang gì đến giúp không? Đoàn thể đến viếng thì làm những việc gì? Có đọc văn tế không? Khi biết chưa có người viết văn tế, Người viết thay, lời lẽ, quy cách giống như của một ông tào cao tay nhưng nội dung thì rất mới, bao hàm một ý nghĩa chính trị sâu sắc, những câu văn thống thiết làm xúc động lòng người. Bài văn tế nói về con người ta ai cũng vậy, cha mẹ có sinh ra mới thành con người rồi lớn lên, già nua và chết đi, đấy là luật chung của tạo hóa, ai cũng bình đẳng. Thế thì tại sao ở trên đời, cuộc sống của mọi người lại không bình đẳng, có kẻ giàu, người nghèo, có kẻ áp bức bóc lột người khác? Sau buổi lễ truy điệu nữ hội viên, điều mọi người nhớ chính là câu hỏi chí lý này, từ đó thôi thúc bà con đoàn kết, sát cánh hơn trong các tổ chức cứu quốc để cùng nhau thanh toán sự bất bình đẳng ở trên đời. Người cách mạng phải biết tận dụng mọi hoàn cảnh để tuyên truyền, giác ngộ quần chúng như vậy.

Người dạy muốn làm tốt công tác vận động cách mạng, muốn cho mọi người nghe theo mình thì khi vào một gia đình nào đó, điều trước tiên là phải làm sao tranh thủ được lòng yêu mến của người già, người già mà đã yêu mến mình thì con cái họ cũng sẽ yêu mến mình, đồng thời lại phải làm cho trẻ nhỏ gần gũi, thân mật với mình, chúng gần gũi với mình thì bố mẹ chúng cũng gần gũi với mình. Lễ thượng thọ của cụ cao tuổi, Người sắp xếp thời gian đến dự. Ngày Tết, Người còn dặn cán bộ xuống làng chúc Tết các gia đình, phải đi từng nhà, không được thiếu nhà nào. Biết phong tục mừng tuổi, Người chuẩn bị phong bao đỏ, trong có một xu. Nhưng một xu ấy là để làm việc có ích cho cách mạng: “Đoàn thể còn nghèo, không có gì để chúc mừng năm mới các cụ, các bác, các anh chị và các cháu. Đoàn thể chỉ xin biếu mỗi người một phong bao, trong có một xu. Một xu ấy đoàn thể nhắc các cụ, các bác, các anh chị và các cháu nhớ mua báo đoàn thể mà xem, nhớ đóng nguyệt phí cho đoàn thể. Báo mỗi số một xu và nguyệt phí cho Hội mỗi tháng cũng chỉ có một xu”(4).

Người dặn cán bộ không được làm gì trái ý quần chúng, trái với phong tục tập quán của địa phương. Có những phong tục tốt cần giữ lại, cũng có nhiều phong tục tập quán không tốt, cần phải thay đổi nhưng không phải tự ý thay đổi ngay một lúc mà phải vận động từ từ để quần chúng giác ngộ và tự cải cách lấy. Người rất hiểu đồng bào còn mê tín nhưng nhắc nhở cán bộ đừng nên cứng nhắc. Khi quần chúng chưa giác ngộ còn yêu cầu mình thì mình cứ làm, song điều quan trọng là phải tranh thủ để tuyên truyền, rồi dần dần từng bước giúp người ta giác ngộ cách mạng. Có giác ngộ cách mạng được cho quần chúng thì mới giác ngộ được chuyện ma mê tín.

Khi tuyên truyền, Người thường dùng những cách nói giản dị, lối so sánh cụ thể, gần gũi để đồng bào ai cũng hiểu được đường lối cách mạng. Bàn về các đoàn thể cách mạng trong nước, Người nói: Nhà thì phải có cột mới vững chãi. Các đoàn thể cách mạng cũng thế, phải có cái cột của nó mới đứng vững được, nghĩa là phải có Đảng lãnh đạo. Để tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng, Người chủ trương sáng lập và trực tiếp phụ trách báo Việt Nam Độc lập. Mỗi tháng báo ra 3 kỳ, mỗi kỳ hơn 400 số. Tờ báo có 2 trang, khổ nhỏ, in đá. Người viết nhiều bài cho báo này với phong cách ngắn gọn, dễ hiểu, thường bằng văn vần. Người hiểu rõ đồng bào các dân tộc đa số không biết đọc, biết viết, nếu viết thành văn vần thì chỉ cần một người biết chữ đọc, những người không biết nghe xong có thể dễ dàng học thuộc và cứ thế truyền miệng từ người này sang người khác. Có khi Người vẽ cả những bức tranh cổ động. Mỗi bài báo của Người hướng đến những đối tượng cụ thể: dân cày, phụ nữ, trẻ em, công nhân, binh lính... kêu gọi đoàn kết đấu tranh chống Nhật, Pháp, giành tự do, độc lập cho dân tộc. Người viết diễn ca Mười chính sách của Việt Minhđể tuyên truyền. Trong 2 năm 1941-1942, Bác đã viết khoảng 20 bài thơ nói về đoàn kết.

