Thứ Năm, 14 tháng 9, 2023

Có phải cứ đa đảng là dân chủ và một đảng thì mất dân chủ?

 Xem xét từ góc độ lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa đảng chính trị và dân chủ trong lịch sử, cũng như hiện nay cho thấy, không phải cứ đa đảng là dân chủ và một đảng là mất dân chủ. Dân chủ không đồng nghĩa với đa đảng và thực hiện đa đảng không đồng nghĩa với có dân chủ.

Chúng ta đều biết, dân chủ là phạm trù lịch sử, chế độ (nền) dân chủ chỉ xuất hiện khi có nhà nước và mỗi một nền dân chủ lại gắn với một kiểu nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Chế độ dân chủ còn tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong giai đoạn lịch sử tương ứng. Trên thế giới, các quốc gia không tương đồng về trình độ phát triển kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa..., do đó, không thể có một chế độ dân chủ giống nhau. Thậm chí, trong một quốc gia, ở mỗi giai đoạn lịch sử lại có trình độ dân chủ tương ứng. Sự khác biệt này được quy định không chỉ do thể chế chính trị (về số lượng đảng phái), mà còn do những điều kiện kinh tế, văn hóa, lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia. Bàn về điều này, C. Mác đã viết: “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”.

Trên thực tế, theo thống kê ở các quốc gia, số lượng đảng phái chính trị rất khác nhau; một số nước có rất nhiều đảng chính trị, như Anh có 97 đảng, Tây Ban Nha có 87 đảng, Pháp có 76 đảng,... Nhưng cũng có nhiều nước chỉ có một đảng chính trị, như Cu-ba, Lào, Ga-na, Việt Nam, Hai-i-ti, Môn-na-cô,...; tuy nhiên, số lượng các đảng chính trị không phản ánh mức độ dân chủ, tự do ở từng nước. Xin-ga-po có nhiều đảng, nhưng chỉ có Đảng Hành động Nhân dân (PAP) lãnh đạo cầm quyền. Ở Trung Quốc, ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn có 8 đảng phái khác và các đảng phái này đều thừa nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng duy nhất lãnh đạo đất nước.

Đặc biệt là trường hợp của Mỹ: có khoảng hơn 100 đảng, nhưng chỉ có hai đảng là Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ thay nhau cầm quyền. Thực chất, đây là hai đảng của giai cấp tư sản, có bản chất, lập trường giai cấp và hệ tư tưởng không khác nhau, ngoài một vài chính sách cụ thể. Trong khi tuyên truyền đa nguyên, đa đảng, nhưng ở Mỹ, Đảng Cộng sản Mỹ lại bị hạn chế hoạt động; thậm chí, có những giai đoạn còn bị chính quyền đặt ngoài vòng pháp luật. “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ, là hai nhưng thực chất lại chỉ là một đảng...”. Nghiên cứu về vấn đề đa đảng và dân chủ ở một số nước phát triển cho thấy, ngoài trường hợp ở các nước Bắc Âu và nước Đức có đặc trưng chính phủ cầm quyền do sự liên minh của các đảng phái (không có sự độc quyền của đảng tư sản), còn lại ở Nhật Bản và Pháp, cầm quyền là sự độc tôn của đảng tư sản, ở Mỹ chủ yếu và thuần túy là đảng tư sản. Hình thức giành quyền lực ở các nước này theo phương thức “chính trường chủ yếu là nghị trường”. Xét về hình thức thì có vẻ rất dân chủ, song về thực chất, chỉ có những đảng lớn mới thắng cử (đảng của giai cấp tư sản được sự hậu thuẫn của các tập đoàn tài phiệt giàu có), các cơ quan lập pháp, hành pháp đều thuộc các đảng tư sản. Do vậy, ở không ít các nước tư bản hiện nay (kể cả Mỹ), xét về thể chế chính trị và số lượng thì đều có mô hình đa đảng, song về quyền lực chính trị vẫn chỉ là nhất nguyên (đảng của giai cấp tư sản nắm quyền lực).

Thực tiễn cho thấy, dù nhiều quốc gia thực hiện đa đảng, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc quyền làm chủ của đa số nhân dân được bảo đảm. Những cuộc lật đổ, tranh giành quyền lực giữa các phe phái chính trị ở một số nước trên thế giới hiện nay làm cho hàng chục triệu người thiệt mạng, hàng chục triệu người khác lâm vào cảnh nghèo đói. Thực chất của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập chính là sự phân chia, tranh giành quyền lực giữa các lực lượng chính trị trong xã hội, là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa các phe nhóm trong cùng giai cấp để giành và giữ chính quyền, kiểm soát xã hội. Với lý do đó, đa nguyên, đa đảng không bao giờ tiến tới một nền dân chủ đích thực; và hệ quả xã hội điển hình nhất của nó là việc chiếm hữu và hưởng thụ tài nguyên xã hội theo tỷ lệ bất công “99% và 1%”, mà phong trào chiếm lấy phố Wall ở Mỹ những năm trước đây đã phơi bày.

Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã viết: “Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản. Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”.

Cơ chế thực thi quyền lực nhà nước ở nhiều quốc gia tư bản phát triển hiện nay cho thấy, tổng thống hay thủ tướng có quyền phủ quyết các dự luật của quốc hội hoặc thậm chí tuyên bố giải tán quốc hội. Vậy “quyền lực thuộc về nhân dân” thể hiện ở đâu? Ngay cả đối với việc thực hiện phổ thông đầu phiếu - một trong những biểu hiện cao nhất của dân chủ, các nước tư bản cũng phải rất khó khăn trong việc xác lập tư cách cử tri, nhất là đối với phụ nữ. “Ở Anh - năm 1928; Pháp - năm 1944; Italia - năm 1945; Tây Ban Nha - năm 1970; Thụy Sĩ - năm 1971, và ở Mỹ thì phải đợi đến năm 1920, người phụ nữ ở các nước này mới có quyền đi bầu cử”.

Ở một góc độ khác, theo luận điệu của một số kẻ cơ hội chính trị, thù địch thì “cứ đa đảng mới có dân chủ”?! Vậy dân chủ ở Ác-mê-ni-a (có khoảng 40 đảng) liệu có cao hơn dân chủ ở Hà Lan (25 đảng) hay Na Uy (23 đảng)? Hoặc “cứ một đảng là mất dân chủ”?! Vậy ở Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po - những nước có một đảng duy nhất cầm quyền (cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX) - lại là những nước mất dân chủ ư?! Hiện nay, trên thế giới có khoảng 30 nước theo chế độ một đảng, trong đó những nước như Việt Nam, Lào, Triều Tiên, Cu-ba là theo chế độ một đảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Như vậy, chế độ một đảng không phải là đặc điểm duy nhất có ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, đồng thời không phải các nước theo chế độ một đảng là không có dân chủ.

Những phân tích lý luận và tổng kết thực tiễn ở trên cho chúng ta khẳng định: Luận điệu “một đảng thì mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” là hoàn toàn sai trái và không dựa trên cơ sở khoa học. Đa đảng không phải là yếu tố bảo đảm dân chủ đích thực, bởi bản chất của dân chủ là “quyền lực thuộc về nhân dân”. Dân chủ được bảo đảm bởi nhiều yếu tố, trong đó có định hướng chính trị của lực lượng cầm quyền, cơ chế quản lý xã hội, trình độ phát triển kinh tế, dân trí, thực hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Vì vậy, bất cứ một quốc gia nào, dù đa đảng hay một đảng, mà đảng cầm quyền và nhà nước quan tâm đến việc bảo đảm quyền lực thực tế của nhân dân, nhân dân là chủ thể thực sự của quyền lực, thể hiện qua cương lĩnh, mục tiêu, chương trình hành động, thông qua hệ thống hiến pháp và pháp luật, thì quốc gia đó có dân chủ./.

