Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2023
CÁCH MẠNG TRẮNG - ÂM MƯU BIẾN VIỆT NAM THÀNH UCRAINA THỨ 2!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "TỘI ÁC" CỦA NHÀ ĐỘC TÀI!
LÀ THẢM HỌA CHỨ KHÔNG PHẢI TỰ HÀO...!
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: “NGÀI" GIA LONG - NGUYỄN ÁNH ĐÃ BÁN NƯỚC BAO NHIÊU LẦN? XIN THƯA, CHỈ CÓ... 4 LẦN!!
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: GIỖ LÊ VĂN DUYỆT SAO GỌI LÀ "KHƠI GỢI NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC"!
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: THÁI ĐỘ, TRÌNH ĐỘ, HAY... ĐỨC ĐỘ!
căn bệnh thành tích và những che giấu
Thứ Sáu, 15 tháng 9, 2023
Đâu phải hứa suông!
Mấy hôm nay dư luận lại nóng lên câu chuyện tiền lương cho giáo viên. Họ nói là đã từ lâu rồi, không ít giáo viên trông chờ vào lời hứa tăng lương. Vậy mà kết quả là nhiều giáo viên không còn niềm tin vào những lời hứa nữa, đành phải xin nghỉ việc, tìm nghề khác có thể sống được bằng lương.
Cuối tuần, nhóm bạn hưu trí đàm đạo ở nhà ông Bình.
- Bây giờ người ta toàn hứa lấy lệ thôi các ông ạ. Hứa để cho người khác tin, rồi làm hay không cũng không ai biết, không ai hay. Thế có phải là “mị dân” không? - Ông Bình lên tiếng.
Ông Trung ngạc nhiên:
- Có chuyện gì mà ông nói sâu xa thế?
- Thì ông xem, mấy hôm nay dư luận lại nóng lên câu chuyện tiền lương cho giáo viên. Họ nói là đã từ lâu rồi, không ít giáo viên trông chờ vào lời hứa tăng lương. Vậy mà kết quả là nhiều giáo viên không còn niềm tin vào những lời hứa nữa, đành phải xin nghỉ việc, tìm nghề khác có thể sống được bằng lương.
- Vậy là “hứa suông”, “hứa cho có” à? Mà trên mạng xã hội còn có mấy diễn đàn đang bàn luận sôi nổi, thậm chí kêu gọi tập hợp ý kiến, nguyện vọng của giáo viên.
Ông Trung vừa nói vừa đưa điện thoại cho mọi người xem. Trên một số trang Facebook đăng tải thư ngỏ, thư hiến kế của một số giáo viên, hoặc những video clip thể hiện ý kiến về chuyện lương và phụ cấp, rồi so sánh chất lượng sống của giáo viên ở nước ta với nước này, nước kia...
Lúc này, ông Kiên là giáo viên nghỉ hưu mới lên tiếng:
- Các ông nói như vậy là hoàn toàn sai rồi. Tôi cũng đồng ý với hai ông là việc hứa mà không thực hiện thì không tốt. Nhưng nói đi thì cũng phải nghĩ lại cho thấu đáo. Ngành giáo dục có số lượng công chức, viên chức rất lớn. Chỉ một điều chỉnh nhỏ về bảng lương của giáo viên cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc bảo đảm của ngân sách. Mà tăng lương cho giáo viên đòi hỏi sự chuẩn bị, thảo luận kỹ của Quốc hội, Chính phủ. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ chuẩn bị các phương án, đề xuất, kiến nghị chứ không tự quyết được.
Thấy mọi người có vẻ trầm ngâm, ông Kiên tiếp lời:
- Các ông nói là nhiều người đứng đầu ngành khi nhậm chức hứa theo kiểu “mị dân”, “gieo niềm tin” là nói theo các trang mạng phản động, xuyên tạc. Các ông xem những ý kiến trang đó đăng tải là của giáo viên ở trường nào, hay của những kẻ tự xưng, những người bất mãn. Sao các ông không nhớ đến những ý kiến tâm huyết, mang tính xây dựng như tại cuộc gặp mặt trực tuyến giữa Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân viên ngành giáo dục mới đây? Đó sẽ là cơ sở để giải bài toán khó này. Khi “tư lệnh ngành” trăn trở, Chính phủ đang tìm cách tháo gỡ khó khăn, các ông không ủng hộ thì thôi, lại nghe lời xuyên tạc, rồi suy diễn, phát ngôn như vậy là vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá.
Nghe đến đấy, ông Trung gật gù đồng tình, còn ông Bình thì chân thành:
- Chúng tôi hiểu bản chất vấn đề rồi. Cũng mong sao không chỉ người đứng đầu mà ai cũng “nói lời phải giữ lấy lời” để không bị các phần tử phản động, bất mãn lợi dụng chống phá!
LỄ KHAI GIẢNG, THẦY TRÒ DÀNH 1 PHÚT MẶC NIỆM NẠN NHÂN VỤ CHÁY CHUNG CƯ MINI!
ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ VIỆC LẤY PHIẾU TÍN NHIỆM TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG
Đầu năm 2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 96-QĐ/TƯ về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị (Quy định 96) thay thế cho Quy định 262-QĐ/TW về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Quy định này không chỉ có ý nghĩa tham khảo, góp phần vào đánh giá cán bộ mà kết quả có giá trị trực tiếp vào công tác đánh giá, bố trí, điều động và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Đồng thời, đây cũng là cơ sở trực tiếp cho quá trình chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ tới. Thế nhưng, các lực lượng “khoác áo dân chủ ” tìm cách chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối, coi đây là một tiêu điểm để xuyên tạc đường lối, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam.
NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ
Ngay sau khi Quy định 96 được ban hành, trang RFA có một loạt bài chống phá quan điểm lấy phiếu tín nhiệm của Đảng như: “Phức tạp hóa vấn đề lấy phiếu tín nhiệm, vì sao?”; “Quốc hội đánh giá tín nhiệm, có thể tham khảo ý kiến của người dân như lời của Thủ tướng?”; “Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm: Nên hay không?”; “Đảng thừa nhận không đoàn kết?; “Lấy phiếu tín nhiệm: chiêu trò mị dân?”. Trên kênh Youtobe, Trang Tâm Thức Việt cũng đăng tải video ngày 9/2/2023 với chùm bài: ‘Lấy phiếu tín nhiệm: Thêm một chiêu trò mị dân”. Đài Châu Á – Tự do cũng đăng tải môt loạt các bài trên nền tảng mạng qua mạng Facebook, trang web… Hầu hết các bài viết và các video của các thế lực phản động, thù địch dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng, để phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân. Dưới các danh xưng “ nhà dân chủ”; “nhà báo tự do” như Nguyễn Ngọc Già, Nguyễn Vũ Bình…
Các luận điệu xuyên tạc, chống phá Quy định 96 của các thế lực thù địch, biểu hiện ở những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, chống phá mục tiêu của Quy định 96.
Trong bài viết “Lấy phiếu tín nhiệm: chiêu trò mị dân”, đăng vào ngày 09/02/2023 của Đài Châu Á Tự do, cho rằng mục tiêu của việc lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là để “chiêu trò mị dân”, chỉ là “việc của Đảng và những người đảng viên trong Đảng không liên quan tới nhân dân” để nhằm mục tiêu “loại trừ lẫn nhau”, “thanh toán các thế lực, phe cánh, nhóm phái đối lập trong Đảng”, để “xử lý các phần tử không theo hệ thống chung”; và từ đó cho thấy “Đảng không tin vào chính mình” và “Đảng toàn trị nhưng không đủ năng lực cầm quyền” hay “Đảng làm lu mờ và vi phạm nguyên tắc Nhà nước pháp quyền”. Trong một bài cùng nội dung, trang RFA còn “khuyên” rằng Đảng cần làm công tác cán bộ triệt để hơn và đó phải là “việc của toàn dân”. Thực chất luận điệu nêu trên không chỉ nhằm xuyên tạc mục tiêu của Quy định 96 của Đảng, mà qua đó, âm mưu sâu xa, nham hiểm của chúng là từ chỗ làm xói mòn, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
Thứ hai, thông qua việc xuyên tạc Quy định 96, các thế lực thù địch nhằm mục đích phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng.
Việc các thế lực thù địch ra sức phủ nhận lịch sử, công kích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “đánh” vào các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng nhằm chia rẽ nội bộ. Khi cho rằng việc lấp phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là việc “thanh trừng”, “xử lý các sinh mệnh chính trị thoái hóa không trung thành”, không đơn thuần là việc “xây dựng Đảng” mà là việc “loại trừ phần tử phe cánh, nội bộ trong Đảng”. Thông qua việc viện dẫn các ý kiến, quan điểm từ các danh xưng “nhà dân chủ”, “nhà báo tự do” việc bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng được cụ thể hóa bằng cách lấy diễn đàn dân chủ ở nước ngoài để lên tiếng tố cáo và phản bác các quan điểm, chủ trương và đường lối của Đảng, như: “càng chống tham nhũng thì tham những càng nhiều”; “ kết quả người có phiếu tín nhiệm cao thì tỷ lệ thuận với danh sách những người bị kỷ luật trong Đảng”; “ bỏ phiếu tín nhiệm mang màu áo dân chủ trong Đảng chủ vì Đảng làm chủ cuộc cách mạng này, công việc chỉ có đảng viên tham gia”... Từ việc làm phép thống kê mối liên hệ có chủ đích giữa kết quả lấy phiếu tín nhiệm với các cá nhân có tên trong các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ lãnh đạo các cấp thời gian qua, các “nhà dân chủ”, “nhà báo tự do” quy chụp sự suy thoái của một bộ phận cán bộ đảng viên, tệ quan liêu tham nhũng trong Đảng thànhbản chất, biến cái “hiện tượng” thành “phổ biến” và là “tất yếu” của một Đảng duy nhất cầm quyền. Từ đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì đất nước mới phát triển”... Đây không phải là một điều mới mẻ trong các luận điệu chống phá Đảng của các thế lực phản động. Tuy nhiên, trước mỗi quyết định của Đảng có tính xây dựng tổ chức Đảng, đặc biệt là công tác cán bộ thì chúng luôn lấy việc bài xích chủ trương, đường lối của Đảng và tìm mọi cách, tận dụng mọi thời cơ, mọi sự kiện trong công tác cán bộ để lồng vào đó thông điệp bôi bẩn, suy diễn, sặc mùi chống phá làm mất uy tín và niềm tin vào Đảng.