Thứ ba, dân vận phải đạt mục đích thức tỉnh, cổ vũ, đoàn kết và tập hợp quần chúng trong một tổ chức cách mạng.

Thời gian ở Cao Bằng, một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của công tác dân vận mà Người chú trọng là tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc nhận rõ tác hại của sự chia rẽ, lợi ích to lớn của sự đoàn kết, thống nhất, từ đó đưa họ vào hoạt động trong một tổ chức cách mạng. Người đã lập ra những hội cứu quốc gồm Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Phụ lão cứu quốc. Người kêu gọi: nhân dân ta phải mau mau tổ chức lại. Nông dân phải vào Nông dân cứu quốc hội, thanh niên phải vào Thanh niên cứu quốc hội, phụ nữ vào Phụ nữ cứu quốc hội. Trẻ em vào Nhi đồng cứu quốc hội. Người cho rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nên dù là già, trẻ, lớn, bé đều có thể tham gia cách mạng và làm công việc phù hợp. Vì vậy, tuyên truyền luôn phải nắm được đối tượng, phải hiểu được nông dân có khổ gì, công nhân vì sao lại tham gia cách mạng hăng hái nhất. Đối với cụ già, binh lính... thì tuyên truyền những gì. Người vận động các cụ già ở Pác Bó bằng những lời lẽ rất chí tình, chí lý: “Tôi già làm cách mạng được, các cụ làm cách mạng được, làm những việc hợp với mình. Bây giờ các tầng lớp nhân dân đều có đoàn thể cứu quốc rồi. Đây đủ ba cụ ta cũng có thể tổ chức thành một tổ phụ lão chứ? Nhưng tổ chức một tổ phụ lão chưa đủ đâu, các cụ về vận động các cụ ông, cụ bà khác trong bản có lòng ủng hộ cách mạng cũng vào tổ chức, không có người trong người ngoài lại sinh thắc mắc không lợi cho việc đoàn kết. Từ tổ Phụ lão cứu quốc ở Pác Bó đã dần dần phát triển sang các vùng lân cận. Nhờ làm tốt công tác dân vận, phong trào cách mạng Cao Bằng phát triển mạnh mẽ, nhiều cơ sở cách mạng nảy nở, hình thành và ngày càng trở nên vững chắc. Cuối tháng 4-1941, Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho đồng chí Vũ Anh triệu tập Hội nghị cán bộ dân vận của ba huyện thuộc tỉnh Cao Bằng là Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình để rút kinh nghiệm tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh. Đây là những huyện có phong trào quần chúng tương đối mạnh. Hội nghị diễn ra dưới sự chủ trì của đồng chí Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng. Từ kết quả của Hội nghị tháng 4-1941 đến Hội nghị lần thứ 8, tháng 5-1941, Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất lấy tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) nhằm tập hợp những người yêu nước, cùng nhau đấu tranh cho dân tộc độc lập, vì sự sinh tồn. Từ Cao Bằng, Mặt trận Việt Minh phát triển rộng khắp khu Việt Bắc và đoàn kết mọi lực lượng yêu nước tiến bộ trong các dân tộc, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến.

Từ những kinh nghiệm trong hơn hai năm hoạt động ở Cao Bằng, Hồ Chí Minh đã cùng với Trung ương Đảng đúc rút thành bài học kinh nghiệm dân vận quan trọng, áp dụng rộng rãi trong cả nước và góp phần tạo nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Nghiên cứu lại tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận trong bối cảnh đất nước đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, chúng ta càng thấm nhuần sâu sắc kết luận có tính khái quát rất cao của Người: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”(5).

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2017

(1), (2), (4) Hồi ký “Những ngày gần Bác”, sách “Đầu nguồn”, Nxb Văn học,Hà Nội, 1977.

(3) “Đường Cách mệnh”.

(5) “Dân vận”, đăng trên báo Sự thật, số ra ngày 15-10-1949, bút danh XYZ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Nguồn: ThS Cao Thị Hải Yến

Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

 

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ THỰC HIỆN SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC Ở NƯỚC TA

 Việc giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam chưa tốt, bỏ phí nhiều nguồn lực trong và ngoài nước. Một số lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, tư nhân làm tốt nhưng không được nhà nước tin cậy. Một số vấn đề liên quan đến lợi ích của đất nước, nhất là vấn đề biên giới, chủ quyền biển đảo, sự xâm lăng về kinh tế, văn hoá từ bên ngoài, nhất là Trung Quốc, khi có những tiếng nói khác, đều bị quy chụp là cơ hội, thù địch; một số phản kháng bất bạo động thì bị đàn áp; thông tin trên báo chí, mạng xã hội thì bị ngăn cấm…, điều này làm cho Trung Quốc lấn tới, đe doạ chủ quyền biển đảo của Việt Nam, cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam là tay sai của Trung Quốc, sợ Trung Quốc.