Sự cần thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân

 Trước tiên, chống chủ nghĩa cá nhân nhằm mục tiêu xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng thời, phát hiện và loại bỏ “căn bệnh” này khỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trước yêu cầu phát triển của cách mạng, nếu cán bộ, đảng viên không được giáo dục, tổ chức tốt, không tự rèn luyện tốt thì sẽ nảy sinh những tiêu cực, thoái hóa xuất phát từ chính chủ nghĩa cá nhân. Do vậy, “để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng”, chúng ta phải kịp thời phát hiện và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm: “chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”. Vì vậy, để xây dựng và hoàn thiện giá trị đạo đức cách mạng thì nhất thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, đồng thời nuôi dưỡng, bồi đắp tinh thần tập thể.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu “chống”, mà còn phải “trừ bỏ, quét sạch, tiêu diệt” chủ nghĩa cá nhân. “Xây” và “chống” có mối quan hệ hữu cơ với nhau ở chỗ xây dựng đạo đức cách mạng đi đôi với đấu tranh loại bỏ và chống ảnh hưởng xấu của chủ nghĩa cá nhân; xây dựng đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa gắn liền với việc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và các tàn dư tư tưởng. Người phân tích, ví như chúng ta mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới, thì trước khi kê vào phòng, cần phải quét dọn nhà cửa sạch sẽ đã. Do đó, phải “quét sạch” hết chủ nghĩa cá nhân ra khỏi tư tưởng của từng cán bộ, đảng viên thì mới có thể xây dựng được đạo đức cách mạng, con người mới.

Thứ hai, chống chủ nghĩa cá nhân góp phần xây dựng xã hội mới tốt đẹp, đúng bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cần xây dựng xã hội mới, một xã hội “cần, kiệm, liêm, chính”. Xuất phát từ mục tiêu của cách mạng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận diện kẻ thù nguy hiểm nhất, trực tiếp nhất là chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, “chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”. Nói cách khác, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa... Muốn thành người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phải chống chủ nghĩa cá nhân”, bởi chủ nghĩa xã hội hướng tới giải phóng con người khỏi áp bức, bất công và xây dựng nền dân chủ thật sự gắn với sự công bằng, văn minh vì lợi ích chân chính của cộng đồng./.

Bản chất của chủ nghĩa cá nhân

 Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, đặc thù đối tượng để chỉ rõ, nêu ví dụ hoặc đưa ra những so sánh phù hợp mô tả, giúp mọi người hiểu thế nào là chủ nghĩa cá nhân. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thuật ngữ chủ nghĩa cá nhân, Người so sánh “chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc”, “là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác”; “là kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội”... Mặt khác, Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa cá nhân là tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, tách rời, coi thường và đối lập với lợi ích chung của tập thể, cộng đồng, xã hội; thể hiện tập trung ở khuynh hướng cực đoan, làm cho lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, cộng đồng, trái ngược với yêu cầu chăm lo đến lợi ích cá nhân chính đáng; sẵn sàng “đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc” và “chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”.

Như vậy, chủ nghĩa cá nhân là hệ thống quan điểm, thái độ, hành vi của chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu lợi ích của chủ thể ấy trên cơ sở tuyệt đối hóa vai trò và lợi ích cá nhân, tách rời và đối lập, làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng, xã hội.

Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

Qua nhiều tác phẩm, bài phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cá nhân, bởi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân rất đa dạng, biến hóa “muôn hình vạn trạng”. Tổng hợp các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể khái quát biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng 10 “căn bệnh” sau:

1- Bệnh quan liêu: nghĩa là trong công việc thì trọng hình thức mà không xem xét toàn diện, không vào sâu vấn đề, không sát với công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng.

 2- Bệnh tham lam: “bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”, trong những trường hợp nhất định thường sinh ra tham ô, lãng phí, đây là một thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”, là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân.

3- Bệnh lười biếng: “không chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ” và còn là lười suy nghĩ, ngại làm việc, lười đổi mới, sáng tạo,...

4- Bệnh kiêu ngạo: những người mắc bệnh này thường nghĩ rằng cái gì họ cũng biết, cũng làm được, dẫn đến coi thường tổ chức “xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng”.

5- Bệnh hiếu danh: theo Người, “những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”.

6- Bệnh “hữu danh vô thực”: loại bệnh này có biểu hiện là “làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch”.

7- Bệnh cận thị: nghĩa là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng, “không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ”.

8- Bệnh tị nạnh: nghĩa là luôn so sánh hơn thiệt giữa mình với người khác, luôn đòi hỏi sự bình đẳng nhưng thực chất họ “không hiểu rằng: Người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng”.

9- Bệnh xu nịnh: biểu hiện của căn bệnh này là “trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu; “theo gió bẻ buồm, không có khí khái”.

10- Bệnh a dua và kéo bè kéo cánh: biểu hiện của căn bệnh này là chỉ dùng những người bảo vệ lợi ích của mình (dù không có tài); ham dùng người nhà, anh em quen biết, bè bạn; những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực,...

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thứ bệnh trên đều do một thứ “vi trùng độc” là chủ nghĩa cá nhân sinh ra; tất cả cán bộ, đảng viên mắc các loại bệnh này là sa vào chủ nghĩa cá nhân và đều có tội với Đảng, với nhân dân.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: NHÌN THẲNG - NÓI THẬT: “TIẾN SĨ GÂY MÊ”, “THẠC SĨ RU NGỦ”!

          Đề cập đến vị thế của người thầy trong xã hội, đại thi hào Tagore (Ấn Độ) từng nói: “Giáo dục một người đàn ông được một người đàn ông, giáo dục một người đàn bà được một gia đình, giáo dục một người thầy được cả một xã hội”.

Ở Việt Nam, từ thế kỷ 18, nhà bác học lỗi lạc Lê Quý Đôn không những khẳng định “phi trí bất hưng” (nghĩa là đất nước mà không coi trọng trí thức, đề cao trí tuệ thì xã hội sẽ không hưng thịnh) mà ông còn chỉ ra một trong 5 nguy cơ có thể mất nước, trong đó có nguy cơ “trò không trọng thầy” (vì thầy không ra thầy). 

Nhìn vào sức mạnh của một nền giáo dục, trước hết cần nhìn vào đội ngũ nhà giáo tinh hoa ở bậc đại học và sau đại học. Nói là tinh hoa vì đội ngũ này đa số có trình độ học vấn cao, giữ vai trò then chốt trong việc truyền bá, nâng tầm tri thức và làm giàu trí tuệ cho sinh viên, học viên-nguồn lực lao động chất lượng cao của đất nước.

Không thể phủ nhận sự lớn mạnh và những đóng góp của đội ngũ giảng viên đại học vào sự nghiệp đào tạo những năm qua, trong đó, thành công đáng kể là việc nâng tầm trình độ học vấn cho đội ngũ nhà giáo ở bậc học này. Theo thông tin của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại hội nghị triển khai nhiệm vụ năm học 2022-2023, cả nước có hơn 85.000 giảng viên đại học, trong đó 21.420 người có học vị tiến sĩ (chiếm 25,2%), 51.300 người có trình độ thạc sĩ (chiếm 60,35%).

Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ tuy đã được cải thiện đáng kể nhưng theo nhận định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỷ lệ này vẫn còn thấp so với khu vực và thế giới. Năm 2010, tỷ lệ giảng viên các trường đại học đạt trình độ tiến sĩ ở Malaysia và Ai Cập đã là hơn 70%, Sri Lanka năm 2015 là 55%; đấy là chưa dám so với các nước có nền giáo dục phát triển hàng đầu thế giới.

"Thiếu giảng viên có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ thì chúng ta dần sẽ chuẩn hóa kiến thức cho họ. Nhưng một giảng viên giỏi còn hơn những người gắn mác tiến sĩ, thạc sĩ hào nhoáng mà lại là “tiến sĩ gây mê”, “thạc sĩ ru ngủ” khi đứng trên bục giảng". Một chuyên gia giáo dục từng bày tỏ thái độ nghiêm khắc như vậy khi nhận định về chất lượng giảng dạy của một bộ phận giảng viên bậc đại học hiện nay.

“Tiến sĩ gây mê” không phải là tiến sĩ chuyên ngành gây mê hồi sức, mà là người dạy sở hữu học vị tiến sĩ nhưng phương pháp giảng dạy thiếu sinh khí, thiếu hấp dẫn, thiếu thuyết phục khiến người học như bị lạc vào “cơn mê” rồi... ngủ gà ngủ gật trong lớp. Còn “thạc sĩ ru ngủ” cũng nhằm ám chỉ những giảng viên thiếu năng lực sư phạm, giảng bài tẻ nhạt, dài dòng, chẳng khác mấy cái kiểu... ru ngủ! 