QUY ĐỊNH 96 THỂ HIỆN TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(1). Do đó, công tác cán bộ luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, từ khâu phát hiện, tuyển chọn, bố trí, phân công, phân cấp quản lý cán bộ; đánh giá cán bộ, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, điều động, luân chuyển, miễn nhiệm; khen thưởng, kỷ luật; kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Những vi phạm trong công tác cán bộ của cấp ủy, tổ chức đảng, chi bộ và cán bộ, đảng viên rất đa dạng, phức tạp, với phạm vi, tính chất, quy mô, mức độ khác nhau ở từng cấp, từng loại hình tổ chức đảng. Xuất phát từ vị trí "then chốt của then chốt", công tác cán bộ ngày càng được coi trọng hơn, đúng mức hơn với vị trí, vai trò, có nhiều cách làm, quy định mới, hiệu quả cao hơn, gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", bất kể người đó là ai; không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư là một trong những nội dung đổi mới rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng ta, bắt đầu được tiến hành từ nhiệm kỳ khóa XI đến nay. Mục đích của việc lấy phiếu tín nhiệm là để thực hiện tốt hơn các chủ trương, nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng có đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ; giúp các đồng chí được lấy phiếu tín nhiệm “tự soi”, “tự sửa”, tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống và không ngừng nâng cao trách nhiệm nêu gương, trình độ, năng lực công tác để hoàn thiện bản thân, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng. Việc lấy phiếu tín nhiệm đã đánh giá đúng phẩm chất, năng lực, kết quả cụ thể thực hiện chức trách được giao và uy tín của người được lấy phiếu tín nhiệm bảo đảm tính dân chủ, khách quan, công tâm, công khai, minh bạch theo đúng Quy định số 96-QĐ/TW và Kế hoạch số 16-KH/TW của Bộ Chính trị, đồng thời là sự cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình của Đảng.
Từ khoa học lý luận đến thực tiễn cách mạng đã trải qua chứng minh học trong thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta cho thấy công tác tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, tự phê bình và phê bình là vấn đề có ý nghĩa then chốt trong việc xây dựng Đảng vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền, lãnh đạo xây dựng đất nước thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong chiều dài lãnh đạo các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Đảng ta luôn khẳng định tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ dân chủ trong Đảng, là ý thức trách nhiệm của Đảng với Nhân dân. Thực tế đã chứng minh, ở đâu, giai đoạn nào, dù hoàn cảnh có khó khăn gian khổ đến mấy nhưng tự phê bình và phê bình được tiến hành thường xuyên, có hiệu quả thì ở đó, giai đoạn đó, tổ chức đảng phát huy được vai trò tiền phong gương mẫu và ngược lại ở nơi nào, thời điểm nào tự phê bình và phê bình không được tiến hành thường xuyên hoặc làm qua loa, hình thức là ở đó mất dân chủ, nội bộ mất đoàn kết, tổ chức đảng không còn phát huy được vai trò lãnh đạo của mình. Một trong những nguyên nhân dẫn đến các vụ việc tiêu cực, tham nhũng ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương đã được Đảng ta chỉ ra trong thời gian qua là do tự phê bình và phê bình trong nội bộ ít được quan tâm, tính chiến đấu trong sinh hoạt không được đề cao. Nhiều trường hợp “mũ ni che tai”, thờ ơ, thấy sai không đấu tranh, thấy đúng không bảo vệ, đùn đẩy, né tránh, ngại va chạm dẫn đến nội bộ mất đoàn kết, tổ chức đảng yếu kém không phát huy được vai trò lãnh đạo của mình.