Việc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ trong đó có chủ quyền biển, đảo là kiên quyết, nhất quán từ trong nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Trong mọi hoàn cảnh, một tấc đất, chủ quyền dân tộc, chúng ta cũng không từ bỏ. Nhờ những thái độ kiên quyết, kiên trì đó, chủ quyền của đất nước trên đất liền, trên biển chúng ta vẫn giữ vững được cho đến hôm nay, biên giới trên đất liền được phân định rõ ràng, minh bạch theo luật pháp quốc tế, trên biển, đảo chúng ta giữ nguyên trạng. Cần phải thấy rằng, tranh chấp chủ quyền biển đảo là một vấn đề cần phải giải quyết lâu dài, kiên trì; tránh vấp phải âm mưu, kích động, chia rẽ của các thế lực cơ hội, thù địch. Nôn nóng, giản đơn và mắc mưu kẻ địch thì chẳng những kinh tế không phát triển, xã hội không ổn định mà chủ quyền, an ninh chúng ta cũng không giữ được. Đó là bài học xương máu cần tỉnh táo.

     Cần phải thấy rằng, các thế lực cơ hội, thù địch không từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá đất nước, ngay cả khi chúng ta làm tốt. Chúng luôn xuyên tạc, bóp méo sự thật, lợi dụng các phương tiện thông tin, nhất là mạng xã hội, vu cáo, bôi nhọ, chống phá, làm người dân nghi ngờ, mất lòng tin… Bởi vậy, đòi hỏi chúng ta luôn tỉnh táo, kiên trì đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái thù địch, tránh thụ động, theo đuôi, thậm trí mất phương hướng.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HOÁ" TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN.

  Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và những hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ chức vụ cấp cao là con đường ngắn nhất và trực tiếp không chỉ hạ thấp mà thậm chí còn thủ tiêu vai trò chính trị, thực lực chính trị và uy tín chính trị của Đảng, Nhà nước.

Ảnh minh họa

1. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, những hành vi tham nhũng, tiêu cực không còn là một khái niệm trừu tượng mà đã biểu hiện rất cụ thể trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, cấp cao. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ“Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(1). Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Đảng cũng nhấn mạnh: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”(2).

Thực tế cho thấy, những sự suy thoái nêu trên ngày càng diễn biến tinh vi, phức tạp với nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Đó là hành vi lợi dụng quyền lực, biến quyền lực chính trị được nhân dân ủy thác thành “của riêng” để đổi chác, ban phát, mua bán..Bên cạnh đó là sự “a dua” “vào hùa” với những ý kiến lệch lạc, thiếu khách quan, thiếu toàn diện về sự nghiệp đổi mới của đất nước; đòi đa nguyên, đa đảng; xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản bội lại lợi ích quốc gia - dân tộc....

Kinh nghiệm lịch sử chỉ rõ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và những hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ chức vụ cấp cao là con đường ngắn nhất và trực tiếp không chỉ hạ thấp mà thậm chí còn thủ tiêu vai trò chính trị, thực lực chính trị và uy tín chính trị của Đảng, Nhà nước. Nếu  không kịp thời sửa chữa, Đảng sẽ đánh mất vai trò lãnh đạo, đồng thời không còn là đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam.

Quang cảnh hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát năm 2021. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)

Quang cảnh hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát năm 2021. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)

2. Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “một số cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình; chưa quyết tâm và có biện pháp chỉ đạo đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân”(3). Đảng nhìn nhận sự suy thoái này có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân. Nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm. Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời. Quản lý cán bộ, đảng viên còn lỏng lẻo. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi chưa thường xuyên, không nghiêm túc...

Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sốngtham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Đảng phải “không lơi tay” trong thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp; chủ động, kiên quyết, nghiêm minh hơn nữa, trong đó tập trung vào một số khâu đột phá:

Một là, tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đảng xác định: “Tăng cường đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng”(4)Theo đó, trong giáo dục phải hết sức coi trọng chất lượng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hộivận dụng sáng tạo lý luận phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từng cơ quan, đơn vị phải xây dựng thực chất kế hoạch giáo dục cho mọi đối tượng, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Phương pháp giáo dục phải đa dạng, phong phú, cụ thể, gợi mở để cán bộ, đảng viên tự kiểm điểm, tự rèn luyện, tự tu dưỡng; nâng cao tính chiến đấu, tinh thần thẳng thắn, dũng cảm trong tự phê bình và phê bình, nhất là đối với những hành vi trái với chuẩn mực đạo đức cách mạng. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách.

Coi trọng khâu đột phá trong giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm tăng cường sức đề kháng ngăn chặn chủ nghĩa cá nhân. Ngại rèn luyện, lười suy nghĩ, lười học tập là nguyên nhân trực tiếp làm cho cán bộ, đảng viên trở nên lạc hậu, nảy sinh chủ nghĩa cá nhânKhi chủ nghĩa cá nhân phát triển thì những kiến thức và kinh nghiệm tích lũy được cũng chỉ nhằm phục vụ cho mưu toan, tính toán, vun vén cho bản thân, gia đình, lợi ích nhómĐây là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất làm suy giảm nghiêm trọng sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của một đảng cách mạng chân chính, hết lòng vì nước vì dân.

