Thứ Năm, 14 tháng 9, 2023

Nghị quyết dài dòng, “vòng đời” ra sao

Theo Quy định số 66-QĐ/TW ngày 6-2-2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII “Về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng” có 25 loại văn bản của Đảng, bao gồm: Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chiến lược, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, kết luận, quy chế, quy định, thông tri, hướng dẫn, thông báo, thông cáo, tuyên bố, lời kêu gọi, báo cáo, kế hoạch, quy hoạch, chương trình, đề án, phương án, dự án, tờ trình, công văn, biên bản.

Nghị quyết là văn bản ghi lại các quyết định được thông qua ở đại hội, hội nghị cơ quan lãnh đạo đảng các cấp, hội nghị đảng viên về đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch hoặc các vấn đề cụ thể. Nói đến vị trí, vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng trước hết là nói đến việc xây dựng, ban hành nghị quyết. Kể từ khi Đảng lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, phần lớn các nghị quyết của Đảng cơ bản được chuẩn bị công phu, chặt chẽ. Nhiều chiến lược, chủ trương, định hướng, chính sách lớn của Đảng được ban hành cơ bản bám sát thực tiễn cuộc sống, bám sát sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, xu hướng phát triển của thế giới và thời đại, từ đó góp phần tạo ra những cú hích, đòn bẩy, từng bước làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội.

Tuy nhiên, không phải ngẫu nhiên mà trong một số hội nghị gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ví von rằng: “Nghị quyết thì thật rằng hay/ Xem ra thực hiện còn gay trăm bề”!

“Nghị quyết hay” thường được hiểu là nghị quyết đúng về mặt văn phong, nội dung chỉn chu. Ở khía cạnh khác, “nghị quyết hay” còn bao hàm cả ý nghĩa chưa hẳn tích cực vì chứa đựng những từ ngữ “kêu như chuông”, mà khi đọc xong ai cũng cảm thấy nhiều câu từ “hay như chim hót”, “ngọt như mía lùi”,  nghe rất “bùi tai” nhưng mục tiêu lại xa rời thực tiễn cuộc sống.

Một trong những lĩnh vực được Đảng ta quan tâm trong khoảng 3 thập niên gần đây là lĩnh vực văn hóa. Trong đó, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” ban hành năm 1998 được coi là “Cương lĩnh thứ hai” của Đảng về văn hóa (sau “Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943” do đồng chí Trường Chinh khởi thảo). Tại nghị quyết này, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra những quan điểm rất mới mẻ, rất khoa học về văn hóa, trong đó có quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là động lực vừa là mục tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”.

Nếu “Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943” gói gọn trong khoảng 1.500 chữ thì Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” dài khoảng 9.800 chữ (dung lượng gấp hơn 6,5 lần). Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, dù Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII có nhiều luận điểm thể hiện sự đổi mới tư duy lý luận về văn hóa của Đảng, nhưng nghị quyết này cũng bộc lộ tính ôm đồm, nội dung dàn trải khi coi văn hóa bao hàm cả 3 lĩnh vực là giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; hệ thống thông tin đại chúng.

So sánh nêu trên không nhằm mục đích khen-chê, nhưng soi chiếu vào thực tế gần đây cho thấy, tổ chức đảng các cấp ban hành nhiều nghị quyết mới, có ý nghĩa thiết thực với đời sống xã hội, thế nhưng các nghị quyết này có không ít nội dung được cho là trùng lắp, nhắc lại ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, nhiều nghị quyết có độ dài đến hàng chục trang A4, kết cấu cứng nhắc và tên gọi nghị quyết cũng na ná như nhau. Điều đó mang đến sự trăn trở, băn khoăn về tính khả thi, dễ dẫn đến chồng chéo về chủ trương, giải pháp lãnh đạo, gây khó cho việc triển khai thực hiện.

Thiếu cơ chế, chính sách vận hành

Là người có nhiều thâm niên, kinh nghiệm trong công tác giáo dục, quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng, PGS, TS Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh bày tỏ trăn trở trước thực tế thiếu cơ chế, chính sách và nguồn lực cho việc lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết. Ông nêu dẫn chứng: Vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành các nghị quyết về phát triển 6 vùng chiến lược trên cả nước. Đây là lần đầu tiên các vùng chiến lược được Bộ Chính trị ban hành nghị quyết riêng, định hướng phát triển trong giai đoạn mới.

Điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược, quyết tâm lớn của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng nhằm khai thác lợi thế, tiềm năng, đẩy mạnh liên kết vùng và liên vùng tạo động lực phát triển đất nước bền vững, khắc phục tình trạng các địa phương “mạnh ai nấy làm”. Tuy nhiên, cơ chế, chính sách và nguồn lực vận hành, hiện thực hóa các nghị quyết này đang là bài toán khó. Bởi, để các vùng phát triển theo đúng định hướng, mục tiêu, nội dung nghị quyết đề ra, đòi hỏi phải có mô hình “tư lệnh vùng”.

Trước đây, chúng ta đã triển khai mô hình Ban chỉ đạo ở các vùng nhưng do thiếu cơ chế hoạt động nên hiệu quả không cao và buộc phải giải thể. Trong khi, việc triển khai thực hiện 6 nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển 6 vùng chiến lược trên cả nước, đến nay vẫn do các tỉnh, thành phố thực hiện, dưới sự chỉ đạo của Trung ương. Thiếu nguồn lực theo mô hình “tư lệnh vùng”, việc liên kết, hợp tác phát triển giữa các địa phương rõ ràng sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là khi lãnh đạo địa phương chủ yếu quan tâm đến lợi ích của địa phương mình.

Ví như, việc tỉnh Đồng Nai cho lấp một phần sông Đồng Nai để làm công viên đô thị mà không trao đổi ý kiến với TP Hồ Chí Minh diễn ra mới đây; hay tình trạng ô nhiễm kênh Ba Bò ở Bình Dương ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước sông Sài Gòn tồn tại nhiều năm giải quyết chưa xong... Đó là những ví dụ rất cụ thể về việc cần phải có “nhạc trưởng” trong các vùng chiến lược để giải quyết những vấn đề về nghĩa vụ, lợi ích đan xen giữa các địa phương. Bởi thế, nếu quy hoạch, phát triển kiểu “mạnh ai nấy làm” vì lợi ích của mỗi địa phương sẽ là tác nhân làm kìm hãm sự phát triển chung, ảnh hưởng lớn đến lợi ích quốc gia.

Dưới góc nhìn của chuyên gia kinh tế, TS Trần Du Lịch đánh giá: Chủ trương cho TP Hồ Chí Minh thí điểm thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù là quan điểm mới của Đảng. Nghị quyết của Đảng về vấn đề này đã xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển TP Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tuy nhiên, khó khăn, vướng mắc hiện nay nằm ở quy trình triển khai, thực hiện. Ban hành cơ chế, chính sách đặc thù phải đi liền với tạo nguồn lực, quy trình thực hiện mang tính đặc thù.

Thực tế này đang hiện hữu ở nhiều nơi. Ở nhiều đảng bộ tỉnh, huyện, xã, tổ chức đảng cơ quan Đảng, Nhà nước, bộ, ngành, đoàn thể, việc ban hành nghị quyết được xem là công việc thường xuyên, nhưng không ít nghị quyết khi được ban hành thì việc triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn do không có, chưa có, chưa hoàn thiện cơ chế, chính sách, điều kiện để hiện thực trong cuộc sống. Đây chính là rào cản vô hình, cũng là căn nguyên khiến nhiều nghị quyết bị “đắp chiếu” một cách đáng tiếc.

Lối học tập thờ ơ, hời hợt

Rõ ràng, không thể phủ định nhiều nghị quyết rất hay, nhưng đó là lời khen của một bộ phận đảng viên có trách nhiệm soạn thảo, ban hành hoặc đối với những người buộc phải đọc, học để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền. Trong khi phần đông lại chưa thật sự chấp thuận, ghi nhận với “cái hay” đó. GS, TS Vũ Văn Hiền, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, nguyên Phó chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương, nhấn mạnh: “Nghị quyết càng dài dòng, nội dung càng ôm đồm thì càng khó triển khai, tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Khi nghị quyết không phát huy tác dụng trong thực tiễn nghĩa là mất dần “tính thiêng” của nó và đó cũng là một trong những lý do khiến một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa mặn mà, thiết tha với việc học tập nghị quyết của Đảng”.

Quả đúng vậy. Trên thực tế, không khó để bắt gặp những câu chuyện đáng buồn, đáng trách về thực trạng ngại học nghị quyết, sợ học nghị quyết. Ví như khi nhận kế hoạch học tập nghị quyết, không ít cán bộ thở dài, tỏ ra mệt mỏi “khổ nhỉ, lại học nghị quyết!”; “nghị quyết dài thế, nhiều thế, học đến bao giờ cho thấm, cho ngấm”... Có lẽ bởi thế mà tại các buổi quán triệt tập trung, không ít cán bộ, đảng viên hồn nhiên “đi ra, đi vào”, sử dụng điện thoại, ngủ gật; lại có cán bộ dự một lúc, rồi viện lý do “chính đáng” để về trước... Lại có không ít cán bộ, đảng viên chưa xác định rõ trách nhiệm học tập nghị quyết. Nhiều cán bộ quen cách nghĩ “học xong là xong”... mà chẳng buồn bàn thảo, tư duy về giá trị, tinh thần hay nội dung nghị quyết cần vận dụng vào tổ chức mình, bản thân mình trong thời gian tiếp theo. Đặc biệt, khi tiến hành kiểm tra kết quả học tập nghị quyết, vẫn có cán bộ, đảng viên chủ ý cậy nhờ đồng chí, đồng nghiệp chép hộ thu hoạch... Đây quả là một thực tế rất đáng báo động!

Thế nhưng, quan ngại hơn là có nhiều đảng viên luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, nhưng bởi sự dài dòng văn tự của nghị quyết khiến việc học tập trở nên kém hiệu quả và vơi dần lòng nhiệt huyết. Kết quả khảo sát ở 23 đảng bộ xã, phường, thị trấn thuộc 3 tỉnh khu vực Tây Nguyên, cho thấy: 97% đảng viên, quần chúng cho rằng, việc học nghị quyết nên chỉ tập trung vào những vấn đề cốt lõi, cơ bản, sát sườn; gần 98% đảng viên cho rằng nghị quyết càng dài thì khâu quán triệt càng khó; hơn 76% số đảng viên bày tỏ mong muốn, nghị quyết lãnh đạo cần ngắn gọn, dung dị thì mới dễ quán triệt, triển khai.

Học tập nghị quyết là một chế độ bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên. Thế nhưng, mọi sự học đều bắt đầu từ ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm của đối tượng và việc học tập, quán triệt nghị quyết cũng vậy. Suy cho cùng, bản thân nội dung được học tập có thực sự giá trị, có ý nghĩa thiết thân đối với người học thì mỗi người sẽ tự hình thành động cơ, động lực, kết nên niềm đam mê, ham muốn học tập nghị quyết.

Một điều đáng bàn nữa là cách thức tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết hiện nay chưa có nhiều đổi mới; các chế tài, quy định trong tổ chức học tập nghị quyết thiếu toàn diện, chưa tròn khâu. Gần như ở nhiều nơi, sau học tập thì đương nhiên kết quả kiểm tra là 100% khá, giỏi mà “bỏ quên” cả tính thực chất, khách quan trong đánh giá. Hơn thế, cũng ít thấy tổ chức đảng mạnh tay xử lý cán bộ, đảng viên vì rơi vào các biểu hiện xem nhẹ, lười học, vi phạm quy chế hoặc kết quả học tập nghị quyết thấp kém. Mặt khác, kết quả học tập nghị quyết cũng chưa “hiện thực hóa” như một tiêu chí, căn cứ xem xét, đánh giá cán bộ, đảng viên theo quy định của cơ quan chức năng.

Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng chỉ rõ: “Lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng...” đồng thời khẳng định đây là một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Thế nhưng, công bằng mà nói, việc lười học nghị quyết vẫn có nguyên nhân quan trọng thuộc về phía khách quan. Do đó, những người ban hành nghị quyết và tổ chức học tập nghị quyết cũng phải nhận rõ trách nhiệm, để không ngừng đổi mới, nâng cấp, nâng tầm nội dung nghị quyết và đổi mới công tác tổ chức quán triệt nghị quyết.

Căn bệnh sính hoành tráng và duy ý chí

Một trong những sự kiện chính trị-văn hóa quan trọng được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quan tâm trong những tháng đầu năm 2023 là các hoạt động kỷ niệm 80 năm ra đời Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943. 80 năm qua, mặc dù hoàn cảnh lịch sử, tình hình kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội của đất nước đã thay đổi rất nhiều nhưng Đề cương về văn hóa Việt Nam đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị và tính thời sự, đặc biệt là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt từ 3 nguyên tắc cơ bản: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Sau 80 năm nhìn lại, các nhà nghiên cứu đã rút ra được rất nhiều bài học giá trị: Về hình thức, văn bản được soạn thảo rất ngắn gọn, khúc chiết, súc tích; cách diễn đạt dễ học, dễ nhớ. Về nội dung tư tưởng, Đề cương về văn hóa Việt Nam vừa thể hiện tầm tư duy chiến lược, vừa bám sát thực tiễn tình hình cách mạng và đời sống xã hội Việt Nam. Chỉ đọc một lần là nắm được những nội dung cơ bản và có thể hình dung ngay nhiệm vụ phải thực hiện, công việc phải làm. Đó là những yếu tố rất thuận lợi để đường lối, chủ trương của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Trước đó, tháng 2-1930, Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng thảo luận, thông qua, cũng là những văn bản rất ngắn gọn, khúc chiết, súc tích. Đây là những cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta. Mặc dù mỗi văn bản chỉ gói gọn trong một trang giấy nhưng Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đã xác định rõ chủ trương, các giai đoạn, đối tượng và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. 

