Thứ Năm, 14 tháng 9, 2023

Lời Bác dạy Ngày 28 tháng 8


“Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đại đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài có đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh việc nước”.

Là khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính sách của Chính phủ đối với thành phần tham gia Chính phủ trong lần trả lời phóng viên Báo Độc lập, ngày 28 tháng 8 năm 1947 về thành phần tham gia Chính phủ mở rộng.

Hồ Chí Minh luôn nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng. Đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một sách lược, thủ đoạn chính trị nhất thời, mà là chiến lược, là yêu cầu khách quan của cách mạng Việt nam; xuyên suốt, nhất quán trong tư duy, lý luận của Người, có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc. Do vậy, trong thành phần Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có các vị là quan lại của chế độ cũ, là người theo Công giáo.

Với quan điểm, tư tưởng phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xây dựng được một khối đại đoàn kết với sức mạnh to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn tiếp tục khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam trong nước và ngoài nước đều tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta luôn coi trọng, đề cao tinh thần yêu nước, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung và lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng cho các tầng lớp nhân dân, tạo nên sự đồng thuận xã hội; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích của quốc gia - dân tộc. Đảng lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng.

Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng ta, luôn gương mẫu đi đầu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, là lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, vận động và đoàn kết với nhân dân thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Thông qua công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,… cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã góp phần tích cực xây dựng khối đoàn kết các dân tộc Việt Nam, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc như sinh thời Bác kính yêu hằng mong ước.

Lời Bác dạy Ngày 27 tháng 8

 

“Chủ nghĩa Mác - Lê nin dạy chúng ta rằng: Muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù, phải thực hiện thêm bạn, bớt kẻ thù”.

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác mặt trận”, Bác nói cuối tháng 8 năm 1962, Báo Nhân dân đăng trên số 3081, ngày 31 tháng 8 năm 1962.

Lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước đã nhắc nhở dân tộc ta phải kiên định thực hiện nhất quán quan điểm “thêm bạn, bớt thù” và được Đảng, Nhà nước ta vận dụng sáng tạo trong điều kiện mới với việc đổi mới tư duy từ “bạn và thù” sang “đối tác và đối tượng” - cái mới, bước đột phá khẳng định trí tuệ, bản lĩnh của Đảng ta trong đổi mới, hội nhập quốc tế. Từ những vấn đề rất cơ bản có tính định hướng về “đối tác, đối tượng” trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (năm 1991), được bổ dung, phát triển thành quan điểm trong Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng. Mặt khác, trong tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng. Trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh”[3]. Đây chính là điều kiện, tiền đề quan trọng để Đảng ta lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đạt được những thành tựu bước đầu có ý nghĩa chiến lược, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục để bộ đội nhận rõ “đối tác, đối tượng”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy. Nói và làm đúng nghị quyết; có thái độ phân biệt đúng, sai, bạn, thù đúng đắn, ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Lời Bác dạy Ngày 26 tháng 8

 

“Quân và dân ta cố gắng thi đua giết giặc lập công, thi đua tăng gia và tiết kiệm, thì tình hình giặc sẽ bi hơn nữa và thắng lợi nhất định về ta”. 

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “12 vạn 5 nghìn binh sĩ Pháp chết và bị thương” đăng trên Báo Cứu quốc, số 2151, ngày 26 tháng 8 năm 1952.

Đây là giai đoạn tình hình nước Pháp trở nên rối ren với những diễn biến bất lợi trên chiến trường Đông Dương. Ở Việt Nam, quân Pháp chủ trương thực hiện chiến lược phòng ngự, ráo riết bình định các vùng tạm chiếm; nhưng liên tiếp gặp phải sự kháng cực mạnh mẽ của quân và dân ta dẫn đến thất bại nặng nề. Trung ương Đảng chủ trương: “Đánh dài ngày, đánh liên tục, tiến từng bước chắc, đồng thời sẵn sàng nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng. Về chiến thuật là vây điểm, diệt viện; diệt viện, phá điểm”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời viết bài thông tin trên báo chí để quốc dân đồng bào biết về những tổn thất nặng nề của thực dân Pháp trên các chiến trường và chính sự rối ren trong nội bộ nước Pháp. Đồng thời, Người căn dặn, động viên, cổ vũ quân và dân cả nước nỗ lực thi đua để nhanh chóng giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc..

Quán triệt và thực hiện những chỉ huấn của Người, phong trào thi đua yêu nước trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hưởng ứng tham gia với các phong trào thi đua: “Hũ gạo kháng chiến”, “Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công, đồng bào ở hậu phương thi đua tăng gia sản xuất”, “ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền tuyến”, “người người thi đua, ngành ngành thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”… đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước của dân tộc, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, góp phần đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, kiến quốc, lập nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lững lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Học tập và làm theo lời Bác dạy trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, phong trào thi đua Quyết thắng đã sớm hình thành và được duy trì thường xuyên, liên tục với nhiều hình thức phong phú, sôi động, có chiều sâu và sức lan tỏa rộng; gắn kết chặt chẽ giữa thi đua thường xuyên với các đợt thi đua cao điểm, đột kích, các phong trào, các cuộc vận động của các cấp, các ngành, tạo thành phong trào hành động cách mạng sôi nổi, rộng khắp trong toàn quân. Phong trào thi đua Quyết thắng đã khơi dậy ý thức tự lực, tự cường, sức sáng tạo, động viên tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ, phấn đấu bền bỉ, liên tục trong từng tập thể, cá nhân góp phần rèn luyện, xây dựng bản lĩnh, nhân cách người quân nhân cách mạng, phẩm chất cao đẹp“Bộ đội Cụ Hồ”, nâng cao chất lượng chính trị, sức mạnh tổng hợp, lập nên những chiến công oanh liệt trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. 

Lời Bác dạy Ngày 25 tháng 8

 

 “Giáo dục nhi đồng là một khoa học. Các bạn hãy cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, để tiến bộ mãi, nhất là phải làm kiểu mẫu trong mọi việc cho các em bắt chước.

Như vậy, các bạn sẽ thành công”.

Là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc” Bác viết ngày 25 tháng 8 năm 1950.

Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược diễn ra gay go, ác liệt; Việt Bắc được lựa chọn là căn cứ địa (ATK) hoạt động lãnh đạo cách mạng của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặc dù cuộc sống và công việc ở chiến khu bộn bề khó khăn, vất vả, hiểm nguy, nhưng Bác Hồ vẫn luôn theo sát phong trào thiếu nhi và công tác chăm sóc, giáo dục thiếu nhi, lớp “công dân đặc biệt”, “…người chủ tương lai của nước nhà”.  Tình thương yêu trẻ luôn thường trực trong tâm can của Bác; sự quan tâm của Bác đối với trẻ em gắn chặt với những trăn trở về tương lai của dân tộc, của đất nước, đặc biệt là vai trò của các cô giáo trực tiếp nuôi dạy, chăm sóc các cháu nhi đồng.

Thấu triệt chỉ huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước, ngành giáo dục và đào tạo nước ta luôn xác định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục mầm non - bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục lâu dài, nhằm hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em. Niềm tin, hi vọng của từng gia đình và cả xã hội về tương lai của trẻ, của đất nước trông trờ ở sự phát triển hằng ngày ở lứa tuổi măng non. Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình chăm sóc, giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ. Do vậy, phẩm chất đạo đức, trình độ, kỹ năng, tính mô phạm trong cuộc sống hằng ngày, sự say mê yêu nghề, yêu trẻ của đội ngũ giáo viên mầm non có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của các cháu.

Thực hiện chức năng đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phát huy truyền thống “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” tham gia cùng cả hệ thống chính trị và cộng đồng chung sức, đồng lòng quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ trẻ em. Các nhà trẻ, trường mầm non thuộc các đơn vị doanh nghiệp, học viện, nhà trường trong quân đội thực sự là những điểm sáng kiểu mẫu về mô hình giáo dục thế hệ mầm non của đất nước. Đặc biệt nhiều đơn vị Bộ đội Biên phòng đã nhận nuôi dưỡng, cưu mang nhiều trẻ nhỏ con em đồng bào dân tộc thiểu số mồ côi cha mẹ hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng. Nhiều Đồn, Trạm Bộ đội Biên phòng đã trở thành ngôi nhà thứ hai, là điểm tựa nuôi dưỡng và thắp sáng tương lai cho những trẻ em kém may mắn; qua đó thắt chặt hơn tình quân dân cá - nước nơi phên dậu của Tổ quốc, để không trẻ em nào bị để lại phía sau. Đây chính là những việc làm thiết thực về học tập và làm theo Bác Hồ kính yêu, thiết thực góp phần làm cho phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” sáng mãi trong niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

M Lời Bác dạy Ngày 24 tháng 8

 

“Giữ gìn trật tự, trị an tốt thì dân mới an cư lạc nghiệp. Muốn giữ gìn trật tự, an ninh tốt, phải dựa vào nhân dân để ngăn ngừa bọn làm trái phép”.

Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi nói chuyện với cán bộ và đại biểu nhân dân các dân tộc tỉnh Lào Cai, ngày 24 tháng 8 năm 1958.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự ổn định chính trị, xã hội, môi trường hòa bình, hợp tác, tạo thế và lực cho sự phát triển của đất nước, cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu xuyên suốt của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do vậy, cần phải phát huy sức mạnh cả hệ thống chính trị, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; vai trò làm chủ, sức mạnh tiềm tàng của nhân dân, thực sự là “tai mắt”, là chỗ dựa tin cậy để các lực lượng chức năng (nòng cốt là công an nhân dân) đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch và tội phạm, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật trật an toàn xã hội, cuộc sống của nhân dân.

Thấu triệt lời Bác dạy, Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh việc quán triệt và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, đã chủ động, tích cực phối hợp với Công an nhân dân giữ vững an ninh chính trị, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống theo đúng tinh thần Nghị định số 77/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng; tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển ổn định, bền vững đất nước; giữ gìn cuộc sống bình yên của nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn khắc ghi và làm đúng lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân; hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”; tích cực giúp dân xóa đói, giảm nghèo… thiết thực góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong tình hình mới.

M Lời Bác dạy Ngày 23 tháng 8 “Nghĩa vụ một người dân là phải yêu Tổ quốc”.

 

Lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong bài “Hãy yêu thương nhau và cùng nhau đoàn kết”, Người viết tại Quảng Châu, Trung Quốc, đăng trên Báo Thanh niên, số 9, ngày 23 tháng 8 năm 1925. Đây là giai đoạn phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân đang diễn ra mạnh mẽ, rộng khắp trên thế giới cũng như ở Đông Dương.

Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua những chặng đường đầy gian lao thử thách, nhưng vẫn trường tồn và phát triển bởi đã rèn đúc nên bản lĩnh vững vàng, mang đậm tính cách và khí phách của dân tộc, hình thành và hun đúc nên truyền thống yêu nước Việt Nam. Truyền thống ấy đã thấm sâu vào trong mỗi người dân, tạo nên tâm hồn, bản lĩnh và trí tuệ của các thế hệ người Việt và sức mạnh to lớn của dân tộc để chiến đấu, chiến thắng thiên tai, địch họa. Lời kêu gọi của Hồ Chí Minh đã tập hợp, quy tụ người Việt Nam không phân biệt đàn ông, đàn bà, già, trẻ, đảng phái, tôn giáo, dân tộc… đoàn kết, đấu tranh chống thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn mài sắc lý tưởng chiến đấu, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; đề cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; đoàn kết nội bộ tốt, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, gắn bó máu thịt với nhân dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy phản ánh bản chất cách mạng và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

M Lời Bác dạy Ngày 22 tháng 8 “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

 

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Phải theo đúng kỷ luật của Đảng” đăng trên Báo Nhân dân số 217, từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 8 năm 1954; bút danh “C.B”.

Sau thắng lợi của cách mạng tháng 8 năm 1945, nhân dân ta giành được chính quyền, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, với mục đích duy nhất là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, giải phóng nhân dân khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc. Cũng từ đó, Đảng ta vừa là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, nên tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc của Đảng thống nhất với nhau, không thể tách rời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai lợi ích của Đảng ta trước quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế, thể hiện sâu sắc giá trị lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng Đảng; vừa thể hiện một cách đúng đắn và nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, đây còn là tư tưởng chỉ đạo để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên hành động đúng tôn chỉ, mục đích của Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp, nhân dân lao động và của dân tộc lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thấm nhuần lời Bác dạy, cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân; ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... Càng trong khó khăn, gian khổ bản lĩnh chính trị, niềm tin và ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với nhân dân của cán bộ, chiến sĩ quân đội càng được khẳng định, phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

M Lời Bác dạy Ngày 21 tháng 8 “Lo cứu nước tức là lo cứu mình”.


Lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong bài “Dân cày”, đăng trên Báo Việt Nam độc lập, số 103, ngày 21 tháng 8 năm 1941.

Để tập hợp toàn dân tộc đấu tranh giành chính quyền, giành độc lập, tự do cho đất nước, giải phóng dân tộc khỏi sự thống trị, áp bức của thực dân Pháp xâm lược và chế độ phong kiến, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết bài:“Lo cứu nước tức là lo cứu mình” đăng trên báo Dân cày. Người đã chỉ rõ,  trong đời sống của dân ta đang bị áp bức, bóc lột dưới chế độ thực dân, phong kiến tàn bạo, hà khắc. Do vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải cùng nhau đứng lên đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến, đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho đất nước, giải phóng dân tộc và đó cũng chính là cách thức tốt nhất để tự cứu mình trước ách đô hộ, cai trị của đế quốc, thực dân, phong kiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thức tỉnh, giác ngộ, động viên và tập hợp lực lượng của cả dân tộc đứng lên chống chế độ phong kiến, chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập, tự do cho dân tộc và cứu chính bản thân mình, gia đình mình.

Trải qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng toàn dân anh dũng chiến đấu, lập nên nhiều chiến công oanh liệt: Đánh thắng hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đưa vị thế nước ta ngày càng nổi bật trên trường quốc tế. Tuy nhiên, tình hình thế giới, khu vực đang thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường… đặt ra cho Quân đội ta những yêu cầu mới và đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn, để tập trung xây dựng quân đội nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xâm chiếm chủ quyền, quyền chủ quyền trên biển, đảo, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phi chính trị hóa quân đội, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược (kể cả chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao) nếu như chúng liều lĩnh gây ra, đó chính là đã thực hiện trọn vẹn lời Bác Hồ dạy: “Lo cứu nước tức là lo cứu mình”.

M Lời Bác dạy Ngày 20 tháng 8


“Phải quyết chiến quyết thắng, những chớ chủ quan khinh địch…”.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Việc đình chiến ở Triều Tiên” đăng trên Báo Nhân dân, số 130, từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 8 năm 1953; bút danh C.B.

Chiến tranh Triều Tiên kéo dài từ giữa năm 1950 đến giữa năm 1953, chiến cuộc tạm ngưng khi hai miền đạt được một thỏa hiệp ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953. Song, thương vong lớn tất cả các bên tham chiến; trong đó có quân đội Mỹ. Việc đình chiến ở Triều Tiên góp phần cổ vũ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên thế giới; trong đó, tinh thần của quân và dân ta hăng hái lên cao, có lợi cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đang ở giai đoạn quyết liệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời nhắc nhở quân và dân ta luôn giữ vững tinh thần quyết chiến, quyết thắng, không được chủ quan khinh địch.

Thực hiện lời Bác dạy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, vượt mọi gian khổ, hiểm nguy, chiến đấu kiên cường dũng cảm với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, thống nhất đất nước.

Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được Đảng, Bác Hồ trực tiếp tổ chức, giáo dục và rèn luyện; kế thừa truyền thống tốt đẹp, hào hùng của dân tộc và tinh hoa của nhân loại về quân sự, chính trị, đặc biệt là tinh thần quyết chiến, quyết thắng - một nhân tố đặc trưng tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của quân đội ta. Ý chí quyết chiến, quyết thắng được thể hiện sâu sắc và triệt để trong các giai đoạn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta, đã tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, góp phần vào thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, cán bộ, chiến sĩ quân đội tiếp tục giữ vững và phát huy ý chí quyết chiến, quyết thắng, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận thức rõ đối tượng, đối tác, phối hợp chặt chẽ các hoạt động quốc phòng với an ninh và đối ngoại nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2023

 VIỆT NAM-CAMPUCHIA-LÀO: TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ HỮU NGHỊ TRUYỀN THỐNG

Ngày 6/9, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia và Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Lào có Cuộc gặp cấp cao Việt Nam-Campuchia-Lào.

Ngày 6/9, tại Thủ đô Hà Nội, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) Samdech Techo Hun Sen và Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith có Cuộc gặp cấp cao Việt Nam-Campuchia-Lào.

Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng nhằm củng cố, tăng cường hơn nữa quan hệ giữa ba Đảng và nhân dân ba nước Việt Nam-Campuchia-Lào trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp và cả ba Đảng, ba nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

 TRỌN VẸN MỘT ĐỜI LÀM THEO LỜI BÁC

“Thanh niên là chủ nước nhà/ Phải cho huấn luyện mới là thanh niên”, các cháu ạ, ngày xưa thượng cấp (cách gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi người vừa về nước năm 1941) đã dạy ông như thế đấy” - ở tuổi 107, dù trí nhớ đã suy giảm nhiều, nhưng bài thơ Bác Hồ tặng những thanh niên ưu tú được cách mạng lựa chọn đi học tại Trường Võ bị Hoàng Phố (Trung Quốc) thì Đại tá Hoàng Long Xuyên, nguyên Giám đốc Công an Khu tự trị Việt Bắc kiêm Chỉ huy trưởng Công an nhân dân vũ trang (nay là BĐBP) Khu tự trị Việt Bắc, nguyên Trưởng phòng Điều tra hình sự BĐBP vẫn nhớ như in trong tâm khảm.

Giác ngộ cách mạng từ rất sớm, chàng trai dân tộc Nùng chất phác, thật thà Hoàng Văn Tứ từ vùng rừng Hòa An, Hà Quảng, Cao Bằng đã được đơn vị đặt bí danh là Hoàng Long Xuyên và trở thành một trong những người tiểu đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Tuy không có tên trong danh sách 34 chiến sĩ đầu tiên do bị lạc rừng khi từ Trung Quốc trở về, nhưng ngay khi hội quân, Hoàng Long Xuyên đã được phân công về gây dựng cơ sở cách mạng tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Ngày nhập ngũ của ông trong hồ sơ cán bộ vẫn được công nhận là ngày 22/12/1944 và kể từ đó, cái tên Hoàng Long Xuyên đã gắn với những chiến công vang danh núi rừng Việt Bắc của Trung đoàn “Long Xuyên” (tên gọi khác của Trung đoàn 28 Lạng Sơn do ông là Trung đoàn trưởng).

Trong đời binh nghiệp của mình, ông lần lượt đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng như Phó Tư lệnh Mặt trận Tả Giang - Long Châu trong Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn (1949), chỉ huy một trong những mũi tiến công trọng yếu trong Chiến dịch Biên giới (1950), rồi Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn... Nhưng đối với chúng tôi, ông vừa là cha anh, vừa là tiền bối, bởi người cộng sản kiên trung này dẫu từng trải qua nhiều cương vị, nhưng lâu nay, ông luôn mang trên vai màu quân hàm xanh.

Tháng 3/1945, Hoàng Long Xuyên đã cùng các đồng chí trong tiểu đội du kích Hòa An đánh chiếm các khu vực quan trọng của địch, giành chính quyền. Và ngay sau ngày giành chính quyền, ông đã được kết nạp Đảng. Chỉ với áo vải, dép lốp và vũ khí đơn sơ, những năm kháng chiến chống Pháp sau này, ông Hoàng Long Xuyên đã cùng với Trung đoàn Long Xuyên tham gia rất nhiều chiến dịch quan trọng, làm cho quân Pháp và bè lũ tay sai khiếp sợ.

Đến năm 1949, nhận lời đề nghị của cách mạng Trung Quốc, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương quyết định phối hợp với Giải phóng quân Trung Quốc mở Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, giải phóng biên khu Việt Quế thuộc tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông, Trung Quốc do tàn quân của Tưởng Giới Thạch chiếm đóng. Nhiệm vụ quốc tế đầu tiên ấy đã được Đại tá Hoàng Long Xuyên cùng bao chiến sĩ Giải phóng quân Việt Nam hoàn thành xuất sắc, giúp bạn đánh tan quân Tưởng ở vùng biên khu và thành lập chính quyền cách mạng. Từ Trung Quốc trở về, ông cùng đơn vị của mình tiếp tục chiến đấu anh dũng với thực dân Pháp tại vùng Đông Bắc cho tới khi quân dân ta giành được chiến thắng tại lòng chảo Điện Biên và được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.

Năm 1956, Khu tự trị Việt Bắc được thành lập gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên và huyện Hữu Lũng (của tỉnh Bắc Giang). Bộ máy hành chính của khu tự trị hình thành, ông Hoàng Long Xuyên được chỉ định làm Giám đốc Công an khu tự trị. Năm 1960, ông kiêm nhiệm thêm vai trò Chỉ huy trưởng Công an nhân dân vũ trang Khu tự trị Việt Bắc. Suốt 19 năm, ông đã hoàn thành xuất sắc vai trò người đứng đầu chỉ đạo công tác bảo vệ trị an cho nhân dân yên tâm làm ăn, sản xuất, chống biệt kích, giản điệp và các thế lực thù địch ở 7 tỉnh thuộc liên khu Việt Bắc, góp sức, góp công cùng cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Có lẽ cần nói thêm rằng, vào thời điểm giặc Mỹ tăng cường ném bom bắn phá miền Bắc, bao vây, phong tỏa các cảng biển cũng như các tuyến giao thông đường bộ của ta, các tỉnh giáp biên thuộc khu tự trị là cửa ngõ quan trọng trong việc tiếp nhận những nguồn hàng viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa. Giám đốc Hoàng Long Xuyên đã chỉ đạo Công an các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng triển khai cán bộ xuống các địa bàn có cửa khẩu trọng điểm để bảo vệ an toàn cho hàng vạn lượt xe quá cảnh vận chuyển hàng viện trợ của các nước bạn và bảo vệ dọc theo quốc lộ để kịp thời ứng cứu, hỗ trợ khi bị máy bay bắn phá.

Là người Nùng, ông thấu hiểu phong tục tập quán của địa phương và đã đề ra chủ trương đưa các chiến sĩ công an, công an vũ trang về các bản ở “hành lang Mán”, “xứ Nùng tự trị” để vận động bà con tham gia xây dựng đời sống mới, không tiếp tay cho phỉ. Bản thân ông trực tiếp tham gia chỉ đạo các chuyên án bóc gỡ và trấn áp các băng đảng phản cách mạng hoạt động lén lút hòng âm mưu bạo loạn, lật đổ chính quyền, như: “Trung Việt phản công cứu quốc quân chính nghĩa” (1960), “Việt Hoa cứu quốc” (1962)... Công an nhân dân vũ trang các tỉnh thuộc khu tự trị đã anh dũng tham gia chiến đấu trên các trận địa pháo cao xạ, bắn rơi nhiều máy bay bằng súng bộ binh, bảo vệ an toàn các công trình trọng điểm, các mục tiêu quan trọng như Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên, quốc lộ 1, khu nhà ga Đồng Đăng...

Đặc biệt, năm 1961, trong chuyến Bác Hồ về thăm lại Cao Bằng, ông là người đã cùng Đại tá Mai Trung Lâm, Chính ủy Công an nhân dân vũ trang Khu tự trị Việt Bắc báo cáo với Bác về việc có nhiều vùng đất lịch sử của ta bị Pháp đổi cho Trung Quốc theo Hiệp định Pháp Thanh, đồng thời có biểu hiện người dân nước bạn xâm canh, xâm cư vào đất của Việt Nam ngày càng nhiều.

Được sự chỉ đạo của Bác Hồ và Công an nhân dân vũ trang Trung ương, đầu năm 1962, Công an nhân dân vũ trang Khu tự trị Việt Bắc đã tiến hành đàm phán về biên giới với Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, đề nghị lực lượng bảo vệ biên giới của bạn hạn chế người dân sang xâm canh, xâm cư trên đất của ta. Bộ Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang cũng quyết liệt đấu tranh trên thực địa với nhân dân nước bạn, yêu cầu họ rút về biên kia biên giới.

Tháng 12/1975, Khu tự trị Việt Bắc giải thể, Đại tá Hoàng Long Xuyên về công tác tại Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang, đảm nhận vai trò Trưởng phòng Điều tra hình sự cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1986. Khiêm cung và giản dị, lời ông nói đầy thấm thía: “Không có cách mạng thì không có mình, cháu ạ. Dẫu có thiệt thòi thì ông còn may mắn hơn những người đã hy sinh. Dẫu có thế nào vẫn phải luôn giữ trọn vẹn hiếu trung mới là người cộng sản”.

Ngày 27/8/2023, người cán bộ lão thành trọn đời làm theo lời Bác ấy đã thanh thản ra đi. Trong giờ khắc tiễn biệt ông, Thượng tướng Bế Xuân Trường, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã khẳng định: Đồng chí là tấm gương sáng cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam học tập và noi theo. Đồng chí cũng là tấm gương sáng, mẫu mực trong gia đình, của địa phương và quê hương Việt Bắc.