Đảng xác định: “Chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức, đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp; thực hiện nghiêm các quy định nêu gương của Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiên phong, gương mẫu(5). Theo đó, việc tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức phải chú trọng tăng cường trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, yêu cầu cán bộ càng cao càng phải gương mẫu thực hiện.

Hai là, phát huy hơn nữa vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.  

Cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về vai trò của công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, có ý nghĩa quyết định mọi thành công của sự nghiệp cách mạng cả trước mắt và lâu dài. Mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình để tự giác, gương mẫu thực hiện. Kết luận số 21-KL/TW của Đảng đã nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ(6).

Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần có chương trình tổng thể, lộ trình khoa học để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, động viên được sự nỗ lực sáng tạo của các tổ chức, lực lượng. Trên cơ sở đánh giá đúng ưu điểm, hạn chế khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt, cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền cần điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch đội ngũ cán bộ các cấp; có kế hoạch luân chuyển, điều động, cất nhắc, bổ nhiệm cán bộ một cách khách quan; kiên quyết cho thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với những người tín nhiệm thấp, phẩm chất năng lực không tương xứng.

Cấp ủy các cấp và các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng cán bộ cho phù hợp với điều kiện mới; xây dựng hoàn thiện quy chế, quy định về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách; giữa tuyên truyền, giáo dục chính trị với công tác tổ chức, công tác cán bộ, công tác kiểm tra giám sát.

Cấp ủy, tổ chức đảng phải là nơi đầu tiên phát hiện, ngăn ngừa, khắc phục những mầm mống của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những hành vi tham nhũng, tiêu cực và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. “Ban hành các cơ chế về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xử lý tập thể, cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; cơ chế bảo vệ, khuyến khích nhân dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực(7). Kiên quyết đấu tranh với sự phai nhạt lý tưởng cách mạng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân...

Ba là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tổ chức và cá nhân trong kiểm tra, giám sát cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sốngtham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Quá trình giải quyết vừa đề cao tính tích cực chủ động, tự giác của cá nhân vừa phát huy tốt vai trò của tổ chức với quy trình chặt chẽ, nội dung thống nhất, khoa học. Trên cơ sở những quy định chặt chẽ, cùng với những nội dung cụ thể, những tiêu chí rõ ràng, nhất là hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực được Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII bổ sung, làm rõ, đó là Quy định 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm (thay thế QĐ 47-QĐ/TW).

Từng cấp ủy, chi bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lýngười đứng đầu phải chủ động, tự giác đối chiếu với những quy định, tự liên hệ, kiểm điểm để thấy rõ, thấy hết những ưu điểm và hạn chế, khuyết điểm và có kế hoạch phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế khuyến điểm. Đó cũng là quá trình đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa mặt tốt và mặt xấu trong mỗi tổ chức, mỗi con người như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng(8).

Việc động viên, yêu cầu phát huy tính chủ động, tự giác của mỗi người phải đi cùng với những biện pháp, quy định chặt chẽ, nghiêm minh; sự kiên quyết phải đi liền với kiên trì, có lộ trình, bởi chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi, hám danh, bè phái cục bộ... chắc chắn không thể “làm nhanh, làm gọn” - khắc phục triệt để trong một sớm, một chiều.

Đồng thời, phải “tập trung giám sát cán bộ, đảng viên có lời nói, việc làm biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Uỷ ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý, kỷ luật nghiêm minh đối với cán bộ, đảng viên suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” ngay tại cơ sở, chi bộ(9).

Cùng với đề cao tính tích cực, chủ động, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên, phải đi liền với phát huy tốt vai trò của tổ chức, thông qua các biện pháp mà Trung ương đã bổ sung, làm rõ trong những quy định. Những quy định bắt buộc được triển khai đúng, thực chất sẽ dần tạo nên thói quen tự giác, tích cực cho mỗi cá nhân và tập thể.

Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân trong việc ngăn chặn, đẩy lùi, chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh với sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh phải “khuyến khích nhân dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực”(10)Cùng với tích cực, chủ động phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của nhân dân, nhất là đối với các chủ trương, chính sách tác động đến đông đảo người dân, cần đẩy mạnh phát huy vai trò của dư luận xã hội, vận dụng dư luận xã hội để phát huy các chức năng đánh giá, điều chỉnh các quan hệ xã hội, giáo dục, giám sát tư vấn - phản biện và giải tỏa tâm lý xã hội.

Đổi mới công tác dân vận của hệ thống chính trị, nhất là công tác dân vận chính quyền các cấp. Tạo bước chuyển biến thc chất hơn trong giám sát của nhân dân đối với việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ, đảng viên. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Xây dựng và thực hiện nghiêm cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực.

Năm là, kịp thời phát hiện, vạch trần mọi âm mưu, luận điệu, hoạt động của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, xuyên tc, chống phá.

Một mặt, vừa phải đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và “xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân lợi dụng Internet, mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, kích động, gây rối, chia rẽ đoàn kết nội bộ”(11). Mặt khác, cần phải tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững trận địa tư tưởng chính trị. Bởi, tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên có tác động trực tiếp từ những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phản động, sự dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo của các thế lực thù địch và các đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn, tiêu cực. Vì vậy, cần chủ động các phương án, biện pháp đột phá cụ thể, tổ chức lực lượng thích hợp để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị./.

