Thứ Năm, 14 tháng 9, 2023

RA MẮT SÁCH VỀ CHUYẾN THĂM ĐẦU TIÊN CỦA LÃNH TỤ FIDEL CASTRO TỚI VIỆT NAM

 Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày lãnh tụ Fidel Castro sang thăm Việt Nam và vùng mới được giải phóng ở Quảng Trị (9-1973 / 9-2023), Hãng Thông tấn Prensa Latina đã giới thiệu tới độc giả cuốn sách “Fidel Castro - Vì Việt Nam, nguyện hiến dâng cả máu! (Fidel Castro - Nuestra Sangre Por Vietnam)”.

Buổi lễ ra mắt cuốn sách diễn ra ngày 13-9 tại trụ sở của Hãng Thông tấn Prensa Latina ở thủ đô La Habana với sự hiện diện của Đại sứ Việt Nam tại Cuba Lê Thanh Tùng cùng nhiều học giả, trí thức và bạn bè Cuba yêu mến Việt Nam.
Đây là một trong chuỗi các hoạt động được tổ chức ở cả hai nước nhằm kỷ niệm sự kiện lịch sử là cột mốc quan trong quan hệ Việt Nam-Cuba, khi Tổng tư lệnh Fidel Castro trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên và duy nhất trên thế giới từng tới thăm Quảng Trị vào năm 1973, vùng đất mới được giải phóng ở miền Nam Việt Nam, bất chấp những hiểm nguy từ bom đạn Mỹ luôn rình rập ập xuống khu vực này.
Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch Prensa Latina Luis Enrique González Acosta nhấn mạnh cuốn sách là kết quả của quá trình hợp tác giữa cơ quan này với Thông tấn xã Việt Nam. Ấn phẩm gồm 76 trang tập hợp nhiều bài viết chưa từng được xuất bản hoặc ít được biết tới của các nhà báo Cuba gạo cội, hé lộ những chi tiết đắt giá về chuyến thăm của lãnh tụ Fidel Castro sang Việt Nam, những tình cảm sắt son của nhân dân Cuba nói chung, vị lãnh tụ của Cuba nói riêng dành cho Việt Nam trong thời khắc cam go của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cuốn sách được in trang trọng 4 màu, trình bày song ngữ tiếng Tây Ban Nha-tiếng Anh và sử dụng nhiều ảnh của Thông tấn xã Việt Nam.
Tham dự lễ ra mắt sách, nguyên Đại sứ Cuba tại Việt Nam Fredesmán Turró González đã kể lại những chặng đường trong hành trình của lãnh tụ cách mạng Cuba. Nhà ngoại giao từng hai lần là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cuba tại Việt Nam (1999-2004 và 2008-2013) mô tả khoảnh khắc lãnh tụ Fidel Castro hội ngộ cùng nhân dân Việt Nam anh em là phi thường, thỏa mong ước bấy lâu của cả hai bên.
Nhà báo Jorge Luna, đồng tác giả cuốn sách (cùng nhà báo Víctor Carriba), nêu bật ý nghĩa chuyến thăm của lãnh tụ Fidel tới Việt Nam. Việc lãnh tụ Fidel tới vùng mới giải phóng miền Nam Việt Nam là nguồn cổ vũ, động viên lớn lao đối với quân và dân Việt Nam, đồng thời tạo tiếng vang lớn thúc đẩy phong trào đoàn kết trên toàn cầu với quốc gia châu Á này.
Về phần mình, Đại sứ Việt Nam tại Cuba Lê Thanh Tùng cho biết nhiều hoạt động kỷ niệm 50 năm chuyến thăm đầu tiên của lãnh tụ Fidel tới Việt Nam cũng đang được tổ chức ở bên kia bán cầu với những tình cảm hết sức đặc biệt. Đại sứ Lê Thanh Tùng cảm ơn sự hỗ trợ quý báu mà nhân dân Cuba anh em đã dành cho Việt Nam cả trong thời kỳ chiến tranh khốc liệt cũng như trong công cuộc tái thiết đất nước sau này.
Theo ông Lê Thanh Tùng, cuốn sách “Fidel Castro - Vì Việt Nam, nguyện hiến dâng cả máu! (Fidel Castro - Nuestra Sangre Por Vietnam)” góp phần giúp những người trẻ Cuba và Việt Nam hiểu rõ hơn công sức cha ông gây dựng và vun đắp mối tình hữu nghị này qua thời gian, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Đại sứ Lê Thanh Tùng đánh giá cao mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa Thông tấn xã Việt Nam và Prensa Latina, đồng thời cảm ơn nhà xuất bản Ocean Press đã hợp tác thực hiện dự án này, góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa hai nước.
Trước đó, Nhà xuất bản Thông tấn (Thông tấn xã Việt Nam) cũng đã giới thiệu tới độc giả bản song ngữ tiếng Việt - tiếng Tây Ban Nha của cuốn sách “Fidel Castro - Vì Việt Nam, nguyện hiến dâng cả máu! (Fidel Castro - Nuestra Sangre Por Vietnam)”, giúp bạn đọc hiểu rõ thêm về bối cảnh, cũng như công tác chuẩn bị cho chuyến thăm Quảng Trị của Tổng Tư lệnh Fidel Castro, quyết tâm sắt đá của ông phải thăm bằng được vùng mới được giải phóng ở miền Nam Việt Nam, dù nơi đây vẫn đang bị bom cày, đạn xới.
Bạn đọc hiểu hơn những tình cảm của ông dành cho đất nước, người dân Việt Nam, cũng như tình cảm đặc biệt của ông dành cho vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam - Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam, người mà ông ngưỡng mộ, kính trọng, tiếc nuối vì chưa được một lần được diện kiến trực tiếp.
Sự hiện diện của lãnh tụ Fidel Castro tại Việt Nam cách đây 50 năm, vào tháng 9/1973, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn diễn ra ác liệt trên khắp các mặt trận, không chỉ là một hành động thể hiện lòng can đảm, còn là lời kêu gọi để cộng đồng quốc tế biết tới thực tiễn sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam Anh hùng, đồng thời bày tỏ tinh thần đoàn kết của Chính phủ, nhân dân Cuba với cuộc đấu tranh chính nghĩa ấy./.
St


NGƯỜI ĐỒNG CHÍ TỐT TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIEN PHỦ

 Ông lấy trong túi áo ngực ra một chiếc hộp rất nhỏ rồi đưa cho tôi xem. Đó là một con dấu cá nhân của sĩ quan Trung Quốc. Trên dấu có khắc chữ “Kháng Mỹ, viện Triều” và tên người. Tôi lấy làm lạ. Ông liền giải thích, đó là dấu của đồng chí Tùy Minh, cố vấn Trung Quốc trong chiến dịch Điện Biên Phủ tặng tôi trước khi về nước. Đại tá Đoàn Sự, nguyên cán bộ phiên dịch cho cố vấn Trung Quốc đã chia sẻ như vậy.

Ông kể: Sau Tết âm lịch, chúng ta chuẩn bị Chiến dịch Điện Biên Phủ theo phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”, một quyết tâm sáng tạo, đúng đắn của Đảng, Bác Hồ mà trực tiếp là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Lúc này, đoàn cố vấn Trung Quốc đã cử một số cán bộ có kinh nghiệm chiến đấu ở Triều Tiên sang giúp ta. Tôi được giao làm phiên dịch cho đồng chí Tùy Minh, người được cử làm cố vấn cho Trung đoàn 36, Sư đoàn 308. Gặp đồng chí Tùy Minh lần đầu đã cho tôi một ấn tượng. Anh cao, gầy, đen, trên người còn mang nhiều vết thương từ cuộc chiến đấu ác liệt tại Triều Tiên. Tùy Minh rất ít nói, mới gặp đã yêu cầu giải thích tình hình và xuống đơn vị ngay.
Khi sang giúp ta, đồng chí có mang theo cuốn sách “Chiến đấu ở Thượng Cam Lĩnh"-một cuốn sách nhỏ nói về cuộc chiến ác liệt của quân tình nguyện Trung Quốc ở Triều Tiên, trong đó có nói đến cách đánh bằng chiến hào, bao vây, đánh lấn… Cuốn sách được hai đồng chí Đỗ Thị Hồng và Nguyễn Thụy Ứng dịch ngay rồi in ra cho các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy đơn vị tham khảo. Sau này, đồng chí Lê Quảng Ba, Đại đoàn trưởng 316 đã đề xuất ý kiến đào hầm để đánh đồi A1 bằng một tấn thuốc nổ vào đêm ngày 5-5, tạo điều kiện để ta đánh thẳng vào trung tâm Mường Thanh.
Sau khi quan sát chiến trường, đồng chí Tùy Minh cùng với cán bộ Trung đoàn đề xuất ý kiến. Đại ý nói: “Các cứ điểm địch đã bố phòng rất mạnh, chắc chắn, hỏa lực dày đặc. Tuy công sự không phải là loại kiên cố chống trả được pháo lớn, nhưng địch có hỏa lực mạnh kết hợp không quân, pháo binh cùng nhiều lớp rào dày đặc trên cánh đồng Mường Thanh bằng phẳng. Với điều kiện của ta, nếu không thay đổi cách đánh sẽ gặp khó khăn và thương vong. Vì vậy, không thể vận dụng cách đánh công kiên như trước đây mà phải thay đổi cách đánh khác”.
Sau khi nghe đồng chí tư vấn, đơn vị nhất trí và tổ chức thảo luận, nêu lên các phương án áp dụng rồi báo cáo Sư đoàn cho Trung đoàn 36 được tổ chức thí điểm. Ngay chiều hôm đó, đồng chí Tùy Minh xuống tận đơn vị hướng dẫn bộ đội thực hiện. Đồng chí trực tiếp thị phạm cho mọi người thấy từ động tác nằm, đào dũi... và yêu cầu được trang bị: Mũ sắt, xẻng cán ngắn, cán dài, thuổng, cuốc...
Đêm hôm sau, đơn vị triển khai cho một bộ phận làm thử, kết quả thật tốt, nhưng ta bị địch phát hiện nên thương vong lớn. Ngay sáng hôm ấy, đồng chí lại tìm xuống đơn vị nghe các chiến sĩ phát biểu ý kiến. Tùy Minh đề xuất, làm các bao cát để che chắn cho bộ đội đào hầm và ngụy trang cho kỹ. Về xẻng phải có mũi nhọn và được mài sắc, cắm cọc buộc đáy định hướng thay địa hàn. Tối hôm sau, đơn vị tiến hành đào nhưng vẫn gặp khó khăn. Không thể dùng bao cát làm vật che đỡ vì khó di chuyển, lại bị hỏa lực địch bắn thủng… Bộ đội ta đề nghị, làm các khối chắn bằng rơm, bện thành các con lăn đặt tên là con “cúi”, mỗi con “cúi” dài 2m, dày 1,5m, có thể lăn được để làm khối chắn bảo vệ. Các chiến sĩ sẽ bám theo, bò lên nấp sau các con “cúi” để đào. Cứ 5 phút đào sâu khoảng 10 phân lại rút về phía sau và đồng chí khác lên thay. Nhưng rồi các con “cúi” bị địch dùng đạn lửa bắn cháy, vì vậy phải tẩm nước ướt để địch không thể bắn cháy. Hào đào sâu 1,5 đến 1,7m, rộng 1,2m, cứ cách 10 đến 20m lại đào rộng ra làm hầm ếch để có chỗ nghỉ và chứa thương binh. Mấy đêm liền, Tùy Minh liên tục xuống các đơn vị xem bộ đội đào. Buổi sáng, khi anh em về lại họp bàn rút kinh nghiệm.
Các đơn vị của Trung đoàn sắp xếp lại lực lượng tổ chức đào suốt đêm, sáng ra mới rút về. Ban đầu địch phát hiện nên tập trung lực lượng cho xe tăng hỗ trợ rồi ra lấp lại. Ta đối phó lại bằng cách bố trí quân sự trong chiến hào dùng lực lượng bắn tỉa, ba-zo-ca và trung liên chặn địch ra phá. Lúc đầu ta còn ngụy trang nhưng khi đã đi sâu ra đồng bằng thì không thể ngụy trang hết đành hất đất sang hai bên, địch phát hiện nhưng không làm gì được.
Hằng ngày, đồng chí Tùy Minh nằm trong hầm dùng que tre dựng các cứ điểm địch, lấy chỉ làm hàng rào và chú ý quan sát, vạch các hướng đi đề xuất đào thêm đường hào trục và hào nhánh, tính toán thời gian và nhân lực, rồi lại cùng cơ quan tham mưu bàn cách phổ biến cho các đơn vị thực hiện. Nhiều đêm đồng chí không ngủ, ngồi thao thức theo dõi việc đào, ban ngày lại xuống đơn vị nghe rút kinh nghiệm và đề xuất cách giải quyết khi gặp các tảng đá cứng, phải đào vòng hoặc khoét sâu chui qua, sau địch phát hiện bố trí hỏa lực bắn cạnh sườn, vì vậy phải làm nhiều con “cúi” đặt ở cạnh sườn để giảm thương vong.
Bộ đội ta đào suốt đêm, cực kỳ gian khổ, sáng về chỉ được vắt cơm nắm ăn với măng luộc và mắm cô, mỗi tối được phát một bi đông nước gạo rang, mỗi đơn vị chỉ có một tổ mang súng còn lại thì mang lựu đạn, dao, xẻng. Lúc này trời còn rất rét vậy mà anh em chỉ mặc quần đùi áo cổ vuông đi đào. Đào suốt đêm thay phiên nhau. Chiếc xẻng mòn vẹt cả, có chiếc chỉ còn 1/3.
Ở cứ điểm 206 có đến 7 lớp hàng rào thép gai và có gài mìn, Tùy Minh đã hướng dẫn đào sâu ở mép ngoài rồi đào hầm luồn sâu qua hàng rào mà không cần phá, làm như vậy rất an toàn nhưng vất vả và chậm. Thế là lại phải rút kinh nghiệm, phát động thi đua: đào nhanh, đào sâu, đúng yêu cầu. Các đơn vị triển khai rất tích cực, tạo thành một vành đai chiến hào dày đặc bao quanh cứ điểm địch như những mạng nhện. Trước đây, dự tính phải đào khoảng 100km, nhưng sau này tính toán lại ta đã đào đến 200km.
Suốt thời gian công tác ở đơn vị, đồng chí không nghỉ ngơi lúc nào, hễ rảnh lại xuống gặp anh em, bàn bạc và đề xuất hướng giải quyết. Thấy anh em mỗi buổi sáng rút về phờ phạc, mệt mỏi, nhem nhuốc, ăn uống quá khắc khổ, đồng chí rất buồn. Trung đoàn phải giải thích, lương thực, thực phẩm chỉ đủ cấp cho các bệnh viện và trại thương binh, vì vậy được như thế này đã khá lắm. Thấy anh em khi về chia nhau điếu thuốc lào, đồng chí quay về lấy tút thuốc lá duy nhất “Đại Tiền Môn” chia cho đơn vị, nhưng người đông, số thuốc quá ít, phải chia mỗi tổ 3 người 1 điếu.
Thấy đồng chí tận tình giúp đỡ, đơn vị rất cảm động. Biết đồng chí thích loại mũ nan bọc vải dù, đơn vị đã chọn một cái đẹp nhất để tặng. Trên vành mũ ta có dán khẩu hiệu “Đảng Lao động Việt Nam muôn năm. Quyết tâm thắng trận Trần Đình”, đồng chí hỏi tôi và cũng xin được dán khẩu hiệu lên mũ.
Đêm 1-4, ta đánh chiếm được cứ điểm 26 phía tây sân bay. Đến ngày 6-5, chúng ta đồng loạt đánh vào trung tâm hoàn toàn giải phóng Điện Biên. Sau chiến dịch 2 tháng, đồng chí lại trở về Triều Tiên tiếp tục nhiệm vụ của mình./.
St

BỮA CƠM GIA ĐÌNH

 