 

Nguyễn Ái Quốc và lớp huấn luyện ở vùng biên giới Việt - Trung

(LLCT) - Tháng 10-1940, Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện cho hơn 40 thanh niên các dân tộc Cao Bằng vượt biên giới sang làng Nậm Quang (xã Cát Thôn, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) - một làng nằm sát biên giới Việt -Trung để tìm đến với cách mạng, với lãnh tụ cách mạng. Đây là bước chuẩn bị lực lượng vô cùng quan trọng, làm nòng cốt cho cuộc trở về Tổ quốccủa Người để xây dựng căn cứ địa cách mạng, trực tiếp chỉ đạo cách mạng trong nước đi tới thành công.

Trong hành trình 30 năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước,Nguyễn Ái Quốc -Hồ Chí Minh luôn cómong muốncháy bỏngsớm“trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(1).

Để thực hiện được mong muốn đó, Người đã phải trải qua một chặng đường đầy gian nan, nguy hiểm, dưới sự truy lùng gắt gao của thực dân Pháp, nên mặc dù nhiều lần tìm đường trở về Tổ quốc nhưng đều chưa thực hiện được. Đầu năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được phân công trở về hoạt động tại Côn Minh (Trung Quốc), được sự giúp đỡ của những người cách mạng Trung Quốc, Người đã bắt được mối liên lạc với Ban Hải ngoại của Đảng ta. Tình hình thế giới và trong nước thời gian này có những chuyển biến nhanh chóng. Ngày 15-6-1940, phát xít Đức tấn công nước Pháp. Ngày 22-6-1940, Chính phủ Pháp đầu hàng không điều kiện phát xít Đức. Nhận thấy thời cơ giải phóng dân tộc đang tới gần, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập cuộc họp với các đồng chí trong Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng ta, phân tích rõ tình hình và tìm đường về nước lãnh đạo cách mạng.

Trên hành trình về đến gần Tổ quốc, tháng 10-1940, khi được biết cóhơn 40 thanh niên các dân tộc Cao Bằng dobị thực dân Pháp khủng bố đã vượt biên giới sang làng Nậm Quang, xã Cát Thôn, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc-một làngnằm sátbiên giới Việt -Trungđểtìmđến với cách mạng, với lãnh tụ cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã nói với các đồng chí cùng hoạt động ở Quế Lâm: “Chúng ta sẽ tổ chức một lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó đưa anh em trở về củng cố và mở rộng phong trào Cao Bằng và tổ chức liên lạc về nước”(2). Người còn nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”(3). Việc mở lớp huấn luyện cho những thanh  niên ưu tú của Cao Bằng tại vùng biên giới Việt -Trung là bước chuẩn bị lực lượng vô cùng quan trọng, làm nòng cốt cho cuộc trở về Tổ quốccủa Người để xây dựng căn cứ địa cách mạng, trực tiếp chỉ đạo cách mạng trong nước đi tới thành công.

Vào hạ tuần tháng 12-1940, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số cán bộ rời Quế Lâm đi xuống Tĩnh Tây. Ngay sau Tết Dương lịch năm 1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ từ trong nước sang gặp Người tại làng Tân Khư, Tĩnh Tây. Đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt Trung ương Đảng báo cáo về tình hình trong nước, những công tác đã thực hiện được và việc chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ támvà đề nghị với Người chọn hướng Cao Bằng để về nước vì đâylà tỉnh biên giới có phong trào cách mạngphát triểnsớm, đội ngũ cán bộ tương đối vững vàng, đa số nhân dân có tinh thần giác ngộ cách mạng cao;liên lạc quốc tế thuận tiện. Đề nghị của đồng chí Hoàng Văn Thụ rất trùng hợp với nhận định trước đó của Người.Người đã tán thành và căn dặn số cán bộ về nước trước tìm địa điểm làm căn cứ, phải chú ý hai điều kiện cơ bản là:có hàng rào quần chúng bảo vệ và có đường rút lui.

Việc Nguyễn Ái Quốc quyết định mở lớp huấn luyện cho những thanh niên từ Cao Bằng sang đã được Người kể lại trong bài: Bác ăn tết với chúng tôi với bút danh T.Lan đăng báo Nhân dân, số 2523, ngày 14-2-1961:

“Vào cuối năm 1940, chúng tôi một nhóm thanh niên Cao-Bằng bí mật sang Trung Quốc đi tìm cách mạng, tìm lãnh tụ cách mạng. Trong nhóm có các bạn Quảng Ba, Hoàng Sâm, Bằng Giang, v.v... 

Cũng trong lúc đó, lại nghe tin có một nhóm cách mạng khác đến Quảng Tây. Chúng tôi lại đi tìm, thì gặp các đồng chí Hoàng Văn Hoan, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng... Rồi chúng tôi gặp một cụ người gầy, trán cao, mắt sáng, ăn mặc như một bác nông dân Trung Quốc. Chúng tôi cảm thấy ông cụ rất hiền lành và đối với chúng tôi rất bình đẳng...

Ít hôm sau, ba đồng chí Võ,  Phạm,  Hoàng ở lại Tĩnh Tây. Ông cụ thì bí mật cùng chúng tôi về một làng Trung Quốc gần biên giới Cao Bằng, mở lớp huấn luyện. Ông cụ tức là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Cùng đi có ông Thược, thày thuốc và ông Lộc-“anh nuôi”(4).

Kế thừa kinh nghiệm và thành công từlớp huấn luyện chính trị đầu tiên tại Quảng Châu(Trung Quốc)những năm 1927- 1928, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy  sựcần thiết phải mởlớp huấn luyện những thanh niên này nhằm đào tạo họ thành những cán bộ cốt cán, để trở về Cao Bằng, xây dựng thí điểm các đoàn thể cách mạng, lập căn cứ địa cách mạng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi trong Hồi ký: “Bác và anh Phùng Chí Kiên về một làng cách Tĩnh Tây năm chục cây số. Bác cho người đến gọi anh Đồng và tôi về để mở lớp huấn luyện… Các anh Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng và tôi được Bác hướng dẫn làm chương trình huấn luyện. Bác phân công mỗi người làm từng mục: tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh…”(5). Dựa theo tài liệu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đã biên soạn tập bài giảng cho lớp học, gồm sáu bài(6):

“Bài 1: Tình hình thế giới, trong đó đề cập tới cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, phong trào cách mạng trên thế giới, về Liên bang Xô viết, về cuộc kháng Nhật cứu nước của nhân dân Trung Quốc.

Bài 2: Tình hình Đông Dương, trong đó giới thiệu về đặc điểm địa lý, tình hình kinh tế, chính trị, về các giai tầng và các dân tộc Đông Dương, về thái độ của người Pháp và Hoa kiều…

Bài 3: Vấn đề cách mạng Việt Nam, trong đó giới thiệu về phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam, về những điều kiện đảm bảo của cách mạng, đồng thời giới thiệu các đảng phái chính trị ở Đông Dương và chủ nghĩa dân chủ mới của Việt Nam.

Bài 4: Về công tác, chủ yếu hướng dẫn học viên cách điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện và đưa quần chúng ra đấu tranh.

Bài 5: Vấn đề khởi nghĩa, trong đó có hai nội dung chính là đánh du kích và khởi nghĩa. 

Bài 6: Một người cách mạng phải như thế nào nói về tư cách của người cách mạng”(7).

Ngay từ những ngày đầu tiên của lớp học, Người căn dặn học viên về năm điều nên làm và năm điều nên tránh đối với dân. Năm điều nên làm là: Giúp dân những công việc thiết thực hàng ngày; Tìm hiểu phong tục tập quán, nghiêm túc chấp hành điều lệ; Học tiếng địa phương, dạy hát, dạy chữ, gây tình cảm tốt với dân; Tùy nơi, tùy lúc mà tuyên truyền cách mạng cho thích hợp; Làm cho dân thấy mình là người đúng đắn, chăm công việc, trọng kỷ luật, do đó dân càng tin và giúp ta.

Năm điều nên tránh là: Tránh việc gì làm hại đến dân, làm bẩn,làm hỏng nhà cửa ruộng vườn của dân; Tránh năn nỉ mua hoặc mượn thứ gì cho bằng được; Tránh sai lời hứa; Tránh phạm đến phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân; Tránh lộ bí mật.

Người cũng đặc biệt quan tâm đến việc sinh hoạt của lớp học và có những chỉ dẫn hết sức cụ thể: “Ở nhà người ta, thì phải quét dọn sạch sẽ, ang nước phải đầy, bếp củi phải đủ”. Mỗi ngày, cứ sáng dậy thì Bác cùng chúng tôi quét dọn trong nhà ngoài sân. Xong rồi, mới vào lớp. Buổi chiều thì cùng nhau đi lấy củi. Vài hôm sau, cả làng tấm tắc khen ngợi. Ban huấn luyện chia làm mấy tổ, mỗi tổ ở chung một nhà. Buổi sớm, Bác nói chuyện chung với cả ban. Chiều và tối, các tổ nghiên cứu riêng. Tôi nhớ Bác nói về mấy vấn đề: thời sự, Cách mạng Nga, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa đế quốc, Cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương, Mặt trận Việt Minh, cách tuyên truyền, cổ động, tổ chức, và tư cách người cách mạng...