LHQ.

XÂY DỰNG VĂN HÓA "MẠNG"

 Trong thời đại 4.0, mạng xã hội dần trở nên gần gũi và phổ biến, thậm chí đã trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống của hết thảy người dân hầu như trên toàn thế giới. Nó đã làm thay đổi thế giới một cách sâu sắc. Các mối quan hệ xã hội từ chính trị đến kinh tế, khoa học công nghệ, văn hoá, nghệ thuật đều được tác động, thúc đẩy.

Sự thay đổi có mặt thuận và mặt không thuận, nếu biết khai thác, phát huy những lợi thế ưu việt của thông tin từ mạng xã hội này thì người dân và quốc gia có thêm điều kiện hội nhập, phát triển, nếu không sẽ có những tác động tiêu cực và để lại nhiều hệ lụy khôn lường.
Trên thế giới hiện đang tồn tại hàng triệu website có nội dung không lành mạnh, thậm chí độc hại ảnh hưởng rất xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của mỗi người và cả cộng đồng, đã gây ra nhiều hệ lụy cho đời sống văn hóa, xã hội khi cộng đồng mạng sử dụng trang cá nhân như một thế giới tự do phát ngôn, tự do cung cấp thông tin, hình ảnh không được kiểm soát, cả những phát ngôn bốc đồng nông nổi bất chấp hậu quả. Từ đó, đạo đức bị băng hoại, văn hoá bị tầm thường hoá, méo mó, an toàn xã hội bị đổ vỡ… Đó là chưa nói đến những ảnh hưởng bất lợi khác về chính trị, kinh tế do một số website cố tình hay vô tình gây ra.
Đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất từ các website xấu chủ yếu là thanh, thiếu niên, vì họ chưa được trang bị đầy đủ tri thức và kinh nghiệm về cuộc sống, xã hội. Sự ham hiểu biết của tuổi trẻ nếu không được hướng dẫn sẽ bị các thông tin từ trang "website đen" đánh lừa, chinh phục.Rất nhiều vụ việc, vụ án đã có căn nguyên từ ảnh hưởng của lối sống buông thả và bạo lực trên các website.
Đây là điều chúng ta đã biết từ lâu. Để góp phần bảo vệ thế hệ trẻ và toàn xã hội khỏi bị ảnh hưởng xấu từ mạng xã hội, ngày 17-6-2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Quyết định số 874/QĐ-BTTTT về việc ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội nhằm tạo điều kiện lành mạnh mạng xã hội tại Việt Nam, đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền tự do kinh doanh, không phân biệt đối xử nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước, phù hợp với chuẩn mực, thông lệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
Mỗi người phải hiểu rằng một khi đã mở lòng mình ra trên thế giới ảo thì cũng phải đến với mọi người bằng tâm thế thiện chí, chân thật; phê phán vấn đề, hiện tượng cũng cần mang tính phản biện, xây dựng chứ không phải buông tuồng tùy tiện, nói gì thì nói. Không chỉ ở Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia, dân tộc nào đều có một điểm chung bắt buộc là các quyền tự do ngôn luận phải trong khuôn khổ pháp luật, những ý kiến phát biểu có trách nhiệm và đúng sự thật.
Nhiều nước trên thế giới, chỉ cần bôi bác, vu khống người khác trên mạng là có thể bị ra tòa. Tất nhiên, ai cũng có quyền bày tỏ chính kiến nhưng mọi thứ đều phải dựa trên nguyên tắc xây dựng, tự do nhưng cũng phải trong vòng kiểm soát của pháp luật. Một khi những quy định của phát luật không điều chỉnh theo kịp với sự phát triển của xã hội, không thay đổi cách thức quản lý thì tất yếu sẽ có những rối loạn.
Chúng ta rất cần hình thành một văn hoá cộng đồng mạng, xác lập được những chuẩn mực, giá trị trong quá trình sử dụng internet, bao gồm cả mục đích, lợi ích, hiệu quả thiết lập mạng và khai thác, các quan hệ ứng xử… Đây là phương tiện hữu ích để mỗi người dân có thể bày tỏ quan điểm cá nhân, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm sống, nêu gương người tốt, việc tốt để mọi người học tập và làm theo; hoặc phản ánh những tiêu cực, bất hợp lý, những hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân để cơ quan chức năng của Nhà nước xử lý theo quy định pháp luật.
Mỗi người dân chúng ta cần phải sáng suốt nhận biết và hiểu đúng về "tự do ngôn luận" và "ngôn luận tự do" để không rơi vào "bẫy" của những kẻ bất mãn, có quan điểm thù địch, vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá; cảnh giác với những thông tin xấu độc, không chia sẻ bừa bãi trên mạng xã hội một cách vô cảm, để rồi có các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa, thậm chí vô tình vi phạm pháp luật.
Hướng đến xây dựng chuẩn mực đạo đức về hành vi ứng xử trên mạng xã hội, giáo dục ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử của người dùng trên mạng xã hội, góp phần xây dựng mạng an toàn, lành mạnh tại Việt Nam, trước nhất vẫn là cần ở ý thức cá nhân của mỗi người. Những ý kiến đóng góp, phản ánh của cộng đồng mạng phải đúng, chân thành, mang tinh thần xây dựng, vì lợi ích chính đáng của đất nước, của người dân, dần hình thành những tập quán mới, đúng đắn, phù hợp với truyền thống văn hoá, đạo đức dân tộc hướng đến chân, thiện, mỹ trong việc khai thác, sử dụng hiệu quả những thông tin từ internet./.
St

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp yêu cầu của lịch sử.

Tuy vậy, các thế lực thù địch vẫn đưa ra các nội dung xấu độc, các luận điệu gây nghi ngờ, đầy sự kích động. Trước những luận điệu phi lý, xuyên tạc sự thật và phản động này, cần phải khẳng định rằng:
NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
Có thể nói, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại; là sự vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước; đồng thời được thực hiện xuyên suốt trong tiến trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà nước pháp quyền là phương thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật. Đó phải là một nhà nước tuân thủ nguyên tắc chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân, thực hiện phân quyền, pháp quyền, dân chủ, tôn trọng quyền con người và quyền công dân… Đó phải “là thể chế, là chế độ mà ở đó, mọi chủ thể như nhà nước, cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước, cá nhân hay mọi chủ thể khác trên lãnh thổ đều phải chấp hành, thực hiện, tuân thủ pháp luật đã được ban hành”(1). Song trên thực tế, không có các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền chung, áp dụng thống nhất cho mọi nhà nước nhà nước pháp quyền cụ thể, mà là tùy thuộc từng quốc gia sẽ tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền hay tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập… Vì thế, việc Việt Nam tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc phân quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản/Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chẳng có gì trái với nguyên tắc tổ chức của một Nhà nước pháp quyền, dù không thực hiện tam quyền phân lập.
Hơn nữa, để đảm bảo Nhà nước pháp quyền trước hết phải là một nhà nước hợp pháp, hợp hiến, không lâu sau khi khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được triển khai thực hiện thông qua việc tổ chức Tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, đoàn kết để bầu Quốc hội khóa I (6/1/1946); để Quốc hội trao quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ chính thức và thông qua Hiến pháp 1946. Theo đó, Điều 1, Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Đây chính là minh chứng cho quan điểm nhân dân là chủ thể tối cao, duy nhất của quyền lực Nhà nước. Cho nên, mọi luận điệu cho rằng, không thể có một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị của các thế lực thù địch đều là xuyên tạc, bôi đen sự thật.
Thực tế, từ bản chất Nhà nước của dân, do dân, vì dân, ở Việt Nam, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (29/11/1991); tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (1/1994) là “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”(2) cũng như trong các văn kiện khác của Đảng sau đó như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. Đặc biệt, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp (lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001)(3); đến Điều 2, Hiến pháp năm 2013 thì khẳng định rõ: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” và nhất là vấn đề “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(4) (một nội dung quan trọng của Đại hội XIII)… chính là những dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng, củng cố và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo. Đó đồng thời cũng là quá trình hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trên tinh thần dựa vào dân, lấy dân làm gốc; nhân dân là nguồn gốc và chủ thể của quyền lực Nhà nước; tất cả vì lợi ích của nhân dân: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức lên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(5).
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA KHẲNG ĐỊNH VÀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ của công dân không chỉ được pháp luật thừa nhận, tôn trọng, mà còn được bảo đảm thực hiện, thúc đẩy trong khuôn khổ pháp luật; quyền con người, quyền công dân, sự bình đẳng của mọi cá nhân không chỉ được khẳng định mà còn được bảo vệ, tôn trọng trong việc thụ hưởng và phát triển, không có sự phân biệt đối xử. Những nguyên tắc này không chỉ được khẳng định trong các bản Hiến pháp, mà còn được bổ sung, điều chỉnh và ngày càng hoàn thiện, đảm bảo để mọi người dân đều được tôn trọng, thụ hưởng, bảo vệ ngày càng đầy đủ hơn. Cụ thể, Chương “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” đứng vị trí thứ hai trong Hiến pháp năm 1946; trong đó ghi rõ công dân Việt Nam có các nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật; công dân Việt Nam có quyền bình đẳng trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, nhất là mọi công dân đều có thể tham gia vào chính quyền và công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước…