Khoảng cuối năm 1951, trong một lần đến thăm và nói chuyện với học viên lớp chính trị của quân đội ở Việt Bắc, Bác bảo anh Phương - chồng tôi - là cán bộ phụ trách lớp:
- Chiều nay, chú cho Bác ăn bữa cơm, vì nói chuyện xong, tối, Bác còn phải đi họp với một chi bộ ở Định Hoá.
Bấy giờ tôi cũng làm văn thư ở Hiệu bộ, nên anh Phương cử người nhắn tôi chuẩn bị.
Công việc của Bác xong xuôi, Bác về đến cơ quan thì cơm nước cũng đã sẵn sàng. Sinh hoạt ở rừng còn thiếu thốn, kham khổ. Anh em muốn "bồi dưỡng" cho Bác, để Bác khỏe, nhưng lại sợ. Nhưng rồi cũng quyết định thịt một con gà "tăng gia", kiếm ít măng rừng làm cơm mời Bác.
Bác ngồi vào bàn ăn, bảo anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), hai vợ chồng tôi và đồng chí cảnh vệ cùng ăn. Tôi cứ một mực từ chối:
- Thưa Bác, cháu ăn rồi. Mời Bác và các anh, các chú xơi cơm đi...
Mãi sau, Bác mới đồng ý và bắt đầu dùng cơm. Vào bữa cơm Bác nói:
- Cô cho Bác xin quả ớt.
Tôi vội thưa:
- Thưa Bác, trong bát măng có ớt rồi đấy ạ.
Nhưng khi ăn, Bác tìm mãi không thấy ớt.
Tôi ngại quá, bèn nói thật:
- Thưa Bác, chúng cháu sợ Bác ăn ớt có hại sức khỏe nên không dám cho vào măng nấu ạ.
Bác quay sang anh Phương:
- Chắc chú lệnh cho cô văn thư chứ gì. Thế là chú quan liêu rồi...
Anh Văn chỉ tủm tỉm cười nói thêm:
- Ớt là "vitamin ơ" của Bác đấy.
Bữa cơm của Chủ tịch nước giản dị, vui vẻ, thân mật như bữa cơm trong một gia đình ấm cúng.
Cơm nước xong, Bác hỏi tôi:
- Cô thư ký được mấy cháu, tên là gì?
Anh Phương đỡ lời tôi:
- Thưa Bác, được ba cháu gái đặt tên là Thu Thủy, Thu Thảo, Thu Vân.
Bác cười hiền từ, nói:
- Tôi có hỏi chú đâu! Sao đặt tên "văn chương" thế! Gọi là Thu Ngô, Thu Khoai, Thu Sắn" có hay không?
Mọi người cùng cười vui vì biết Bác liên hệ với phong trào tăng gia sản xuất, trồng thêm màu ngô, khoai, sắn... sản xuất nhiều lương thực đóng thuế nông nghiệp, nuôi bộ đội đánh giặc, mà Chính phủ mới phát động.
Lát sau, Bác lại bảo:
- Bác nói vui thế thôi. Những cái tên Việt Nam ấy rất đẹp.
Chưa kịp nghỉ ngơi, Bác đã chuẩn bị lên đường, Bác đeo balô đi trước, hai đồng chí cảnh vệ, anh Văn tiếp bước sau Bác. Mới đông mà sương chiều Việt Bắc đã xuống rất nhanh, tụ thành những đám mây lụa mỏng trắng bìa rừng.

Chúng tôi nhìn theo Bác, ung dung khoan thai như đi dạo cảnh thiên nhiên hùng vĩ, ngỡ ngàng như vừa được qua một giấc mơ đẹp trong một bữa cơm gia đình./.
St

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỂ CHẾ HÓA MỘT PHƯƠNG CHÂM, GÓP PHẦN ĐƯA NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG VÀO CUỘC SỐNG!

     Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. 

Đồng thời, trong tầm nhìn định hướng phát triển của đất nước mà Đại hội XIII khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng của và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.

Như vậy, Đảng ta yêu cầu phải “kiên trì thực hiện” phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và đến nay bổ sung tiêu chí “dân dám sát”, “dân thụ hưởng”. Phương châm này là thể hiện tư tưởng dân chủ trong thể chế nhà nước “của dân, do dân, vì dân” và được phân chia bằng “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đã 35 năm kể từ khi Đảng ta đề ra và thực hiện đường lối đổi mới, trong đó đề ra khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tiếp đó là 25 năm (kể từ năm 1996) từ khi “khẩu hiệu” được gọi là “phương châm” và 23 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với 3 nghị định của Chính phủ 1 Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007). Việc cụ thể hóa phương châm của Đảng bằng Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Nghị định của Chính phủ đã tăng cường, mở rộng quyền làm chủ của người dân, nhất là ở cấp cơ sở thông qua các quy định, quy chế, hương ước cộng đồng… góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng tổ chức đảng cấp chính quyền, hệ thống chính trị ở cơ sở, nổi bật và hiệu quả nhất là việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Người dân ở địa bàn này “được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được giám sát, được thụ hưởng” những chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp đầu tư cộng đồng, xây dựng nông thôn mới và những thành quả do mình đầu tư, bỏ công sức. Tuy nhiên, cho đến nay, do nhiều nguyên nhân, ở nhiều nơi, trong đó có cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dân chủ vẫn còn hình thức, quần chúng, người dân chưa được biết, được bàn, được kiểm tra, giám sát và chưa được thụ hưởng những chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, chưa được thụ hưởng những thành quả lao động, đóng góp về đất đai, tài nguyên thiên nhiên nơi địa bàn họ sinh sống, thậm chí họ còn hứng chịu những hậu quả do quá trình phát triển sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, ô nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên đất, nước, tiếng ồn… gây ra. Một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế các quyền dân chủ của người dân, gây nên nỗi bức xúc xã hội, mâu thuẫn ở khu dân cư là do nhiều nội dung trong phương châm của Đảng chưa được cụ thể hóa, thể chế hóa, các quy chế, quy định, nghị định, quyết định của các cấp có thẩm quyền thực hiện chưa nghiêm; cán bộ, đảng viên, trong đó có lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu… chưa gương mẫu thực hiện các quy định, quyết định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Do vậy, với những đường lối, nghị quyết, quan điểm chỉ đạo, giải pháp… mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, xin đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thể chế, cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong quá trình thực hiện, đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Theo đó, tập trung một số giải giáp chính sau đây:
 
Thứ nhất, đặt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng như vị trí, vai trò của người dân trong tổng thể các quan điểm, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch, giải pháp… mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm 35 năm thực hiện, cụ thể hóa 4 tiêu chí (biết, bàn, làm, kiểm tra) nghiên cứu, quán triệt sâu sắc các tiêu chí, nhất là 2 tiêu chí (giám sát, thụ hưởng) trong tình hình nền dân chủ ngày càng mở rộng, phát triển, nhất là hình thức dân chủ trực tiếp của người dân.  

Thứ hai, các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, các ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cán bộ, đảng viên cần nghiên cứu, học tập, quán triệt lại các tiêu chí trong phương châm của Đảng để vận dụng vào cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương mình cho phù hợp. Không phải chỉ nghiên cứu nội hàm của tiêu chí mới được bổ sung - dân giám sát, dân thụ hưởng - mà cả nội hàm của tất cả 6 tiêu chí trong phương châm của Đảng. Bởi nội hàm các tiêu chí đó ngày càng mở rộng, phát triển, phong phú và phức tạp hơn trước đổi mới, biến chuyển của xã hội, đất nước. Chẳng hạn, tiêu chí “dân biết” hiện nay khác rất xa “dân biết” cách đây 20 hay 35 năm. Cũng như vậy, tiêu chí “dân kiểm tra, dân giám sát” có sự bổ trợ, liên quan với nhau và “dân thụ hưởng” có những nội hàm mới vì từ trước đến nay nói chung và về cơ bản dân ta đã được hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới mà họ tham gia đóng góp.
 
Thứ ba, đối với cơ quan lập pháp là Ủy ban Thường vụ Quốc hội nói riêng, Quốc hội khóa XV nói chung, trong quá trình nghiên cứu, học tập, xây dựng chương trình hành động cần có nội dung xây dựng Luật, pháp lệnh liên quan đến việc vận dụng, cụ thể hóa phương châm của Đảng về “Dân” mà Đại hội XIII vừa đề ra.

Thứ tư, đối với Chính phủ, qua 23 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở, bên cạnh những thành tích, chuyển biến tích cực, các nghị định này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Chẳng hạn việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở loại hình cơ quan ở nhiều nơi, nhiều lúc còn hình thức, kém hiệu quả. Quy chế thực hiện dân chủ ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay có nhiều bất cập bởi hầu hết các doanh nghiệp nhà nước đã chuyển đổi thành công ty cổ phần, liên doanh, liên kết. Các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập ngày càng phát triển và hoạt động rất rộng rãi, phức tạp cũng cần xây dựng, bổ sung Quy chế dân chủ, pháp lệnh hoặc luật về dân chủ cơ sở... Do đó, dù Quốc hội có nâng cấp từ Pháp lệnh thành Luật về thực hiện dân chủ ở xã hay xây dựng bộ luật về dân chủ nói chung, thì Chính phủ cùng cần xem xét, bổ sung, sửa đổi các nghị định về xây dựng và thực hiện các loại hình cơ sở còn lại.
 
Thứ năm, khi Đảng ta là đảng cầm quyền, thể chế của dân, do dân, vì dân ngày càng khẳng định và mở rộng, người dân sống và làm việc theo pháp luật… thì mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng phải được thể chế hóa thông qua chính sách, pháp luật của Nhà nước, công tác dân vận của các cấp chính quyền, của các cơ quan nhà nước, sự gương mẫu của cán bộ, công chức, viên chức là cực kỳ quan trọng. Công tác dân vận của chính quyền các cấp chính quyền trước hết là các chế độ, chính sách phải vì lợi ích, nguyện vọng của người dân; người dân hài lòng về hiệu quả công việc, thái độ, chất lượng phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Cán bộ lãnh đạo các cấp chính quyền, nhất là người đứng đầu thực hiện tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân... Tất cả những nội dung trên phải được lượng hóa bằng các tiêu chí cụ thể và có các giải pháp khoa học, công tâm, khách quan để “đo” sự hài lòng của người dân.

Thứ sáu, đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, có vai trò quyết định trong việc thể chế hóa phương châm của Đảng thành hiện thực cuộc sống.
 
“Đảng ta thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ”, trong khi đó “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (3), "Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" (4), do đó suy đến cùng, các cấp ủy, tổ chức đảng là người chịu trách nhiệm trước hết và cao nhất trong việc cụ thể hóa, đưa phương châm của Đảng vào cuộc sống.
 
Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” và Quyết định 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, việc thực hiện còn chưa được như mong muốn, người dân ở nhiều nơi chưa được trực tiếp tham gia giám sát, phản biện, góp ý xây dựng tổ chức đảng, xây dựng chính quyền, phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực cán bộ, đảng viên, gia đình, họ hàng, người thân cả ở nơi công tác và nơi cư trú. Rất cần thể chế hóa bằng Luật, pháp lệnh của Nhà nước bảo đảm dân chủ thực chất, hiệu quả hơn. 

Một số quy chế, quy định, quyết định, chỉ thị... của của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Trung ương Đảng liên quan mối quan hệ giữa Đảng - Dân ban hành đã lâu hoặc cũng chưa được thể chế hóa chặt chẽ, nghiêm ngặt, dựa vào sự tự giác của tập thể, cá nhân nên hiệu lực, hiệu quả chưa cao, cần được rà soát, rút kinh nghiệm, thể chế hóa, bảo đảm thực hiện nghiêm minh, thực chất, hiệu quả: Quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định về người đứng đầu cấp ủy tiếp và đối thoại với dân; Quy định những điều đảng viên không được làm; Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân; Quy định đảng viên sinh hoạt hai chiều...
 
Riêng một vấn đề rất then chốt của các tổ chức, cấp ủy đảng và cũng là vấn đề được quần chúng nhân dân quan tâm theo dõi là vấn đề nhân sự của các cấp ủy, các cấp chính quyền, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị… vẫn là “điểm nghẽn”. Nhiều ý kiến nói “người dân biết rất rõ về cán bộ”, nhưng cũng có xu hướng cho rằng, sự đánh giá về cán bộ, đảng viên của người dân không phải lúc nào cũng chính xác. Có một nguyên nhân chính là do người dân chưa “được biết”. Nhưng nếu công khai, minh bạch công tác nhân sự của các cấp ủy, tổ chức đảng cho người “được biết”, “được bàn” “được kiểm tra”, “được giám sát”...sẽ là một kênh rất quan trọng trong công tác cán bộ nói chung và nhân sự của các cấp ủy nói riêng./.
Theo: Tạp chí Xây dựng Đảng.
Yêu nước ST.

NHỮNG NƯỚC CỜ CAO CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP TRÊN CHIẾN TRƯỜNG.

 Ở những thời điểm quan trọng của trận đánh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn có những quyết định sáng suốt tiên liệu sự việc chính xác đến không ngờ. Đó cũng là một trong những yếu tố để tên tuổi ông đi vào huyền thoại.