Tại sao vẫn còn một bộ phận giảng viên đại học là “tiến sĩ gây mê”, “thạc sĩ ru ngủ” sinh viên, học viên trên giảng đường? Sở dĩ tồn tại thực trạng này vì một số cơ sở đại học lựa chọn đầu vào học tiến sĩ, thạc sĩ còn dễ dãi, đào tạo quá “thông thoáng”. Mới đây, luận án tiến sĩ về phát triển môn cầu lông cho công chức, viên chức của một giảng viên trường đại học gây xôn xao dư luận, bị đánh giá không đạt, đã nói lên điều này. Trong khi đó, nhiều người theo nghề phấn trắng, bảng đen lại thiếu những tố chất cần thiết của một nhà sư phạm. Thực tế có những giảng viên sở hữu trình độ học vấn cao nhưng thiếu năng lực ngôn ngữ, thiếu khả năng sư phạm nên họ không thể chuyển tải được nội dung kiến thức một cách tốt nhất đến sinh viên, học viên.

Trên giảng đường đại học mà vẫn còn những “tiến sĩ gây mê”, “thạc sĩ ru ngủ” thì khó có thể hiện thực hóa được mục tiêu tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, xã hội. Vậy nên, ngay từ bây giờ, các học viện, trường đại học cần sớm có biện pháp sàng lọc, thay thế một bộ phận giảng viên “tiến sĩ gây mê”, “thạc sĩ ru ngủ” để nền giáo dục đại học nước nhà có cơ hội bứt phá, phát triển và nhiều sinh viên, học viên không phải cám cảnh, ám ảnh với những buổi học có những ông thầy, bà giáo hay “gây mê”, “ru ngủ” họ trên giảng đường!

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH SẮP CÔNG DU TRUNG QUỐC, MỸ!

         Sau khi đến Trung Quốc dự Hội chợ CAEXPO và Hội nghị CABIS lần thứ 20, Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ tham dự phiên thảo luận chung cấp cao lần thứ 78 Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc kết hợp các hoạt động song phương tại Mỹ và thăm chính thức Brazil

Tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao chiều 14-9, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng thông báo nhận lời mời của Chính phủ nước CHND Trung Hoa, từ ngày 16 đến ngày 17-9, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính sẽ dự Hội chợ Trung Quốc - ASEAN (CAEXPO) và Hội nghị Thượng đỉnh thương mại đầu tư Trung Quốc - ASEAN (CABIS) lần thứ 20 được tổ chức tại TP Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Hội chợ CAEXPO và Hội nghị CABIS được Trung Quốc và ASEAN đồng tổ chức hằng năm tại Nam Ninh là 1 trong 10 hội chợ triển lãm hàng đầu của Trung Quốc.

Hội chợ CAEXPO và Hội nghị CABIS lần thứ 20 có chủ đề cùng xây dựng ngôi nhà chung, cộng đồng chung vận mệnh hướng đến tương lai, thúc đẩy sáng kiến Vành đai - Con đường phát triển chất lượng cao và xây dựng trung tâm tăng trưởng kinh tế, nằm trong chuỗi sự kiện kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Trung Quốc - ASEAN.

Tại kỳ hội chợ lần này, gian hàng thương mại của Việt Nam có sự tham gia của 120 doanh nghiệp với 200 gian hàng gồm nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng thuộc các lĩnh vực nông sản, thủy sản , thực phẩm chế biến, giày dép, đồ gia dụng, may mặc, đồ gỗ và đồ thủ công mỹ nghệ.

Dự kiến, Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ dự lễ khai mạc Hội chợ CAEXPO và Hội nghị CABIS lần thứ 20, thăm các gian hàng của Việt Nam và hội kiến Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Cường, tiếp Bí thư tỉnh Quảng Tây và tham gia một số hoạt động đối ngoại khác.

Ngay sau khi có chuyến công tác đến Trung Quốc, Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự phiên thảo luận chung cấp cao lần thứ 78 Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc kết hợp các hoạt động song phương tại Mỹ và thăm chính thức Brazil theo lời mời của Tổng thống Luiz Inacio Lula da Silva.

Chuyến công tác lần này của Thủ tướng sẽ kéo dài từ ngày 17 đến ngày 26-9./.
Yêu nước ST.

CẦN HIỂU ĐÚNG CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM!

         Lợi dụng việc Nhà nước ta tổ chức lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), các thế lực thù địch, phản động đã ra sức tuyên truyền, xuyên tạc cho rằng: “Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân là sự khôn lỏi của Nhà nước, làm cho hàng triệu người khốn khổ; sở hữu toàn dân về đất đai là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân”.
Cần hiểu đúng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam 
Đất đai là một bộ phận quan trọng của lãnh thổ quốc gia Việt Nam, được hình thành, tồn tại và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đó chính là thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước lâu dài của cả dân tộc, là thành quả từ công sức, xương máu của bao thế hệ cha ông chúng ta, cho nên không thể để cho một tầng lớp hay nhóm người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu.
Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân thì đất đai của quốc gia phải thuộc sở hữu của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của nhân dân. 
Điều 53, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Thể chế Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai (sửa đổi) tiếp tục khẳng định quan điểm này. Trong nền kinh tế Việt Nam, chế độ công hữu tư liệu sản xuất (trong đó có đất đai) giữ vai trò chủ đạo giúp tạo ra sự bình đẳng về kinh tế, tạo cơ sở để người dân thực hiện quyền bình đẳng và quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác của đời sống.
Xét cả góc độ lý luận và thực tiễn, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay thể hiện tính đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta cũng như định hướng XHCN mà chúng ta lựa chọn.
Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu có thể thực hiện vai trò kiểm soát, quản lý và điều tiết quan hệ đất đai trên cơ sở bảo đảm bình đẳng của người dân với tư cách là chủ sở hữu thật sự đối với tài nguyên đất nhằm hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên này một cách công bằng; khắc phục và hạn chế thấp nhất sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập từ đất đai.   
Ở nhiều nước tư bản như Mỹ, Canada, Hàn Quốc… thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, đa phần diện tích đất ở và đất sản xuất, kinh doanh đều thuộc sở hữu tư nhân mà chủ yếu là các nhà tư bản. Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc tại các quốc gia này. Hàn Quốc công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai nhưng khi cần nhà nước vẫn có thể trưng thu. 
Cũng phải thấy rõ rằng, những sai lầm và thiếu sót thời gian qua trong lĩnh vực đất đai như tham nhũng, tiêu cực, hình thành các tranh chấp, “điểm nóng” không phải do chế độ sở hữu toàn dân về đất đai gây ra.
Muốn giải quyết những vấn đề này thì phải bắt đầu từ việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, trong đó có việc sửa đổi Luật Đất đai hiện hành và các quy định về quản lý, sử dụng đất đai; đẩy mạnh cải cách hành chính, minh bạch hóa, công khai hóa cơ chế quản lý, sử dụng đất đai; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về đất đai, kịp thời phát hiện, phòng ngừa và xử lý nghiêm các sai phạm./.
Yêu nước ST.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TO LỚN TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ

 

Thời gian qua, sau khi bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được đăng tải, các thế lực thù địch đã phát tán nhiều bài viết, bình luận trên nền tảng mạng xã hội và một số website, tờ báo nước ngoài có tư tưởng phản động chống phá Việt Nam như: Danlambao, kênh VOA Tiếng Việt, Đài Á Châu Tự Do… với nội dung xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nội dung bài viết trên. Chúng cho rằng Tổng Bí thư đã đưa ra “hệ thống lý luận cũ kỹ, không còn phù hợp với thời đại”, “lạc nhịp”, “lỗi thời” và Việt Nam “lợi dụng tự do, dân chủ, tuyên truyền chống phá các nhà nước tư bản”; phản đối chế độ một đảng lãnh đạo ở Việt Nam; bôi nhọ, nói xấu chế độ ta. Thực chất đây là những luận điệu sai trái, thông tin sai sự thật, “lập lờ đánh lận con đen”, cố tình xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam mà Tổng Bí thư đã trình bày trong bài viết quan trọng của mình!

Trước những lập luận chặt chẽ trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các thế lực thù địch cố gắng dùng mọi thủ đoạn để cố tình xuyên tạc, bôi nhọ bài viết, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, hòng gây hoang mang dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng XHCN.

Xuyên tạc những vấn đề lý luận trong bài viết của Tổng Bí thư, các thế lực thù địch, cơ hội cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội chỉ là phương tiện cứu nước, giành độc lập dân tộc, và khi giành độc lập rồi thì cần phải thay đổi phương tiện”(VOA Tiếng Việt). Thực chất đây là thủ đoạn đánh tráo khái niệm, hòng phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Bài viết của Tổng Bí thư đã khẳng định chế độ XHCN là một chế độ xã hội mang bản chất tốt đẹp, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, lấy con người làm trung tâm, dựa trên lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội tư bản “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm đoạt của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”. Vậy mà, luận điệu của các thế lực thù địch lại cho rằng“chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hoàn toàn không có bình đẳng xã hội, không có an sinh, phúc lợi xã hội gì cả, mọi thứ đều phải trả bằng tiền”. Có lẽ nào chúng muốn dân tộc ta phải đi tìm cái bình đẳng của phương Tây khi mà một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng và do đó chi phối toàn xã hội. Trong nhiều bài viết chống phá con đường đi lên CNXH ở nước ta, các thế lực thù địch thường xuyên so sánh vấn đề dân chủ ở Việt Nam và vấn đề dân chủ Phương Tây nhưng họ không hiểu rằng trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át và người dân mất đi chính quyền làm chủ của chính mình. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; núp đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự thống trị của các tập đoàn tư bản.

Bài viết của đồng chí Tổng Bí thư đã làm rõ những vấn đề cốt lõi của chế độ XHCN mà chúng ta kiên định trong quá trình đổi mới đất nước; đồng thời đã khẳng định chế độ XHCN là một chế độ xã hội mang bản chất tốt đẹp, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, lấy con người làm trung tâm, dựa trên lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa cá nhân và phe nhóm. Để đạt được mục tiêu đó, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Không chấp nhận thực tế đó, những kẻ thù địch với chế độ XHCN ở trong và ngoài nước lại cố tình bịa đặt, lèo lái, dẫn dắt đánh lừa dư luận nhằm thực hiện mưu đồ phản động của mình bằng ngôn ngữ xấu, độc, võ đoán khi cho rằng: “Đảng cộng sản dốc tâm lo xây dựng chủ nghĩa xã hội để nắm giữ lợi quyền. Để độc quyền cai trị. Để có cơ nhũng lạm, cướp bóc, làm giàu cho cá nhân, phe nhóm, vinh sang cho một đảng trị vì khiến đất nước cứ mãi lạc hậu đói nghèo”. Tiếp cận dưới góc độ một bài viết có tính lý luận cao, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng lập luận khoa học, thuyết phục qua những thành tựu xây dựng CNXH, thể hiện tập trung ở giải trình bản chất chế độ XHCN ở Việt Nam. Đó là cơ sở phản bác một cách thuyết phục, kể cả phản bác đanh thép, sắc bén trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Trong bài viết của mình, Tổng Bí thư khẳng định rằng: Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là không thể phủ nhận; những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta là có thực, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong khi đó, các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ CNXH ở Việt Nam. Đó là những khó khăn, trở lực cả khách quan lẫn chủ quan đang từng ngày, từng giờ đe dọa đến sự tồn vong của chế độ, mà thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cũng từ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãnh phí, thoái hóa… trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị. Thực tế công tác xây dựng Đảng ở nước ta và những quyết tâm của đồng chí Tổng Bí thư trong bài viết là sự tiếp nối của tư tưởng Hồ Chí Minh: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

Từ khi bài viết được công bố ngày 16/5/2021 đến nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, các báo, tạp chí… đã có hàng nghìn bài viết, bài bình luận, tâm tư tình cảm của độc giả, từ cán bộ hưu trí, đảng viên ở cơ sở, nhân dân ở mọi vùng, miền của Tổ quốc; từ đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo cho đến các nhà nghiên cứu, các chính trị gia, học giả quốc tế, văn nghệ sĩ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài… đón nhận bài viết của Tổng Bí thư với lòng yêu mến, niềm tin tưởng và sự hưởng ứng tích cực.

Đối với các Đảng Cộng sản, Đảng Lao động trên thế giới như: Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Cộng sản Cuba, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, … đều bày tỏ sự đồng tình, đánh giá cao bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Những nhận định của bạn bè quốc tế năm châu về bài viết của đồng chí Tổng Bí thư không chỉ tiếp thêm niềm tin vững chắc cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đi trên con đường CNXH, mà còn trang bị vũ khí lý luận sắc bén để chúng ta tiếp tục đấu tranh, phản bác với những suy diễn vô căn cứ, chống phá, xuyên tạc những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong hơn 35 năm đổi mới đất nước. Từ tổng kết thực tiễn của Việt Nam, Tổng Bí thư đã đóng góp thêm tiếng nói của Việt Nam vào kho tàng lý luận thế giới về CNXH. Điều đó càng khẳng định rằng, sự lựa chọn và kiên định con đường đi lên CNXH không phải là “sai lầm” mà là sự lựa chọn, kiên định đúng đắn của lịch sử dân tộc, của nhân dân ta, của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

TỈNH TÁO ĐỂ KHÔNG “NỐI GIÁO CHO GIẶC”

 

Thổi phồng mặt trái của xã hội là nhận thức lệch lạc, cố tình bỏ quên mặt giá trị của vấn đề, không xem xét sự việc trong tính chỉnh thể với sự đan cài những mặt tích cực và mặt hạn chế của mỗi vấn đề. Đây là một biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Đảng ta phát hiện và chỉ rõ.

Thời gian qua, lấy danh nghĩa “thư ngỏ”, “phản biện xã hội”, một số phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong và ngoài nước đã phát tán nhiều nội dung xuyên tạc, thổi phồng mặt trái của nước ta ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng - văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao…

Đặc biệt, dưới sự lan truyền nhanh của mạng xã hội, không ít cán bộ, đảng viên và nhân dân đã tin điều đó thông qua nhiều bình luận, phát tán rộng rãi trên tài khoản mạng xã hội của cá nhân, không khác gì việc “nối giáo cho giặc”.

Điển hình của tình trạng này là việc dựa vào một số hạn chế trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 để phủ nhận nỗ lực của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị ở nước ta. Nhìn nhận khách quan hơn 2 năm qua, chúng ta không phủ nhận công tác phòng, chống dịch còn có nhiều khó khăn, khuyết điểm. Những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người và kinh tế - xã hội mà đất nước phải gánh chịu đã rõ. Với tinh thần trung thực, thẳng thắn, những hạn chế, bất cập, vấn đề đặt ra đã được Đảng, Nhà nước ta kiểm điểm làm rõ, phân tích sâu sắc nguyên nhân và tập trung biện pháp kiên quyết khắc phục.

Nhưng không thể vì những khó khăn, khuyết điểm ấy mà phủ nhận sạch trơn sự nỗ lực, cố gắng của cả dân tộc trong suốt hơn 2 năm qua với một sự việc chưa từng có tiền lệ trên thế giới. Và càng không thể vì thiếu sót, khuyết điểm của một vài địa phương, một số ít cá nhân để “vơ đũa cả nắm” suy diễn, quy kết vô lối rằng Việt Nam thất bại trong phòng, chống dịch; nội bộ Việt Nam “có vấn đề”...

Một thực tế không ai có thể phủ nhận là đến nay, Việt Nam đã trở lại nhịp độ phát triển gần như bình thường so với trước đại dịch, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Để có kết quả đó, tất cả đã vào cuộc bằng tinh thần “chống dịch như chống giặc”; “mỗi người dân là một chiến sĩ”, “ngoại giao vắc xin”... phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân.

Không chỉ có vậy, việc từ đầu nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đến cuối tháng 6-2022, Đảng ta đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan công an, quân đội mang hàm cấp tướng. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế… Khi siết chặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phòng, chống tham nhũng thì các phần tử cơ hội chính trị cho rằng đó chỉ là những cuộc “đấu đá” nội bộ, thậm chí tô vẽ thêm để nhằm gây tâm lý hoang mang, hoài nghi trong cộng đồng, hạ thấp uy tín của Đảng.

Nhận thức rõ âm mưu trên, những năm qua, Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tốt việc phòng, chống các quan điểm sai trái, thường xuyên đề cao cảnh giác với chiêu trò thổi phồng mặt trái của xã hội. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ chính là: “Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ xúy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội…”.

Do đó, vào lúc này, sự tỉnh táo là cần thiết để nhìn nhận bản chất sự việc, để hiểu đúng và hành động đúng. Từ đó, ngăn chặn tình trạng “nối giáo cho giặc” thông qua lợi dụng chiêu bài dân chủ, phản biện xã hội để phản bác, phủ nhận, phá bỏ sạch trơn, thông qua cố tình thổi phồng mặt trái của xã hội.

Vì vậy trước hết, các cơ quan quản lý được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ cần đẩy mạnh theo dõi, nắm chắc tình hình trên internet và mạng xã hội để chủ động có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn từ sớm, từ xa với những thông tin, luồng dư luận sai trái. Đồng thời, xử phạt nghiêm minh các đối tượng tung tin đồn thất thiệt.

Bằng nhiều hình thức, phương pháp, công tác tuyên truyền, giáo dục phải đi sâu vạch trần tính chất nguy hiểm của chiêu trò thổi phồng mặt trái, thiếu sót, khuyết điểm để chống phá Đảng, Nhà nước mà các thế lực phản động, cơ hội và bất mãn chính trị đang tiến hành, từ đó nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh, phản bác. Qua đó, làm cho những hành động “thổi phồng mặt trái xã hội” trở nên lạc lõng và dần bị triệt tiêu.

Về dài hạn, cần nâng cao năng lực hoạch định chính sách phù hợp với quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để xây dựng, phát triển đất nước, tăng cường sự đồng thuận xã hội. Cụ thể là sớm công khai, minh bạch, có đầu mối cung cấp thông tin cho các cơ quan truyền thông đại chúng để giải đáp các vấn đề dư luận quan tâm.

Ngoài ra, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, đạo đức, lối sống. Đồng thời, cảnh giác, đánh giá đúng thực chất và tác hại của những biểu hiện hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng, kịch liệt lên án và phản bác lại những thông tin thổi phồng mặt trái xã hội.

Đối với những người tham gia mạng xã hội cần hết sức tỉnh táo để không tự biến mình thành kẻ “thấy cây mà không thấy rừng”. Trước mọi thông tin, mỗi người cần có một cái nhìn khách quan, toàn diện để khi tiếp cận và nhận thức cho đúng đâu là thông tin chính thống, đâu là những thông tin sai lệch, chủ quan, phiến diện.

Những biện pháp trên là cần thiết để mỗi chúng ta tự bảo vệ, tạo sức “đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhằm thổi phồng khuyết điểm, khoét sâu mặt trái để chia rẽ nội bộ cho những kẻ “đục nước béo cò” chống phá Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng.

KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỒNG HIỆN TƯỢNG VỚI BẢN CHẤT, CÁ NHÂN VỚI TẬP THỂ

 

Lợi dụng vi phạm của một số cán bộ, đảng viên, các thế lực phản động, thù địch tìm mọi cách hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Đây là thủ đoạn chống phá nguy hiểm cần sớm nhận diện và đấu tranh loại bỏ.

Thời gian vừa qua, cán bộ lãnh đạo của một số địa phương đã bị cơ quan chức năng khởi tố, tạm giam do có hành vi vi phạm quy định của pháp luật. Vi phạm của các cá nhân này đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước, người dân và xã hội; gây dư luận xấu, làm mất uy tín của tổ chức đảng, chính quyền địa phương.

Việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nêu trên đã thể hiện tinh thần đấu tranh không khoan nhượng của Đảng ta đối với tham nhũng, tiêu cực và đã nhận được sự đồng tình của dư luận. Tuy nhiên, với động cơ thiếu trong sáng và góc nhìn phiến diện, các thế lực thù địch, phản động đã đưa ra những luận điệu sai trái, gây “nhiễu” dư luận. Trên nhiều trang mạng xã hội xuất hiện luận điệu cho rằng vụ việc bị xử lý là do “đấu đá nội bộ”. Đặc biệt, một số ý kiến còn lợi dụng vụ việc để bôi nhọ Đảng theo kiểu “đến người đứng đầu tỉnh còn vi phạm”; từ đó “liên hệ” “gợi mở” nhiều vấn đề theo hướng đổ lỗi vi phạm của cán bộ, đảng viên là do thể chế, do “Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo”… nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; kêu gọi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trước hết cần khẳng định, việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nói trên là các vụ việc cụ thể được thực hiện sau quá trình điều tra, xác minh của cơ quan chức năng và phù hợp với các quy định hiện hành. Vi phạm của họ xuất phát từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện. Và việc họ bị xử lý theo các quy định của Đảng, của pháp luật là hệ quả tất yếu. Đây là vi phạm của cá nhân đảng viên; hoàn toàn không thể đồng nhất với bản chất của Đảng như các thế lực phản động, thù địch đang cố gắng tuyên truyền, xuyên tạc.

Thực tế cũng cho thấy, công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là quá trình lâu dài, gian khó, chưa có trong tiền lệ. Vì vậy, quá trình đó khó có thể tránh khỏi những thiếu sót, vấp váp, nhất là trong công tác lãnh đạo, quản lý. Trong đội ngũ đông đảo cán bộ, đảng viên cũng sẽ khó tránh khỏi việc có những người mắc phải những khuyết điểm, thiết sót, sai lầm. Để hạn chế điều đó, Đảng, Nhà nước ta đã có những “hàng rào” quy định, luật pháp với những chế tài mạnh mẽ để quản lý, giáo dục, răn đe, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Mỗi cán bộ, đảng viên ai cũng đều phải trải qua quá trình phấn đấu rèn luyện để đạt được những tiêu chí, tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực nhất định. Ngay cả khi cán bộ, đảng viên ở vị trí lãnh đạo có vi phạm thì vẫn bị xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, những biểu hiện cụ thể của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Đảng ta thẳng thắn chỉ ra ở Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); các quy định cụ thể về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm… Đó là những nỗ lực của Đảng, Nhà nước nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất.

Theo thống kê, chỉ trong 10 năm (giai đoạn 2012-2022), với sự nghiêm khắc trong xử lý kỷ luật đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra T.Ư đã kỷ luật hơn 170 cán bộ thuộc diện T.Ư quản lý, trong đó có 33 Ủy viên và nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng. Đặc biệt, tính riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng tới nay, 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý đã bị xử lý kỷ luật, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang (1). Song, đây chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”; không thể đánh đồng cá nhân với tập thể, không thể đồng nhất những hiện tượng vi phạm đó với bản chất của Đảng, của chế độ. Sự trong sạch, tinh thần làm việc hết mình vì dân, vì nước của đại bộ phận cán bộ, đảng viên, của lãnh đạo Đảng, Nhà nước là cơ sở quan trọng đưa đến những bước phát triển mạnh mẽ của đất nước ta trong hơn 35 năm qua, kể từ khi công cuộc Đổi mới được Đảng khởi xướng. Điều đó cũng đã được nhân dân ghi nhận, trân trọng.

Mặt khác, mưu đồ nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động không thể che đậy được khi lợi dụng vi phạm của một số cá nhân, đảng viên, chúng ra sức tuyên truyền các luận điệu nhằm hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Rõ ràng, mục đích sâu xa của các thế lực thù địch, phản động là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác trước các luận điệu phản động, sai trái nói trên./.

ĐỪNG ĐỂ TÂM HỒN TREO NGƯỢC CẢNH CÂY...

 

Trong bài thơ “Là thi sĩ”, tặng các nhà thơ Việt Nam, ra đời năm 1942, nhà thơ Sóng Hồng (bút danh của đồng chí Trường Chinh) đã truyền thông điệp rằng: Nếu thi sĩ “Để tâm hồn treo ngược ở cành cây… Chìm đắm ở thương hoa và tiếc ngọc…” thì đó là tai ương, chướng họa của nhân quần.

Tám thập kỷ trôi qua, soi rọi vào hiện thực cuộc sống và công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, tư tưởng và thông điệp ấy vẫn vẹn nguyên tính thời sự… Tư duy “nổi loạn” và những hệ lụy

Thời gian gần đây, trên một số diễn đàn văn học, nhất là tài khoản cá nhân của nhiều nhà văn trên mạng xã hội, đã chia sẻ thông tin, bình luận về những cuốn sách mới xuất bản của một số tác giả. Phần lớn những cuốn sách này không có gì nổi trội, nhiều tác giả còn rất xa lạ với bạn đọc. Điều gây chú ý đối với dư luận là những lời tán dương về sự “nổi loạn” của tác giả, tác phẩm.

Thực ra, “nổi loạn” không phải là thuật ngữ xa lạ, mới mẻ. Nó xuất hiện trong đời sống văn học-nghệ thuật lâu nay như một kiểu hội chứng dị biệt và được không ít người cổ xúy, tung hô như là một sự đột phá, sáng tạo, phá cách. Nói về sự “nổi loạn” trong tác phẩm văn học-nghệ thuật, đó có thể là một kiểu nhân vật có tính cách “nổi loạn”, các kiểu lập ngôn “nổi loạn”, hay một khuynh hướng sáng tác “nổi loạn”… Và tất cả đều bắt nguồn từ tư duy “nổi loạn” của người sáng tạo. Khách quan mà nói, không phải tất cả phong cách “nổi loạn” đều mang hàm ý xấu, tiêu cực. Có những sự “nổi loạn” về nghệ thuật tu từ, về xây dựng tính cách nhân vật được tác giả sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật để tạo sự khác biệt, điển hình, làm nổi bật tư tưởng, nội dung tác phẩm, được giới chuyên môn và công chúng đánh giá cao. Tuy nhiên, không ít người lại cố tình “nổi loạn” hoặc lấy cớ “nổi loạn” để cho ra đời những sản phẩm gây hại. Người thì muốn “nổi loạn” để tạo sự khác biệt, gây chú ý. Người lại thích “nổi loạn” như một kiểu bắt chước, học đòi. Và cái sự “nổi loạn” được nhắc đến nhiều trong thời gian qua chính là dục tính trong tác phẩm. Người ta gọi đó là “dâm thư” (sách khiêu dâm). Ở đây, chúng tôi không bàn sâu về học thuật, bởi đó là phần việc của các nhà phê bình. Xét trên phương diện “nghệ thuật vị nhân sinh”, soi rọi vào hiện thực đời sống xã hội thì thấy rõ, sự “nổi loạn”, lệch chuẩn, loạn chuẩn trong sáng tác văn học-nghệ thuật hiện nay chính là biểu hiện tiêu cực, một dạng của suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong một bộ phận văn nghệ sĩ.

Những tác phẩm có tính chất “nổi loạn” kiểu này hoàn toàn không có tác dụng gì trong việc bồi đắp đời sống văn hóa tinh thần cho công chúng ngoài việc gây tò mò, kích thích lối sống trụy lạc, ru ngủ thanh niên… Từ sự “nổi loạn” trong tác phẩm văn học-nghệ thuật đến hành vi nổi loạn của con người trong đời sống xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bởi văn học-nghệ thuật có chức năng giáo dục thẩm mỹ, định hướng lối sống cho công chúng. Những cuốn “dâm thư” và những sản phẩm nghệ thuật lấy việc mô tả trần trụi cảnh sinh hoạt tình dục của con người trong các mối quan hệ ma mị, ma quái, kinh dị… có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống văn hóa tinh thần của công chúng. Nó làm cho lớp trẻ bị ru ngủ, say sưa trong ý tưởng hoan lạc, phó thác cuộc đời cho số mệnh, thủ tiêu ý chí phấn đấu, thui chột động lực phát triển, bàng quan với khát vọng phát triển đất nước phồn vinh… Đó chính là những biểu hiện của suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống trong văn học-nghệ thuật. Thực trạng này đã được Đảng ta chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), đó là: “Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ xúy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc…”. Mặc dù đã được nhắc đến nhiều, nhưng những biểu hiện lệch lạc ấy vẫn chưa được khắc phục. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Những yếu kém, bất cập nêu trên chậm được giải quyết mặc dù đã được nhắc đi, nhắc lại trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng. Sự yếu kém, khuyết điểm này đã gây hệ luỵ, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế-xã hội, đến xây dựng con người và môi trường văn hóa của chúng ta”…

Coi trọng đào tạo, giáo dục lý luận chính trị cho văn nghệ sĩ

Trong lần trao đổi với một nhà văn đàn anh nổi tiếng ở TP Hồ Chí Minh, chúng tôi được anh thẳng thắn chia sẻ rằng, cái mà một số người cho là “nổi loạn” ấy, thực ra là một sự bất lực về tài năng và mù mờ về ý tưởng sáng tạo. Do nghèo nàn ý tưởng sáng tạo và dao động về tư tưởng nên nhà văn khó tìm lối đi riêng, đành “để tâm hồn treo ngược ở cành cây”, thoát ly hiện thực, tưởng tượng ra những hình thức dục tính lập dị, ma quái để giật gân, câu khách. Thông điệp cảnh tỉnh của nhà thơ Sóng Hồng từ 8 thập kỷ trước vẫn vẹn nguyên giá trị trong đời sống văn hóa, văn học-nghệ thuật hôm nay: “…Thì bạn hỡi một nhà thơ như rứa/ Là tai ương, chướng họa của nhân quần/ Nhọc tơ lòng mà phí cả ngày xuân/ Để ca ngợi bất công và tàn ngược…”. Trong xu thế hội nhập, hơn lúc nào hết, khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, xã hội phồn vinh đang được Đảng, Nhà nước ta đề cao, trở thành xu thế tất yếu của hành trình phát triển. Trong bối cảnh đó, nếu một bộ phận không nhỏ văn nghệ sĩ “Để tâm hồn treo ngược ở cành cây…”, ngụp lặn trong ngôn ngữ dung tục và tư duy “nổi loạn”, kích thích lối sống ẩn mình, ích kỷ, thực dụng, trao gửi số phận cuộc đời cho “mộng ái cao siêu”, đi ngược lại xu thế thời đại… thì đó là hành vi trái đường lối, quan điểm của Đảng. Sự lệch chuẩn ấy lại được cổ xúy, tung hô bằng kiểu lập ngôn “nổi loạn” của không ít người viết phê bình, thì sự nguy hại đối với đời sống văn hóa tinh thần của xã hội càng lớn.

Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam…”.

Như vậy, những biểu hiện, khuynh hướng hay trào lưu sáng tác tác phẩm văn học-nghệ thuật với lối tư duy “nổi loạn”, lệch chuẩn, cần phải kịp thời có giải pháp chấn chỉnh, khắc phục. Đặt trong mối quan hệ với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tiêu cực, suy thoái… thì chúng ta cần nhất quán quan điểm lấy xây để chống. Đầu tiên và trên hết là phải khơi thông tư tưởng, xóa bỏ định kiến ngay trong tư duy sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ. Cần thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, yếu kém trong công tác đào tạo, giáo dục lý luận chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ văn nghệ sĩ, như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức…”. Rõ ràng, những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong môi trường văn học-nghệ thuật, bên cạnh yếu tố chủ quan do bản lĩnh, lập trường, tư duy cá nhân của một bộ phận tác giả, còn có nguyên nhân hết sức quan trọng là công tác giáo dục lý luận chính trị chưa được coi trọng đúng mức. Khiếm khuyết này dẫn đến một bộ phận văn nghệ sĩ hạn chế về tư duy lý luận, tư tưởng dao động, ngả nghiêng, bắt chước phong cách nước ngoài một cách tự nhiên chủ nghĩa. Để khắc phục những hạn chế trong công tác đào tạo, giáo dục lý luận chính trị trong đội ngũ văn nghệ sĩ, trách nhiệm trước hết thuộc về tổ chức đảng trong các cơ quan chủ quản, các tổ chức hội, đoàn, cơ quan tuyên giáo các cấp…

Sinh thời, Bác Hồ đã dạy: “Để làm tròn nhiệm vụ cao quý của mình, văn nghệ sĩ cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, giữ gìn thái độ khiêm tốn; phải thực sự hòa mình với quần chúng, cố gắng học tập chính trị, trau dồi nghề nghiệp…”.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 tiếp tục nhấn mạnh việc “Đặc biệt chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ làm công tác văn hóa, văn học-nghệ thuật. Đội ngũ này có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp văn hóa nói riêng và trong sự nghiệp cách mạng nói chung…”.

Gắn chặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chỉnh đốn hệ thống chính trị, trọng tâm là phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vào môi trường văn học-nghệ thuật, chúng ta cần nhất quán quan điểm: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng vừa là mục tiêu, động lực, vừa là đề tài sáng tạo của văn nghệ sĩ. Đó cũng chính là cách để mỗi văn nghệ sĩ không để tâm hồn “treo ngược cành cây”, đặt mình đúng vị trí trong xu thế thời đại với cảm hứng chủ đạo là khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh.

LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

        Trong giai đoạn hiện nay, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Chúng lợi dụng con đường công khai, hợp pháp để triển khai các hoạt động xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc; chúng tìm mọi “mưu ma chước quỷ” hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị của đất nước… trong đó, có chiêu bài lợi dụng vấn đề tôn giáo, đội lốt tôn giáo để thực hiện mưu đồ chống phá. Có thể nhận diện các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam, gồm:

Ở nước ngoài: Số đối tượng có tư tưởng chống phá Việt Nam trong các tổ chức nhân quyền, tôn giáo thế giới, chủ yếu ở Mỹ và Châu Âu; Một số nghị sĩ, chính khách ở các nước TBCN có tư tưởng cực đoan chống CNXH; Các báo, đài phản động chống Việt Nam; Các tổ chức phản động, lưu vong người Việt ở nước ngoài; Các tổ chức chống đối trong các tôn giáo ở hải ngoại.

Ở trong nước: Số đối tượng chống đối trong các tôn giáo (không thừa nhận các tôn giáo, tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận); Các tổ chức tôn giáo trong các tôn giáo chưa/ không được Nhà nước công nhận (cả trong 16 tôn giáo và các “hiện tượng tôn giáo mới”, đạo lạ, tà đạo); Các đối tượng phản động, cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật.

Tuy âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá có khác nhau, nhưng chúng luôn câu kết, móc nối chặt chẽ với nhau, cùng hướng đến chiến lược “diễn biến hoà bình”,xác định cácmục tiêu cơ bản, xuyên suốt là: chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào các tôn giáo chống lại đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đối lập họ với Đảng; làm mất hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội; gây mất ổn định chính trị xã hội, tạo cớ can thiệp hoặc khi thời cơ đến kích động bạo loạn lật đổ; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; làm chệch hướng, tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Theo đó, chúng thường lợi dụng các vấn đề như: đức tin và sự gắn kết cộng đồng tôn giáo để lôi kéo, tập hợp lực lượng chống đối; khoét sâu những mâu thuẫn, vấn đề nảy sinh về tôn giáo để chống phá; lợi dụng những sơ hở, bất cập, yếu kém trong thực hiện công tác tôn giáo và các vấn đề nhạy cảm được dư luận quan tâm để thổi phồng, xuyên tạc “đặt điều dựng chuyện”; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các hiện tượng tôn giáo mới, mạng xã hội để công kích, vu khống…

Cụ thể hơn, có thể nhận diện các hoạt động của chúng ở nước ngoài gồm:Thứ nhất, thu thập thông tin từ những đối tượng phản động, chống đối trong các tôn giáo, các tổ chức tôn giáo trái pháp luật, không được Nhà nước công nhận để xuyên tạc tình hình tôn giáo, quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Trên cơ sở đó, chúng ban hành các đạo luật, báo cáo, kiến nghị… vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, kích động các thế lực thù địch ở trong nước đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Thứ hai, tổ chức các hoạt động chỉ đạo, hỗ trợ các đối tượng phản động, chống đối ở trong nước tiến hành các hoạt động chống phá. Các tổ chức phản động, lưu vong người Việt ở nước ngoài và các tổ chức chống đối trong các tôn giáo ở hải ngoại trực tiếp thực hiện âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm này với nhiều hoạt động như: tổ chức các diễn đàn nhằm xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, kêu gọi “quốc tế” can thiệp; đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là mạng xã hội; tổ chức các hội luận, tập huấn, huấn luyện các hoạt động tuyên truyền, biểu tình, gây rối…; trực tiếp móc nối, hỗ trợ vật chất, tinh thần cho các thế lực thù địch trong nước.

Là lực lượng chủ yếu, trực tiếp thực hiện âm mưu chống phá, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động ở trong nước tập trung vào những khía cạnh: Một là, thường xuyên liên kết, câu kết chặt chẽ với nhau (Hội đồng liên tôn, Bàn tròn đa tôn giáo…) và tiếp nhận, thực hiện sự chỉ đạo, hỗ trợ của các thế lực thù địch ở nước ngoài. Hai là, đẩy mạnh các hoạt động soạn thảo, tán phát tài liệu kích động chống phá, cung cấp cho các thế lực thù địch ở nước ngoài những nội dung sai sự thật, thổi phồng sự kiện. Ba là, lợi dụng các ngày lễ của tôn giáo, các sự kiện nhạy cảm để kích động, lôi kéo tín đồ tập trung đông người, gây rối, biểu tình, gây mất an ninh trật tự. Bốn là, lợi dụng các “hiện tượng tôn giáo mới” để trục lợi, làm lệch chuẩn đạo đức, văn hóa xã hội, gây hoang mang dư luận và mất ổn định chính trị – xã hội.

Một sự thật hiển nhiên là, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo không phải vì lợi ích của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ, cũng không vì “tự do tôn giáo” như chúng thường rêu rao, mà là nhằm thực hiện mưu đồ chính trị phản động hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Đây là điều đi ngược lại lợi ích chân chính của đồng bào có tín ngưỡng, theo tôn giáo, của các chức sắc, tín đồ tôn giáo mong muốn có cuộc sống “tốt đời đẹp đạo”, “đồng hành cùng dân tộc”, thực sự hạnh phúc trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo là một bộ phận của chiến lược “diễn biến hòa bình”, đặc biệt nguy hiểm đối với cách mạng Việt Nam và đối với chính đồng bào theo tôn giáo. Nó trực tiếp “đẩy” đồng bào theo tôn giáo về phía đối lập với chính quyền và cách mạng. Do đó, Đảng ta đã xác định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(12). Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta, là yêu cầu cơ bản và cấp bách của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trong tình hình mới, đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó có đồng bào theo tôn giáo.

Đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, được tiến hành bằng hệ thống các giải pháp đồng bộ vừa mang tính cấp bách vừa mang tính lâu dài; kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, ngăn chặn với xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Trước mắt, cần thực hiện tốt các định hướng chủ yếu: tuyên truyền, giáo dục; xác định nội dung, hình thức, biện pháp; tổ chức thực hiện; điều kiện bảo đảm. Trong đó, chú trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho toàn xã hội; phát huy sức mạnh tổng hợp, tổ chức thực hiện “thích ứng” với từng giai đoạn, hoàn cảnh; có cơ chế, chính sách phù hợp…/.

CHUNG TAY DỌN “RÁC VĂN HÓA” TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Con người càng bận rộn thì nhu cầu giải trí càng cao, chính vì vậy, không khó nhận thấy trong các quán cafe, điểm đón xe bus và ngay cả nơi công sở, tại gia đình, một thói quen “cúi đầu” đã hình thành trong nhiều người dân. Họ mải mê, chăm chú với rất nhiều “thú vui”, tin túc hấp dẫn trên mạng xã hội và dường như nó đã trở thành món ăn tinh thần với rất nhiều người khi những tiện ích đang ngày càng đa dạng, khiến cho mọi người khó có thể rời xa chiếc điện thoại.

Không thể phủ nhận vai trò của internet, mạng xã hội trong thời đạo 4.0. Thế nhưng, bên cạnh lợi ích mạng xã hội đem lại, có rất nhiều thứ gọi là “rác văn hóa” đã và đang gây ô nhiễm trên không gian mạng, nguy hiểm hơn nó đang len lỏi vào đầu óc của thanh niên, học sinh và thậm chí các cháu thiếu nhi. Đây là lứa tuổi đáng báo động vì năng lực chủ thể về hình vi chưa thực sự hoàn thiện, và những thức “rác văn hóa” đang đầu độc tư tưởng của con em chúng ta.

Rác trên mạng còn xuất hiện dưới nhiều hình thức khác như nhạc chế nhảm nhí, phim bạo lực rẻ tiền, phim hài, clip nhạt nhẽo với những hình ảnh hở hang, nói tục để câu khách, hay bằng cách livestream đấu tố lẫn nhau. Đáng chú ý, gần đây, phong trào chế chuyện cổ tích đang trở thành một trào lưu và hình ảnh phía dưới là một ví dụ điển hình.

Từ câu chuyện cổ tích ngọt ngào, lãng mạng về chàng hoàng tử đẹp trai, tuấn tú với nàng công chúa ngủ trong rừng được đám chế ảnh “rẻ tiền” phù phép thành một câu chuyện kinh dị, man rợ, máu me, phản cảm. Những câu chuyện như vậy sẽ phá nát tuổi thơ đẹp đẽ của các học sinh đang tuổi mới lớn.

Không những vậy, những hình ảnh khiêu dâm được cắp ghép, chèn nội dung bình luận với giọng điệu mời chào đang trở thành trent trên mạng xã hội. Nó kích thích sự tò mò và hiếu kỳ của những chàng trai, thậm chí cả những người đứng tuổi. Đây chẳng khác nào như những “nhà thổ” trên mạng xã hội để thu hút sự hiếu kỳ, theo dõi của đám mày râu.

Thật đáng buồn khi những hình ảnh, câu chuyện nêu trên lại thu hút được một lượng lớn người theo dõi, like, share và comment, khiến cho nó lan tràn mạnh mẽ và dễ dàng tương tác với nhiều người, đầy đủ các thành phần, lứa tuổi. Chủ nhân của các tài khoản đó sẽ rủng rỉnh túi tiền nhưng tác hại từ những đồng tiền bẩn đó thì vô cùng.

Rất mong các cơ quan quản lý nhà nước cần tuýt còi, xử phạt thật nạng những trangt tin như vậy. Bên cạnh đó, quan trọng nhất vẫn là nhận thức của cộng đồng mạng. Không ai ngăn cản, cấm đoán sở thích, thị hiếu của người dùng mạng xã hội. Nhưng cư dân mạng cũng không nên thờ ơ, bàng quan với vấn nạn "rác văn hóa" đang hàng giờ, hàng ngày tiêm nhiễm độc hại vào tâm hồn, nhận thức của lớp trẻ nói riêng và của mỗi chúng ta nói chung. Nếu như người dùng mạng xã hội đứng ngoài cuộc thì dù cơ quan chức năng có mạnh tay, quyết liệt đến mấy cũng rất khó đạt hiệu quả.

Do đó, chung tay làm sạch rác văn hóa trên mạng xã hội để tránh hệ lụy khôn lường tới đời sống hiện tại và thế hệ tương lai là trách nhiệm không của riêng ai.

DƯA LEO VÀ BÀI HỌC CẢNH TỈNH

 

Nguyễn Phúc Gia Huy, nghệ danh Dưa Léo đối mặt với án phạt từ Công an quận 10, TP.HCM, do vi phạm khi đăng tải thông tin sai sự thật trên kênh YouTube cá nhân của mình. Sự việc này là sự thích đáng cho hành vi của Dưa Leo và bài họccảnh tỉnh cho người dùng mạng.

Với tư cách là một nghệ sĩ hài độc thoại và YouTuber, Y không chỉ một lần vi phạm về việc đăng tải thông tin trên mạng xã hội. Việc tái phạm nhiều lần đặt ra câu hỏi về trách nhiệm và ý thức trong việc chia sẻ thông tin với cộng đồng trực tuyến. Việc lan truyền thông tin sai sự thật không chỉ gây hiểu nhầm và nhức nhối cho mọi người đọc, mà còn có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh và uy tín của người hoặc tổ chức bị đề cập.

Bài học cảnh tỉnh rõ ràng từ trường hợp này là tầm quan trọng của việc kiểm tra và xác minh thông tin trước khi chia sẻ trên mạng xã hội. Người dùng mạng cần nhận thức về vai trò của mình trong việc ngăn chặn sự lan truyền thông tin sai lệch và đảm bảo tính chính xác của thông tin. Điều này không chỉ đảm bảo tính minh bạch và tin cậy của môi trường trực tuyến, mà còn giúp tránh việc gây hại không đáng có cho cộng đồng và cá nhân.

Đúng là dưa Léo, rất vớ vẩn!

SANG XỨ SỞ “THIÊN ĐƯỜNG, TỰ DO” MÀ SAO VẪN KHỔ?

 

Cách đây 4 năm, Bạch Hồng Quyền và gia đình chính thức đặt chân sang định cư tại “mẫu quốc” theo dạng tỵ nạn chính trị. Anh và gia đình đã cười nhưng nụ cười ngượng ngịu trên môi chẳng qua là để thoả lòng đám phóng viên của mấy trang báo lá cải như BBC, RFA.., vì Quyền cũng hiểu rằng cuộc sống nơi đất khách quê người sẽ thật gian nan.

Trước đó, nghe theo lời dụ dỗ của đám kền kền ở hải ngoại và cái bánh vẽ ngọt ngào từ các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam, Bạch Hồng Quyền luôn nghĩ rằng ở xứ “thiên đường” sẽ chỉ có ngồi không mà ăn, chơi và hưởng thụ cái không khí “dân chủ” tự do.

Thế nhưng, những điều đó chẳng qua là “giấc mơ trưa” mà những kẻ zận chủ giả hiệu thường mơ ước. Vì cuộc sống không giống như cuộc đời, giấc mơ vẫn là giấc mơ và không thể thành hiện thực với những kẻ ăn không ngồi rồi, thậm chí với một kẻ siêng năng lao động cần mẫn đến bạc cả tóc như Bạch Hồng Quyền cũng không thể chịu đựng được cảnh bị đày đọa khổ cực như vậy.

Chính vì thế, chỉ cần đọc lướt qua facebook cá nhân của Bạch Hồng Quyền dễ dàng tìm thấy Những lời “than văn thở vở” về cuộc sống khổ cực bên trời Âu và sau 4 năm anh ta có được gì ngoài một bộ sưu tập “nỗi khổ”. Nào là khổ vì phải làm nhiều, khổ vì “đam mê”, khổ vì bị đầy đọa, kỳ thị nhưng khổ nhất có lẽ là sự dày vò tinh thần của những kẻ “tha hương cầu thực”.

Mới đây, anh ta tiếp tục than vãn “Tranh thủ 15 phút nghĩ trưa ăn vội hộp cơm rồi lại lao vào làm như con thiêu thân. Cuộc sống nơi xứ người sao lắm những gian truân. Mong sự khoan hồng từ đảng và nhà nác cho em được sớm hồi hương chứ ở đây hơn 4 năm thấy “khổ tấm thân này ” quá rồi”…

Lời kêu cứu của Quyền thật vô vị khi những kẻ chống cộng ở hải ngoại cũng chẳng đếm xỉa, quan tâm đến anh ta. Và những lời thở than trên của chính Bạch Hồng Quyền đã nói lên tất cả. Đó là cái giá phải trả dành cho những kẻ phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân. Biết quay đầu thấy bờ là tốt, nhưng chỉ kêu khổ và van xin chưa đủ, hãy dũng cảm đứng lên vạch trần thế giới ngầm của những nhà rân chủ giả hiệu, lên án những trò lừa bịp, kích động chống phá của đám đồng đảng. Đây chính là lấy công chuộc tội, có như vậy, ngày được trở về quê hương của Quyền sẽ không xa.

TỪ BAO GIỜ, BÁO ĐẢNG KHÔNG ĐƯỢC ĐỀ CẬP ĐẾN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI?

 

Trong môt stt mới đây, Nguyễn Ngọc Nam Phong đã công khai mỉa mai, giễu cợt báo điện tử tỉnh Phú Thọ trong chuyên mục Xây dựng Đảng đã có bài viết về vụ tử tù Nguyễn Văn Chưởng! Linh mục này cũng đã đặt ra câu hỏi: “Tại sao họ lại có thể bất chấp tất cả để viết được như vậy chứ?”.

Nghĩa là theo ông ta đã là báo Đảng thì không được viết, đăng tải những nội dung như thế này; hay nói cách khác, báo Đảng chỉ được đưa tin, viết về những vấn đề nội bộ Đảng, còn những vấn đề như thế này, mang tính nhạy cảm là của những cơ quan ngôn luận khác ngoài Đảng???

Và sự buồn cười và khó hiểu cũng nằm ở chính những suy nghĩ sặc mùi con buôn và bất chấp mọi thứ này! Từ bao giờ lại có một cái quy định đóng khung và phân định rõ như thế giữa các cơ quan báo chí của Đảng và ngoài Đảng kiểu này? Đã là cơ quan báo chí thì đương nhiên họ có tư cách pháp nhân giống nhau, hoạt động dựa trên quy định của Luật Báo chí và các văn bản luật khác. Việc họ đưa ra chính kiến, quan điểm của mình trước những vấn đề xã hội vì thế không bị giới hạn bởi bất cứ quy định, hành lang pháp lý nào. Đương nhiên, điều đó phải được đảm bảo và thỏa mãn trên cơ sở việc đó (thể hiện quan điểm, chính kiến) không làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích của các tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vê!

Họ vì thế hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật, dư luận xã hội. Nếu có công họ sẽ được khen thưởng nhưng nếu có tội thì việc bị xử lý giống nhau về mặt chế tài và hành vi. Đó là những điều không cần một sự bàn cãi, đàm luận nào vẫn thấy được!

Nói tóm lại, với một nhãn quan chính trị đầy sự hằn học, thiên kiến, Nguyễn Ngọc Nam Phong đã thiết lập, tạo ra một hố sâu ngăn cản quyền lên tiếng của những cơ quan báo chí của Đảng. Nhưng tiếc rằng, điều đó không phải dựa trên cơ sở pháp luật hay một hệ thống quan điểm nào. Mà đơn giản đó là quan điểm cá nhân của một kẻ vẫn xem Đảng cộng sản Việt Nam là mục tiêu tấn công. Chả trách hễ cứ thấy vấn đề gì liên quan tới Đảng là ông ta lao vào tấn công bất chấp đúng – sai!