Sau đó, lần đầu tiên thuật ngữ “quyền con người” được ghi nhận chính thức tại Điều 50, Hiến pháp năm 1992: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Quyền công dân ở Hiến pháp năm 1992 cũng được mở rộng hơn so với Hiến pháp 1946, 1959, 1980 rất nhiều; trong đó có nhiều quyền mới trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội lần đầu được ghi nhận như quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 57); quyền của cá nhân được suy đoán vô tội (Điều 72)…
Khoản 1 Điều 14 tại Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” của Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đặc biệt, khoản 2 Điều 14 bổ sung nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đây không chỉ là sự phát triển, ghi nhận quyền con người, quyền công dân so với các bản Hiến pháp trước, mà còn là điều kiện để bảo đảm sự cân bằng, minh bạch trong mối quan hệ giữa Nhà nước với con người, công dân phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên cũng như hạn chế tối đa sự lạm dụng, tùy tiện quyền con người, quyền công dân…
Vì thế, theo Hiến pháp Việt Nam, thì không có cá nhân hay tổ chức nào có ý kiến tâm huyết nhằm làm cho đất nước phát triển mà “bị Nhà nước vu khống, bắt giam”; đồng thời, cũng càng không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” bị giam giữ, mà chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng truy tố, xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Thực chất việc đột lốt dân chủ, giả danh đấu tranh cho dân chủ để vi phạm pháp luật khác về bản chất với những ý kiến tâm huyết, đóng góp vì sự phát triển cảu đất nước. “Tù nhân lương tâm” chỉ là sự đánh tráo khái niệm, là cách gọi của các phần tử cơ hội, phản động dành để gọi những người, bị kết án và phải chấp hành hình phạt tù. Đó chính là những người đã tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017). Đó cũng là những người lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo Điều 331, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).
Cho nên, cần phải khẳng định chắc chắn rằng, không phải trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì mọi ý kiến “phản biện”, “tâm huyết” để “phát triển đất nước”, để “giúp người dân được sống tự do, hạnh phúc” của những người “yêu nước” đều bị bỏ tù như luận điệu phản động của các thế lực thù địch, mà chỉ có những người vi phạm pháp luật như Phạm Thị Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Văn Túc, Huỳnh Trương Ca, Lê Đình Lượng, Bùi Hiếu Võ, Đoàn Khánh Vinh Quang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Văn Hoá... thì phải chịu sự xử lý nghiêm minh của luật pháp. Cho nên, không có việc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, mà là ở Việt Nam thì thượng tôn pháp chế xã hội chủ nghĩa là tất yếu!
Cuối cùng, phải khẳng định rằng: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(6). Vì thế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyện vọng và sự lựa chọn của nhân dân, phù hợp với xu hướng phát triển nhà nước trên thế giới, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cân nhắc, vận dụng và triển khai phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đó là sự thật và cũng là yêu cầu của lịch sử, chứ không phải là “nhà nước này không do dân chọn” mà là bị Đảng “nhét chữ vào miệng” như quy chụp; đồng thời cũng cho thấy nhận định “Nhà nước ở Việt Nam thời cộng sản không phải của dân, do dân và vì dân mà là “của Đảng, do Đảng và vì Đảng” của các thế lực thù địch là không khách quan, là bôi đen sự thật, là sự dối trá.
Thực tế, quá trình xây dựng và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được thực thi vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn “dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm”(7) và “đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(😎 cũng như những kết quả đạt được về chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, thực hiện an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo; về đảm bảo và thực thi quyền con người, quyền công dân, bảo vệ công lý... của Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là minh chứng cho thấy luận điệu “nhân dân không bầu ra nhà nước này mà do Đảng tự lập ra để cai trị độc tài” của các thế lực thù địch là phản động, là nhằm mục đích kích động, phủ nhận bản chất “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên cần phải bác bỏ!
St