Do đó, từ thành công của việc lấy phiếu tín nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư khóa XIII đã cho thấy, Đảng ta luôn tuân thủ đúng nguyên tắc tập trung, dân chủ, tự phê bình và phê bình trong công tác cán bộ. Đây là “hòn đá thử vàng” đối với mỗi đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng; đồng thời cho thấy quyết tâm của Đảng ta trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là trong công tác cán bộ. Phát huy dân chủ chính là mục tiêu, đồng thời là động lực của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, dân chủ không thể tách rời luật pháp. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không thể tách rời việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, còn phải gắn với dân trí, với trình độ học vấn.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng điều này không có nghĩa là sẽ dẫn đến đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trên thực tế không chỉ phụ thuộc vào kinh tế, mà còn phụ thuộc vào một loạt các yếu tố khác như tương quan so sánh lực lượng giai cấp, vị thế, vai trò của đảng cầm quyền, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, truyền thống lịch sử… Chế độ một đảng hay đa đảng không phải là dấu hiệu của dân chủ hay không dân chủ. Trước những luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng từ các thế lực phản động, thù địch, chúng ta đấu tranh bác bỏ bằng những luận cứ thật sự khoa học để làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của chúng; đồng thời, để không phụ lòng của Nhân dân đã trao trọn, gửi gắm niềm tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch trước hết phải xuất phát từ luận điểm khách quan, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của chính đảng vô sản trong tiến trình cách mạng.
Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cho thấy, những quan điểm đòi phủ nhận vai trò duy nhất lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sai trái, phản động và hết sức nguy hiểm. Quy định 96 là sự kiện chứng minh và khẳng định tính đúng đắn trong việc đấu tranh bảo vệ vai trò duy nhất lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta là chính đáng, chính nghĩa và phù hợp với nguyện vọng, sự tin tưởng của Nhân dân. Quyết tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, tâm huyết, trách nhiệm cao, luôn hết lòng vì nước, vì dân… đã và sẽ luôn là mục tiêu, quyết tâm lãnh đạo của Đảng ta. Đó cũng chính là minh chứng thuyết phục nhất, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng, Nhà nước ta trong thời gian qua.
CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN SAI SỰ THẬT
Thời gian qua, nhiều thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng vấn đề quyền của người dân tộc để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong đó phải kể đến tổ chức Khmer Kampuchea Krom.
Khmer Kampuchea Krom là một tổ chức hoạt động trên phạm vi quốc tế có xu hướng bài Việt Nam và tham gia các hoạt động chống Đảng, chính quyền, Nhà nước Việt Nam. Tổ chức này gồm nhiều đối tượng xấu, trước nay thường xuyên vu cáo về cái gọi là "Việt Nam cướp đất của Campuchia". Khmer Kampuchea Krom sử dụng hình ảnh 3 màu xanh - vàng - đỏ làm biểu tượng tuyên truyền, vận động, lôi kéo, móc nối với số phần tử thù địch, phản động trong nước với mục tiêu mặc định sự tồn tại của tổ chức trong vùng dân tộc Khmer, tiến tới đòi quyền "dân tộc tự quyết" cho người Khmer, lập "Nhà nước Khmer Krom"…
Thậm chí, nhiều đối tượng thù địch, quá khích còn công khai thách thức chính quyền nhân dân, treo cờ của tổ chức Khmer Kampuchea Krom, xuyên tạc "Lịch sử vùng đất Nam bộ - Việt Nam"… Chưa hết, chúng tiếp tục lợi dụng những người Khmer bức xúc về giải quyết tranh chấp đất đai, lôi kéo, xúi giục họ không chấp hành sự giải quyết của chính quyền địa phương… Gần đây, Khmer Kampuchea Krom lại tiếp tục bịa đặt về tình hình người Khmer ở Việt Nam.
Liên quan đến vấn đề này, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng ngày 31/8 đã khẳng định: “Chúng tôi bác bỏ những thông tin không có cơ sở, sai sự thật về tình hình người Khmer ở Việt Nam. Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Các dân tộc Việt Nam đều được đối xử bình đẳng. Nhà nước Việt Nam bảo đảm và tạo điều kiện phát triển về mọi mặt nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp, đóng góp củng cố khối đại đoàn kết dân tộc”.
Thực tiễn những năm qua, nhờ các chủ trương, chính sách hỗ trợ về mọi mặt của Đảng và Nhà nước, diện mạo vùng đồng bào dân tộc Khmer đã thay đổi, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào được nâng lên rõ rệt. “Bà con rất phấn khởi vì được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, vì thế luôn nỗ lực và thực hiện đúng nếp sống “tốt đời đẹp đạo” - Hòa thượng Tăng Nô - Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Sóc Trăng, Phó Hội trưởng Thường trực Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng cho biết.
Trong khi đó, Thượng toạ Trần Văn Tha, Phó trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Sóc Trăng, trụ trì chùa Sê Rây Ta Mơn thì nhấn mạnh: “Cấp uỷ Đảng, chính quyền luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các cơ sở tôn giáo, chức sắc, chức việc ở thị xã hoạt động; góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá truyền thống. Đặc biệt, trong việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Khmer, chính quyền cũng đã hỗ trợ các kinh phí về giảng dạy và giúp các sư sãi trong chùa vận động bà con xung quanh cho phép con em mình được tham gia các lớp học tiếng Khmer vào dịp hè. Những việc này đã thể hiện rõ chính sách nhất quán của Nhà nước về việc bình đẳng và đoàn kết các dân tộc Việt Nam”.
QUAN ĐIỂM “ĐẢNG TA LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trong bài phát biểu tại Lễ Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” - đây là luận điểm sâu sắc, nhất quán và xuyên suốt trong tư tưởng của Người về Đảng Cộng sản Việt Nam; là kết tinh những giá trị đặc sắc của danh dự, sự đoàn kết, trí tuệ, bản lĩnh và trong sáng của mỗi đảng viên và tổ chức Đảng. Chính vì lẽ đó, Đảng ta luôn kế thừa và vận dụng sáng tạo những quan điểm của Người vào việc xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
Nội dung và ý nghĩa sâu sắc trong quan điểm “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là sự phản ánh bản chất tốt đẹp của một đảng cách mạng chân chính. Đồng thời, khẳng định vai trò, sứ mệnh của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với vai trò là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, “Đảng ta phải thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đảng có sứ mệnh vẻ vang là lãnh đạo công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, mang đến ấm no, hạnh phúc cho toàn thể dân tộc, vì vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm nhắc nhở: “Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của nhân dân và giai cấp công nhân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Vì nước, vì dân; vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành lẽ sống cao cả, thiêng liêng, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, luôn “dĩ công vi thượng”. Đó là yếu tố quyết định để Đảng ta trở thành biểu tượng của trí tuệ, danh dự, lương tâm, trách nhiệm; là thước đo giá trị của một Đảng cầm quyền chân chính và liêm khiết.
Sức mạnh của Đảng không chỉ biểu hiện ở lòng nhiệt tình cách mạng mà còn biểu hiện ở năng lực lãnh đạo, ở trình độ trí tuệ của Đảng. Để có tầm nhìn, trí tuệ, Đảng phải nắm vững lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, bởi vì không có lý luận cách mạng thì không nắm bắt được quy luật, không nhận thức một cách tự giác toàn bộ hoạt động của mình, dễ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, mù quáng trong hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”, là “cái cẩm nang thần kỳ”, “là mặt trời soi sáng”, là kim chỉ nam đúng đắn cho giai cấp công nhân và toàn thể Nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc và mang đến ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân.
Ngoài phương pháp tư duy khoa học biện chứng, cách mạng, Đảng còn phải tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, kỷ luật nghiêm minh, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thực hiện tốt nguyên tắc này tạo thành sức mạnh đoàn kết, thống nhất của Đảng: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ kỷ luật”. Việc thường xuyên chỉnh đốn và đổi mới là nhằm làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng được bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Người chỉ rõ: “Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình thế, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước”.
Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi”. Trong bản Di chúc Người đã căn dặn: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”. Chỉ có luôn đổi mới và chỉnh đốn, Đảng ta mới loại bỏ được những yếu tố lạc hậu, bổ sung giá trị, nguồn lực mới, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Sự vận dụng, bổ sung và phát triển quan điểm “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” trong giai đoạn hiện nay
Để xây dựng Đảng thực sự trở thành Đảng “là đạo đức, là văn minh”, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII khẳng định: “Phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta”. Và coi đây là sự phát triển rõ nét trong tư duy lý luận của Đảng, dựa trên nền tảng của một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua đó, tiếp tục nhấn mạnh vai trò, vị trí, tầm quan trọng của xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Phải kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Vai trò, tầm quan trọng của việc kiên định nguyên tắc xây dựng Đảng được Đảng ta khẳng định và nhấn mạnh: “Sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”. Giữ vững và phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được coi là vấn đề mang tính quyết định đến năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, là tư tưởng nhất quán trong quá trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để thực hiện được nguyên tắc đó, Đảng ta phải không ngừng nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của mỗi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp.
Để xây dựng Đảng thực sự tiêu biểu về đạo đức, là văn minh trong điều kiện mới, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII yêu cầu: “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”. Xây dựng Đảng về đạo đức luôn là việc làm thường xuyên, quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, trong đó, việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên được xem là khâu then chốt, một mục tiêu mà Đảng ta cần phấn đấu, làm cho Đảng thực sự tiêu biểu cho “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”. Xây dựng Đảng về đạo đức thể hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ. Trong phương hướng, nhiệm vụ đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng văn hóa Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Để củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII đề ra các giải pháp trọng tâm là: “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”; “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”; đồng thời, “Chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận”. Trong đó, cần chú ý việc phát huy vai trò, sự tham gia của Nhân dân trong xây dựng, ban hành tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, giữa các vùng, miền; quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc người dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của người dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.
Trải qua 93 năm qua, dưới ngọn cờ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo dân tộc ta, Nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác… đó là kết quả hội tụ của nhiều nhân tố, mà trước hết và trên hết là sự đoàn kết, thống nhất của Đảng, toàn quân và toàn dân ta - qua đó tiếp tục khẳng định Đảng ta thực sự là một đảng cách mạng, chân chính “là đạo đức, là văn minh.
CHỐNG GIẶC ĐÓI
Ngày 3/9/1945, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Người cho rằng vấn đề cấp bách đầu tiên trong sáu “vấn đề cấp bách hơn cả” là “nhân dân đang đói”. Người đề nghị Chính phủ phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất.
Người cũng đề nghị: “Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương thực phụ khác, phải ba bốn tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo”.
Giữa tháng 9/1945, Chính phủ ta đã tổ chức một lễ phát động phong trào cứu đói. Buổi lễ này được tổ chức tại Nhà hát lớn (Hà Nội). Nhà tư sản dân tộc yêu nước Ngô Tử Hạ, chủ tịch buổi lễ, đã đọc lời kêu gọi toàn dân hãy nhường cơm sẻ áo, mỗi nhà bớt một chút gạo để cứu giúp những người đang đói.
Đích thân cụ Ngô Tử Hạ kéo chiếc xe bò dẫn đầu đoàn người tham gia phong trào cứu đói qua phố Tràng Tiền (Hà Nội). Nhà nào cũng có người chờ sẵn bên hè phố, người thì bơ gạo, người thì đấu ngô, người thì góp tiền. Đi chưa hết một vòng thì xe gạo đã đầy. Về đến Nhà hát Lớn gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Ngô Tử Hạ báo với Người xem chiếc xe chở gạo lẫn lộn đủ các thứ: gạo đỏ, gạo trắng, gạo nếp, ngô...
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó đã chỉ vào xe gạo nói rằng: “Đây mới là gạo đại đoàn kết. Nước ta có nhiều thứ gạo ngon nhưng bây giờ thì đây là thứ gạo ngon nhất”.
Trong thư gửi đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu quốc ngày 28/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”.
Hưởng ứng kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên khắp cả nước, nhân dân ta lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “Ngày đồng tâm”. Từ đó hàng vạn tấn gạo đã được nhân dân cả nước đóng góp, chia sẻ với đồng bào đang chịu thảm họa của nạn đói. Tiếp đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn áp dụng ngay một số biện pháp cụ thể như nghiêm trị những kẻ đầu cơ, tích trữ thóc gạo; cấm dùng gạo vào các công việc chưa thật sự cần thiết như nấu rượu, làm bánh; cấm xuất khẩu gạo, ngô, đậu; cử một ủy ban lo việc vận chuyển gạo từ miền Nam ra miền Bắc...
Ngày 2/11/1945, Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố quyết định thành lập Hội Cứu đói. Hội Cứu đói được tổ chức xuống tận các làng. Ngày 28/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh thiết lập Ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế. Ngoài Bộ Cứu tế, một số bộ khác cũng có nhiệm vụ cứu tế và tiếp tế.
Trong tháng 10 và 11 năm 1945, Chính phủ ban hành nghị định giảm 20% thuế ruộng đất, miễn thuế hoàn toàn cho những vùng lụt. Bộ Quốc dân Kinh tế ra thông tri quy định việc kê khai số ruộng đất vắng chủ, số ruộng công và ruộng tư không làm hết, tạm cấp cho nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng.
Bên cạnh đó, ngày 19/11/1945, Chính phủ thiết lập Ủy ban Trung ương phụ trách vấn đề sản xuất. Nhiều chính sách đã được triển khai đồng bộ lúc này như việc ra báo để hướng dẫn nhân dân sản xuất, cho nhân dân vay thóc, vay tiền để sản xuất, cử cán bộ thú y về nông thôn chăm sóc gia súc, gia cầm, chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới.
Trong bài viết “Gửi nông gia Việt Nam” in trên báo Tấc đất (12/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến việc tăng gia sản xuất: “Thực túc thì binh cường. Cấy nhiều thì khỏi đói. Chúng ta thực hiện tấc đất tấc vàng thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó. Tăng gia sản xuất!
Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do độc lập”.
Cho đến đầu năm 1946, công tác đê điều đã hoàn thành. Đồng thời với việc đắp đê, chính quyền và nhân dân tất cả các địa phương ra sức cải tạo đất công cộng còn trống như sân bãi, vỉa hè, bờ đê để trồng trọt, nhất là hoa màu ngắn ngày.
Nhờ đó, chỉ trong năm tháng từ tháng 11/1945 đến tháng 5/1946, sản lượng lương thực, chủ yếu là hoa màu, đạt tương đương 506.000 tấn lúa, đủ bù đắp số lương thực thiếu hụt của vụ mùa năm 1945. Nạn đói cơ bản đã được giải quyết. Trong lễ kỷ niệm một năm độc lập, Quốc khánh diễn ra vào ngày 2/9/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp tuyên bố: “Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kỳ công của chế độ dân chủ”.
PHÒNG, CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG TRONG CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY
Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng tham gia cần kết hợp nghiên cứu khoa học để nắm vững nguồn gốc, bản chất của các trào lưu tư tưởng sai trái, cơ hội, xét lại để vạch trần cho quần chúng nhân dân nhận diện rõ bản chất và tác hại của chúng trên các phương tiện thông tin. Đồng thời, bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.
Tấm gương mẫu mực trong nghiên cứu khoa học
C.Mác, Ph.Ăngghen đã khắc phục được những hạn chế của các đại biểu tư tưởng trong lịch sử và đương thời, có phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học. Với sự hội tụ đầy đủ các nhân tố chủ quan trong chuyển đổi lập trường giai cấp, cùng với trí tuệ uyên bác của mình, C.Mác, Ph.Ăngghen đã kế thừa thành tựu khoa học tự nhiên, tiền đề lý luận một cách chọn lọc. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã gạt bỏ hiện tượng bên ngoài để tìm ra bản chất, những mâu thuẫn kinh tế-xã hội nảy sinh trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nghiên cứu thực tiễn, tìm ra nguyên nhân do chưa có hệ tư tưởng độc lập, tiên tiến; chưa được giác ngộ ý thức giai cấp, còn bị ảnh hưởng nặng nề của trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại nên cản trở, dẫn đến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở những nước tư bản phát triển, như: Đức, Anh, Pháp bị thất bại.
Sự vĩ đại trong nghiên cứu khoa học của các ông đã đạt được thành quả là sáng lập, phát triển nên học thuyết thực sự khoa học, cách mạng-vũ khí tư tưởng, lý luận của giai cấp công nhân. Ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, C.Mác và Ph.Ăngghen, sau này là V.I.Lênin đã vừa bảo vệ, vừa phát triển các nguyên lý cách mạng và gắn với đấu tranh quan điểm sai trái để ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của những trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại, đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời là văn kiện đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản, đánh dấu sự ra đời Chủ nghĩa Mác, công khai về mục tiêu, lý tưởng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân quốc tế. Trước đó, C.Mác, Ph. Ăngghen đã phải mất nhiều năm nghiên cứu thực tiễn để tìm hiểu vai trò của giai cấp công nhân-lực lượng xã hội tương lai giữ vai trò lãnh đạo lật đổ xã hội tư bản và xây dựng xã hội mới.
Ở thời kỳ V.I.Lênin, ông có sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực tiễn với phát triển lý luận, tiêu biểu như các tác phẩm: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”; “Quyền dân tộc tự quyết”, “Nhà nước và cách mạng”... Ở mỗi tác phẩm đều kết cấu nội dung logic, sử dụng hiệu quả các phương pháp khoa học là so sánh, phân tích, logic-lịch sử. Trong bối cảnh sau khi Ph.Ăngghen qua đời thì Quốc tế II bị lũng đoạn (ngoại trừ Đảng Xã hội-Dân chủ Nga), còn lại các đảng khác đều bị phân hóa thành ba phái nên V.I.Lênin đã thấy rõ sự cần thiết phải đấu tranh, với bút chiến rất mẫu mực để vạch trần bộ mặt thật của nó. Các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin để lại là những di sản khoa học đồ sộ, có giá trị lý luận và thực tiễn, mẫu mực về đấu tranh tư tưởng nên mãi mãi trường tồn trong thời đại hiện nay.
Gắn kết nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận
Tấm gương mẫu mực trong gắn kết nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận của các ông thể hiện ở nội dung, hình thức, phương pháp, kỹ năng và kết quả thực tế.
Về nội dung thể hiện sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, cơ hội, xét lại dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, xuất phát từ những nguyên lý gốc đã được chỉ ra trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”; bám sát những biến đổi mới của thực tiễn, của cơ sở kinh tế, lựa chọn trọng tâm, trọng điểm, nắm vững bản chất sai trái về khoa học và phản động về chính trị của những quan điểm sai trái ở mỗi thời điểm cụ thể. Ở tác phẩm: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, với kết cấu 4 chương thì dành riêng chương 4 để đấu tranh phê phán quan điểm sai trái và các chương khác đều lồng ghép nội dung phê phán.
Về hình thức thể hiện, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong nhiều tác phẩm dù không đặt tên hoặc có một số ít tác phẩm sử dụng từ “đấu tranh” hoặc “phê phán” ở tên tác phẩm nhưng nội dung đều phản ánh rõ sự gắn kết chặt chẽ giữa khoa học với phê phán quan điểm sai trái, cơ hội, xét lại rất thuyết phục.
Về phương pháp thể hiện rất toàn diện, nhuần nhuyễn, như: Khái quát, phân tích, diễn giải, logic-lịch sử, so sánh để chỉ ra tính chất sai trái của các luận điểm mà những đối tượng cơ hội, xét lại đưa ra và chứng minh tính đúng đắn của các nguyên lý cách mạng.
Về kỹ năng sử dụng ngôn ngữ khoa học của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong các tác phẩm thể hiện tính đanh thép, “rõ danh tính đối tượng cần phê phán”, sắc sảo về bút lực, bảo đảm tính luận chiến, luận cứ, luận chứng và có thái độ chính trị kiên quyết.
Khi thực tiễn có sự thay đổi, cần bổ sung các nguyên lý cho phù hợp và xuất hiện quan điểm đối lập thì C.Mác và Ph.Ănghgen lại kết hợp nghiên cứu khoa học, chỉ rõ nguồn gốc và mục đích chính trị, tính chất sai trái về khoa học của quan điểm cơ hội, xét lại để tuyên truyền, giác ngộ giai cấp công nhân tránh bị ảnh hưởng tiêu cực. Tiêu biểu như tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô ta”, nhằm vạch trần quan điểm cơ hội, xét lại của chủ nghĩa Látxan sai trái về khoa học, với mục đích chính trị đưa ra “luật sắt về tiền công” nhằm bênh vực, che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân... Với phương thức đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng của C.Mác, Ph.Ăngghen thì tư tưởng của Látxan đã bị vạch trần, phá sản và qua đó khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Ở thời kỳ V.I.Lênin, sau khi Ph.Ăngghen mất và Quốc tế II bị lũng đoạn thì ông cho rằng tất yếu cần đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại, bởi: “Chủ nghĩa cơ hội là kẻ thù chính của chúng ta. Chủ nghĩa cơ hội trong tầng lớp trên của phong trào công nhân, đó là chủ nghĩa xã hội tư sản chứ không phải là chủ nghĩa xã hội vô sản”(*).
Công lao to lớn của V.I.Lênin là đã bổ sung, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác, bảo vệ bản chất khoa học và cách mạng nên với tên gọi mới là “Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Ở mỗi tác phẩm, mà tiêu biểu như: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”, “Nhà nước và cách mạng”, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causky”, “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”... V.I.Lênin cũng kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực tiễn để phát triển lý luận và gắn nghiên cứu khoa học với đấu tranh chống lại quan điểm cơ hội, xét lại, chủ nghĩa chống cộng. Kết quả, các đối tượng có tư tưởng cơ hội, xét lại đã từng bước bị vô hiệu hóa, giảm sự ảnh hưởng tiêu cực đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.
Ý nghĩa soi đường trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay
Thứ nhất, về giá trị gắn kết giữa nội dung nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận không được tách rời nhau. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã để lại chìa khóa giải quyết các vấn đề khoa học là phải có tư duy biện chứng, nắm vững tính quy luật khách quan của cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản là rất quyết liệt, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Trong những năm qua, xuất hiện rất nhiều luận điểm sai trái, nhiều thế lực, đối tượng tham gia và kết hợp sử dụng các loại phương tiện với số lượng ngày càng gia tăng, như: Huy động các đài phát thanh, hãng thông tấn, báo chí, nhà xuất bản ở nước ngoài, nhiều trang web, blog cá nhân tham gia chống phá Đảng, Nhà nước và thành tựu của nhân dân ta đã đạt được sau gần bốn thập niên thực hiện công cuộc đổi mới.
Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng tham gia cần kết hợp nghiên cứu khoa học để nắm vững nguồn gốc, bản chất của các trào lưu tư tưởng sai trái, cơ hội, xét lại để vạch trần cho quần chúng nhân dân nhận diện rõ bản chất và tác hại của chúng trên các phương tiện thông tin. Đồng thời, bảo vệ, phát triển học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.
Thứ hai, kế thừa phương pháp, kỹ năng sử dụng bút chiến của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch. Với tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causky” của V.I.Lênin... là những tác phẩm mẫu mực thể hiện rõ phương pháp bút chiến. Các lực lượng tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay cần kế thừa để đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái, phản khoa học, nhằm bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Mỗi bài viết cần sử dụng tổng hợp các phương pháp, các luận cứ, luận chứng, tận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật-công nghệ hiện đại để góp phần đấu tranh, vô hiệu hóa những luận điệu cơ hội, xét lại nhằm phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng trong hệ tư tưởng của Đảng ta.
Thứ ba, kế thừa giá trị về lựa chọn giải pháp trụ cột trong kết hợp giữa nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Việc làm thường xuyên là giáo dục nâng cao nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng ta về sự cần thiết đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Bên cạnh đó, cần nhận diện kịp thời về bản chất, mục đích chính trị và tính chất phi khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng và đường lối đổi mới của Đảng ta.
Cần phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học, lực lượng đấu tranh chuyên sâu ở các bộ, ngành, cơ quan, địa phương, đơn vị, cơ sở giáo dục-đào tạo, cơ sở nghiên cứu thực hiện tốt giải pháp gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu khoa học; tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận với đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với đó, cần phát huy tính tích cực chính trị của các lực lượng xã hội, nhất là cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học làm nòng cốt trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, chúng ta phải luôn kiên định với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay./.