Dẫn hai ví dụ điển hình như trên, soi chiếu trong tình hình hiện nay, chúng ta đều thấy rõ, đặc điểm phổ biến của nghị quyết hiện nay là văn bản rất dài. Khập khiễng và duy ý chí khi so sánh về hình thức văn bản, độ dài-ngắn của các nghị quyết của Đảng trong lịch sử với giai đoạn hiện nay, bởi mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng có sứ mệnh, nhiệm vụ khác nhau; trình độ của cán bộ, đảng viên và trình độ dân trí cũng khác nhau. Tuy nhiên, theo quy luật nhận thức và hành động thì rõ ràng, chỉ khi cán bộ, đảng viên nắm chắc, hiểu sâu, nhớ rõ nghị quyết thì việc vận dụng vào thực tiễn nhiệm vụ mới thực sự hiệu quả. Chánh cương vắt tắt, Sách lược vắn tắt hay Đề cương về văn hóa Việt Nam có “hay” không? Rất hay! Cái hay không chỉ ở sự ngắn gọn, súc tích mà nội dung vừa mang tính khoa học, vừa mang tính đại chúng, ai đọc cũng có thể hiểu được.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy cán bộ, đảng viên về cách viết: Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem không nhớ được, không hiểu được là viết không đúng, nhắm không đúng mục đích. Mà muốn người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ người xem. Người nhấn mạnh: "Trước hết cần phải tránh cái lối viết "rau muống", nghĩa là lằng nhằng "trường giang đại hải”... Như vậy, viết ngắn mà rõ ràng, đầy đủ, dễ nhớ, dễ học, dễ triển khai hiệu quả... thì mới thực sự là hay.

Dưới góc nhìn triết học, TS Phạm Đào Thịnh (Trường Đại học Sài Gòn) cho rằng, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên các cấp rơi vào tình trạng tư duy kiểu “duy tâm chủ quan” dẫn đến cảm tính, đề cao vai trò, ý muốn cá nhân, duy ý chí, rập khuôn, máy móc trong tổ chức chỉ đạo soạn thảo, ban hành nghị quyết. Thấy nghị quyết cấp trên dài, cấp mình cũng phải làm cho thật dài. Cách soạn văn bản cũng rập khuôn theo cấp trên. Nghị quyết sau giống nghị quyết trước, chỉ điều chỉnh nội dung, số liệu. Soạn văn bản thật “hoành tráng” cốt để cấp ủy cấp trên kiểm tra, ghi nhận. Sau đại hội, hội nghị thì đưa nghị quyết cất kỹ vào ngăn tủ. Không ít nghị quyết chỉ có tác dụng khi cán bộ, đảng viên để xảy ra vi phạm khuyết điểm thì khi đó, cấp ủy, tổ chức đảng mới giở lại nghị quyết soi chiếu để luận tội. Thế nên, nghị quyết thì rất nhiều, rất dài, rất “hay”, nhưng thấm được vào tư duy, chuyển biến thành hành động của cán bộ, đảng viên thì còn nhiều hạn chế.

Điều trị bệnh đùn đẩy, né tránh trách nhiệm

 

Phát biểu kết luận Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất triển khai luật, nghị quyết của Quốc hội khóa XV diễn ra mới đây, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ yêu cầu thời gian tới cần khắc phục kịp thời, hiệu quả tình trạng đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, công chức...

Bệnh đùn đẩy, né tránh trách nhiệm là một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Thực chất của căn bệnh này là sợ bị liên lụy, sợ bị quy trách nhiệm, sợ bị ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân. Chính vì luôn tính toán đến lợi ích cá nhân mà thui chột dũng khí đấu tranh, không dám đương đầu với khó khăn, chỉ làm việc cầm chừng cho tròn bổn phận công chức. Cũng vì sợ ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân nên tìm đủ mọi cách để né tránh, đùn đẩy công việc cho người khác. Một số cán bộ do năng lực và trình độ chuyên môn yếu, làm thì sợ sai nên chọn cách an phận, giữ ghế. Điều đáng lo ngại là căn bệnh đùn đẩy, né tránh trách nhiệm đang có chiều hướng gia tăng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và công chức ở các cấp, ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế-xã hội.

Để đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới và hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, chúng ta cần kiên quyết chữa trị, khắc phục căn bệnh đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Muốn vậy phải đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững bản lĩnh chính trị, nhân cách, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ra sức xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập kỷ cương, trách nhiệm và tính nêu gương lên hàng đầu; tăng cường đấu tranh, phê phán tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức hiện nay. Đối với những trường hợp đùn đẩy, né tránh trách nhiệm thì phải kiểm điểm, xử lý theo quy định. Đối với những trường hợp đã được tổ chức nhắc nhở, kiểm điểm mà không tiến bộ thì nên thay thế hoặc điều chuyển sang công việc khác; chúng ta cũng cần  phải có chính sách, cơ chế thỏa đáng nhằm khuyến khích, bảo vệ những cán bộ gương mẫu, có ý chí chiến đấu và tinh thần trách nhiệm cao.

Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải tăng cường tự soi, tự sửa, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện để giữ vững phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Và chỉ có như thế mới thật sự là "công bộc của dân" như Bác Hồ răn dạy. 

Biết xấu hổ với "sáng tạo" gian lận

 

Trên thế giới, cứ 100 đồng tiền kiếm được từ hành vi gian lận trên YouTube thì có 55 đồng của người dùng Việt Nam.

Chúng ta đứng đầu danh sách vi phạm bản quyền. Trong khi, đất nước đứng thứ hai cũng chỉ bằng 1/10 của chúng ta. Trong số những vi phạm nhiều có kênh tường thuật trực tiếp các trận bóng đá thuộc bản quyền của các đài truyền hình, từ đó thu hút lượt xem và quảng cáo.

Có kênh mua phim đồi trụy của Nhật Bản, cắt thành nhiều phim ngắn rồi đóng gói, bán cho khán giả. Có kênh sản xuất nội dung bằng cách lấy nội dung người khác làm rồi đăng tải lại lên mạng xã hội. Đó là những thông tin do đại diện Bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra tại Hội thảo Kết nối mạng lưới quản lý đa kênh (MCN), các công ty truyền thông và nhà sáng tạo nội dung trên mạng (KOLs) vừa được tổ chức mới đây.

Kỷ lục đáng buồn này phơi bày thực trạng kiếm tiền như thiêu thân, bất chấp hậu quả của một bộ phận người Việt Nam làm nội dung "sáng tạo" giải trí. Thực ra thông tin nêu trên lại dường như không khiến nhiều người ngạc nhiên, vì hành vi vi phạm bản quyền tác giả của nhiều người Việt đã diễn ra trong thời gian dài chứ không phải ngày một ngày hai.

Đáng lo ngại hơn, những hành vi này không những không giảm mà có xu hướng diễn ra ngày càng phổ biến, xuất hiện ở nhiều khía cạnh nội dung và dễ dàng tiếp cận nhờ mạng internet. Trung tuần tháng 5 vừa qua, Apple đã thông báo gỡ hơn 8.000 ứng dụng vi phạm có nguồn gốc Việt Nam. Với những người “sáng tạo” dựa trên gian lận, kiếm tiền “bẩn” dễ dàng mang lại những nguồn lợi khổng lồ trong khi nếu bị xử phạt thì lại chỉ như “muối bỏ bể”.

Thực tế này không chỉ gây ảnh hưởng tâm lý đối với những người sáng tạo, nhà đầu tư chân chính của chúng ta mà còn khiến bạn bè thế giới ái ngại khi muốn kết giao, chia sẻ bản quyền với Việt Nam. Vi phạm bản quyền có thể đem lại nguồn lợi cho một số người, nhưng nhìn tổng thể thì chúng ta thiệt đơn thiệt kép khi thế giới ngày càng coi trọng vấn đề bảo vệ bản quyền, bảo vệ sở hữu trí tuệ.

Để ngăn chặn tình trạng vi phạm bản quyền, trước hết chúng ta cần biết xấu hổ. Biết xấu hổ để nhà quản lý trăn trở tìm giải pháp và đưa ra những biện pháp mạnh tay, xử lý triệt để vi phạm. Biết xấu hổ để người làm nội dung tránh đi theo con đường sao chép, ăn cắp, lười nhác sáng tạo.

Quan trọng hơn là người thụ hưởng nội dung (công chúng) cũng cần biết xấu hổ để không sử dụng những ấn phẩm được sản xuất, sáng tạo bằng trí tuệ, mồ hôi, công sức của người khác. Cách làm cũng khá đơn giản. Công chúng chỉ cần thẳng tay loại bỏ, báo cáo và không tiếp tay cho vi phạm bản quyền tác giả. Khi có sự góp sức của người dùng, với “tai mắt” ở mọi nơi, tự khắc nguồn cung của những hành vi vi phạm cũng như vòi bạch tuộc bị cắt bỏ.

Trí tuệ là tài sản vô hình nhưng mang lại những giá trị vô giá. Biết xấu hổ trong bảo vệ bản quyền tác giả như vậy, chúng ta mới có thể khuyến khích sáng tạo, thu hút việc đầu tư công sức, tiền của, trí tuệ cho việc phát triển nội dung sáng tạo một cách lành mạnh. Khi ấy, xấu hổ không chỉ là cảm xúc đơn thuần mà còn là động lực giúp ta đứng lên và vươn tới chiến thắng.

Kiên quyết chữa bệnh sợ sai

 

Ở Đảng bộ địa phương nọ, sau khi quyết nghị đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với một cán bộ thực hiện nhiệm vụ luân chuyển thì câu chuyện chè nước sau đó lại có nội dung trái ngược.

Bấy giờ, nhiều ý kiến bày tỏ băn khoăn, trăn trở rằng dù về địa phương đã vài năm nhưng cán bộ luân chuyển gần như chưa có đóng góp gì xứng đáng, thậm chí còn cố tình tránh mọi va chạm, không tham gia công việc chung vì sợ sai sót, khuyết điểm và cố tình “nín thở” chờ thời điểm được “rút về an toàn”.

Câu chuyện không dừng lại ở đó khi nhiều ý kiến còn phản pháo lẫn nhau, cho rằng tình trạng cán bộ sợ sai đang diễn ra phổ biến, nhất là ở cán bộ chủ trì, chủ chốt. Cũng bởi thế mà dư luận thường đàm tiếu về một thực tế “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm không sai”. Lại có chuyện, bây giờ làm việc gì cũng sợ sai, làm xong không biết có sai hay không, và khi đã sai rồi thì cũng không biết sai chỗ nào, sai ở đâu...

Tất nhiên, việc cán bộ biết sợ sai là một biểu hiện phẩm chất tốt. Nhờ có tâm lý sợ sai mới tránh và hạn chế được tình trạng cán bộ vi phạm kỷ luật, rơi vào vòng lao lý. Thế nhưng, nếu cán bộ sợ đến mức không dám làm, không dám hành động vì sợ trách nhiệm thì hoàn toàn không thể chấp nhận. Bởi lẽ, sợ sai thái quá tất yếu dẫn đến tình trạng triệt tiêu tính quyết đoán, sự sáng tạo, bứt phá và ngăn cản mọi hành động cách mạng trên thực tế. Tai hại hơn, khi một bộ máy cầm quyền có nhiều người sợ sai thì sẽ kìm hãm sự tiến bộ của tổ chức, thậm chí là kéo lùi sự phát triển của quốc gia, dân tộc.

Căn bệnh sợ sai cần sớm được chẩn đoán, chữa trị một cách nghiêm túc, căn cơ, bài bản.

Ở góc độ lãnh đạo quản lý, cơ quan chức năng cần sớm nghiên cứu, hoàn thiện thể chế, cơ chế bảo đảm cho việc khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm và không còn tâm lý lo sợ trước những sai sót, rủi ro khách quan. Tất nhiên, phần việc này đã được Đảng ta sớm nhận thức đầy đủ, được Bộ Chính trị xác định rõ trong Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Thế nhưng, khách quan mà nói, hiệu quả đạt được trên thực tế vẫn chưa như mong muốn. Do đó, vấn đề cấp thiết hiện nay là phải sớm thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương thành các quy định cụ thể, vận hành hiệu quả trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của bộ máy cầm quyền.

Trong khi đó, đội ngũ cán bộ cần nhận thức rõ: Khi cán bộ không dám làm vì sợ sai cũng có nghĩa là bản thân thiếu trách nhiệm, tự đánh mất đi vai trò, sứ mệnh được Đảng và nhân dân giao phó, không còn xứng đáng với tư cách của người cán bộ, đảng viên chân chính. Mỗi cá nhân cần kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện biện hộ, đổ lỗi những sai lầm là do cơ chế gây ra. Cơ chế, chính sách không có lỗi mà chính là do người ta hiểu sai, hiểu chưa đầy đủ, hoặc lợi dụng cơ chế để làm những việc khuất tất, vì chủ nghĩa cá nhân. Một khi từng cán bộ thực hiện đúng chức trách, phận sự của mình trên cương vị công tác, làm việc bằng năng lực thật và vì lợi ích chung thì không phải sợ bất cứ điều gì cả.

Giao nhiệm vụ, chỉ tiêu, thời hạn rõ ràng và thay thế cán bộ

Để giải quyết tình trạng chây ì, né việc, né trách nhiệm trong cán bộ, công chức hiện nay, nên nghiên cứu thực hiện một số giải pháp sau:

Trước hết, cần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực chất của công tác cán bộ. Cần phải chọn bằng được những cán bộ đủ đức, đủ tài, đủ kiến thức, kinh nghiệm và bản lĩnh, dám làm, dám chịu trách nhiệm để giao trọng trách. Muốn vậy thì phải thực hiện tốt quy định của Đảng về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền. Công tác cán bộ có sạch thì Đảng mới mạnh, tổ chức mới mạnh, công việc mới thông, quốc gia mới phát triển.

Thứ hai, cần thường xuyên xem xét, sửa đổi các luật, các quy định không phù hợp với thực tiễn, để luật mang tính khả thi cao, tránh rủi ro cho đội ngũ cán bộ, công chức khi thực thi nhiệm vụ.

Thứ ba là phải quy trách nhiệm cho người đứng đầu. Chọn cán bộ tốt đồng thời cũng phải có phương pháp và quy định để đánh giá đúng chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ. Một cán bộ tốt nhưng được giao vào một vị trí công việc chưa phù hợp cũng có thể ảnh hưởng tới chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ đó. Nếu cán bộ giữ vị trí chủ trì thì sẽ ảnh hưởng tới chất lượng công việc của cơ quan, đơn vị.

Do vậy, cần giao nhiệm vụ, giao chỉ tiêu cho cơ quan, đơn vị và cho cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị ấy một cách rõ ràng. Nếu không hoàn thành chỉ tiêu thì cần xem xét điều chuyển cán bộ ấy sang một vị trí khác, chọn người khác phù hợp hơn. Việc giao chỉ tiêu và quy trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ cho người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị có tác dụng rất lớn đến việc đốc thúc để công việc chạy.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo rất quyết liệt là: “Ai không dám làm thì mạnh dạn đứng sang một bên cho người khác làm”, tỏ rõ thái độ đối với những cán bộ trì trệ, sợ trách nhiệm, né việc. Do vậy, những đơn vị, địa phương nào bị phản ánh nhiều về sự trì trệ, biểu hiện né tránh trách nhiệm thì cần xem xét trách nhiệm của người đứng đầu và có giải pháp thay thế phù hợp. Phải đả phá để thay đổi hẳn quan niệm “không làm thì không sai” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thấy rằng: Không làm mà gây hậu quả nghiêm trọng thì sẽ bị quy trách nhiệm, bị xử lý.

Thứ tư là đối với cán bộ trong diện quy hoạch, được luân chuyển công tác, cần xem xét kỹ chất lượng hoàn thành nhiệm vụ ở vị trí luân chuyển. Không nên để tồn tại tâm lý “án binh bất động” trong một bộ phận cán bộ thuộc diện quy hoạch được luân chuyển để thử thách. Chính thời gian luân chuyển này là cơ hội để cán bộ thể hiện rõ năng lực, nhiệt huyết cống hiến của mình, từ đó tổ chức mới sắp xếp cán bộ theo quy hoạch.

Thứ năm là cần xây dựng và áp dụng các công cụ để định lượng, đánh giá một cách chính xác, khoa học chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức. Hiện nay, công tác đánh giá cán bộ còn cảm tính, chưa có các công cụ để đo lường hiệu quả chất lượng hoàn thành nhiệm vụ. Ở những nơi công việc bị tắc nghẽn, chậm trễ thì cán bộ vẫn có thể được đánh giá là hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Ở các nước phát triển, có rất nhiều công cụ để đo lường hiệu quả làm việc của nhân sự, ví dụ như chỉ số KPI mà hiện nay nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam đã áp dụng khá hiệu quả. Chỉ số này có tiêu chuẩn chung, dựa vào đó, mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp sẽ xây dựng, điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù lĩnh vực của mình. Tuy nhiên, muốn đánh giá được hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức thì các chỉ tiêu, nhiệm vụ, thời hạn hoàn thành được giao cho các bộ, ngành, địa phương cũng phải hết sức cụ thể, rõ ràng.

 Thứ sáu là cần có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ cán bộ có tinh thần “7 dám: Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”. Hiện nay đã có Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Thế nhưng, Kết luận số 14-KL/TW cần được thể chế hóa thành các quy định cụ thể của pháp luật, từ đó cán bộ có chỗ dựa mới tự tin khi thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích chung.

Thứ bảy là đối với cá nhân cán bộ, đảng viên, phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh, đạo đức cách mạng, năng lực, trình độ. Khi người cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình sẽ luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng.

Đồng thời, đạo đức cách mạng sẽ thúc đẩy người cán bộ, đảng viên nhiệt huyết trong thực hiện nhiệm vụ, không thể đành lòng nhắm mắt làm ngơ trước một núi công việc, không thể làm ngơ trước sự trông mong, tin tưởng của tổ chức, xã hội và nhân dân. Bản lĩnh của người cán bộ được thể hiện ở ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, kiên cường, dũng cảm, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung.

Cùng với đó, người cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Người cán bộ có trình độ, năng lực, kinh nghiệm thực tiễn sẽ tạo ra niềm tin và chỗ dựa vững chắc cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền, làm cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền không hoài nghi, dao động trước những quyết định của mình. Từ đó, tổ chức, cơ quan, đơn vị luôn có bầu không khí sôi nổi, tự tin trong mọi hoạt động.

Khi những yếu tố nêu trên được tích lũy đầy đủ, người cán bộ sẽ luôn phát huy tốt tinh thần “7 dám”, không sợ trách nhiệm, không né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm.

Thủ thuật để chây ì công việc

Nhìn ở khía cạnh luật pháp, đồng chí Lê Thanh Vân, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội cho rằng, hành vi không làm gì cả là vi phạm pháp luật bởi không thực hiện bổn phận, nghĩa vụ mà Nhà nước trao. Như vậy là vô trách nhiệm và vi phạm pháp luật, phải xử lý.

Tuy nhiên, tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện nay chưa thấy những quy định cụ thể để xử lý cán bộ, công chức né việc, chỉ thấy các quy định xử lý khi cán bộ không chấp hành giờ làm việc, nghỉ việc không đúng quy định, làm việc riêng trong giờ hành chính... Còn khi cán bộ, công chức vẫn ở cơ quan theo đúng quy định thì không dễ để xử lý khi công việc chưa hoàn thành.

Thời gian qua, xuất hiện một kiểu hành xử khá "cù nhầy" trong thực thi công vụ, ấy là cứ gửi văn bản lên hỏi cấp trên, hỏi các cơ quan quản lý ngành, mặc dù theo quy định của pháp luật thì cơ quan, địa phương ấy đủ thẩm quyền để quyết định, xử lý công việc và chịu trách nhiệm. Cơ quan quản lý ngành khi nhận được văn bản lại trả lời rất chung chung là: “Đề nghị thực hiện theo đúng quy định của pháp luật”.

Như vậy là "quả bóng" trách nhiệm cứ được đá qua đá lại giữa các cơ quan, bộ, ngành, địa phương. Công việc cứ bị đình trệ, thiệt hại thì rất lớn, nhưng cũng không thấy ai phải chịu trách nhiệm. Bởi thực tế là với một cán bộ không tham mưu hay ký quyết định bị phát hiện là sai phạm pháp luật thì cũng không dễ để xử lý, kỷ luật họ. Công việc chưa thông nhiều khi được cán bộ giải thích rằng chưa đủ căn cứ pháp luật để giải quyết và việc gửi các văn bản hỏi lòng vòng một cách không cần thiết cũng được giải thích là quá trình thực thi nhiệm vụ, không dễ để bắt lỗi.  


Nguy hiểm từ nhận thức “không làm thì không sai”

 Hiện tượng cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám thực thi công vụ không phải là hiện tượng đơn lẻ mà diễn ra ở nhiều địa phương, kể cả một số bộ, ngành Trung ương. Tâm lý sợ sai thể hiện rõ trong giải ngân vốn đầu tư công, quản lý đất đai, bất động sản, mua sắm trang thiết bị khu vực công, cung cấp dịch vụ liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp, đã được báo chí phản ánh.

Tâm lý sợ sai từ những lĩnh vực nhạy cảm có dấu hiệu lan rộng sang nhiều lĩnh vực, thậm chí xuất hiện hiện tượng né việc, cán bộ không muốn ký bất cứ văn bản nào.

Đặc biệt, cán bộ trong quá trình luân chuyển công tác càng có biểu hiện ngại việc, có tâm lý thủ thế, tránh sai sót, để chờ hết thời gian luân chuyển. Có đơn vị phản ánh họ rất nản lòng với một vị cán bộ thuộc diện này, bởi bất cứ văn bản nào trình lên cũng bị vị cán bộ này hỏi ngược lại rằng: “Tôi có đủ thẩm quyền ký không?”, rồi lưu văn bản đó lại để nghiên cứu, gây ách tắc công việc, mặc dù những văn bản trên hoàn toàn đúng thẩm quyền và theo thông lệ thường kỳ.  

Điều này làm trì trệ và chậm trễ nền công vụ, bào mòn và giảm niềm tin của người dân, ảnh hưởng đến mọi mặt kinh tế-xã hội; cản trở nguồn lực và động lực phát triển, nhất là trong tình hình khó khăn hiện nay.

Đáng lo ngại là đang có lối nghĩ khá phổ biến trong đội ngũ cán bộ, công chức là "không làm thì không sai". Đây là dấu hiệu "tự diễn biến" trong tư tưởng chính trị của cán bộ, công chức, gây cản trở nghiêm trọng tới kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và sự phát triển chung của đất nước.

Phát biểu tại Quốc hội, đại biểu Quốc hội Nguyễn Hữu Thông cho biết, có tình trạng bất an, sợ sai, sợ trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, có cán bộ đã tâm sự rằng "thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn đứng trước hội đồng xét xử".

Thực tế diễn biến tư tưởng này cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đang phân tách việc vi phạm kỷ luật với vi phạm pháp luật. Họ cho rằng vi phạm kỷ luật công vụ thì bị kỷ luật đảng (với các hình thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ), kỷ luật hành chính với các hình thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm (đối với cán bộ) hay khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc thôi việc (đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý), hoặc là khiển trách, cảnh cáo, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc (với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý). Nhưng nếu vi phạm pháp luật thì cán bộ, công chức có thể sẽ phải chịu án hình sự, có thể phải ngồi tù.    

Theo Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà, có 4 nhóm nguyên nhân cơ bản dẫn đến tâm lý sợ sai, trong đó năng lực chuyên môn của bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế; người đứng đầu một số đơn vị chưa nêu gương nghiêm túc; thể chế về kinh tế-xã hội còn bất cập, chồng chéo hoặc có vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn nhưng chưa được sửa kịp thời.

Công cuộc chống tham nhũng đang được đẩy mạnh, nhiều cán bộ, công chức sai phạm nghiêm trọng bị kỷ luật, khởi tố dẫn đến một bộ phận có tâm lý sợ sai. Nhìn nhận với góc độ tư tưởng chính trị, đồng chí Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh rằng, dù vì nguyên nhân nào thì cán bộ sợ sai, không dám làm là vi phạm quy định, có biểu hiện suy thoái, cần nghiêm khắc phê phán và phải có giải pháp để triệt tiêu hiện tượng tiêu cực này.

Đổ lỗi cho việc sợ sai phạm pháp luật để né việc, đùn đẩy trách nhiệm chỉ là một cách ngụy biện, bởi thực tế, cùng quy định pháp luật, cùng cơ chế nhưng một số địa phương vẫn thực hiện tốt đầu tư công, tăng trưởng kinh tế, phát triển doanh nghiệp, cán bộ vẫn năng động, sáng tạo, dám làm và làm tốt. Do đó, không thể đổ lỗi hoàn toàn do vướng mắc về quy định, cơ chế để không thực thi công vụ.

Bệnh sính thành tích và “nghệ thuật” che giấu khuyết điểm

 

Thành tích là kết quả tốt đẹp do sự cố gắng, nỗ lực mà đạt được. Thành tích đi liền với biểu dương, khen thưởng sẽ là động lực cho sự phát triển. Đáng tiếc hiện nay, nhiều “thành tích” ảo vì bị một bộ phận cán bộ, đảng viên nhào nặn mà thành.

Có thể thấy, họ ham thích đến mức sính thành tích, trở thành một căn bệnh của xã hội-bệnh sính thành tích. Những người này làm việc gì cũng chỉ vì thành tích, sẵn sàng làm gian dối, thích được ca ngợi, thích được tung hô, vì vậy, họ cố tình “báo cáo khống”, có một báo mười, thậm chí hàng trăm, hàng nghìn để thổi phồng thành tích. Một số khác (thường là những cá nhân có chức, có quyền) lại sử dụng công quỹ và nhân danh tập thể để rùm beng, biến thành tích của đơn vị, địa phương thành thành tích cá nhân.

Nguy hại hơn, vì thành tích mà họ cố tình che giấu khuyết điểm bằng cách tự “nặn ra thành tích”, không được thì họ “chạy thành tích”, cậy cục, gõ cửa cấp trên, lo lót cho một số cán bộ có chức quyền để báo cáo gian dối, xuyên tạc kết quả, thậm chí sẵn sàng dùng những mánh khóe để đánh lừa cấp trên và dư luận... Vì thành tích mà họ thù ghét những ai vạch mặt, chỉ tên những hạn chế, khuyết điểm của mình. Họ nâng sự che giấu khuyết điểm lên tầm “nghệ thuật”, gọi là “nghệ thuật” che giấu khuyết điểm. Sính thành tích và che giấu khuyết điểm luôn gắn liền với nhau, là hệ lụy của nhau. Họ dùng thành tích để che giấu khuyết điểm, đánh bóng tên tuổi, tạo sự vững mạnh giả tạo, làm bình phong che chắn cho mình, để mở cánh cửa thăng tiến, củng cố vị trí, quyền lực.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những biểu hiện của những kẻ sính thành tích, đó là: “... ham chuộng hình thức, làm việc không xét đến kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ chăm về hình thức bên ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai; làm được ít suýt ra nhiều...; tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình; báo cáo dối, giấu cái dở, cái xấu, chỉ nêu cái tốt, cái hay...”. Thực tế thời gian qua, nhiều cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao bị kỷ luật, thậm chí ra hầu tòa, nhưng trước đó đều được xếp loại hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được biểu dương, khen thưởng... 

Căn bệnh này đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra là một trong những biểu hiện của tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống: Mắc bệnh thành tích, háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, đánh bóng tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”... Bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm đã và đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng, gây mất đoàn kết nội bộ, mất niềm tin dẫn đến hủy hoại uy tín, danh dự của cá nhân và sức mạnh của tổ chức, xa hơn, nó còn làm tổn hại đến Đảng, Nhà nước và chế độ.

Nhận diện căn bệnh này không quá khó, nhưng khá phức tạp vì nó thường được che giấu bởi vẻ bề ngoài hào nhoáng, bóng bẩy. Nếu không nhìn nhận thấu đáo, soi vào bản chất, logic của vấn đề thì khó đoán biết, phải qua kiểm tra, giám sát của tổ chức, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân mới phát hiện được chính xác. Bệnh sính thành tích và "nghệ thuật” che giấu khuyết điểm xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan.

Thứ nhất, xuất phát từ tâm lý háo danh, ưa chuộng hình thức, tư tưởng kèn cựa, đố kỵ “con gà tức nhau tiếng gáy” còn tồn tại trong suy nghĩ, nhận thức của không ít cán bộ, đảng viên. Một bộ phận cán bộ, đảng viên coi thành tích không chỉ là phương tiện nhằm thỏa mãn tâm lý thích được đề cao, ca ngợi mà mục đích sâu xa hơn, họ còn dùng để ngụy trang, bưng bít khuyết điểm. Tâm lý thích khen hơn chê, sĩ diện, thích phô trương theo kiểu “đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”; tâm lý không muốn “vạch áo cho người xem lưng”; tâm lý nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh hoặc lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau.

Thứ hai, vì mang nặng chủ nghĩa cá nhân mà mắc bệnh sính thành tích, nhất là trong những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, chỉ biết chăm lo, vun vén cho lợi ích cá nhân, quên lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, đặt cái riêng lên trên cái chung mà bao che, giấu giếm khuyết điểm, khuếch trương thành tích. Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới đã chỉ ra một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân đó là: “Thổi phồng thành tích, đánh bóng tên tuổi; sợ trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi; giấu giếm, bao che và không trung thực về những khuyết điểm, sai phạm”.

Thứ ba, do tính chiến đấu của các tổ chức nói chung, tổ chức cơ sở đảng nói riêng chưa được phát huy đúng mức, tự phê bình và phê bình yếu. Cán bộ cấp dưới, đảng viên thì sợ khuyết điểm, không dám chịu trách nhiệm, không đủ dũng cảm để nhìn thẳng vào sự thật, báo cáo đúng sự thật. Thấy cái xấu, cái sai của người có vị trí cao hơn mình chẳng ai dám nói ra. Ai can đảm nói ra thì những người có quyền lợi liên quan hoặc có thể bị ảnh hưởng sẽ cùng nhau cho người đó ra rìa, bị cười nhạo hoặc ghét bỏ.

Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở kém hiệu quả, vai trò của quần chúng không được phát huy. Quần chúng không nói không phải không biết hay không có gì để nói mà họ nghĩ nói ra cấp trên sẽ không nghe, thậm chí có khi còn bị trù dập theo kiểu “đấu tranh-tránh đâu”. Họ sợ sẽ bị quy kết làm mất uy tín cán bộ, làm ảnh hưởng đến thành tích của cơ quan, đơn vị, làm mất đoàn kết nội bộ, làm giảm ý chí chiến đấu của tập thể.

Ngoài ra, công tác thi đua, khen thưởng ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực chất, nặng về hình thức. Việc tổ chức đánh giá, kiểm soát về chất lượng không kỹ càng đã tạo kẽ hở và điều kiện cho hành vi “làm láo, báo cáo hay”, “chạy thành tích”, “chạy danh hiệu”... đang là một trong những lý do dẫn đến bệnh sính thành tích và “nghệ thuật” che giấu khuyết điểm của cán bộ, đảng viên hiện nay. Để khắc phục căn bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm cần tập trung giải quyết dứt điểm căn nguyên của nó.

Một là, khắc phục tâm lý sùng bái thành tích, quá coi trọng hình thức, phô trương; giấu giếm khuyết điểm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Cũng cần nhìn nhận rằng, giấu giếm khuyết điểm và thích khen hơn chê là bản tính của con người, là yếu tố tâm lý khách quan. Do đó, muốn chữa bệnh phải điều trị từ gốc. Trước hết, chủ quan của những người này phải muốn chữa và quyết tâm chữa (ở đây bao gồm cả những người mắc bệnh sính thành tích, che giấu khuyết điểm và những người đứng đầu tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị các cấp trong hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên). Nhưng thực tiễn đang tồn tại nghịch lý là rất nhiều cán bộ, đảng viên không muốn “chữa bệnh”.

Lý do thật đơn giản: Tự nhận khuyết điểm thì sẽ thiệt nhiều thứ, như mất thành tích, bị trừ điểm thi đua, ảnh hưởng tới những quyền lợi cá nhân. Thậm chí, việc tự nhận khuyết điểm còn bị nhiều người cho là dại dột “chưa khảo đã xưng”, “tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt”... không ít trường hợp còn bị cán bộ cấp trên lấy làm ví dụ nhắc đi nhắc lại mãi. Vì thế, nhiều người đã rút ra “bài học” chẳng dại gì “lạy ông tôi ở bụi này”.

Bởi vậy, thay đổi cách nhìn nhận đối với khuyết điểm theo quan điểm “nhân vô thập toàn” và thái độ tích cực khắc phục, sửa chữa khuyết điểm của mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên; sự nhìn nhận, đánh giá của cấp ủy, người đứng đầu theo hướng trân trọng đức tính thẳng thắn, trung thực, tự giác nhận khuyết điểm là yếu tố tiên quyết để tuyên chiến với “căn bệnh” và khắc phục nghịch lý không muốn “chữa bệnh” nêu trên.

Hai là, đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát của cấp ủy, người đứng đầu và các cơ quan cấp trên đối với cơ sở. Duy trì nghiêm nền nếp chế độ sinh hoạt Đảng, chấn chỉnh nền nếp sinh hoạt chi bộ. Đổi mới công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên theo đúng Quy định số 132-QĐ/TW ngày 8-3-2018 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 21-HD/BTCTW ngày 18-10-2019 của Ban Tổ chức Trung ương.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, huy động quần chúng nhân dân tham gia phòng, chống, ngăn chặn và đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Đảng ta đang khuyến khích và đã có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. 

Đặc biệt, Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã xác định rõ nguyên tắc: Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng.

Ba là, chỉnh sửa, bổ sung quy chế thi đua, khen thưởng cho phù hợp với thực tiễn. Đây chính là liều thuốc đặc hiệu để chữa từ nguyên nhân gốc, trị dứt điểm bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm nguy hại. Hiện nay cũng có quan điểm cho rằng, để tránh bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm, nên bỏ các phong trào, chỉ tiêu thi đua, các danh hiệu thi đua... Chúng ta không thể đồng tình với quan điểm này, bởi vì thi đua là động lực của sự phát triển. Bác Hồ từng nói: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Điều quan trọng là phải xây dựng được chỉ tiêu thi đua sao cho phù hợp với tình hình thực tế của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, tránh bệnh sính thành tích.

Cũng không nên bóp méo, làm sai lệch bản chất, ý nghĩa tích cực của việc thi đua, để rồi biến chỉ tiêu thi đua thành “vũ khí” để hù dọa, trù dập của lãnh đạo, quản lý đối với cấp dưới hoặc là “sản phẩm” để đánh bóng tên tuổi cho lãnh đạo, quản lý và những kẻ cơ hội, thực dụng. Việc đăng ký các danh hiệu, hình thức thi đua, khen thưởng cũng cần thực hiện dân chủ và linh hoạt. Cần động viên, khuyến khích mọi người đăng ký theo nguyện vọng chứ không nên ép buộc, áp đặt. Mặt khác, cũng không nên khống chế, giới hạn số lượng, tỷ lệ đăng ký thi đua để tránh tình trạng bình xét thi đua thiếu công bằng.

Bốn là, phát huy vai trò, tính tiền phong gương mẫu của người đứng đầu và sự tự giác tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, đối với đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất thiết phải trung thực với Đảng, phải coi việc nói dối Đảng, nói dối cấp trên, báo cáo sai sự thật, che giấu khuyết điểm là có tội với Đảng, vi phạm tư cách đảng viên, tổ chức đảng ở đó cần xem xét xử lý kỷ luật, thậm chí sẵn sàng đưa ra khỏi Đảng nếu có những vi phạm nghiêm trọng.

Làm tốt công tác bồi dưỡng tạo nguồn, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ "đúng người, được việc, được tổ chức” theo tinh thần, tư tưởng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Phải trong sáng, công tâm, khách quan, đặc biệt là phải rất tỉnh táo, tinh tường trong lựa chọn cán bộ, “đừng thấy đỏ tưởng là chín”, đừng chỉ thấy “cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong” bằng những tấm bằng khen của các cấp nhưng lại làm mờ dần đi tính trung thực, đưa lối suy nghĩ, làm việc dối trá lên hàng đầu mà quên đi cái hiện thực không mấy tốt đẹp bên ngoài bản báo cáo.... 

Khắc phục bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm là công việc đòi hỏi phải có sự thống nhất về tư tưởng, hành động, được tiến hành kiên trì và đồng bộ ở tất cả các cấp với nhiều giải pháp tích cực và chủ động. Trong đó phải thật sự coi trọng biện pháp trọng tâm: Khắc phục tâm lý sùng bái thành tích, phô trương, giấu giếm khuyết điểm của cán bộ, đảng viên; phát huy quyền làm chủ tập thể của đảng viên và quần chúng trong mỗi tổ chức đảng trên cơ sở nâng cao trình độ hiểu biết của đảng viên, quần chúng về mọi mặt; khắc phục sự hình thức trong thi đua... chính là biện pháp cơ bản nhất để chống bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm.

VẠCH TRẦN CÁC QUAN ĐIỂM SAI THÙ ĐỊCH TRÁI PHỦ NHẬN NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ CỦA ĐẢNG TA

 

Những năm qua, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hòng phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất, chặt chẽ về mặt tổ chức và hoạt động của Đảng, làm cho Đảng tan rã cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ hòng thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, núp bóng dân chủ, đội lốt nhân quyền rêu rao cho rằng: tập trung và dân chủ là hai mặt không thể thống nhất, đã tập trung thì không thể có dân chủ, đã dân chủ thì không thể tập trung, tập trung với dân chủ như lửa với nước, nên hoặc chỉ có tập trung, hoặc chỉ có dân chủ .

Các luận điệu của chúng về thực chất là muốn tách rời, đối lập tập trung và dân chủ nhằm phủ nhận một mặt nào đó để Đảng dẫn tới dân chủ vô chính phủ, khi đó sự chặt chẽ, thống nhất trong tổ chức và hoạt động của Đảng bị phá vỡ, Đảng mất sức chiến đấu, uy tín của Đảng bị giảm sút, không còn đủ sức lãnh đạo cách mạng, Đảng sẽ mất vai trò lãnh đạo.

Trong bối cảnh đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị cho rằng: nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ phù hợp khi Đảng còn hoạt động bí mật hoặc trong điều kiện chiến tranh, nay thời bình, nguyên tắc đó là lỗi thời, không còn phù hợp, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới trì trệ, tiêu cực. Điều nguy hiểm hơn, họ lợi dụng những khuyết điểm, sai phạm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để đổ lỗi cho những khuyết điểm, hạn chế đó đều do nguyên tắc tập trung dân chủ không còn phù hợp.

Bên cạnh đó, các thế lực phản động triệt để lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm, nhất là khi Đảng ta đẩy mạnh thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với quan điểm “không có vùng cấm”, “không có trường hợp ngoại lệ” đã xử lý nghiêm nhiều cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng sai phạm, làm trong sạch Đảng, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã xuyên tạc, bóp méo sự thật, quy chụp, đánh đồng hiện tượng thành bản chất. Họ cho rằng, tham nhũng là bản chất của Đảng, là hệ quả của thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, là lợi ích nhóm, lợi ích của cán bộ, đảng viên. Họ cho rằng: chống tham nhũng là để thanh trừng phe cánh chứ không phải là để làm cho Đảng sạch hơn, mạnh hơn.

Sự thật hoàn toàn trái ngược: trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhiệm vụ chống tham nhũng được coi là phương thuốc chữa bệnh đặc hiệu, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Với quan điểm “xử một người, cứu muôn người”, Đảng sẽ thật sự trong sạch, thật sự xứng đáng với sứ mệnh lịch sử và trọng trách mà nhân dân giao phó. Nhiệm vụ chống tham nhũng luôn được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Chưa khi nào uy tín của Đảng được nâng cao như ngày nay. Vì vậy, những luận điểm đánh lận bản chất, bôi đen mục tiêu của Đảng cần phải được nhận diện và đấu tranh.