KHÁT VỌNG HỒ CHÍ MINH: ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC

 Suốt cả cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nung nấu khát vọng cháy bỏng là “Đất nước được độc lập, Tổ quốc được phồn vinh, Nhân dân được hạnh phúc” và Người đã đấu tranh không mệt mỏi cho khát vọng cao cả đó.

Khát vọng cao cả “độc lập, tự do” được hun đúc trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Khát vọng ấy đã được khắc ghi trong những bản áng thiên cổ hùng văn, từ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt đến “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi và được tỏa sáng trong “Tuyên ngôn Độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc không chỉ là khát vọng của dân tộc Việt Nam, mà là của toàn nhân loại tiến bộ và đã được Hiến chương Liên hợp quốc và Công ước quốc tế về quyền con người ghi nhận. Vì những giá trị thiêng liêng, cao quý mà nhân loại tiến bộ, trong đó có Nhân dân Việt Nam đã không ngại hy sinh, gian khổ đấu tranh để giành lấy, giành lại “độc lập, tự do”. Sáu chữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” ghi dưới quốc hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hiện thân khát vọng của toàn dân tộc và sự hiện thực hóa tâm nguyện, ý chí của Hồ Chí Minh từ những năm 1920 “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, khát vọng “độc lập, tự do, hạnh phúc” luôn cháy bỏng. Đầu năm 1946, sau thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời các nhà báo nước ngoài: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” và Người đã nguyện cùng Đảng ta, Nhân dân ta kiên trì thực hiện “ham muốn tột bậc” đó.
Xuất phát từ đâu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lại có “một ham muốn, ham muốn tột bậc như vậy”? Trả lời câu hỏi này có nhiều khía cạnh, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và nền tảng văn hóa gia đình, quê hương, dân tộc cùng với những phẩm chất cá nhân hiếm có của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Chính bắt đầu từ lòng yêu nước với khát vọng cháy bỏng về một đất nước độc lập, một dân tộc tự do... đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành khi mới 21 tuổi dũng cảm rời đất nước ra đi với hai bàn tay trắng, sẵn sàng làm đủ mọi nghề, từ bồi tàu, thủy thủ, đốt lò, đến quét tuyết, bán diêm, bán báo... miễn là để sống, sống để đi, đi để quan sát, học hỏi nhằm “tìm ra con đường đúng đắn có thể đem lại độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân”.
Trên hành trình bôn ba qua nhiều quốc gia, châu lục để tìm con đường giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, giải phóng đồng bào mình khỏi áp bức bất công và cao hơn nữa là giải phóng giai cấp, giải phóng con người, để mỗi dân tộc, mỗi con người đều được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, khảo nghiệm và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, lựa chọn được con đường cứu nước đúng đắn theo ngọn cờ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917: Con đường cách mạng vô sản.
Khi đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, Hồ Chí Minh quyết vượt qua mọi chông gai, bão táp để trở về nước cùng Đảng ta trực tiếp lãnh đạo Nhân dân làm cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành lại chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trở thành một quốc gia độc lập, tự do; Nhân dân Việt Nam đã giành lại được quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền tự quyết định sự tồn tại và phát triển của dân tộc mình. Tuy nhiên, cũng phải trải qua 30 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược đầy gian khổ và hy sinh, với thắng lợi Điện Biên Phủ năm 1954 kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và thắng lợi của cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Khát vọng độc lập, tự do của Hồ Chí Minh đã trở thành hiện thực.
Ca ngợi về khát vọng độc lập, tự do của Hồ Chí Minh, nhà thơ Rô-mét Chan-đra - Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới đã viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do/Ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.
Bên cạnh khát vọng cháy bỏng “độc lập, tự do”, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có một khát vọng, ham muốn tột bậc là “đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Với khát vọng ấy mà Người luôn suy nghĩ, trăn trở không nguôi việc sau khi đất nước giành được độc lập, tự do thì phải làm sao cho dân giàu, nước mạnh; có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Bởi theo Người “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”; “Nước nhà đã giành được độc lập, tự do mà dân vẫn còn đói nghèo cực khổ thì độc lập, tự do không có ích gì”... Và Người đã tận trí, tận tâm, tận lực để làm những công việc đó. Minh chứng sinh động và rõ nét nhất là trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, Người đã nêu 6 vấn đề cấp bách trong đó diệt giặc đói, diệt giặc dốt được đặt lên hàng đầu. Người đã nêu ra biện pháp là phát động chiến dịch tăng gia sản xuất, mở cuộc lạc quyên, tất cả đồng bào mười ngày nhịn ăn một bữa để tiết kiệm gạo cho người nghèo... Bên cạnh giải quyết vấn nạn đói, Người còn chỉ đạo nhanh chóng khắc phục vấn nạn dốt, ban hành sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, yêu cầu tất cả mọi người học chữ quốc ngữ bắt buộc và không mất tiền...
Cũng chính từ ham muốn tột bậc “đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, mà suốt cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho mỗi con người, quyền có cuộc sống ấm no, được học hành, được chăm sóc sức khỏe; trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc; người già, người nghèo, người tàn tật được giúp đỡ... Các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội được chú trọng và hoàn thiện. Ở Hồ Chí Minh, quyền dân tộc và quyền con người là thống nhất, hòa quyện không chỉ trong nhận thức mà cả trong hành động; trong quan điểm, đường lối, chính sách và thực hành pháp luật. Và theo Người, điều đó cũng chỉ thực hiện được trong điều kiện một dân tộc thực sự độc lập, tự do. Ngược lại, nếu không có độc lập, tự do chân chính, bền vững thì không thể thực hiện được quyền con người và thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản, thiết thực của con người.
Mặc dù khi Bác Hồ về với “thế giới người hiền”, khát vọng “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" còn đang dang dở, nhưng Người đã để lại Di chúc trong đó dặn dò cụ thể các công việc cần làm. Tiếp tục thực hiện khát vọng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta đánh đuổi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Bắc - Nam sum họp một nhà, đất nước thống nhất, đồng bào ta được tự do, cả nước tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho “đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Trải qua chặng đường 48 năm xây dựng đất nước sau chiến tranh, đặc biệt là hơn 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử... Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Tiếp nối ý chí, khát vọng độc lập của Tổ quốc, hạnh phúc cho Nhân dân, hùng cường cho dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã biểu thị quyết tâm: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Cứ mỗi độ 19 tháng 5 về, mỗi người dân yêu nước Việt Nam lại bồi hồi xúc động, tỏ lòng thành kính biết ơn công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đất nước, dân tộc Việt Nam. Tuy Bác Hồ đã đi xa nhưng di sản của Người để lại, trong đó có khát vọng “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” vẫn mãi mãi trường tồn, tiếp sức cho người dân Việt Nam và con cháu muôn đời mai sau. Bổn phận, trách nhiệm của chúng ta là bảo tồn, phát huy, phát triển và biến di sản của Người trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh nhằm bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, vì một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”./.
St