Chưa từng học qua trường võ bị nào nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chiến thắng 10 đại tướng Mỹ, Pháp bằng những tư duy quân sự độc đáo của mình.Lãnh đạo một đội quân từ những khẩu súng kíp ban đầu với những người lính xuất thân nông dân ít được học hành, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chiến thắng cả 2 cường quốc quân sự của thế giới.
Trong 30 năm cầm quân ấy, hẳn có vô số sự kiện chứng minh phẩm chất quân sự thiên tài của Đại tướng. Tuy nhiên, ở đây, chỉ xin điểm lại một vài quyết định của Đại tướng ở những thời điểm quan trọng trước mỗi chiến dịch, trận đánh mà có ảnh hưởng quyết định tới thắng lợi.
Đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung
Mùa đông năm 1947, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn lên Việt Bắc với mục tiêu lùng bắt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt lực lượng chủ lực của Việt Minh để kết thúc chiến tranh. Địch chia quân 2 cánh hòng tạo ra 2 gọng kìm vây lấy quân ta.
So sánh mọi mặt, lúc này quân ta ở thế yếu hơn địch, từ quân số đến vũ khí trang bị. Cần phải có phương án tác chiến thích hợp để đập tan được cuộc tấn công của địch, mà vẫn bảo toàn được lực lượng của ta để kháng chiến lâu dài.
Trong đợt toàn quốc kháng chiến năm 1946, có lúc ta tổ chức đánh lớn, dàn quân ra đánh với địch như ở Hà Đông, nhưng không hiệu quả do trang bị của ta thô sơ, bất lợi khi giao chiến theo hình thức chiến tranh quy ước với địch.
Trong tình thế nguy hiểm đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được nghe báo cáo có 1 đại đội bị lạc đơn vị đã nương tựa vào dân ở Hà Bắc, vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng. Câu chuyện đã lóe lên trong đầu vị tướng tài một câu trả lời mà bấy lâu ông đang tìm kiếm. Ta sẽ phân tán lực lượng ra, kẻ địch sẽ không thể tìm thấy thứ chúng muốn tìm (chủ lực ta) và chúng sẽ bị nhấn chìm trong núi rừng Việt Bắc.
Và thế là ngay sau đó, Đại tướng liền trình kế hoạch lên Trung ương Đảng và Bác Hồ. Trong cuộc họp ngày 14/101947, Trung ương và Bác đã nhất trí thông qua kế hoạch, cho tổ chức quân đội ta thành những đại đội độc lập đi vào hoạt động trong vùng địch tạm chiếm để biến hậu phương địch thành tiền phương của ta.
Nhờ công thức “đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung”, quân ta tiếp tục giữ vững thế chủ động chiến trường đẩy quân Pháp vào thế bị động đối phó. Sau thất bại ở Việt Bắc, quân Pháp ngày càng phải lo lắng nhiều đến việc giữ gìn vùng chiếm đóng vì các đại đội chủ lực của ta đã đi vào hoạt động thúc đẩy phong trào đấu tranh của du kích và nhân dân lên một bước mới, không cho chúng rảnh tay tập trung quân càn quét.
Đòn điểm huyệt “rúng động” biên giới.
Chiến dịch Biên Giới 1950 mở ra với mục đích khai thông biên giới Việt – Trung để nối liền vùng giải phóng của ta với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của các nước Xã hội Chủ nghĩa cho cuộc kháng chiến của ta. Vì ý nghĩa đó, đây là một chiến dịch quan trọng phải đảm bảo chắc thắng.
Đây cũng là chiến dịch đầu tiên ta tập trung lực lượng bộ đội lớn gồm 5 trung đoàn chủ lực của Bộ, 3 tiểu đoàn của Liên khu Việt Bắc và các lực lượng vũ trang 2 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Về phía địch, lực lượng cũng xấp xỉ quân ta và phần lớn là lính Âu Phi thiện chiến lại được trang bị tốt hơn ta rất nhiều.
Ban đầu cơ quan tham mưu xác định lấy thị xã Cao Bằng làm điểm đột phá để mở đầu chiến dịch. Tuy nhiên, khi thị sát chiến trường, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp lại nhận thấy tấn công vị trí này có nhiều bất lợi.
Trong hồi ký “Đường tới Điện Biên Phủ”, Đại tướng Tổng tư lệnh viết: “Lấy thị xã Cao Bằng làm điểm đột phá để mở đầu chiến dịch có phải là sự lựa chọn đúng không? Cao Bằng là một vị trí đột xuất nằm sâu trong hậu phương ta ở phía bắc. Ở đây, địch có 2 tiểu đoàn. Nếu đánh thắng, ta sẽ giải phóng được một thị xã quan trọng ở biên giới, ảnh hưởng chính trị sẽ rất lớn. Nhưng bộ đội ta chưa hề đánh một vị trí 2 tiểu đoàn Âu-Phi. Cao Bằng như tôi đã biết, nằm giữa hai con sông, và có ngôi thành cổ rất vững chắc. Đánh Cao Bằng sẽ thực sự là một trận công kiên lớn mà chúng ta còn chưa có kinh nghiệm”.
“Trong tư tưởng của tôi từ trước, điểm đột phá trên chiến trường này phải là Đông Khê. Ở đây địch đóng 1 tiểu đoàn, nằm trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta. Mất Đông Khê, Cao Bằng sẽ trở nên hoàn toàn cô lập. Địch nhất định phải chiếm lại Đông Khê. Bộ đội ta sẽ có điều kiện tiêu diệt bộ binh địch trên địa hình rừng núi. Tôi đã nói với Bộ Tổng tham mưu, tạm thời chưa đụng vào những vị trí địch trên đường số 4, chưa đánh động chúng”, hồi ký “Đường tới Điện Biên Phủ” của Đại tướng viết.
Những suy tính này cùng với quá trình thị sát Cao Bằng sau đó, Đại tướng đã quyết định thay đổi điểm đột phá. Thay vì đánh vào Cao Bằng, ta chọn đánh cứ điểm Đông Khê để cô lập Cao Bằng rồi bố trí phục binh đánh địch cứu viện bên ngoài công sự và khi chúng rút chạy.
Thực tế chiến sự sau đó đã diễn ra hoàn toàn theo suy tính của Đại tướng. Điều đó thể hiện một tư duy quân sự sắc sảo, linh hoạt và thiên bẩm của vị Đại tướng chưa một ngày học qua trường lớp võ bị nào.
Lối đánh điểm diệt viện này về sau trở thành một lối đánh quen thuộc và lợi hại của quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, đến mức tướng Westmoreland phải để tâm nghiên cứu và đưa ra những “cẩm nang” cho thuộc cấp Mỹ và quân đội Sài Gòn để ứng phó. Tuy nhiên, tác dụng của những cẩm nang đó không được bao nhiêu vì chiến thuật ấy, quân ta đã vận dụng thành nghệ thuật. Bởi vậy, quân Mỹ vẫn thua những trận đau như ở Sa Thầy, Pleime…
Buôn Ma Thuột hay Đông Nam Bộ
Từ cuối năm 1973, khi những dấu hiệu vi phạm Hiệp định Paris của quân đội Sài Gòn đã rõ ràng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cũng bắt đầu nghiên cứu đề án quân sự. Trong đó, vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất là chọn hướng tiến công chính ở đâu khi bắt đầu một kế hoạch quân sự mới.
Bộ Tổng tham mưu đưa ra mấy hướng để lựa chọn là Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Quảng Đà, Trị Thiên. Các cuộc thảo luận còn tiếp tục trong nhiều ngày tháng nhưng cá nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp ủng hộ hướng đánh vào Tây Nguyên vì khu vực này tiện cho ta tiếp tế hậu cần mà địch lại phòng thủ sơ hở. Thêm nữa, Tây Nguyên là nóc nhà Đông Dương – là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng trong quân sự. Chiếm được Tây Nguyên sẽ cắt đôi thế phòng thủ hiện tại của quân đội Sài Gòn ở miền Nam.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng nếu đánh Tây Nguyên sẽ động, địch sẽ ra sức đối phó ở Sài Gòn và đồng bằng Nam Bộ, sau này ta đánh sẽ khó khăn. Vì vậy nên chọn Nam Bộ là hướng chính, phía Tây Nguyên chỉ đánh Đức Lập để mở đường và đồng bằng Nam Bộ. Cuộc trao đổi vẫn chưa ngã ngũ.
Khoảng cuối năm 1974, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghỉ ở Đồ Sơn và trực tiếp làm kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Bản kế hoạch này đã sửa chữa đến lần thứ 6. Trong bản này, về hướng tiến công chủ yếu chỉ còn để lại 2 hướng là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
Tháng 12/1974, đoàn cán bộ B2 và khu 5 ra Hà Nội họp với Bộ Tổng tham mưu. Trong vấn đề chọn hướng chiến lược, các đồng chí B2 muốn chọn Đông Nam Bộ làm hướng tiến công chiến lược. Tuy nhiên, ngay trong hướng Đông Nam Bộ, giữa Bộ Tổng tham mưu và đoàn cán bộ B2 cũng có sự khác biệt về địa điểm đột phá. Bộ Tổng muốn đánh Bù Đăng, Bù Na để có thêm đạn pháo chiến lợi phẩm đánh Đồng Xoài trong khi các đồng chí B2 muốn trước hết đánh Đồng Xoài vì nó là quận lỵ quan trọng của Phước Long. Cuối cùng kế hoạch tiến công chọn cả Bù Đăng, Bù Na, Đồng Xoài và cả Phước Long.
Trong hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp ngày 18/12/1974, trước những thông tin mới nhất của tình hình bố phòng Tây Nguyên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại nêu ý kiến: “Kế hoạch phải nêu rõ diệt địch ở Tây Nguyên, mở đầu bằng đánh Buôn Ma Thuột. Có thể sau khi ta tiêu diệt Buôn Ma Thuột, địch sẽ dao động, rối loạn, lúc đó ta phải chớp lấy thời cơ giải phóng Huế. Nếu lúc đó ta chậm chân, mỏi mệt, để mùa mưa đến thì lỡ mất thời cơ. Cho nên phải có kế hoạch bao vây chia cắt ngay từ bây giờ, không để cho địch co cụm chiến lược, rút về miền Đông Nam Bộ hay rút về phía đông dọc theo bờ biển Trung Bộ…. Chúng ta phải chủ động tạo ra thời cơ, chứ không thể bị động ngồi chờ. Khi thời cơ đến thì phải kiên quyết, kịp thời chớp lấy thời cơ”.
Càng ngày hướng Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột càng được nhiều người ủng hộ qua các cuộc họp, thảo luận và cuối cùng đã được lựa chọn làm hướng mở màn chiến dịch Tây Nguyên và cũng là mở màn cho kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Như sau này nhiều người nói, đòn đánh vào Buôn Ma Thuột thực sự là một đòn điểm huyệt vào toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch đưa chúng đến chỗ tan rã nhanh chóng.
Quyết định đánh tan 10 vạn quân trong 3 ngày.
Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch “rúng động” và tan rã cũng là lúc quân ta mở chiến dịch giải phóng Huế – Đà Nẵng. Mất Quảng Trị rồi Huế, lực lượng địch dồn về Đà Nẵng tới 100.000 tên với đủ các sắc lính và hô hào tử thủ.
Ngày 26/3 tại Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp họp với tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh mặt trận Quảng Đà vừa được chỉ định và một số tướng lĩnh khác để bàn kế hoạch tiến công Đà Nẵng. Tướng Tấn đã chuẩn bị sẵn một phương án tác chiến trong 5 ngày gồm các việc họp đảng ủy, tập kết bộ đội và tổ chức hiệp đồng chiến đấu.
Tuy nhiên, Đại tướng Tổng tư lệnh lại nghĩ khác. Địch kêu gào tử thủ trong khi nhuệ khí đã không còn, hệ thống phòng thủ sau khi mất Tây Nguyên đã không còn căn cứ nào để tử thủ. Tình hình có thể diễn biến đột ngột, khả năng địch tháo chạy vẫn tồn tại. Nếu đánh chuẩn bị đánh trong 5 ngày địch rút được thì sẽ hỏng việc lớn. Do vậy Đại tướng ra lệnh cho Cục Quân báo về nghiên cứu thời gian nhanh nhất địch có thể rút khỏi Đà Nẵng và hẹn sáng hôm sau trả lời.
Sáng hôm sau, Cục Quân báo trả lời địch có thể rút nhanh nhất trong 3 ngày. Đại tướng liền nêu ý kiến cần chuẩn bị phương án đánh trong 3 ngày nhưng tướng Tấn vẫn giữ ý kiến và trình bày là “Đánh như vậy không thể chuẩn bị kịp”.
Tướng Giáp viết trong hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng: “Không thể đồng ý với đề nghị của anh Tấn chuẩn bị chiến đấu 5 ngày cũng như cách tính toán của anh Thanh, tôi phân tích ngắn, gọn, nêu rõ trong tình huống địch “tử thủ”, ta có thể chuẩn bị 5 ngày, 7 ngày hoặc hơn nữa. Nhưng phải dự kiến tình hình đột biến, cần có kế hoạch đánh thật nhanh. Tôi chỉ thị làm kế hoạch đánh địch theo tình huống chúng rút trong 3 ngày”.
Anh Tấn vẫn giữ ý kiến, và trình bày: Đánh như vậy không thể chuẩn bị kịp. Tôi nói, giọng có phần gay gắt: “Tư lệnh mặt trận là anh nên tôi để anh ra lệnh. Nếu là người khác, thì tôi ra lệnh: Đánh Đà Nẵng theo phương án chuẩn bị 3 ngày. Nếu chuẩn bị 5 ngày, địch rút mất cả thì sao? Huế đã giải phóng rồi. Mặc dầu pháo binh và hải quân địch có thể bắn phá, cứ cho bộ đội hành quân theo đường số 1 tiến công thẳng vào Đà Nẵng. Từ phía nam cũng theo đường số 1 tiến công lên. Không họp đảng uỷ, chỉ trao đổi bằng điện”.
Sau đó tướng Tấn đã chấp hành nghiêm lệnh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chỉ trong 3 ngày đã đưa một quân đoàn đánh tan 100.000 quân địch, giải phóng Đà Nẵng.
Một vài mẩu chuyện không thể nói hết được những phẩm chất quân sự thiên tài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhưng nó cũng cho thấy, ở những thời điểm quan trọng của trận đánh, Đại tướng luôn có những quyết định sáng suốt tiên liệu sự việc chính xác đến không ngờ. Đó cũng là một trong những yếu tố để tên tuổi ông đi vào huyền thoại./.
St

VẠCH TRẦN, ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI

 

Nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đội lốt “yêu nước thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai.
Đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc và đất nước với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi.
NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI KHÔNG THỂ XEM THƯỜNG
Chủ nghĩa cơ hội vốn không xa lạ. Nó thường che giấu bộ mặt thật của mình. Bản chất của những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội là khi cách mạng gặp thuận lợi, phát triển thì luôn tỏ ra cấp tiến, nhưng khi đất nước gặp khó khăn thì dao động, ngả nghiêng, sẵn sàng thỏa hiệp với các đối tượng phản động và phần tử xấu để chống phá cách mạng hoặc lợi dụng những kẽ hở của chính sách, pháp luật để làm nhiều điều mờ ám, gây tổn hại đến sự nghiệp chung. Thời gian gần đây, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện những biểu hiện mới không thể xem thường.
Một số ít người từng giữ cương vị lãnh đạo, quản lý lâu năm trong hệ thống chính trị các cấp, nhưng ít nhiều có biểu hiện “trở cờ” sau khi về hưu. Khi còn làm việc trong bộ máy công quyền, họ ít kêu ca, than phiền và cũng cố gắng làm tròn chức phận để vừa “giữ ghế”, vừa tận dụng cơ hội để có chức vụ cao hơn. Nhưng trong quá trình công tác, có thể có những điều gì đó làm họ không hài lòng và không đạt được mục đích như tham vọng cá nhân. Thế nên, khi trở về đời thường không còn liên quan đến việc công, họ đã giải tỏa những ức chế tâm lý và sự bức xúc cá nhân thông qua những phát ngôn trái chiều, những bài viết chủ yếu khoét sâu vào những mặt trái, tiêu cực xã hội, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước rồi đưa lên mạng xã hội khiến dư luận hoang mang, phân tâm.
Một số người lợi dụng các đợt đóng góp ý kiến vào các dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đưa ra những quan niệm “mập mờ đánh lận con đen”. Số người này bề ngoài thì tỏ ra am tường, minh triết, học cao, hiểu rộng, nhưng khi viết bài, đóng góp ý kiến lại có những lời lẽ, ý tứ ngụy biện được bọc trong một cái lớp vỏ phản biện trên tinh thần khoa học. Không những thế, có ý kiến còn vẽ ra con đường này, lối dẫn nọ của nước khác để khuyến cáo, thậm chí đòi hỏi Việt Nam phải áp dụng. Thế nhưng, những “bức vẽ, lối đi” đó không màu sắc, không đường nét rõ ràng, bởi thực chất đấy chỉ là một thứ học đòi, học lỏm hay dung hòa, trộn lẫn hỗn độn bởi đủ thứ lý thuyết, học thuyết rối rắm, xa lạ, không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế ở nước ta.
Một số người từng là cán bộ, đảng viên lâu năm đã mắc bệnh công thần chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò, cống hiến của mình trong quá khứ để phê phán quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề xuất những ý kiến lệch lạc. Mặc dù có ý kiến đã được cơ quan chức năng và người có trách nhiệm tiếp thu, giải trình một cách nghiêm túc, cầu thị, nhưng họ vẫn không đồng ý. Lợi dụng mạng xã hội, những người này công khai bày tỏ quan điểm thiếu thiện chí, cực đoan nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc và phủ nhận con đường dân tộc ta đang đi.
Một số ít trí thức, văn nghệ sĩ vốn là đảng viên cộng sản có những đóng góp nhất định trong lịch sử và có những công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học nghệ thuật được khá nhiều công chúng biết đến, nhưng nay lại bày tỏ sự sám hối của mình. Trên các mạng xã hội, ngoài việc công khai “hối hận”, “mặc cảm” và cố ý chối bỏ quá khứ cống hiến đáng quý của mình, những người này còn có những ý kiến hết sức chủ quan, thiên lệch về tình hình đất nước, xã hội và đời sống nhân dân. Đáng nói hơn, có người đã liên lạc, kết nối với các phần tử thù địch ở hải ngoại để "tiền hô hậu ủng", tạo thêm bệ đỡ cho các thế lực đó thường xuyên công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống chính sách, luật pháp để làm những việc sai pháp luật, trái đạo lý. Có những người triệt để lạm dụng lúc "tranh tối tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân. Xuất phát từ chủ nghĩa cơ hội mà sinh ra bao thứ phiền toái: Nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau một tấc lên trời, lôi bè kéo cánh, cục bộ địa phương, thấy sai trái không dám đấu tranh, thấy cái đúng không biết bảo vệ, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác... Cái thứ cơ hội này tuy không dễ “bắt tận tay, day tận mặt”, nhưng cũng là kẻ thù bên trong không kém phần nguy hiểm.
CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CƠ HỘI
Trong những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội nêu trên, tuy mỗi loại có tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau, nhưng có đặc điểm chung là đều chĩa mũi nhọn trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, thách thức sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực cản con đường đưa nước ta hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những biểu hiện đó của chủ nghĩa cơ hội cũng là “mảnh đất màu mỡ” để đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên sớm thành hiện thực, là chất xúc tác thúc đẩy âm mưu “diễn biến hòa bình” ngày càng trở nên sâu sắc và nguy hiểm hơn.
Vì vậy, nhận diện và đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đột lốt “yêu nước, thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai. Đây là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc, với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi.
Chủ động không để chủ nghĩa cơ hội len lỏi vào các tổ chức tổ đảng, bộ máy công quyền các cấp là một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của công tác tư tưởng chính trị hiện nay. Muốn vậy, trước hết các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên tìm hiểu, nắm chắc diễn biến tư tưởng, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên để kịp thời ngăn ngừa, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc phát sinh, chủ động triệt tiêu mầm mống của chủ nghĩa cơ hội ngay từ khi manh nha. Cùng với vạch trần, tẩy chay với các loại chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, xét lại và những biểu hiện mơ hồ, dao động về tư tưởng chính trị, cần chú trọng làm tốt công tác giáo dục, bồi đắp nâng cao niềm tin cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân vào những giá trị tốt đẹp của Đảng và của chế độ xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng.
Một vấn đề không kém phần quan trọng là các cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng các cấp cần chú trọng công tác quản lý nội bộ, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật Đảng, giáo dục cán bộ, đảng viên (nhất là những người làm ở những vị trí nhạy cảm, phức tạp, có quan hệ xã hội sâu rộng) phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn, không được tự ý nói năng, phát ngôn, bày tỏ ý kiến, kiến nghị của mình hay tán phát các tài liệu trên mạng xã hội có nội dung trái quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước và không có lợi cho việc giữ vững đồng thuận xã hội, ổn định chính trị và an ninh tư tưởng-văn hóa.

Trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, các cơ quan, đơn vị cần chủ động định hướng, hướng dẫn, giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc sử dụng mạng xã hội; động viên, khuyến khích mọi người tiếp thu có chọn lọc và làm lan tỏa những thông tin tích cực, lành mạnh trên mạng xã hội, góp phần nhân lên những giá trị tiến bộ, nhân văn trong cuộc sống. Cùng với đó phải kịp thời nhận diện, kiên quyết sàng lọc, loại bỏ những thông tin lệch lạc, sai trái, tiêu cực, không để những thông tin này có cơ hội tán phát, lây lan trên không gian mạng dễ làm vẩn đục môi trường thông tin và gây nhiễu dư luận xã hội. Làm tốt việc này cũng là một cách góp phần ngăn ngừa, phòng, chống những tư tưởng cơ hội, lợi dụng mạng xã hội để thông tin sai lệch, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN./.
St

CHUYỆN NỰC CƯỜI: TUNG HOA CHÚC MỪNG KẺ ĐI “TỊ NẠN”

 

Vừa qua, câu chuyện Nguyễn Bắc Truyển cập bến thành công tới Đức để t.ị n.ạ.n đã được đám “rân chủ” nhiệt liệt hoan nghênh và gửi lời chúc mừng. Một câu chuyện thật nực cười, khi một kẻ rời bỏ quê hương đi “tị nạn” nơi xứ người mà lại được coi như một chiến tích lớn chuyện tưởng “đùa” nhưng lại có “thật”.

Nhắc tới cái tên Nguyễn Bắc Truyển là người ta nhớ ngay tới “Hội AE dân chủ”, nơi quy tụ của những nhà hoạt động vì “dân chủ” và “nhân quyền” rất tích cực. Bên cạnh tên Truyển còn có một vài cái tên khác khá như Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Trung Tôn, Phạm Thu Hà,… Có lẽ lịch sử bất hảo của Truyển như thế nào thì không cần phải bàn nữa, bởi hắn đã từng phải nhận mức án “11 năm tù” và “3 năm quản chế” do những việc làm của mình gây ra.

Việc tên này được chào đón khi sang t.ị n.ạ.n ở Đức có thể khiến nhiều người bật cười và khó hiểu, bởi chẳng ai lại đi “tung hoa” một kẻ như vậy cả. Tuy nhiên, điều này đối với những “chiến hữu” của Truyển đang sinh sống tại đây lại là một tin vui. Bởi sang đây, đám này sẽ có nhiều cơ hội và điều kiện hoạt động cùng nhau để đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền nhằm chống phá lại chính quê hương đất nước mình.

Chuyện phải rời xa quê hương đi tha phương là điều mà chẳng ai mong muốn, bởi ai cũng có mong muốn được sống ở chính nơi mình sinh ra, được cống hiến và ngắm nhìn quê hương phát triển thay đổi từng ngày. Ấy thế mà có nhiều kẻ đã sẵn sàng vứt bỏ tất cả để làm điều ngược lại, câu chuyện của tên Truyển là một minh chứng điển hình. Đây là một sự đáng xấu hổ và nhục nhã vô cùng.

ẢO VỌNG CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 

Tổ chức lưu vong “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” được thành lập ngày 16/2/1991 tại Mỹ, do Đào Minh Quân (nguyên trung úy VNCH, sinh năm 1952 tại Thừa Thiên - Huế, quốc tịch Hoa Kỳ) cầm đầu. Tôn chỉ, mục đích của tổ chức phản động này là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng phương pháp bạo động vũ trang, dựng “nền đệ tam Việt Nam cộng hòa”. Năm 1995, Tổng cục An ninh đã xác lập chuyên án đấu tranh, bóc gỡ, xử lý, vô hiệu hóa hàng trăm cơ sở nội địa và số đối tượng xâm nhập của tổ chức này. Tuy nhiên, từ năm 2015 tới nay, Đào Minh Quân và số đối tượng cầm đầu ở nước ngoài tiếp tục phục hồi tổ chức, tiến hành các hoạt động chống phá ngày càng manh động, nguy hiểm hơn.

Phương thức, thủ đoạn của tổ chức này là vận động quốc tế, tranh thủ hậu thuẫn của một số nước phương Tây, hoạt động khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân, hoạt động tuyên truyền nhằm phá hoại hệ tư tưởng, rải truyền đơn, kích động biểu tình, kết hợp chủ trương tập hợp người Việt trong và ngoài nước, các tầng lớp xã hội tham gia tổ chức, sử dụng phương pháp đấu tranh bất bạo động và bạo động vũ trang. Năm 2018, Bộ Công an đã ra thông báo xác định “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” là tổ chức khủng bố. Trước đó, tháng 8/2017, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, truy nã Đào Minh Quân về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”. Đặc biệt, Nguyễn Đoàn Quang Viên còn lôi kéo được Y Phinh Du (SN 1984), Phó Chỉ hủy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự xã Bông Krang, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 23/2/2022, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ra quyết định khởi tố Y Phinh Du về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Y Phinh Du khai nhận, được Nguyễn Đoàn Quang Viên lôi kéo, đối tượng đã viết đơn xin tham gia tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”, trở thành người hoạt động tích cực cho tổ chức này ở Đắk Lắk. Công an tỉnh Lâm Đồng đã khởi tố bổ sung Y Phing Du tội “cố ý làm lộ bí mật nhà nước”. Do đối tượng này thực hiện tội phạm xâm phạm khách thể là bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực quốc phòng nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã tách, chuyển phần vụ án liên quan tới Y Phinh Du cho Cơ quan An ninh điều tra Quân khu 5 thụ lý, điều tra.

Những đối tượng như trên nếu không kịp thời ngăn chặn, khởi tố bắt giữ, xử lý đối tượng sẽ hết sức nguy hiểm, có nguy cơ đe doạ nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. Xử lý các đối tượng trên còn là đòn đánh mạnh vào cơ sở nội địa, đối tượng cốt cán, “ngọn cờ” của tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” ở trong nước, thức tỉnh đối với nhiều người còn hoang mang, giao động, tin vào những luận điệu tuyên truyền bịp bợm của tổ chức này./.

MƯU HÈN, KẾ BẨN CỦA “VIỆT TÂN”

 

Đám kền kền “việt tân” càng ngày càng khiến cho dư luận chê cười, lên án với cách “làm báo bẩn”, “đưa tin vịt” trên mạng xã hội. Nhất là cái thói săm soi, bới lông tìm vết, chuyên dựng chuyện để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt, từ trước đến nay, đám kền kền này còn thể hiện bản chất của những kẻ “bất nhân, bất nghĩa”, hết lần này đến lần khác ngụy tạo chứng cứ, bồi bút xuyên tạc bôi nhọ anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mới đây, admin trang tin “việt tân” đã đưa ra hình ảnh cắt ghép, chỉnh sửa so sánh nơi an nghỉ của người quá cố, kèm theo hàm xúc phạm vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Ngay khi bài viết được đăng tải, dư luận tỏ ra bất bình, lên án kịch liệt mưu hèn, kế bẩn của đám kên kền “việt tân”. Với người Việt Nam, Bác Hồ được tôn vinh là “Thành đồng của Tổ quốc”, là biểu tượng cao đẹp, là niềm tự hào của người dân Việt Nam. Vì thế, bất cứ ai có lời lẽ lă.ng mạ, bôi nhọ hình ảnh, thanh danh của Người thì đều là những kẻ đối nghịch với dân tộc Việt Nam, đáng bị lên án và trừng trị.

Vấn đề xây dựng Lăng và lưu giữ lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh là ý Đảng, lòng Dân, là công trình đánh dấu tình hữu nghĩ cao đẹp giữa Việt Nam và Liên Xô. Đối với mỗi người dân Việt Nam, vào Lăng viếng Bác đã trở thành một nhu cầu tình cảm, một phong tục tập quán mới, một sinh hoạt truyền thống biết ơn cội nguồn, hướng về giá trị gốc rễ trước mỗi bước phát triển đi lên.

Nhiều người nước ngoài coi Lăng Bác là một địa chỉ thiêng liêng, hấp dẫn mỗi khi tới Việt Nam. Trong số khách đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh không ít người trước đây là kẻ thù của dân tộc Việt Nam, nhưng sau khi vào Lăng thăm viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện thái độ trân trọng và hợp tác tích cực...

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là công trình văn hóa đặc biệt, một kỳ đài lịch sử của thế kỷ XX giữa thủ đô Hà Nội - là nơi diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của dân tộc, của Đảng, Nhà nước; nơi tổ chức các buổi mít tinh, duyệt binh, diễu binh, diễu hành chào mừng các ngày lễ lớn của dân tộc; nơi thường xuyên tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa, nghệ thuật nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, nơi hun đúc chí khí cách mạng của thế hệ trẻ Việt Nam càng tôn thêm giá trị văn hóa, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới.

Với ý nghĩa, tầm quan trọng đó, khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là mục tiêu mà các thế lực thù địch, phản động chống phá. Vì vậy, mỗi người dân cần nhận rõ âm mưu đen tối đó, phản bác lại các luận điệu xuyên tạc, vừa thể hiện tinh thần yêu nước, dân tộc và cũng là hành động thể hiện sự kính trọng, biết ơn với vị Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam./.

LỢI DỤNG VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC

 

Văn học, nghệ thuật là một trong những nguồn lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Những sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật đã góp phần bồi đắp tư tưởng, tình cảm, đạo đức, nhân cách, lối sống tốt đẹp cho con người, tạo nền tảng tinh thần, động lực và sức mạnh nội sinh, góp phần vào quá trình phát triển bền vững đất nước. Nhận thấy sức mạnh to lớn đó, thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng dùng mọi thủ đoạn để lợi dụng, biến văn học, nghệ thuật thành công cụ đắc lực nhằm chống phá Đảng, Nhà nước. Chúng xác định đây là một trong những mục đích quan trọng nhằm làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra khoảng trống để thực hiện tham vọng. Thực trạng này đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên cảnh giác, tỉnh táo nhận diện để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

Các đối tượng này không ngừng lợi dụng ưu thế, sức mạnh của loại hình văn hóa có tính chất đặc thù để từ đó âm mưu làm lệch lạc nhận thức của người dân về vai trò của Đảng, Nhà nước, chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Mục tiêu, ý đồ và tham vọng của các đối tượng chống phá tuy không thay đổi nhưng biện pháp và cách thức tổ chức thực hiện ngày càng tinh vi, khó phát hiện. Một số âm mưu, thủ đoạn và chiêu bài, cách thức mà thế lực thù địch thường lợi dụng, núp bóng dưới những tác phẩm văn học, nghệ thuật để đả kích, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ nổi lên thời gian qua là việc phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Để thực hiện mục tiêu này, các thế lực không ngừng tuyên truyền, dụ dỗ một số văn nghệ sĩ thiếu bản lĩnh chính trị, nhẹ dạ cả tin, tư tưởng dao động, vốn sống và kinh nghiệm viết chưa nhiều viết lên những tác phẩm kém chất lượng với cái nhìn phiến diện, méo mó, hoài nghi về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước, nhân dân đã lựa chọn. Tư tưởng bi quan, hoài nghi, dao động về chủ nghĩa Mác, về chủ nghĩa xã hội được một số tác giả cài cắm tinh vi thông qua những chi tiết, hình ảnh, lời nói của nhân vật trong truyện, ảnh hưởng và chi phối không nhỏ đến nhận thức cũng như tâm tư, tình cảm của công chúng, bạn đọc.

Không chỉ bị kích động, xúi giục từ các thế lực thù địch mà trong quá trình sáng tạo, một số nghệ sĩ xuất hiện biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa. Cụ thể từ những vấn đề nhỏ, liên quan đến cá nhân, các tác giả đẩy câu chuyện, sự việc đi xa hơn thành vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do khiến cộng đồng trong nước và nước ngoài hiểu sai về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với văn nghệ sĩ và sự phát triển lành mạnh của nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Từ chỗ bất đồng quan điểm, tiếp nhận dễ dãi các trào lưu, khuynh hướng văn nghệ tiêu cực, thậm chí suy đồi, một số cây bút tiến hành thử nghiệm, đổi mới cách viết và phong cách sáng tác bằng cách đi ngược lại tôn chỉ, mục đích, chức năng cao quý của nghệ thuật và sứ mệnh, thiên chức của nhà văn. Họ hướng ngòi bút vào việc xét lại lịch sử, giải thiêng và tầm thường hóa hình tượng các nhân vật lịch sử, các vị anh hùng dân tộc với lý do là bù khuyết những khoảng trống mà lịch sử còn bỏ ngỏ.

Vì chạy theo thị hiếu tầm thường, chiều theo tâm lý nhất thời một bộ phận công chúng, sức ép của cơ chế thị trường, sự chi phối của đồng tiền và danh vọng, một số nghệ sĩ thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bút lực, sẵn sàng viết lên những tác phẩm theo yêu cầu dễ dãi của công chúng, hướng ngòi bút vào những đề tài nhạy cảm về chính trị; khoét sâu vào những mặt tiêu cực, đen tối như tệ nạn xã hội, cờ bạc, ma túy, mại dâm; tham nhũng, chạy chức chạy quyền; những câu chuyện nội bộ liên quan đến đời tư của các đồng chí giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước... Việc quá tập trung vào một số đề tài với cái nhìn đen tối, u ám về hiện thực cuộc sống, con người sẽ gây tâm lý bi quan, hoài nghi về hiện tại và tương lai của đất nước. Đây cũng chính là cái cớ mà thế lực thù địch lợi dụng, nhắm vào để kích động, phao tin, đẩy những vấn đề, sự việc đi xa hơn khiến cộng đồng quốc tế hiểu sai về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Để thực hiện thành công âm mưu “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, các đối tượng chống phá, phản động đã sử dụng nhiều chiêu thức, biện pháp đa dạng, như: tài trợ về tài chính, sáng lập các quỹ hỗ trợ về sáng tạo; trao các giải thưởng thường niên về văn học, nghệ thuật, tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng, học tập kinh nghiệm sáng tác ở nước ngoài; tổ chức các diễn đàn, hội thảo để qua đó dễ dàng thâm nhập vào đời sống văn học, nghệ thuật. Các đối tượng tìm mọi cách móc nối với một số nghệ sĩ bất đồng quan điểm chính kiến với chính quyền, dụ dỗ, kêu gọi các nghệ sĩ “cùng chí hướng” thành lập các hội, nhóm, tổ chức với tên gọi “văn đoàn độc lập”, “ly khai” và không chịu bất cứ sự ràng buộc trách nhiệm nào với các tổ chức Đảng, Nhà nước và tổ chức hội nghề nghiệp; đòi tách văn học, nghệ thuật ra khỏi đời sống chính trị, đòi trả sự lãnh đạo văn nghệ cho chính văn nghệ sĩ.

Từ thực tế trên cho thấy công tác phòng chống các luận điệu xuyên tạc, núp bóng văn học, nghệ thuật để truyền bá cái xấu, cái ác, cái phản giá trị, phản nhân văn, cần thực thi đồng bộ, kiên trì, lâu dài nhiều giải pháp với sự tham gia của nhiều ban, ngành chức năng, hội nghề nghiệp, trách nhiệm của người nghệ sĩ và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị./.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LẦN ĐẦU TIÊN VIỆT NAM ĐĂNG CAI TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐA PHƯƠNG VỀ GÌN GIỮ HÒA BÌNH LIÊN HỢP QUỐC!

         Sự kiện góp phần khẳng định vai trò, uy tín, vị thế và đóng góp của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác đa phương về Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại khu vực và trong khuôn khổ ADMM+. 

Trong khuôn khổ hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á mở rộng (ADMM+), từ ngày 04 - 23/09, Bộ Quốc phòng Việt Nam tổ chức Chương trình đánh giá năng lực cho lực lượng chuẩn bị tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, nhóm chuyên gia Gìn giữ hòa bình chu kỳ 4. Sáng ngày (13/09), Chương trình chính thức khai mạc tại Trung tâm huấn luyện Quốc gia 4, Mỹ Đức, Hà Nội, với sự tham gia của 18 nước ADMM+ (gồm 10 nước ASEAN và Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Hoa Kỳ và New Zealand), do Việt Nam và Nhật Bản đồng chủ trì.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thượng tướng Phùng Sỹ Tấn, nhấn mạnh đây là lần đầu tiên Việt Nam đăng cai tổ chức một hoạt động đa phương về Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc với quy mô lớn cả về lực lượng và phương tiện. Sự kiện góp phần khẳng định vai trò, uy tín, vị thế và đóng góp của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác đa phương về Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại khu vực và trong khuôn khổ ADMM+. Thượng tướng Phùng Sỹ Tấn nêu rõ:Gần 300 chuyên gia, học viên, quan sát viên đến từ các quốc gia thành viên ADMM+ tham dự nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả, khả năng phối hợp hiệp đồng của lực lượng Quan sát viên quân sự với sự hỗ trợ của đơn vị Công binh, Quân y ở cấp chiến thuật tại phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Đây là cơ hội tốt để các đoàn trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, rèn luyện, thực hành kỹ năng trong triển khai các nhiệm vụ Gìn giữ hòa bình, sát với thực tiễn tại các phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Đồng thời, thông qua chương trình này, góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác trong lĩnh vực Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc giữa các quốc gia thành viên ADMM+.

Chương trình diễn ra từ nay đến 20/09, tại Trung tâm Huấn luyện Quân sự Quốc gia 4 và Tiểu đoàn Công binh 31, Lữ đoàn 28, Quân chủng Phòng không - Không quân. Hoạt động góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các nước thành viên ADMM+, nâng cao năng lực phối hợp hiệp đồng của các lực lượng chuẩn bị tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, gồm: Công binh, Quân y và Quan sát viên Quân sự của các quốc gia thành viên ADMM+./.

Theo: VOV.
Yêu nước ST.