Bác nói như kể chuyện, vui vẻ, dễ hiểu, dễ nhớ. Nói xong một đoạn, Bác lại hỏi, mọi người đã hiểu rõ chưa? Trong tổ chúng tôi giúp đỡ lần nhau, cho nên hiểu và nhớ được hết”(8).

Tuy lớp huấn luyện được tổ chức trong thời gian ngắn, điều kiện vật chất thiếu thốn, bữa ăn chỉ có cháo bẹ với rau rừng, nhưng các học viên học tập rất hăng say. Các học viên đã được nghe lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc truyền đạt những vấn đề cơ bảnvề tình hình thế giới và trong nước;về tổ chức đoàn thể quần chúng, cách điều tra, tuyên truyền, tổ chức huấn luyện và đấu tranh cách mạng, học cách dân vận, giữ mối quan hệ tốt đẹp với nhân dân nước bạn. Nhờ đó, các học viên đã tiếp thụ được những hiểu biết cơ bản về chủ trương, đường lối cách mạng trong điều kiện lịch sử mới, nắm được cách thức gây dựng, phát triển phong trào…Bên cạnh đó, các học viên đã tạo được sự thiện cảm, yêu mến của nhân dân địa phương: “Lớp huấn luyện rất sôi nổi, dân chủ và vui vẻ. Bà con Trung Quốc trong làng không hiểu chúng mình dạy cái gì, học cái gì, nhưng đều khen thanh niên Việt Nam đoàn kết, chăm học, siêng làm. Bà con trong làng nhất là những người cho mượn nhà rất mến chúng ta. Vì vò nước bao giờ cũng đầy, đống củi bao giờ cũng cao, nhà cửa bao giờ cũng sạch, trong nhà có việc gì chúng ta cũng ra tay làm giúp. Đặc biệt các em nhi đồng luôn luôn xoắn xít chung quanh anh em ta để học hát, học nhảy múa, không nghịch ngợm, và đánh nhau như trước nữa. Chúng ta đã góp phần làm cho cái làng tịch mịch trong một thung lũng âm u vui hẳn lên... Bác bảo các đồng chí thanh niên: “Đó là một cách dân vận thiết thực đấy”(9).

Lớp huấn luyện kết thúc sau 15 ngày vào khoảng giáp Tết Tân Tỵ năm 1941, doQuốc dân Đảng lùng sục ráo riết tạivùng Nậm Quang.Trước những biển chuyển nhanh chóng của tình hình, Nguyễn Ái Quốc lên kế hoạchcùng đoàn cán bộ về nước. Trước khi trở về Tổ quốc, Người và các học viên đã ở lại đón Tết cùng với nhân dân địa phương: “Sáng 30 Tết, chúng tôi làm mấy mâm cơm nếp và thịt lợn, mời các vị phụ lão và những người tai mắt trong làng đến chén một bữa vui vẻ.

Để khỏi phạm đến phong tục mê tín của dân làng, Bác dặn chúng tôi: “Mồng 1 Tết, các chú phải ở trong nhà, không được đi ra ngoài. Nếu các chủ nhà mời ăn Tết, thì mỗi tổ cử một vào người đi thôi...”.

Mồng 1 Tết, suốt cả buổi sáng cả làng chỉ lo cúng quảy. Trước hết họ cúng tổ tiên, rồi họ cúng cả ràn trâu, chuồng lợn, cái cối giã gạo, cái cuốc làm vườn, cái liềm, cái rạ... mọi nông cụ làm ăn đều được cúng. Sau đó thôn trưởng vào mời chúng tôi ăn Tết”(10).

Sáng mùng một Tết, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí trong đoàn đi chúc tết nhân dân hai làng Nậm Quang và Nậm Tấy, Tĩnh Tây. Người mặc bộ quần áo Nùng màu chàm, đầu vấn khăn, tay chống gậy. Theo phong tục người Nùng ở đây, Người tặng mỗi nhà một tờ giấy hồng điều trên có ghi bốn chữ Hán “Cung chúc Tân niên” (Chúc mừng năm mới). Các cháu nhỏ được Người tặng tiền phong bao, mỗi gói một xu đồng.

Sáng mồng hai Tết, tức ngày 28-1-1941, trời chưa sáng, sương mù còn dày đặc, đoàn rời Nậm Quang lên đường về nước. Khi đặt chân đến cột mốc 108 trên biên giới Việt - Trung, địa phận thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, Người đứng lặng hồi lâu, xúc động. Giây phút đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng, nơi địa đầu Tổ quốc sau này được Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại: “Chiều hôm đó, đồng chí Quảng Ba dẫn Bác và cả nhóm thanh niên về PắcBó. Xa rời Tổ quốc đã hơn 30 năm. Đã mất bao nhiêu thời giờ và sức lực tìm liên lạc mà không được. Bao nhiêu thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động. Từ hôm đó, cái hang PắcBó trở nên “đại bản doanh” của chúng ta”(11).

Mảnh đất Pác Bó (Cao Bằng), nơi có địa thế hiểm trở, núi non hùng vĩ, nhân dân sớm được giác ngộ, kiên cường tranh đấu, trung thành với Đảng, với cách mạng, đã được Người được chọn làm nơi đặt cơ quan chỉ đạo phong trào cách mạng. Pác Bó trở thành đầu nguồn cách mạng, cũng từ đây, chúng ta đã xây dựng được khu giải phóng rộng lớn gồm 6 tỉnh (Cao - Bắc-Lạng-Thái-Tuyên-Hà).

Có thể nói, nếu như các học viên của lớp huấn luyện chính trị do Người đào tạo tại Quảng Châu, Trung Quốc là những hạt giống đỏ cho cách mạng Việt Nam, thì các học viên của lớp huấn luyện ngắn hạn vùng biên này được Người ví là “43 con đại bàng bay cao” và Người tiên đoán “sẽ có điềm lành tốt đẹp”;“Từ đó, phong trào phát triển rất nhanh, chẳng bao lâu đã xây dựng được nhiều nơi căn cứ vững chắc của cách mạng. Cách một năm sau, tổ chức Việt Minh đã khắp tỉnh Cao Bằng và lan đến các tỉnh lân cận”(12).

77 năm đã trôi qua, nhưng sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện cho những thanh niên ưu tú của Cao Bằng tại vùng biên giới Việt -Trung vẫn để lại cho Đảng ta những kinh nghiệm, bài học quý báu; giúp chúng tanhận thức rõ hơn quan điểm của Hồ Chí Minh:“Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, một khi đã có đường lối cách mạng đúng đắn thì công tác cán bộ luôn là khâu quyết định.“Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Đây là di sản và những bài học quýgiá về công tác cán bộ củaChủ tịch Hồ Chí Minh để lại.

________________

(1) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1969, tr.49.

(2) Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr.33.

(3) Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 19.

(4) Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

(5) Võ Nguyên Giáp: Đầu nguồn, Nxb Văn học, Hà Nội, 1972, tr.98

(6) Các tài liệu sau in thành sách nhan đề là “Con đường giải phóng”

(7) Tư liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ký hiệu: H2C7/3.

(8), (10), (12) T.Lan: Bác ăn tết với chúng tôi, Tài liệu bản thảo lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

(9), (11)T. Lan:Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.72, 73.

 

Nguồn: Nguyễn Văn Dương

Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

 

Những quyết sách quan trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng (13-15/8/1945)

(LLCT)- Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945 tại Tân Trào (Tuyên Quang), theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị quyết định nhiều vấn đề quan trọng chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.


Tham dự Hội nghị gồm có đại biểu các đảng bộ địa phương trong nước, một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài, đại biểu của khu giải phóng và các chiến khu. Hội nghị diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước chuyển biến hết sức nhanh chóng. Trên thế giới, phátxít Đức đã thất bại (5-1945), phátxít Nhật đang bị quân đội Đồng minh dồn vào bước đường cùng, buộc phải tuyên bố đầu hàng. Các nước Đồng minh thoả thuận sau khi Nhật đầu hàng, quân đội Anh và Tưởng sẽ vào Đông Dương để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật. Thực dân Pháp dựa vào Đồng minh ráo riết chuẩn bị lực lượng trở lại khôi phục địa vị thống trị ở Đông Dương. Các lực lượng phản động, tay sai của Nhật ra sức tìm chủ mới, bọn phản động người Việt lưu vong dựa thế quân đội nước ngoài trở về nước hòng nắm chính quyền.

Trước tình hình đó, Hội nghị quyết định nhiều vấn đề quan trọng chỉ đạo cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền, như: về các chủ trương, biện pháp chỉ đạo tổng khởi nghĩa; chính sách đối nội và đối ngoại; công tác cán bộ, công tác dân vận, công tác xây dựng Đảng…

Chủ trương, biện pháp tổng khởi  nghĩa

Hội nghị nhận định: “Nhật đổ, hàng ngũ chỉ huy của chúng ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần; bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ”. “Toàn dân tộc đang sôi nổi đợi giờ khởi nghĩa, giành quyền độc lập”. “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi”. “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”(1). Trên cơ sở phân tích chính xác tình hình, Hội nghị quyết định phát động toàn dân tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ phátxít Nhật và tay sai, trước khi quân Anh và quân Tưởng vào Đông Dương tước khí giới quân Nhật.

Hội nghị đề ra ba nguyên tắc nhằm bảo đảm sự thắng lợi của tổng khởi nghĩa do Đảng lãnh đạo:

“a) Tập trung - tập trung lực lượng vào những việc chính.

  b) Thống nhất - thống nhất về mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động và chỉ huy.

 c) Kịp thời - kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội”(2).

Hội nghị đã chủ trương: “Đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê. Thành lập những ủy ban nhân dân ở những nơi ta làm chủ”(3); “quân sự và chính trị phối hợp”, “làm tan rã tinh thần quân địch và dụ chúng hàng trước khi đánh”; “chớp lấy những căn cứ chính (cả đô thị) trước khi quân đồng minh vào”(4)

Đây là những chủ trương kịp thời, kế hoạch đúng đắn; biểu thị sự đoàn kết nhất trí của toàn Đảng, toàn dân trong giờ phút quyết định và là cơ sở quan trọng để tổng khởi nghĩa giành thắng lợi.

Chính sách đối nội

Hội nghị đã quyết định những vấn đề quan trọng về chính sách đối nội, trong đó chủ trương tiếp tục thi hành 10 chính sách của Việt Minh đã được ban hành từ Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941). Mười chính sách được nhân dân đồng tình ủng hộ, là cơ sở để thực hiện đoàn kết dân tộc, huy động mọi tiềm năng, sức mạnh của nhân dân tiến tới tổng khởi nghĩa.

Những chính sách đó tuy được nêu một cách ngắn gọn, cô đọng nhưng đã quyết định toàn diện các vấn đề về: chế độ chính trị, các chính sách về quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội, chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp nhân dân.

Về mô hình chế độ chính trịđược nêu rõ trong chính sách đầu tiên: “a) Phản đối xâm lược; tiễu trừ Việt gian. Lập nên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hoàn toàn độc lập”(5)

Nhóm chính sách kinh tế giải quyết các vấn đề kinh tế trước mắt và lâu dài, cấp bách nhất là làm cho dân nghèo có ruộng đất: “c) Tịch thu tài sản của lũ giặc nước và của Việt gian, tùy trường hợp dùng làm của chung hay chia cho dân nghèo. d) Bỏ hết thuế khóa, phu dịch do đế quốc đặt ra. e) Chia lại ruộng đất công, làm cho dân nghèo có ruộng cày cấy; giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ. h) Thành lập và mở rộng nền kinh tế quốc dân. Khuyến khích và giúp đỡ công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp. Lập quốc gia ngân hàng”(6).

Nhóm chính sách về văn hóa - xã hộigồm: “g)Thi hành kỷ luật ngày làm tám giờ; đặt luật xã hội bảo hiểm, cứu tế nạn dân. i) Chống nạn mù chữ, cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ học. Đào tạo các hạng nhân tài. k) Thân thiện với các nước coi trọng nền độc lập của Việt Nam”(7).

Chính sách đối ngoại

Hội nghị chủ trương triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa hai phe Đồng minh Anh, Pháp và Mỹ, Tàu về vấn đề Đông Dương, tránh trường hợp một mình phải đối phó cùng một lúc với nhiều đối tượng, đồng thời cũng cần chuẩn bị ứng phó với việc Anh - Mỹ - Tưởng nhân nhượng Pháp, cho Pháp trở lại Đông Dương. Hội nghị nhận định rõ vai trò quan trọng của thực lực cách mạng nước ta trong việc giải quyết mối quan hệ giữa ta và Đồng minh: “Dù sao chỉ có thực lực của ta mới quyết định được sự thắng lợi giữa ta và Đồng minh”(8).

Những chính sách về đối ngoại có vai trò chỉ đạo cách mạng Việt Nam sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Sau tháng 8- 1945, vận dụng chính sách đối ngoại được đề ra tại Hội nghị, Đảng ta đã thực hiện phân hóa mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, tránh việc phải đối phó với nhiều lực lượng cùng lúc. Nhờ thực hiện những chính sách đối ngoại đúng đắn mà cách mạng nước ta vượt qua tình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”.

Công tác cán bộ

Về công tác cán bộ, Hội nghị quyết định nhiều vấn đề quan trọng như: đào tạo, sử dụng, phân phối, kiểm tra cán bộ. Hội nghị chủ trương thành lập các ban chuyên môn ở Trung ương, xứ ủy để đào tạo cán bộ. Mỗi tỉnh có ít nhất một huấn luyện viên chuyên môn và nhấn mạnh vấn đề tạo tạo cán bộ địa phương và cán bộ dân tộc thiểu số. Về vấn đề sử dụng cán bộ, Hội nghị nêu rõ các quan điểm: “Phải quý cán bộ và giữ gìn cán bộ. Phân phối cán bộ cho hợp lý; dùng cán bộ cho đúng. Hết sức nâng đỡ cán bộ quần chúng (cán bộ Việt Minh)”(9). Bên cạnh đó, Hội nghị yêu cầu thực hiện kiểm tra cán bộ nhằm phát huy ưu điểm, đồng thời khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương bổ sung một số uỷ viên, gồm các đồng chí: Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Hoan, Chu Văn Tấn, Vũ Anh và Võ Nguyên Giáp.

Công tác dân vận

Hội nghị chủ trương vận động các giới, các đảng phái; biện pháp tuyên truyền vận động; các khẩu hiệu tuyên truyền, cổ động. Đảng nhấn mạnh phương hướng tuyên truyền cổ động: “nêu khẩu hiệu chính động viên tinh thần cứu quốc; nêu cao nguyện vọng của dân tộc; quốc gia hoàn toàn độc lập…”(10).

Hội nghị đề ra các nhiệm vụ cần kíp nhằm thực hiện tuyên truyền, cổ động, trong đó chỉ rõ các hình thức, phương pháp: phát truyền đơn, dán áp phích, truyền tin, họp mít tinh, báo chí… Hình thức vũ trang tuyên truyền ra đời cùng với việc thiết lập lực lượng vũ trang cách mạng; đảm đương chức năng chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến. Hình thức thị uy tuyên truyền thông qua các cuộc mít tinh, biểu tình…

Hội nghị đề ra chủ trương vận động các giới và các đảng phái, đề ra chính sách vận động phù hợp với từng đối tượng. Hội nghị đề xuất thực hiện công tác vận động các giới gắn kết với việc xây dựng tổ chức cứu quốc. Đối với các đảng phái, Hội nghị chủ trương ủng hộ việc gây dựng lại “Việt Nam Quốc dân Đảng”, hết sức giúp đỡ “Việt Nam dân chủ Đảng”. Tính chất dân chủ nhân dân của cuộc cách mạng đặt ra đối tượng cần tập hợp, vận động không chỉ giới hạn ở công - nông, mà là tất cả các tầng lớp, các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo có tinh thần chống Pháp, chống Nhật, thành thật muốn giành độc lập cho đất nước.

Công tác dân vận đã trực tiếp góp phần xây dựng lực lượng chính trị đông đảo - lực lượng đóng vai trò quyết định thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Công tác xây dựng nội bộ Đảng

Hội nghị coi trọng vấn đề thống nhất Đảng, đặc biệt về tổ chức, về chính trị, chống tả khuynh, hữu khuynh. Đảng nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của việc thống nhất Đảng trong mọi giai đoạn cách mạng, nhất là vào thời điểm xuất hiện thời cơ cách mạng ngàn năm có một. Do đó, thống nhất, đoàn kết trong Đảng tạo nên sức mạnh của Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo cách mạng thành công.

Về vấn đề phát triển và củng cố Đảng, Hội nghị nêu một số chủ trương như: kết nạp đảng viên mới; xây dựng tổ chức đảng trong quân giải phóng Việt Nam; thi hành kỷ luật đối với đảng viên phạm lỗi nặng; khai trừ những phần tử hủ hóa, thoái lui; thực hiện tự chỉ trích… Bên cạnh đó, Hội nghị chủ trương xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình mở lớp huấn luyện cán bộ, đảng viên.

Về mối quan hệ giữa Đảng và Việt Minh, Hội nghị nêu yêu cầu: Phân định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò tập hợp, đoàn kết quần chúng của Việt Minh; phân minh về tổ chức đảng với tổ chức của Việt Minh. Với tư cách là thành viên, Đảng tỏ rõ vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong Mặt trận, không đứng trên mà đứng trong Mặt trận. Với tư cách là thành tố lãnh đạo, Đảng tỏ rõ là bộ phận tiên phong chính trị, gương mẫu nhân cách, mà biểu hiện cụ thể nhất là trong hoạt động thực tiễn hành ngày gắn với nhân dân. Chính thông qua với tư cách là thành viên, lại là thành viên hăng hái nhất, tinh hoa nhất mà tính chính đáng về quyền lãnh đạo của Đảng được thừa nhận. Vai trò của Đảng trong cấu trúc Mặt trận Việt Minh là một mẫu mực thực hiện chức năng “kép” nêu trên, như sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”(11).

Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng tháng 8-1945 có ý nghĩa trọng đại trong lịch sử cách mạng nước ta; quyết định vấn đề chiến lược và sách lược chỉ đạo cách mạng Đông Dương, góp phần làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Chủ trương khởi nghĩa của Hội nghị đã được Đại hội Quốc dân (họp ngày 16 và ngày 17-8-1945) tán thành. Bên cạnh đó, những tư tưởng của Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng còn có tác dụng chỉ đạo cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng. Với những quyết sách quan trọng, Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng thể hiện sự tiếp thu và phát triển truyền thống đoàn kết, yêu nước của dân tộc ta trong điều kiện lịch sử mới. Do đó, có thể khẳng định, Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng (8-1945) không những có ý nghĩa trực tiếp đối với cuộc đấu tranh giành chính quyền, mà còn là di sản của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

____________________

(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.7 (1940-1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.424, 425, 425, 429, 427, 427-428, 427-428, 427, 432, 427.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr.138.

Nguồn: TS Lê Thị Minh Hà

Viện Xây dựng Đảng

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


 

Cuộc sống đời thường của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Cao Bằng

(LLCT) - Mùa Xuân năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.Người sống và hoạt động cách mạng tại Pác Bó (Cao Bằng), giữa núi rừng, hang đá lạnh lẽo, trong điều kiện sinh hoạt vô cùng kham khổ, thiếu thốn. Thời gian lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở Cao Bằng không dài nhưng cuộc sống đời thường của Người tại đây đã khắc sâu thêm cốt cách của vị lãnh tụ vĩ đại đã hiến cả đời mình cho dân tộc.

 

1. Cuộc sống đời thường kham khổ, tiết kiệm nhưng nề nếp, khoa học

Từ ngày 8-2-1941, Người bắt đầu sống và làm việc tại hang Cốc Bó, thôn Pác Bó, Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng. Người sống ở đây hơn mười ngày, trong điều kiện khắc nghiệt, đêm nồm, đá chảy mồ hôi, nước nhỏ giọt thấm qua chăn. Người bị mất ngủ nhưng không hề lộ chút nào mệt mỏi. Giặc lùng sục, Người lại di chuyển lên Lũng Lạn, chỗ ngủ không ván, không chiếu, chỉ có lá cây rừng trải xuống đất để nằm. Đồng chí Lê Quảng Ba kể lại trong hồi ký: “Sau những đêm vật lộn với mưa gió và sương lạnh, bọn thanh niên chúng tôi đã đau xương, mỏi lưng, ê ẩm khắp người. Người vẫn không phàn nàn nửa lời nhưng chắc Người đã phải chịu đựng vất vả hơn chúng tôi nhiều”(1). “Cơ quan ở cái hang sâu và kín đáo ở sườn núi mé trên, lên phải leo dốc đá vài chục thước. Cửa hang này nhỏ, luôn luôn ẩm ướt, phải bíu tay vào thành đá mới có thể chui được vào bên trong. Ngoài các cửa ra vào, nhỏ và tối, hang còn có một cửa lớn ở phía trên cao bị cây cối um tùm che khuất. Trong hang có những phiến đá to chỉ cần xếp ít cành rồi trải lá lên là có thể ngả lưng được. Chỉ ban đêm mới vào đây ngủ, còn ban ngày vẫn ra bờ suối, chỗ bãi cỏ nhỏ trong thung lũng để làm việc và thường cũng chỉ tiếp khách ở nơi này. Ở trong hang không khí ẩm thấp, nhất là ngày mưa, nước thường nhỏ giọt theo nhũ đá xuống nền lách tách không bao giờ ngớt”(2). Có đồng chí đề nghị làm mái để tránh mưa nhưng Người không đồng ý vì khi có động phải rời hang, giặc đến sẽ biết dấu vết để truy bắt. Mưa lớn, nước rỏ lênh láng vào cả chỗ nằm, Người chỉ lấy một cây que dài ghếch lên làm “máng” lựa đón giọt nước chảy ra chỗ khác. Ở Lũng Lạn được sáu ngày, cuối tháng 3-1941, do địch lùng sục, Người rời sang Khuổi Nậm, địa thế thuận tiện cho việc di chuyển mỗi khi bị lộ. Đây là nơi ở tương đối lâu dài và “sang” nhất của Người trong thời kỳ ở Pác Bó. Lán dựng ngay ở trên lòng con suối đang mùa khô, cây cối rất rậm rạp, ở ngoài nhìn vào khó nhận ra. Lán dựa vào một cây “mạ” làm cột cái, mái lán lợp bằng gianh; vách lán, chiếu nằm đều đan bằng lá đào rừng. Tháng 5-1942, Người rời Khuổi Nậm, về các huyện Hòa An, Nguyên Bình. Mấy tháng sau, Người lại quay về Pác Bó, tiếp tục ở Khuổi Nậm và di chuyển nhiều nơi khác.

Bữa ăn của Người rất kham khổ, ngày chỉ có hai bữa, món ăn chính là cháo bẹ, rau măng, rau rừng, cơm độn bắp; nước lá ổi thay chè. Thỉnh thoảng Người câu được con cá hay anh em mua được cân thịt lại đem kho thật mặn làm “món ăn chiến lược” để ăn dần- 1kg thịt, 1kg muối, 1 nửa kg ớt xào lên cho vào ống, đi đến đâu dùng cũng tiện.Người thường căn dặn anh em chú ý tiết kiệm, ăn uống tuyệt đối không được để thừa hoặc đổ đi. Đồng chí nào mang quà về hoặc có quà của quần chúng gửi cho, nếu có nhiều thì phải tính giảm bớt gạo. Mỗi bữa cơm, Ngườichỉ ăn hai bát đầy bằng miệng vì cơ quan ở bí mật, gặp nhiều khó khăn. Để ăn mừng Ngườidịch xong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô, bữa cơm cũng chỉ có thêm ít rau rừng và ít thịt.

Cuộc sống thiếu thốn, kham khổ lại di chuyển nhiều nơi nhưng Người luôn có ý thức rèn luyện sức khỏe. Dù trời ấm áp hay mưa lạnh đến đâu, Người đều dậy sớmleo núi, đi quyền rồi xuống suối tắm. Ngườichọn những quả núi cao nhất quanh vùng để leo lên với bàn chân không. Việc leo núi của Người không chỉ nhằm mục đích tập luyện mà còn để tìm hiểu địa hình để ứng phó linh hoạt nhất khi quân thù bất ngờ ập đến. Nhiều đồng chí đề nghị Người đigiày cho khỏi đau chân. Ngườitrả lời: Tôi tập leo núi chân không cho quen vì con đường cách mạng chông gai lắm. Sau giờ tập, Người thườngtắm nước lạnh để luyện chịu đựng giá rét. Để luyện bàn tay, Ngườibóp tay vào hai hòn đá tròn và nhẵn như quả trứng gà. Sống cạnh Người, ai tinh ý lắm mới biết được mỗi khi mỏi mệt là Người đứng dậy đi đi lại lại hoặc làm một việc gì đó, trừ trường hợp không đi lại được nữa, Người mới chịu nằm nghỉ. Có lần bị sốt rét, người gầy đi nhiều, nhưng Người cũng không chịu nghỉ, vẫn kiên trì leo núi cho mồ hôi vã ra.

Người làm việc có kế hoạch và cần mẫn với một nghị lực phi thường. Ngay hôm đầu tiên về nước, Người đã bắt tay ngay vào công việc. Thấy Người làm việc có nề nếp, quy củ, anh em cứ ngỡ như Người đã từng ở đây từ rất lâu. Về Pác Bó được ít ngày, Người đã hoàn thành một công việc có ý nghĩa lịch sử trọng đại là chuẩn bị các điều kiện cho Hội nghị Trung ương.Thỉnh thoảng mua được một tờ báo, Người tranh thủ xem rất kỹ, những chỗ quan trọng bao giờ Người cũng gạch dưới và đánh dấu cẩn thận. Người viết nhiều bài cho báo Việt Nam độc lập bằng văn vần dễ thuộc, dễ nhớ, để tuyên truyền đường lối cách mạng trong quần chúng. Tuy công việc bề bộn, ngổn ngang, nhưng giờ nào việc ấy, rất có trật tự. Những thứ giá trị như máy chữ, đá in và tài liệu sách báo bí mật đều được sắp đặt gọn gàng, ngăn nắp. Sau mỗi buổi làm việc, Người xếp máy chữ vào một túi riêng, tài liệu thì bỏ thùng sắt đậy lại cẩn thận. Thời gian ở Pác Pó, Người thường mặc bộ quần áo Nùng màu chàm, đi giầy vải chẳng khác gì một ông cụ người địa phương. Người ở Pác Bó hơn một năm, nhưng bà con trong thôn xóm chỉ biết đó là cán bộ cách mạng tên Sáu Sán. Người thường hỏi han công việc của mỗi người trong ngày. Ai chưa có việc, Người cắt đặt cho. Người thường nhắc nhở mọi người: nhàn cư vi bất thiện, muốn ai cũng có việc làm dù là những việc lớn như xây dựng cơ sở, xây dựng phong trào hay chỉ là việc nhỏ như vá quần áo. Ở bên Người, mỗi cán bộ cách mạng lại thấy mình trưởng thành hơn. Tư tưởng, tình cảm bao la của Người tỏa chiếu thấm đượm, chan hòa, làm ấm lòng đồng chí, đồng bào, tiếp thêm sức mạnh lớn lao để vượt qua những khó khăn, thử thách trong những bước đường hoạt động cách mạng, giành lại độc lập tự do cho dân tộc.

2. Tinh thần lạc quan cách mạng, gần gũi với thiên nhiên, yêu lao động, yêu đồng bào, đồng chí

Ở lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc luôn ngời sáng tinh thần lạc quan cách mạng. Có thể nói không một giây phút hiểm nguy, gian khó nào làm mất đi ở Người tình yêu cuộc sống, yêu lao động, yêu con người và thiên nhiên.

Dù thường xuyên phải di chuyển nhưng ở đâu Người cũng nhắc mọi người phải tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống và bao giờ cũng tự mình làm trước. Thời kỳ ở Pác Bó không dài nhưng một vườn rau nho nhỏ đã bén rễ, có cả cà chua và ớt. Ở Khuổi Nậm, Người trồng vườn rau cải, nuôi một đàn gà. Cơ quan chuyển đi, Người vẫn nhắc trồng rau cải cho các đồng chí ở lại và cán bộ bí mật qua, nấu ăn đỡ đói. Người lo lắng, thương yêu đồng chí, đồng bào từ những điều nhỏ nhất cũng nghĩ rất xa.

Cuộc sống tuy kham khổ, thiếu thốn nhưng Người vẫn tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng. Bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” đã thể hiện rõ diều đó:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Cho dù không bao giờ tự nhận mình là nhà thơ nhưng những sáng tác của Người cũng chính là sự thể hiện rõ nét tình yêu thiên nhiên trong trái tim người nghệ sĩ - chiến sĩ cách mạng, một người luôn ung dung, tự tại, luôn nắm vững quy luật vận động phát triển của cuộc sống, chủ động và lạc quan trong mọi hoàn cảnh.                                                                                                                                                                                             

Cuộc sống trong núi rừng, hang đá lạnh lẽo nhưng luôn có hơi ấm tình thương của Người.Người thường nói: “Chúng ta ở rất bí mật nhưng đó là bí mật với tụi tổng đoàn, với bọn mật thám, bọn Tây, bọn thống trị chứ không bí mật với nhân dân”. Tết đến, Người dặn dò cán bộ địa phương phải bố trí bảo vệ chu đáo cho dân làng ăn tết. Người bảo mua giấy đỏ về làm phong bao, trong gói một đồng xu, ngoài đề “chúc mừng năm mới”. Mọi người đến chúc Tết đều được Người tặng một phong bao. Người tặng cho em Nông Thị Trưng, cán bộ mới thoát ly, phải xa nhà cái Tết đầu tiên chiếc khăn mùi xoa có hoa đỏ và một chiếc còng gà luộc. Người hiểu thấu phong tục người Tày rất quý trẻ con, mổ gà bao giờ cũng để phần cho trẻ còng gà. Người chu đáo với nhân dân dù là việc nhỏ. Có lần ra suối sáng sớm, trên đường quay về lán, Người phải trèo qua một cái loỏng đã được cọ rửa sạch úp bên bờ ruộng, cái loỏng chông chênh, Người vừa bước qua thì đổ ụp xuống ruộng. Cái loỏng nặng, gần đấy không có ai để nhờ giúp nhưng Người không bỏ đi mà rửa sạch, cố hết sức úp lại như cũ. Tại hang Kéo Quảng, nghe cán bộ báo cáo về bệnh đậu mùa đang hoành hành ở địa phương, Người giới thiệu một bài thuốc và dặn nhớ phổ biến cho dân biết để chữa bệnh. Hàng ngày nếu không bận họp hay nghiên cứu, viết bài, Người xuống làng hỏi thăm đồng bào, vào rừng lấy củi, hái rau, vun trồng khoai sắn, xuống suối xách nước tưới cây với anh em. Người trò chuyện với mọi người, hỏi chuyện làng xóm, gia đình, để nắm được tình cảm, nguyện vọng của bà con và thực tế cơ sở. Sự quan tâm thăm hỏi, cử chỉ thân mật của Người gây được cảm tình với đồng bào. Đồng bào đều nhớ ông Sáu Sán, nhớ đồng chí già có vầng trán cao, cặp mắt sáng, râu dài, rất hiền từ và trung hậu, được nhân dân các dân tộc kính yêu. Cao Bằng từ ngày có Người về, mỗi cán bộ cách mạng và đồng bào các dân tộc cảm nhận rõ tình cảm mến thương, niềm tin yêu, sự quan tâmchăm lo của Người.

Người sống gần gũi và không bao giờ muốn mình làm ảnh hưởng đến người khác.Các đồng chí mua gạo nấu riêng cho Người nhưng Người không đồng ý. Có món ăn ngon, Người không quên những anh em vắng nhà, dặn rang mặn gửi cho người đi công tác. Ban đêm, quanh khu vực Người ở có nhân dân bảo vệ, có tự vệ tuần tra nhưng các đồng chí vẫn thay nhau gác. Các đồng chí không để Người gác nhưng Người yêu cầu phải làm lịch gác, cứ theo lịch lần lượt thay nhau. Có lần Người mệt, mọi người bàn nhau không để Người gác nữa, dặn trước khi thay phiên giữ thật im lặng, nhưng cách đó không đạt kết quả, ra gác một lúc, giơ tay đập muỗi đã chạm phải Người ở sau lưng, có lần vừa ra tới vọng gác đã thấy Người ngồi đó rồi.“Từ trang phục đến lời nói, việc làm. Lúc thổi cơm, ngồi câu cá, khi tắm suối, ngủ rừng... Người hoà hợp với tất cả mọi người. Không thấy một nét gì khác lạ, cách biệt, ở một người vốn là đại diện của quốc tế cộng sản, từng dự Đại hội Tua, từng tiếp xúc với nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng trên thế giới...”(3). Đêm xuống, anh em thường quây quanh bếp lửa nghe Người nói chuyện thời sự và kinh nghiệm hoạt động cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về với thế giới người hiền gần 50 năm, nhưng tinh thần lạc quan cách mạng, gần gũi với thiên nhiên, yêu lao động, yêu đồng bào, đồng chí của Người mãi mãi là nguồn cổ vũ cho toàn Đảng, toàn dân ta vượt qua những khó khăn, thách thức, vượt qua những ham muốn vật chất, những cám dỗ trong cuộc sống, khắc phục cho được chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, những biểu hiện “tự suy thoái”, “tự chuyển hóa” để xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.

___________________

(1) Đỗ Hoàng Linh: Hồ Chí Minh, Hành trình 79 mùa xuân, Nxb Hồng Bàng, tr.120

(2) Đỗ Hoàng Linh: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh giai đoạn 1941-1945, Nxb Hồng Bàng, tr.24

(3) Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Người Hồ soi sáng sự nghiệp đổi mới của chúng ta, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990, tr. 47- 48

 

Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hằng

Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch