Thứ Năm, 14 tháng 9, 2023

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐỂ "TÌNH ĐỒNG CHÍ" TRỞ THÀNH HẠT NHÂN CỦA NIỀM TIN YÊU, GẮN KẾT!

     Thời gian qua, Đảng ta đã có nhiều hoạt động như tổ chức hội thảo, lấy ý kiến về việc xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.
     Trong nhiều tiêu chuẩn, phẩm chất và cả tình cảm, thái độ được nêu lên có một “mẫu số chung” được nhắc đến nhiều, đó là “tình đồng chí”. Đây là tình cảm mang tính kết nối làm nên uy tín, vị thế của một nhóm người cùng chung lý tưởng, mục đích. Qua thời gian trui rèn, thử thách, tình cảm đó trở nên thiêng liêng, cao quý, và tình đồng chí cũng chính là một đặc điểm dễ nhận biết của những chính đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập đến nay đã trải qua muôn vàn gian nan, thử thách.
     Song cho dù lịch sử có biến thiên, thăng trầm thì tình cảm thiêng liêng giữa những người đồng chí vẫn luôn tỏa sáng. Cho đến hôm nay, khi những người cộng sản được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách lãnh đạo đất nước thì “tình đồng chí” có còn trong sáng, có còn thắm thiết như những ngày đầu gian khó, hiểm nguy? Bài viết “Tình đồng chí” đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 10/1979 (tác phẩm in trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng) đã lý giải, cắt nghĩa và trực tiếp trả lời câu hỏi này.
     Đầu tiên, tác giả khẳng định tình đồng chí là một trong những “truyền thống quý báu của Đảng, là vật bảo đảm quan trọng cho sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, tạo ra sức mạnh vô địch của Đảng”. Bởi thứ tình cảm đó sinh ra từ “tình bạn chiến đấu” của những người chiến sĩ cách mạng giác ngộ lý tưởng cộng sản, “được thử thách trong quá trình đấu tranh cách mạng”. Theo tác giả, trong giai đoạn Đảng lãnh đạo chính quyền xây dựng chủ nghĩa xã hội, chẳng những tình đồng chí của những người cộng sản không giảm sút, không mai một, mà trái lại, càng nảy nở và phát triển.
      Bởi tình đồng chí của những người cộng sản là tình đoàn kết chiến đấu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tình đồng chí của những người cộng sản có đặc trưng dễ nhận biết, đó là, tình thương yêu trong sáng, chân thành, tôn trọng, quan tâm, thông cảm lẫn nhau, khiêm tốn, nhường nhịn nhau.
      Song, sự yêu thương đó không có nghĩa là bao che, tha thứ lỗi lầm, khuyết điểm của đồng chí mình; trái lại, người cộng sản thường xuyên giúp đỡ đồng chí mình giữ vững phẩm chất cách mạng. Tác giả kết luận: “Nếu nể nang, né tránh, hoặc vì lý do nào đó mà không nghiêm khắc với khuyết điểm của đồng chí mình là làm hại đồng chí mình, đẩy đồng chí mình vào sự sa ngã và tội lỗi; như thế không phải là thương yêu đồng chí một cách đúng đắn”.
      Mặc dù bài viết đã được xuất bản hơn 40 năm, song độc giả vẫn cảm thấy thấm thía và rút ra nhiều bài học còn nguyên tính thời sự. Có một hiện tượng xã hội đáng suy ngẫm vẫn âm thầm diễn ra ở một số tổ chức đảng và một bộ phận cán bộ, đảng viên, đó là tình đồng chí đã ít nhiều bị phai nhạt, biến dạng. Trong quan hệ giữa các đảng viên và cấp ủy, sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau đôi chỗ, đôi nơi thay bằng sự thờ ơ, lạnh nhạt, thậm chí ganh ghét, đố kỵ. Sự phai nhạt tình đồng chí khiến nội bộ mất đoàn kết, vai trò và năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng bị suy giảm.
     Trong sinh hoạt đảng, có nơi, có lúc lợi dụng danh xưng đồng chí để tụng ca, tung hô hay triệt hạ, nhất là ở mỗi dịp quy hoạch, bầu cử, lấy phiếu tín nhiệm cán bộ. Có thể nói, việc lợi dụng tình đồng chí, danh xưng đồng chí vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm tiêu cực có nhiều biểu hiện tinh vi, khó đoán định. Lâu dần, nó làm suy giảm ý nghĩa thiêng liêng và giá trị tốt đẹp ban đầu vốn có cũng như sự nâng niu, trân trọng, giữ gìn, vun đắp tình đồng chí của nhiều thế hệ đảng viên chân chính.
     Vũ khí “tự phê bình và phê bình” có thể chống lại sự phai nhạt của tình đồng chí. Song, để tình đồng chí thật sự có ý nghĩa mỗi khi nhắc đến thì mỗi người “đồng chí, đồng đội” cần xuất phát từ cái tâm trong sáng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn trân trọng, phát huy, tiếp nối truyền thống quý báu đó, để tình đồng chí luôn là thứ tình cảm thiêng liêng, trân trọng, đáng tự hào đó cũng là điều tác giả muốn gửi gắm qua bài viết của mình./.




Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 15 THÁNG 9 NĂM 1945!

         “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”!
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, ngày 15 tháng 9 năm 1945.
     Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập, tự do. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định rằng thành quả đó mới chỉ là những cơ sở nền móng đầu tiên; để độc lập, tự do đó thực sự vững bền, để nhân dân thực sự cảm nhận được giá trị của độc lập, tự do; Đảng, chính phủ và nhân dân Việt Nam phải tiếp tục nỗ lực vươn lên, xây dựng đất nước thành một quốc gia giàu mạnh với một nền kinh tế tri thức phát triển cao; một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh cùng tiềm lực quốc phòng hùng mạnh... Để có được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh thiết tha mong mỏi các thế hệ tương lai Việt Nam - những thế hệ trẻ được cắp sách đến trường trong hòa bình, trong tự do không ngừng ra sức cố gắng học tập, vươn lên tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến của thế giới, tự đào tạo mình trở thành một lực lượng lao động quyết định, có đủ khả năng đưa đất nước bước lên đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc trên thế giới.
     Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam đã không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện, trưởng thành cả về phẩm chất, năng lực, giành nhiều thành tích cao góp phần quan trọng cùng quân dân cả nước giành thắng lợi trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc, thực dân xâm lược giải phóng đất nước và thành công trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Thành tích học tập, nghiên cứu khoa học của các thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam đã thực sự làm rạng danh đất nước, đặt nền móng vững chắc, tạo tiền đề để đưa đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
     Tuổi trẻ, học viên, sinh viên quân đội đinh ninh lời Bác dạy, thi đua thực hiện thắng lợi các phong trào thi đua: “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng”, "Thanh niên Quân đội vươn tới những đỉnh cao" và phong trào “Thanh niên Quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”…và cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” vượt mọi khó khăn, nỗ lực phấn đấu học tập, rèn luyện đạt các giải cao tại các cuộc thi trong nước và quốc tế; tích cực học tập, huấn luyện làm chủ các loại vũ khí trang bị, nhất là vũ khí mới, hiện đại… góp phần xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KỶ NIỆM 50 NĂM CHUYẾN THĂM LỊCH SỬ CỦA CHỦ TỊCH CUBA FIDEL CASTRO ĐẾN VÙNG ĐẤT LỬA QUẢNG TRỊ (15/9/1973-15/9/2023)!

     Cách đây 50 năm, ngày 15/9/1973, khi chiến trường Quảng Trị vẫn còn nồng mùi thuốc súng, từ bên kia bán cầu, Lãnh tụ Cuba Fidel Castro đã đến thăm vùng đất vừa được giải phóng của tỉnh Quảng Trị. Khi ấy, ông là Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Cuba, Thủ tướng Chính phủ cách mạng Cuba. Ông là nguyên thủ nước ngoài đầu tiên và duy nhất thăm vùng giải phóng miền Nam chỉ ít tháng sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (tháng 1/1973). Sự kiện Lãnh tụ Fidel Castro tới vùng Giải phóng miền Nam Việt Nam là một dấu mốc lịch sử đặc biệt trong quan hệ hai nước Việt Nam - Cuba, đồng thời là một biểu tượng của phong trào quốc tế đoàn kết và ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
     Tròn nửa thế kỷ qua, chuyến thăm vùng giải phóng Quảng Trị của Chủ tịch Cuba Fidel Castro ngày 15-9-1973 vẫn vẹn nguyên những dấu ấn sâu đậm không chỉ trên lĩnh vực ngoại giao, mà còn cả trong cuộc sống của nhiều người dân Việt Nam. Trong trái tim của người dân Việt Nam, Chủ tịch Cuba Fidel Castro là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần quật khởi và khát vọng vươn tới tự do, hạnh phúc, là biểu tượng của tình cảm gắn bó thân thiết với nhân dân Việt Nam. Bất chấp hiểm nguy, sự có mặt của Chủ tịch Cuba Fidel Castro tại vùng đất lửa Quảng Trị đã mang đến cho nhân dân Việt Nam tình đoàn kết, sự ủng hộ quý báu của đất nước và nhân dân Cuba - biểu tượng cao cả của tình đoàn kết quốc tế thủy chung, trong sáng, sự cổ vũ, động viên to lớn đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa vô cùng gian khổ, ác liệt của nhân dân Việt Nam./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG CÁN BỘ NÉ VIỆC!!!

     Thời gian qua, tình trạng cán bộ né việc, né trách nhiệm diễn ra khá phổ biến ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế-xã hội đất nước, gây bức xúc trong xã hội.
Mặc dù lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã chỉ đạo quyết liệt để khắc phục, tuy nhiên tình trạng trên vẫn chưa chấm dứt. Do đó, cần có những giải pháp quyết liệt hơn nữa để làm thay đổi nhận thức, thái độ của cán bộ, đảng viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, đồng thời kiên quyết thay thế những cán bộ thiếu trách nhiệm, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Nguy hiểm từ nhận thức “không làm thì không sai”
Hiện tượng cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám thực thi công vụ không phải là hiện tượng đơn lẻ mà diễn ra ở nhiều địa phương, kể cả một số bộ, ngành Trung ương. Tâm lý sợ sai thể hiện rõ trong giải ngân vốn đầu tư công, quản lý đất đai, bất động sản, mua sắm trang thiết bị khu vực công, cung cấp dịch vụ liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp, đã được báo chí phản ánh.

Tâm lý sợ sai từ những lĩnh vực nhạy cảm có dấu hiệu lan rộng sang nhiều lĩnh vực, thậm chí xuất hiện hiện tượng né việc, cán bộ không muốn ký bất cứ văn bản nào.

Đặc biệt, cán bộ trong quá trình luân chuyển công tác càng có biểu hiện ngại việc, có tâm lý thủ thế, tránh sai sót, để chờ hết thời gian luân chuyển. Có đơn vị phản ánh họ rất nản lòng với một vị cán bộ thuộc diện này, bởi bất cứ văn bản nào trình lên cũng bị vị cán bộ này hỏi ngược lại rằng: “Tôi có đủ thẩm quyền ký không?”, rồi lưu văn bản đó lại để nghiên cứu, gây ách tắc công việc, mặc dù những văn bản trên hoàn toàn đúng thẩm quyền và theo thông lệ thường kỳ.  

Điều này làm trì trệ và chậm trễ nền công vụ, bào mòn và giảm niềm tin của người dân, ảnh hưởng đến mọi mặt kinh tế-xã hội; cản trở nguồn lực và động lực phát triển, nhất là trong tình hình khó khăn hiện nay.

Đáng lo ngại là đang có lối nghĩ khá phổ biến trong đội ngũ cán bộ, công chức là "không làm thì không sai". Đây là dấu hiệu "tự diễn biến" trong tư tưởng chính trị của cán bộ, công chức, gây cản trở nghiêm trọng tới kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và sự phát triển chung của đất nước.

Phát biểu tại Quốc hội, đại biểu Quốc hội Nguyễn Hữu Thông cho biết, có tình trạng bất an, sợ sai, sợ trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, có cán bộ đã tâm sự rằng "thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn đứng trước hội đồng xét xử".

Thực tế diễn biến tư tưởng này cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đang phân tách việc vi phạm kỷ luật với vi phạm pháp luật. Họ cho rằng vi phạm kỷ luật công vụ thì bị kỷ luật đảng (với các hình thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ), kỷ luật hành chính với các hình thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm (đối với cán bộ) hay khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc thôi việc (đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý), hoặc là khiển trách, cảnh cáo, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc (với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý). Nhưng nếu vi phạm pháp luật thì cán bộ, công chức có thể sẽ phải chịu án hình sự, có thể phải ngồi tù.    

Theo Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà, có 4 nhóm nguyên nhân cơ bản dẫn đến tâm lý sợ sai, trong đó năng lực chuyên môn của bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế; người đứng đầu một số đơn vị chưa nêu gương nghiêm túc; thể chế về kinh tế-xã hội còn bất cập, chồng chéo hoặc có vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn nhưng chưa được sửa kịp thời.

Công cuộc chống tham nhũng đang được đẩy mạnh, nhiều cán bộ, công chức sai phạm nghiêm trọng bị kỷ luật, khởi tố dẫn đến một bộ phận có tâm lý sợ sai. Nhìn nhận với góc độ tư tưởng chính trị, đồng chí Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh rằng, dù vì nguyên nhân nào thì cán bộ sợ sai, không dám làm là vi phạm quy định, có biểu hiện suy thoái, cần nghiêm khắc phê phán và phải có giải pháp để triệt tiêu hiện tượng tiêu cực này.

Đổ lỗi cho việc sợ sai phạm pháp luật để né việc, đùn đẩy trách nhiệm chỉ là một cách ngụy biện, bởi thực tế, cùng quy định pháp luật, cùng cơ chế nhưng một số địa phương vẫn thực hiện tốt đầu tư công, tăng trưởng kinh tế, phát triển doanh nghiệp, cán bộ vẫn năng động, sáng tạo, dám làm và làm tốt. Do đó, không thể đổ lỗi hoàn toàn do vướng mắc về quy định, cơ chế để không thực thi công vụ.

Thủ thuật để chây ì công việc
Nhìn ở khía cạnh luật pháp, đồng chí Lê Thanh Vân, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội cho rằng, hành vi không làm gì cả là vi phạm pháp luật bởi không thực hiện bổn phận, nghĩa vụ mà Nhà nước trao. Như vậy là vô trách nhiệm và vi phạm pháp luật, phải xử lý.

Tuy nhiên, tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện nay chưa thấy những quy định cụ thể để xử lý cán bộ, công chức né việc, chỉ thấy các quy định xử lý khi cán bộ không chấp hành giờ làm việc, nghỉ việc không đúng quy định, làm việc riêng trong giờ hành chính... Còn khi cán bộ, công chức vẫn ở cơ quan theo đúng quy định thì không dễ để xử lý khi công việc chưa hoàn thành.

Thời gian qua, xuất hiện một kiểu hành xử khá "cù nhầy" trong thực thi công vụ, ấy là cứ gửi văn bản lên hỏi cấp trên, hỏi các cơ quan quản lý ngành, mặc dù theo quy định của pháp luật thì cơ quan, địa phương ấy đủ thẩm quyền để quyết định, xử lý công việc và chịu trách nhiệm. Cơ quan quản lý ngành khi nhận được văn bản lại trả lời rất chung chung là: “Đề nghị thực hiện theo đúng quy định của pháp luật”.

Như vậy là "quả bóng" trách nhiệm cứ được đá qua đá lại giữa các cơ quan, bộ, ngành, địa phương. Công việc cứ bị đình trệ, thiệt hại thì rất lớn, nhưng cũng không thấy ai phải chịu trách nhiệm. Bởi thực tế là với một cán bộ không tham mưu hay ký quyết định bị phát hiện là sai phạm pháp luật thì cũng không dễ để xử lý, kỷ luật họ. Công việc chưa thông nhiều khi được cán bộ giải thích rằng chưa đủ căn cứ pháp luật để giải quyết và việc gửi các văn bản hỏi lòng vòng một cách không cần thiết cũng được giải thích là quá trình thực thi nhiệm vụ, không dễ để bắt lỗi.  

Giao nhiệm vụ, chỉ tiêu, thời hạn rõ ràng và thay thế cán bộ
Để giải quyết tình trạng chây ì, né việc, né trách nhiệm trong cán bộ, công chức hiện nay, nên nghiên cứu thực hiện một số giải pháp sau:
Trước hết, cần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực chất của công tác cán bộ. Cần phải chọn bằng được những cán bộ đủ đức, đủ tài, đủ kiến thức, kinh nghiệm và bản lĩnh, dám làm, dám chịu trách nhiệm để giao trọng trách. Muốn vậy thì phải thực hiện tốt quy định của Đảng về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền. Công tác cán bộ có sạch thì Đảng mới mạnh, tổ chức mới mạnh, công việc mới thông, quốc gia mới phát triển.

Thứ hai, cần thường xuyên xem xét, sửa đổi các luật, các quy định không phù hợp với thực tiễn, để luật mang tính khả thi cao, tránh rủi ro cho đội ngũ cán bộ, công chức khi thực thi nhiệm vụ.

Thứ ba, là phải quy trách nhiệm cho người đứng đầu. Chọn cán bộ tốt đồng thời cũng phải có phương pháp và quy định để đánh giá đúng chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ. Một cán bộ tốt nhưng được giao vào một vị trí công việc chưa phù hợp cũng có thể ảnh hưởng tới chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ đó. Nếu cán bộ giữ vị trí chủ trì thì sẽ ảnh hưởng tới chất lượng công việc của cơ quan, đơn vị.

Do vậy, cần giao nhiệm vụ, giao chỉ tiêu cho cơ quan, đơn vị và cho cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị ấy một cách rõ ràng. Nếu không hoàn thành chỉ tiêu thì cần xem xét điều chuyển cán bộ ấy sang một vị trí khác, chọn người khác phù hợp hơn. Việc giao chỉ tiêu và quy trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ cho người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị có tác dụng rất lớn đến việc đốc thúc để công việc chạy.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo rất quyết liệt là: “Ai không dám làm thì mạnh dạn đứng sang một bên cho người khác làm”, tỏ rõ thái độ đối với những cán bộ trì trệ, sợ trách nhiệm, né việc. Do vậy, những đơn vị, địa phương nào bị phản ánh nhiều về sự trì trệ, biểu hiện né tránh trách nhiệm thì cần xem xét trách nhiệm của người đứng đầu và có giải pháp thay thế phù hợp. Phải đả phá để thay đổi hẳn quan niệm “không làm thì không sai” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thấy rằng: Không làm mà gây hậu quả nghiêm trọng thì sẽ bị quy trách nhiệm, bị xử lý.

Thứ tư, là đối với cán bộ trong diện quy hoạch, được luân chuyển công tác, cần xem xét kỹ chất lượng hoàn thành nhiệm vụ ở vị trí luân chuyển. Không nên để tồn tại tâm lý “án binh bất động” trong một bộ phận cán bộ thuộc diện quy hoạch được luân chuyển để thử thách. Chính thời gian luân chuyển này là cơ hội để cán bộ thể hiện rõ năng lực, nhiệt huyết cống hiến của mình, từ đó tổ chức mới sắp xếp cán bộ theo quy hoạch.

Thứ năm, là cần xây dựng và áp dụng các công cụ để định lượng, đánh giá một cách chính xác, khoa học chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức. Hiện nay, công tác đánh giá cán bộ còn cảm tính, chưa có các công cụ để đo lường hiệu quả chất lượng hoàn thành nhiệm vụ. Ở những nơi công việc bị tắc nghẽn, chậm trễ thì cán bộ vẫn có thể được đánh giá là hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Ở các nước phát triển, có rất nhiều công cụ để đo lường hiệu quả làm việc của nhân sự, ví dụ như chỉ số KPI mà hiện nay nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam đã áp dụng khá hiệu quả. Chỉ số này có tiêu chuẩn chung, dựa vào đó, mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp sẽ xây dựng, điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù lĩnh vực của mình. Tuy nhiên, muốn đánh giá được hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức thì các chỉ tiêu, nhiệm vụ, thời hạn hoàn thành được giao cho các bộ, ngành, địa phương cũng phải hết sức cụ thể, rõ ràng.

Thứ sáu, là cần có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ cán bộ có tinh thần “7 dám: Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”. Hiện nay đã có Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Thế nhưng, Kết luận số 14-KL/TW cần được thể chế hóa thành các quy định cụ thể của pháp luật, từ đó cán bộ có chỗ dựa mới tự tin khi thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích chung.

Thứ bảy là đối với cá nhân cán bộ, đảng viên, phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh, đạo đức cách mạng, năng lực, trình độ. Khi người cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình sẽ luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng.

Đồng thời, đạo đức cách mạng sẽ thúc đẩy người cán bộ, đảng viên nhiệt huyết trong thực hiện nhiệm vụ, không thể đành lòng nhắm mắt làm ngơ trước một núi công việc, không thể làm ngơ trước sự trông mong, tin tưởng của tổ chức, xã hội và nhân dân. Bản lĩnh của người cán bộ được thể hiện ở ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, kiên cường, dũng cảm, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung.

Cùng với đó, người cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Người cán bộ có trình độ, năng lực, kinh nghiệm thực tiễn sẽ tạo ra niềm tin và chỗ dựa vững chắc cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền, làm cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền không hoài nghi, dao động trước những quyết định của mình. Từ đó, tổ chức, cơ quan, đơn vị luôn có bầu không khí sôi nổi, tự tin trong mọi hoạt động.

Khi những yếu tố nêu trên được tích lũy đầy đủ, người cán bộ sẽ luôn phát huy tốt tinh thần “7 dám”, không sợ trách nhiệm, không né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm./.
Yêu nước ST.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ NHÂN DỊP QUỐC KHÁNH 2/9

        Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2/9 đã đi vào lịch sử dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam. Song hằng năm, vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, đi ngược lại niềm tự hào của toàn dân tộc, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội lại tăng cường hoạt động chống phá.

        Các đối tượng sử dụng mạng xã hội để đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh, bình luận với những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về bản chất cách mạng, về giá trị và ý nghĩa thời đại của sự kiện lịch sử này, tạo nên góc nhìn phiến diện, lệch lạc.

            Nhiều bài viết nêu quan điểm sai lệch về thành quả cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; bác bỏ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xem nhẹ giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Quốc khánh 2/9.

        Trong dịp Quốc khánh 2/9 năm nay, trên một số diễn đàn, có những người tự cho mình danh nghĩa “nhà nghiên cứu” hay “phân tích lịch sử”, đưa ra những nhận định, đánh giá trái với sự thật, họ còn lồng ghép các dữ liệu lịch sử và so sánh khiên cưỡng với một số sự kiện khác để tạo ra cách nhìn sai trái.

        Có trường hợp vin cớ việc chúng ta xử lý nhiều vụ án tham nhũng gần đây để đánh đồng vấn đề tham nhũng là “lỗi hệ thống”, từ đó kích động rằng, nhân dân hy sinh làm cách mạng để cho quan chức nắm quyền, tham nhũng, vơ vét của cải! Những phần tử xấu được dịp hùa vào miệt thị, cho rằng đất nước đã giành độc lập 78 năm nhưng đến nay nhân dân “chưa được tự do”, quyền và lợi ích cơ bản của người dân “bị chà đạp”, xuyên tạc “cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột vẫn tiếp diễn”!

        Các luận điệu bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945, Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975… là thủ đoạn “đến hẹn lại lên” của các thế lực thù địch, phản động, những kẻ cơ hội chính trị. Họ cố tình ngụy tạo, đưa ra các thông tin sai lệch, quan điểm sai trái hòng phủ bóng đen lên con đường mà đất nước ta, dân tộc ta đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng.

        Họ cố tình thổi phồng các tồn tại, tiêu cực trong đời sống xã hội hiện nay, đặc biệt là vấn đề suy thoái, tham nhũng trong bộ phận cán bộ, đảng viên để đổ lỗi cho chế độ, hạ thấp và phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời không ngừng ca ngợi lối sống tư bản, hưởng thụ, ca ngợi kiểu tự do thái quá nhằm tạo ra suy nghĩ lệch lạc rằng, đất nước ta đi theo con đường CNXH là sai lầm.

        Thủ đoạn này không mới nhưng việc nhắc đi nhắc lại, nhất là các dịp ngày lễ lịch sử của dân tộc sẽ tạo ra sự nhũng nhiễu thông tin trên mạng xã hội, ảnh hưởng đến quan điểm, suy nghĩ của một bộ phận người thiếu hiểu biết. Việc các thế lực phản động, cơ hội mang dòng máu Việt Nam nhưng lại cố tình xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp bản chất, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 là hành vi đi ngược lại lợi ích đất nước, phủ nhận khát vọng của dân tộc, vong ơn trước xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu xuyên tạc và những con người đang đi ngược dòng sự thật ấy chỉ có thể gây nhiễu về thông tin chứ không thể ngăn cản bởi dòng chảy lịch sử của dân tộc.

        Cách đây 78 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta từ Bắc chí Nam nhất tề đứng lên tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền, chấm dứt kiếp nô lệ, mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc và đi lên CNXH. Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945 không chỉ là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc mà còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc; nguồn cổ vũ, động viên, truyền cảm hứng đối với các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tâm khảm mỗi người dân, ngày Quốc khánh 2/9 trở thành bản hùng ca của dân tộc Việt Nam trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.

        Trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta phải liên tiếp đương đầu chống giặc ngoại xâm, tiến hành hàng chục cuộc kháng chiến để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ, hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng để giành lại độc lập dân tộc. Hoàn cảnh lịch sử đó đã hun đúc nên những giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc, đồng thời cho thấy ý nghĩa sống còn của các giá trị văn hóa giữ nước.

        Nét đặc sắc của giá trị văn hóa giữ nước chính là xây dựng và phát triển đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, thực hiện “trong ấm, ngoài yên”, đặc biệt là giữ yên lòng dân; ngăn ngừa, đẩy lùi, triệt tiêu mọi nhân tố dẫn đến nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, giữ nước ngay khi đất nước đang thái bình.

        Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ bờ cõi đất nước gắn với các tên tuổi lịch sử như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… là những bản anh hùng ca bất diệt. Thế kỷ XX, Đảng, Bác Hồ đã lãnh đạo nhân dân ta viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước.

        Đã 78 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Thời gian càng lùi xa càng có thêm sự chiêm nghiệm, có thêm nhiều thông tin, càng thấy được ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đối với đất nước, dân tộc Việt Nam, đồng thời thể hiện ý nghĩa, tầm vóc lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới. Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới vì độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc theo con đường CNXH. Không chỉ vậy, cuộc cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc ta đã trở thành một biểu tượng, một bài học kinh nghiệm quý giá, một sự khích lệ to lớn cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa.

        Chính bởi ý nghĩa lịch sử đó cùng những thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, thế giới ngợi ca nhân dân của một đất nước Việt Nam anh hùng. Đến hôm nay, sau 37 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, các phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo luôn được các tổ chức chính trị, xã hội và các tầng lớp nhân dân quan tâm, ủng hộ.

        Việt Nam được bạn bè thế giới mến phục, coi là biểu tượng của hòa bình, ổn định chính trị, xã hội, sự thân thiện, mến khách, đồng thời là biểu hiện của sự nỗ lực, tinh thần chiến thắng đói nghèo trong thế kỷ XXI. Những thành tựu to lớn đã đạt được từ ngày thành lập nước đến nay chứng tỏ sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam.

        Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9, người Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu trong nước hoặc ở xa Tổ quốc cũng không khỏi xúc động bồi hồi, ôn lại khí thế hào hùng, sôi sục, náo nức của những ngày mùa thu cách mạng, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

        Quốc khánh chính là dịp để bất cứ người dân Việt Nam nào, đồng bào cả nước cũng như kiều bào ở nước ngoài cùng hướng về Tổ quốc thân yêu; cùng tưởng nhớ, tri ân hàng triệu cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã ngã xuống trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; cùng tưởng nhớ và biết ơn công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Là dịp để các thế hệ hôm nay và mai sau cùng nhau nhìn lại chặng đường gian khổ, hào hùng của cha ông để nâng cao lòng tự hào dân tộc, trau dồi tinh thần yêu nước, cống hiến sức mình cho quê hương, đất nước.

TK-ST

GIỮ GÌN DANH DỰ, NHÂN PHẨM CỦA NGƯỜI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 Danh dự làm nên phẩm hạnh con người, là thước đo giá trị của mỗi người trong xã hội. Với một người bình thường, danh dự đã là cao quý. Là cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, quản lý, danh dự càng cao quý, thiêng liêng. Bác Hồ vẫn thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn giữ gìn, bồi đắp đạo đức, nhân cách. Người căn dặn: "Hạnh dục phương", nghĩa là đức hạnh, đạo đức phải vuông vắn, ngay thẳng, không làm điều gì khuất tất. Phải tránh xa những thói xấu “lười biếng, gian giảo, tham ô”. Phải biết sống “ngay thẳng, không có việc gì phải giấu Đảng”, “không tham địa vị. Không tham tiền tài”... Đó là phẩm chất, đức hạnh, danh dự của người cộng sản. Cán bộ, đảng viên phải biết giữ “thanh danh của Đảng” và “danh giá của mình”. 

Trong nhiều bài viết và nhiều lần phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở, phân tích sâu sắc về tư cách, đạo đức cách mạng, về liêm sỉ và danh dự của người cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ thanh liêm, giữ liêm sỉ và danh dự của người đảng viên. "Nếu không liêm thì của gì cũng cả gan lấy. Không sỉ thì việc gì cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế không chỉ rước họa làm “thân bại danh liệt” và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến. Huống chi, kẻ làm quan mà cái gì cũng rắp tâm mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn mà làm thì sao mà thiên hạ không loạn, quốc gia không mất cho được. Khi không có tài đức mà dám cầm trọng trách để cho cơ đồ tan hoang, đổ vỡ. Khi mình đã ở cấp lãnh đạo mà không làm cho đạo đức được thi hành, quốc pháp được tuân thủ. Những người chuyên sống xảo trá, quỷ quyệt, ăn cắp quốc khố là vô hình trung đã vứt bỏ mất danh dự, liêm sỉ, tức là lòng hổ thẹn của mình rồi”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Chỉ tính riêng trong năm 2021, các cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra 390 vụ án và hơn 1.000 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ. Nhiều cán bộ cấp cao vi phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã bị xử lý kỷ luật (tăng 15 trường hợp so với năm 2020). Nhìn vào số lượng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực khiến nhiều người không khỏi lo lắng. Các chuyên gia cho rằng, kết quả chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua mới chỉ là “phần nổi của tảng băng trôi”. Trong nhiều vụ việc, kết quả xử lý những "mảng chìm tiêu cực" mới chỉ được một phần rất nhỏ. 

Những con số nêu ra trên đây là những trường hợp đã bị phát hiện, xử lý, nhưng trên thực tế, vẫn còn một phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang tự đánh mất phẩm giá, làm hoen ố danh dự của người cộng sản. Họ đã không kiên tâm, bền chí nuôi dưỡng, bồi đắp và bảo toàn danh dự hai tiếng “đảng viên”; không vượt qua được cám dỗ “mồi phú quý, bả vinh hoa”. Cũng bởi thế, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, trong nhiều bài viết, bài phát biểu của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh đến lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên là phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân làm cho không ít cán bộ nảy sinh căn bệnh tham ô, tư túi, đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích tập thể, trên cả lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Những bài học đau đớn, xót xa từ rất nhiều cán bộ, đảng viên chỉ vì chút lợi ích vật chất tầm thường mà đánh mất phẩm giá, danh dự, uy tín vẫn còn nguyên giá trị, là tấm gương để chúng ta tự mình soi chiếu, tự mình suy ngẫm và có hành động đúng đắn. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải luôn khắc cốt ghi tâm rằng, một khi đánh mất nhân phẩm và danh dự là mất đi giá trị làm người. Hơn thế, giữ gìn phẩm giá, danh dự, uy tín của một người đảng viên không chỉ là giữ gìn cho mình mà đó còn là giữ gìn và bảo vệ danh thơm, tiếng tốt của Đảng một cách bền vững nhất.

HAIVAN

Lời Bác năm xưa: "Phải coi nhân tố con người là vấn đề số một"

 

Tháng 4/1965, với bút danh là Lê Nông, trên Báo Nhân Dân, Bác viết bài “Chúng ta rất có thể đạt hơn 5 tấn thóc cả năm/một héc-ta” để biểu dương một số hợp tác xã đã đạt chỉ tiêu này và khẳng định có thể đạt năng suất cao hơn nữa nếu quan tâm đến việc cải tiến khoa học - kỹ thuật, thực hành cần kiệm xây dựng và tự lực cánh sinh, chi bộ lãnh đạo chặt chẽ, đảng viên gương mẫu xung phong, xã viên đoàn kết nhất trí. “Phải coi nhân tố con người là vấn đề số một”.

Tôn trọng và phát huy sức mạnh của nhân tố con người với tư cách là chủ thể sáng tạo của lịch sử luôn là bài học kinh nghiệm thực tiễn phong phú mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta. Bác luôn coi trọng việc giáo dục về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, về đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là nguồn sức mạnh tinh thần, vật chất to lớn để giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tư tưởng quân sự của Bác với triết lý “người trước, súng sau” đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, chiến sĩ quân đội có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng, Nhà nước chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Bên cạnh việc đầu tư mới vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn đặt lên hàng đầu việc xây dựng nhân tố con người, coi đây là khâu then chốt, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta.

HAIVAN

Về đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”


Học tập và làm theo đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thì đã rõ. Nếu học tập mà không làm theo thì chỉ có hiểu biết trên giấy tờ. Học tập và làm theo là học đi đôi với hành. Học mà không hành thì chỉ là học suông, nói suông. Việc đẩy mạnh “Học tập và làm theo đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã được phát động và thực hiện trong Đảng, trong dân ta từ lâu, không phải chỉ mấy nhiệm kỳ Đại hội của Đảng gần đây. Trong phong trào thi đua xây dựng Đời sống mới, Bác Hồ đã nói: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc.

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa, thì không thành trời.
Thiếu một phương, thì không thành đất.
Thiếu một đức, thì không thành người”(4).

Lời nói ấy của Bác đã nhập tâm trong cán bộ và nhân dân ta thời đó.

Nói học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh là theo nghĩa nào? Tư tưởng Hồ Chí Minh nói ở đây không phải là tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách một học thuyết chính trị, cách mạng mà là những tư tưởng, những lời chỉ dạy cụ thể của Bác dù đề cập dưới góc độ chính trị, tư tưởng hay văn hóa, đạo đức.

Ví dụ, Bác nói: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân”. “Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào, ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”. “Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đầy tớ của nhân dân, phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phải cần, kiệm, liêm, chính. Muốn thế phải gần gũi nhân dân, khuyến khích nhân dân, lãnh đạo nhân dân”.

Bác còn nói: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

Bác nhiều lần nhắc nhở: Muốn thực sự làm người lãnh đạo, người chỉ huy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, phải hết sức giữ gìn và nêu gương về mặt đạo đức, nếu không thì rồi sẽ hỏng cả… Muốn thế thì: Tự mình phải chỉnh trước mới giúp được người khác chỉnh. Mình không chỉnh mà muốn người khác chỉnh là vô lý. 

Có lẽ gì cán bộ, đảng viên chúng ta lại không làm theo những lời chỉ dạy ấy?

Liên hệ với tình hình hiện nay, trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, khi nói về nhiệm vụ “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức”, đã nêu rõ: “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”.

Vì vậy, từ những lập luận trên, có thể khẳng định:

Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là một học thuyết cách mạng vô giá của Việt Nam, là ngọn cờ chiến đấu và chiến thắng của đất nước và dân tộc ta. Tư tưởng đó phải được học tập, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo, tuyệt đối không giáo điều, dập khuôn hay ngả nghiêng, dao động.

Thứ hai, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một phong trào hành động cách mạng, vì sự nghiệp phát triển văn hóa và xây dựng con người, phát huy năng lực nội sinh của đất nước. Phong trào đó phải được tiến hành một cách bài bản, thường xuyên.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - một học thuyết cách mạng vô giá của Việt Nam

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân dân ta một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ. Đó là các tác phẩm tiêu biểu, như “Bản án chế độ thực dân Pháp” (năm 1925), “Đường Cách mệnh” (năm 1927), “Tuyên ngôn Độc lập” (năm 1945), “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (năm 1946), “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947), “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (năm 1969) và bản “Di chúc” thiêng liêng bất hủ (năm 1969) được coi là những kiệt tác, những bảo vật quốc gia vô cùng quý giá. Bao trùm lên tất cả là tư tưởng Hồ Chí Minh, kết tinh của trí tuệ và tinh hoa văn hóa Việt Nam, của tinh thần yêu nước, thương dân, yêu Tổ quốc và đồng bào, yêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, yêu Đảng Cộng sản, ngọn cờ chiến đấu và chiến thắng của cách mạng Việt Nam.

Thông thường, một học thuyết (dù là triết học, kinh tế - chính trị học hay xã hội học) được xếp theo hai cấp độ: cấp độ 1 được gọi là chủ nghĩa (chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn). Cấp độ 2 được gọi là tư tưởng (tư tưởng Mao Trạch Đông; tư tưởng chủ thể Kim Nhật Thành...).

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, chủ nghĩa (triết) là học thuyết hay hệ thống lý luận về chính trị, triết học, kinh tế, văn hóa... do một người hay một tập thể đề xuất. Ví dụ: Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết cách mạng của C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin, là một hệ thống hoàn chỉnh, hữu cơ những quan điểm triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học... Tư tưởng, tuy nói ở cấp độ 2 những vẫn là học thuyết có chiều sâu và tầm nhìn xa rộng, có hàm lượng chất xám cao, có giá trị lý luận và thực tế không khác gì chủ nghĩa

Con người Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đến với cách mạng Việt Nam, với Đảng và dân tộc ta từ rất sớm, nhất là từ sau khi nước nhà giành được độc lập (năm 1945). Vị trí và vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã được xác định từ lâu. Từ khi đổi mới đến nay, rõ nhất là trong hai bản Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011). Với Đảng ta, Cương lĩnh là Tuyên ngôn chính trị của Đảng; là ngọn cờ chiếu đấu của Đảng và dân tộc ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, là nền tảng lý luận, nền tảng tư tưởng và chính trị, định hướng cho hoạt động của chúng ta hiện tại và tương lai. 

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng ghi rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Lấy tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng của Đảng đã hàm ý rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là một học thuyết cách mạng, chứ không đơn thuần là tập hợp những ý tưởng, những suy nghĩ cụ thể, riêng lẻ.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã đưa ra một định nghĩa rất chính xác, ở tầm cao: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển của các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.

Lời khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, qua Báo cáo Chính trị đọc tại Đại hội XIII của Đảng là phải: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.

Vậy là, trong bốn sự kiên định đã nêu, chỉ có kiên định thứ nhất là duy nhất được đi kèm với “vận dụng và phát triển sáng tạo”. Vì sao? Vì một lẽ rất giản đơn: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một học thuyết cách mạng.

HAIVAN

Lời Bác năm xưa: "Về lãnh đạo, cán bộ phải thật sự đoàn kết, nhất trí, phải đi sâu đi sát, phải lãnh đạo thiết thực và toàn diện”.

 

Lời huấn thị trên được trích trong thông báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nội dung đợt chỉnh huấn cho toàn Đảng, toàn dân, do Trung ương phát động, khi Người về thăm và nói chuyện với đồng bào, cán bộ tỉnh Bắc Giang ngày 6/4/1961.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ phải đề cao và thực hành đoàn kết, nhất trí, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình, phải rèn luyện phong cách lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ, gắn bó với cơ sở, gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phải thiết thực và toàn diện, tránh phô trương, hình thức. Theo Bác, sau khi nghị quyết được ban hành, phải tổ chức tốt việc thực hiện nghị quyết, để nghị quyết đi vào cuộc sống. Muốn vậy, đòi hỏi người cán bộ phải sâu sát, tỉ mỉ, phải “đi tận nơi, xem tận chỗ”.

Thực hiện lời Bác dạy, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của việc xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xem đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ sống còn của Đảng, của dân tộc. Đặc biệt, trong thời kỳ mới, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất; kiên quyết chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Sự nghiệp đổi mới đất nước đã thu được kết quả rất quan trọng, tiếp tục nâng cao vị thế, khẳng định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn giữ gìn sự đoàn kết nhất trí, phấn đấu hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Tuy nhiên, cũng còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng…

Để tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, kiên quyết đấu tranh, khắc phục những hạn chế, yếu kém, mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng nói chung, trong Đảng bộ Quân đội nói riêng, luôn gương mẫu đi đầu thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Cán bộ, đảng viên phải có tác phong dân chủ, quần chúng, sâu sát, gần gũi, chân thành lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và thành tâm tiếp thu sự phê bình của quần chúng, luôn đề cao tự phê bình và phê bình.

HAIVAN

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI CÁC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHHÓNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

         Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá

 TK-ST

Khắc ghi lời Bác: “Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”

 

Ngày 5/4/1948, Bác Hồ viết 12 điều răn yêu cầu mọi người phải nhớ và thực hành khi tiếp xúc với dân. Để cổ động, Bác viết bài thơ: “Mười hai điều trên/ Ai chả làm được/ Hễ người yêu nước/ Nhất quyết không quên/ Tập thành thói quen/ Muôn người như một/ Quân tốt, dân tốt/ Muôn sự đều nên/ Gốc có vững, cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

                   6 điều không nên:

1. Không nên làm điều gì có thể thiệt đến nương vườn, hoa màu, hoặc làm bẩn, làm hư nhà cửa, đồ đạc của dân.

2. Không nên nǎn nỉ quá hoặc mượn cho bằng được những đồ vật người ta không muốn bán hoặc cho mượn.

3. Không nên đưa gà còn sống vào nhà đồng bào miền ngược.

4. Không bao giờ sai lời hứa.

5. Không nên xúc phạm đến tín ngưỡng phong tục của dân.

6. Không nên làm hoặc nói gì có thể làm cho dân hiểu lầm rằng mình xem khinh họ.

6 điều nên làm:

1. Giúp công việc thực tế hàng ngày cho đồng bào (như việc gặt hái, lấy củi, nước, vá may, v.v.).

2. Tùy khả nǎng mà mua giùm những đồ cần dùng cho những người ở xa chợ búa (như dao, muối, kim, chỉ, bút, giấy, v.v.).

3. Nhân những lúc rảnh, kể cho đồng bào nghe những chuyện vui ngắn, giản dị có ích lợi cho tinh thần kháng chiến mà không lộ bí mật.

4. Dạy dân chữ quốc ngữ và những điều vệ sinh thường thức.

5. Nghiên cứu cho hiểu rõ phong tục mọi nơi, trước là để gây cảm tình và sau để dần dần giải thích cho dân bớt mê tín.

6. Làm cho dân nhận thấy mình là người đứng đắn, chǎm công việc, trọng kỷ luật.

(Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.77-79).

HAIVAN

TĂNG CƯỜNG ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “... phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chỉ có thể được hiện thực hóa bằng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Đảng ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Đây là cơ sở để nhận thức và giải quyết tốt vấn đề có tính nguyên tắc của phát triển và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng, để phòng chống chia rẽ, bảo vệ và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thấu triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, tăng cường đồng thuận của các tầng lớp nhân dân với đường lối lãnh đạo của Đảng. Thường xuyên nắm chắc, dự báo đúng, xử lý chính xác các vấn đề về tư tưởng, mâu thuẫn, bức xúc xã hội hiện nay. Tích cực, chủ động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, làm sáng tỏ chủ trương, chính sách, thành tựu đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta. Coi trọng tuyên truyền, giáo dục, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc làm nền tảng tinh thần vững chắc của khối đại đoàn kết trong giai đoạn mới.

Hai là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; đặc biệt coi trọng chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Thường xuyên củng cố, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Quán triệt, thực hiện đúng phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.

Bốn là, nâng cao ý thức cảnh giác, thường xuyên nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, phản động. Có các giải pháp, biện pháp mạnh, nâng cao hiệu quả đấu tranh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trên không gian mạng-mặt trận nóng bỏng hiện nay. Chủ động, nhạy bén, sắc sảo phát hiện, vạch trần bản chất phản động, mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động; giành giữ, bồi đắp tình cảm cách mạng, niềm tin của toàn thể nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng đất nước.

Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bám sát thực tiễn phát triển của đất nước, kịp thời giải đáp một cách thuyết phục những vấn đề mới về lý luận, thực tiễn đã và đang đặt ra; cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.

Đảng ta là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ và phát huy sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết, phải phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

HAIVAN

SỰ NGHIỆP CỦA THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN CHÍ VỊNH

 

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ

Bác Hồ không phải người Việt Nam đầu tiên đến Mỹ hay viết về nước Mỹ nhưng Bác hết sức quan tâm tìm kiếm và xây dựng quan hệ hữu nghị giữa hai nước Việt - Mỹ. 

Đến nước Mỹ để tìm hiểu về Bình đẳng, Tự do, Hạnh phúc

Người Việt Nam đến Mỹ đầu tiên cho đến nay chúng ta biết là ông Trần Trọng Khiêm, sinh năm 1821, người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, tỉnh Vĩnh Phú, đến thành phố New Orleans (Mỹ) năm 1849. Còn người đầu tiên viết về nước Mỹ là Phan Bội Châu. Phan Bội Châu niên biểu cho thấy, trong những ảnh hưởng của văn hóa thế giới đối với cụ có văn hóa Mỹ; điều này thể hiện rõ nhất ở tác phẩm Sùng bái giai nhân được cụ viết năm 1907.

Tuy nhiên, sau hai lần Bùi Viện, nhà ngoại giao đầu tiên của triều đình nhà Nguyễn đến Mỹ (năm 1873 và 1875) không đi đến đâu, quan hệ hai nước Việt - Mỹ rơi vào quên lãng cho đến khi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện đầu thế kỷ XX. Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, năm 1912 Bác Hồ đã đến Boston - cái nôi của cách mạng Mỹ, để nghiên cứu và thấm hơn bản Tuyên ngôn độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ năm 1776: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc", mà sau này được đưa vào Tuyên ngôn độc lập của nước ta ngày 2.9.1945.

Người ở Mỹ một thời gian, bốc xếp hàng hóa và làm bánh ở khách sạn Hommi Parker ngay trung tâm thành phố, bên cạnh nghĩa trang quốc gia, nơi yên nghỉ của các danh nhân và nghệ sĩ, nhà thơ, nhà văn nổi tiếng của Mỹ. Bác cũng đã đến New York giúp việc cho một gia đình. Ngoài thời gian lao động, Bác tham dự các buổi họp của những người hoạt động xã hội là người da đen tổ chức. Bác cũng đến khu Manhatan với những tòa nhà chọc trời, thăm Tượng Nữ thần Tự do, đến với người dân sống ở khu ổ chuột Harlem chứng kiến cuộc sống nghèo đói lầm than của người Mỹ.

Rời nước Mỹ, trở lại châu Âu, Bác đã thành lập Hội người Việt Nam yêu nước ở Pháp, và năm 1919 Người thay mặt Hội gửi đến Hội nghị quốc tế Versailles Bản Yêu sách 8 điểm đòi tự do cho Việt Nam. Bản Yêu sách 8 điểm ký tên Nguyễn Ái Quốc cũng được gửi đến Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson; người Mỹ biết đến Nguyễn Ái Quốc và Việt Nam hiện đại .

Năm 1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Với nhãn quan chính trị sắc bén và tài tiên tri của mình, Bác đã tiên liệu về kết cục Chiến tranh Thế giới II với chiến thắng của quân Đồng minh trước hiểm họa của phát xít Đức, Italy, Nhật. Bác Hồ đã nhận thức được vai trò và ảnh hưởng của Mỹ đối với thế giới và châu Á. Khi bị Nhật đánh tơi bời ở Trân Châu Cảng (1941) quân Mỹ tham chiến ở châu Á, cũng là lúc Bác Hồ tìm mọi cơ hội để liên lạc với Mỹ. Người đã tìm nhiều cách và tranh thủ sự giúp đỡ của Mỹ, muốn họ ủng hộ và công nhận vai trò của tổ chức yêu nước là Mặt trận Việt Minh.

Bác đã cung cấp cho quân đồng minh chống Phát xít những tin tình báo quan trọng của quân đội Nhật ở Đông Dương. Bác cũng chỉ thị cho Việt Minh phải chú ý giúp đỡ những phi công Mỹ bị quân Nhật bắn rơi. Đặc biệt là khi xảy ra sự kiện một chiếc máy bay của Mỹ do trung úy phi công Wiliams Shaw bị Nhật bắn rơi (ngày 2.11.1944). Trung úy Shaw được Việt Minh cứu và đưa đến gặp Bác. Tháng 2.1945 chính Bác đã dẫn Shaw sang Côn Minh, tận tay trao lại cho tướng Claire Chenault, Tổng tư lệnh không quân Mỹ ở Côn Minh, Trung Quốc. Hai bên đã đặt quan hệ hợp tác chống Nhật. 

Ngay sau đó, quân đội Mỹ đã cử một đơn vị thuộc lực lượng OSS (Cơ quan tình báo chiến lược Mỹ, tiền thân của CIA) sang Việt Nam. Ngày 17.7.1945, đội tình báo Mỹ mang biệt danh Con nai gồm 5 người do thiếu tá A. Thomas chỉ huy đã nhảy dù xuống Tân Trào với một số trang thiết bị để huấn luyện kỹ thuật vô tuyến điện và quân sự cho 40 du kích của Việt Minh được chọn từ quân du kích của Đàm Quang Trung. Đầu tháng 8.1945, trung đội Bộ đội Việt - Mỹ (tên đặt chính thức của Hồ Chí Minh) đã được thành lập và ngày 20.8.1945, trung đội này tham gia chiến đấu chống quân Nhật ở Thái Nguyên dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp. Tại Tân Trào, cách lán của Hồ Chí Minh vài trăm mét là lán của quân Đồng minh Việt - Mỹ. Bác Hồ đã làm cho người Mỹ hiểu hơn về Việt Minh và cuộc chiến đấu giành độc lập của người Việt Nam.  

Ngày 29.8.1945, Bác đã mời Archimedes L.A. Patti (Trưởng phòng Đông Dương của cơ quan tình báo chiến lược Mỹ OSS ở Hoa Nam) là người nước ngoài duy nhất đến ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang nghe dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập và trao đổi một số vấn đề, trong đó có việc tổ chức Lễ tuyên bố Độc lập ngày 2.9.1945. Trong buổi lễ trang trọng này, trên khán đài nổi bật khẩu hiệu "Hoan nghênh phái đoàn Mỹ”.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Người đã tiếp xúc với tướng Gallagher, lúc bấy giờ đang đứng đầu phái bộ quân sự Mỹ tại Hà Nội. Cũng trong năm này Bác đã tiếp đón các nhân vật quan trọng của Chính phủ Mỹ như: Low Moffat, Trưởng ban Đông Nam Á (Bộ Ngoại giao Mỹ) tại Hà Nội. Bác Hồ cũng đã chủ động tiếp xúc, trao đổi với các sĩ quan Mỹ ở Hà Nội như thiếu tá Thomas, thiếu tá Archimedes L.A. Patti… để chuyển thành ý của Chính phủ Việt Nam mong muốn nhận được sự ủng hộ của Tổng thống H. Truman. Ngày 1.11.1945, trong thư gửi Ngoại trưởng Mỹ James F. Byrnes, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ mong muốn “gửi một phái đoàn khoảng năm mươi thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hóa thân thiết với thanh niên Mỹ và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”. Qua đó cho thấy sự khéo léo và tầm nhìn của Người trong quan hệ với Mỹ. Trong dịp sang thăm nước Pháp và ký Hiệp định Sơ bộ 6.3.1946, Bác Hồ đã tranh thủ gặp ông George, Bí thư Đại sứ quán Mỹ ở Paris. 


Đầu năm 1946 Bác Hồ thành lập Việt - Mỹ thân hữu hội, tiền thân của Hội Việt - Mỹ hiện nay. Hội có những lớp dạy tiếng Anh và tổ chức những cuộc nói chuyện về văn hóa Mỹ. Hội cũng có những lớp dạy tiếng Việt cho người Mỹ, giúp đỡ học sinh Việt Nam muốn sang Mỹ học tập và tổ chức dịch sách Mỹ, Việt để truyền bá văn hóa, phong tục của hai dân tộc Việt - Mỹ.  Chỉ trong năm 1945 và 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 8 lần gửi thông điệp, thư, điện cho Tổng thống Mỹ H. Truman, gửi 3 thư và điện cho Ngoại trưởng Mỹ James Byrner. Qua đó cho thấy Bác Hồ đã hết sức quan tâm tìm kiếm và xây dựng quan hệ hữu nghị giữa hai nước Việt - Mỹ. Trước khi mất 7 ngày, Bác Hồ vẫn gửi thư cho Tổng thống Mỹ R. Nixon, nêu rõ thiện chí của nhân dân Việt Nam trong việc giải quyết cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra và yêu cầu Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược.