Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) và trải qua các
thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị
các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định.
Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư
Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi
các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Đối với bọn
Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để
lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về
chính trị”.
Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu,
trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm
dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên
chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên
CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối
đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam
“không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc
cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa
chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên
của Đảng (1930), Luận cương chính trị tháng 10-1930, Chính cương Đảng Lao động
Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường
tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất
đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển
2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát
khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập
trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.
Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt
Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong
bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam": “Độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là
điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm
thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ
nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có
CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập
cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho
tất cả mọi người, cho các dân tộc”.
Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân
tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển
nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.
Khẳng định nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách
mạng Việt Nam
Thực tiễn lịch sử 93 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy,
ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó
trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải
là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của
cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn.
Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã
lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại:
Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc
thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông
Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền
CNXH.
Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải
phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả
nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới
vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất
nước quá độ lên CNXH: “Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ 20, nước ta
từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do,
phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng
rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân
dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.
Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hoá”. Với những thành quả đạt được: “Chúng ta tự hào
về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng
ta-Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn
luyện-một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh
phúc của nhân dân”.
Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam 93 năm qua
đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước
Việt Nam. Đồng thời khẳng định một chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng
chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh
nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách,
đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.
Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng,
đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ
đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại
Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn
Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc
có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm
của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ
hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng
là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh
phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là
tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì
phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng,
ít nhất cho đến bây giờ.
Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các
âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa
nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách
mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và
xã hội Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng nâng cao nhận thức của
cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực
thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của
Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân
để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông
tin, nhất là trên không gian mạng.
Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương
châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục
làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc
hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của
đời sống xã hội.
Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng
lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã
hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam.
Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của
Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng
trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực;
từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường
XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”,
thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến
pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên,
đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã
hội”.
Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình
đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những
người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi
luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại
Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực
hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản
Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục
tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện
“đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.
Lời khẳng định thể hiện sâu sắc ý chí mạnh mẽ và quyết tâm sắt
đá của Bác trước nhân dân ta, quyết tâm bảo vệ nền độc lập mới giành được, thể
hiện lập trường kiên định về độc lập, tự do của dân tộc, phản ánh niềm tin vững
chắc vào sức mạnh của dân tộc Việt Nam, dù phải hy sinh gian khổ, song quyết
đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự
do, độc lập.
Lời của Bác vang vọng núi sông, có sức cổ vũ mạnh mẽ nhân dân ta
vượt qua mọi khó khăn, thử thách, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.
Ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc, tiếp tục soi sáng sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Người nhấn mạnh, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta là
trường kỳ gian khổ nhưng lại phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính.
Lời dạy trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thực tiễn to
lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Thực hiện lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã
nhận thức rõ chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến
chống Mỹ, đoàn kết, thống nhất, phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường
trong thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân, đơn vị, từng địa phương và nhiệm vụ
chung của cách mạng. Tinh thần tự lực, tự cường của cả dân tộc là nhân tố quan
trọng để làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975,
giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Khắc ghi lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt
Nam phải đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo; ra sức học tập, tu dưỡng,
rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác
phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ,
hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng
và Nhà nước Việt Nam hướng đến là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập
quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có
sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đólà một kiểu kinh tế
thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ
chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên
cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã
hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền
kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ).
Như vậy, đã phát triển kinh tế thị trường thì phải tuân theo sự
vận động của các quy luật thị trường. Những người tham gia vào quá trình sản
xuất, kinh doanh cùng đón nhận những cơ hội lẫn thách thức phải đương đầu; có
cơ may thành công lẫn nguy cơ thất bại; giàu lên hay nghèo đi có thể xảy ra.
Phát triển kinh tế thị trường vừa tạo ra động lực, phát huy mọi nguồn lực để
phát triển nền kinh tế nhanh, mạnh; vừa làm cho xã hội phân hóa, phân tầng theo
các tầng/lớp khác nhau về tài sản, mức sống, điều kiện sống, lối sống, văn hóa…
Nếu để cho quá trình này diễn ra tự nhiên thì xã hội ngày càng bị phân hóa,
phân cực giàu - nghèo gay gắt; các tầng lớp yếu thế trong xã hội càng gặp khó
khăn, cùng quẫn; nguy cơ bất ổn xã hội ngày càng cao.
Để định hướng xã hội
chủ nghĩa, vai trò lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước có ý nghĩa quyết
định. Một trong những công cụ cơ bản nhất, đó là thực thi các chính sách xã
hội. Với việc thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách xã hội theo phương
châm: khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với nhiệm vụ giúp đỡ, tạo điều kiện
cho người nghèo cùng vươn lên trong cuộc sống bằng việc thực thi hàng loạt các
chính sách hỗ trợ về giáo dục - đào tạo, y tế, lao động, việc làm,vv... là cách
làm giúp cho các giai tầng xã hội xích lại gần nhau, góp phần giảm thiểu khoảng
cách chênh lệch giữa các tầng/lớp người trong xã hội; hướng đến mục tiêu bình
đẳng, tiến bộ, phát triển toàn diện…
Ngay từ khi đề ra đường lối đổi mới toàn diện, Đảng đã rất chú
trọng đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách xã hội để
hướng đến mục tiêu công bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội; đặc biệt, đến Đại
hội XIII, lần đầu tiên trong Văn kiện, Đảng đã xác định rõ, chính sách xã hội
là phương tiện/công cụ định hướng xã hội chủ nghĩa, với quan điểm: “Nhận
thức đầy đủ và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội”.
Trong bài viết luận bàn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, đã luận
giải rằng:“Một
đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọngcủa định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế
thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính
sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt
quá trình phát triển”.
Vậy là, trong hoạch định và thực thi các chính sách thì phải đặc
biệt chú ý đến đặc điểm cơ bản của mối quan hệ giữa chính sách xã hội với
chính sách kinh tế là sự thống nhất biện chứng của chúng. Chính sách xã hội và
chính sách kinh tế tuy có mục tiêu riêng - mục tiêu tự thân của nó, song lại có
chung mục tiêu là nhằm phát triển xã hội. Vì vậy, mọi chính sách xã hội và
chính sách kinh tế đều hướng vào mục tiêu trung tâm là phát triển con người,
phát huy nhân tố con người, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho con người. Mỗi
chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính
sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Đây là một yêu cầu có
tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Có chính sách phát triển kinh tế đúng đắn, hợp lý sẽ tạo ra điều
kiện, tiền đề vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội. Chính sách xã hội được
xây dựng mà không tính đến khả năng của nền kinh tế, hoặc không quan tâm đến
lợi ích kinh tế thì sẽ cản trở kinh tế phát triển, triệt tiêu yếu tố kinh tế.
Nhưng nếu lấy tăng trưởng kinh tế làm mục tiêu tối thượng thì dẫn đến chỗ khoét
sâu những ngăn cách xã hội. Tăng trưởng kinh tế tự nó không thể giải quyết được
tất cả các vấn đề xã hội và dẫn tới tiến bộ xã hội. Để đạt đến mục tiêu tiến bộ
xã hội thì phải thông qua chính sách xã hội, phải kết hợp chính sách kinh tế
với chính sách xã hội.
Vì vậy, phải xác lập mối quan hệ hợp lý giữa chính sách xã hội với
chính sách kinh tế làm sao để hai mặt đó trở thành tiền đề của nhau. Văn kiện
qua các kỳ Đại hội của Đảng đều khẳng định: Tăng trưởng kinh tế
phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong
suốt quá trình phát triển. Không phát triển kinh tế với bất cứ giá nào, bất chấp hậu
quả xã hội ra sao. Thông thường, sai lầm về kinh tế có thể khắc phục được sau
một thời gian ngắn, có thể sau một vài chu kỳ sản xuất; nhưng những hậu quả về
mặt xã hội có thể đánh đổi hàng trăm năm chưa chắc khắc phục được.
Xuyên suốt các kỳ đại
hội, nghị quyết của Đảng đều nhất quán quan điểm chỉ đạo: “Gắn kết chặt chẽ
chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt
hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước”.
Như vậy, chủ trương “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa” của Đảng và Nhà nước Việt Nam không phải là một giải pháp mang
tính tình thế, một ý tưởng nhất thời mà là đường lối phát triển đất nước được
hoạch định và trù liệu công phu, kỹ lưỡng, được dựa trên cơ sở lý luận vững
chắc và phù hợp với tình hình thực tiễn. Là một mô hình phát triển mới lạ nhưng
qua tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng và Chính phủ đã ngày càng
nhận thức đúng đắn hơn, sâu sắc hơn và đề ra quyết sách chính xác hơn.
Là một nước đi ra từ các cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài vô cùng
tàn khốc, với xuất phát điểm nghèo nàn, lạc hậu (thuộc nhóm nước chậm phát
triển), nhờ thực hiện đường lối: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa mà Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp từ năm
2008. Trong 35 năm đổi mới vừa qua, kinh tế tăng trưởng liên tục, trung bình
khoảng 7% mỗi năm; tỉ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn dưới 3% năm
2020 theo tiêu chuẩn nghèo đa chiều. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết
đọc, biết viết; người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi đều được cấp
bảo hiểm y tế miễn phí. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi
năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020. Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân
số sử dụng Internet, thuộc nhóm nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao
nhất thế giới; chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2019 của Việt Nam đạt mức
0,704 (so với các nước có cùng trình độ phát triển thì nước ta thuộc nhóm nước
có HDI cao của thế giới), lần đầu tiên vào nhóm các nước phát triển con người
cao và xếp thứ 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo Báo cáo phát triển bền
vững 2020,
Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á duy nhất đạt được năm mục tiêu hành động của
Liên hiệp quốc (trong đó có các biện pháp giảm khí thải CO2, thúc đẩy năng
lượng tái tạo và nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu). Đời sống
nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; các mặt chính
trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được bảo đảm…
“Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất
cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ
có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Khi đại dịch Covid -19 diễn biến phức tạp, nhất là biến chủng
Delta lây lan với tốc độ nhanh trên nhiều tỉnh/thành của cả nước thì Đảng và
Chính phủ đã đưa ra các quyết sách trên tinh thần nhân văn cao cả, đó là hi
sinh tăng trưởng kinh tế để cứu người. Nếu không thẩm thấu tinh thần, lý tưởng cao
đẹp của chủ nghĩa xã hội thì không có những chủ trương, quyết sách thấm đẫm
tinh thần nhân văn, nhân bản vì con người như vậy.
Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nói trên vừa khẳng
định đường lối đúng đắn cùng sự lãnh đạo, quản lý tài tình của Đảng và Nhà
nước; vừa là minh chứng để đập tan mọi loại quan điểm sai trái, thù địch.
Đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa thực sự là một đột phá tư duy rất cơ bản và sáng tạo của Ðảng, là thành
quả phát triển lý luận và thực tiễn của Việt Nam qua quá trình đổi mới toàn
diện đất nước.
Về nền kinh tế thị trường, đã được hình thành và phát triển từ lâu
trong lịch sử nhân loại. Theo quan điểm chủ nghĩa Mác, kinh tế thị
trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử mà bất cứ nền kinh
tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường phát
triển; và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa chính là nền kinh tế thị trường phát
triển đến trình độ phổ biến và hoàn chỉnh. Nấc thang cao hơn chính là nền kinh
tế cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, kinh tế thị trườnglà một nấc thang tất yếu, mang tính phổ
biến cho mọi quốc gia trong tiến trình phát triển, là thành quả của văn
minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm riêng có của tư bản chủ nghĩa như một
số ý kiến ngộ nhận. Kinh tế thị trường đã phát triển không duy nhất một mô
hình mà đã phát triển theo các mô hình như: (1) Mô hình kinh tế thị trường tự do, phổ biến ở
các nước Tây Âu và Bắc Mỹ; (2) Mô hình kinh tế thị trường - xã hội, phổ biến ở
một số nước ở Tây - Bắc Âu như Đức, Thụy Điển, Na uy, phần Lan…; (3) Mô hình
kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam.
Dù phát triển theo mô hình nào thì nền kinh tế thị
trường đều gắn với những quy luật mang tính đặc trưng sau đây:
Quy luật giá trị quy định việc sản xuất và trao đổi hàng
hoá phải căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết; trao đổi theo nguyên tắc
ngang giá. Giá trị của sản phẩm/dịch vụ đều do thị trường định đoạt. Người
sản xuất kinh doanh nào có chi phí lao động xã hội cho một đơn vị sản phẩm thấp
hơn trung bình thì người đó có lợi nhất.
Quy luật cung - cầu là sự điều chỉnh của thị trường với một
mức giá cân bằng và một lượng giao dịch cân bằng sẽ được xác định. Ở đâu
có thị trường thì ở đó có quy luật cung – cầu tồn tại và hoạt động một cách
khách quan. Cầu xác định cung, những hàng hoá nào được tiêu thụ thì mới được
tái sản xuất. Cung cũng tạo ra cầu, kích thích tăng cầu thông qua phát triển số
lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá, hình thức, quy cách và giá cả của nó.
Quy luật cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể, các tổ
chức kinh tế trong việc giành giật thị trường và khách hàng và các điều kiện
thuận lợi trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thực chất của cạnh tranh là
sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường. Kết quả
cạnh tranh sẽ loại bỏ được các các cơ sở sản xuất, kinh doanh yếu kém và giúp
phát triển các cơ sở làm ăn có hiệu quả hơn.
Những quy luật nói trên của nền kinh tế thị trường vừa tạo ra động
lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vừa làm cho xã hội phân hóa thành những
tầng/lớp giàu nghèo khác nhau. Tầng lớp giàu có nắm giữ lợi thế tiếp cận mọi
nhu cầu, lợi ích của xã hội; tầng lớp nghèo khó chịu nhiều thua thiệt trong
việc thụ hưởng các nhu cầu cuộc sống.
Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước Việt Nam là phát triển nền
kinh tế thị trường để phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, giải phóng sức sản xuất
nhằm tạo tăng trưởng kinh tế không ngừng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa,
hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang
phấn đấu xây dựng, được Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011) khẳng định là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam
bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản
lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Đây là hệ giá trị có
tính bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa, nó thể hiện sự tiến bộ hơn hẳn của
chế độ xã hội chủ nghĩa so với các chế độ xã hội trước đó. Chẳng hạn, xã hội tư
bản có thể có điều kiện sống vật chất, tiện nghi rất cao; dân có thể giàu, nước
có thể mạnh, nhưng từ trong bản chất của chế độ xã hội tư bản, ở đó không thể
có công bằng và dân chủ: nhà nước là nhà nước tư sản; giàu có là cho nhà tư
bản; sự giàu mạnh có được bằng quan hệ bóc lột. Trong xã hội như vậy, người dân
không thể là chủ và làm chủ xã hội.
Trong gần 4 thập niên đổi mới, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong bảo vệ quyền con người. Tuy vậy, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách xuyên tạc thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, hòng chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Do đó, việc nhận diện, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo đảm ổn định và sự phát triển bền vững của đất nước.
Quyền của con người với tư cách là hiện thân của tự do”(1), là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử, “phản ánh quá trình nhân loại đấu tranh tự giải phóng mình khỏi tình trạng nô dịch, bóc lột và phụ thuộc, vươn tới cuộc sống xứng đáng với danh dự và phẩm giá con người”(2). Tuy nhiên, quyền con người cũng là vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động thường xuyên lợi dụng, xuyên tạc, hòng gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mưu toan xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam lựa chọn và xây dựng. Nhằm thực hiện âm mưu này, chúng không ngừng tìm cách phủ nhận những thành tựu về bảo đảm quyền con người mà Việt Nam đã đạt được trong nhiều năm qua; do đó, việc nhận diện, đấu tranh và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn dân cần đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, phát huy trách nhiệm và quyết tâm chính trị, với tầm nhìn toàn diện, đồng bộ và giải pháp khoa học, thiết thực.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm và trò chuyện với học sinh Trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên _Ảnh: TTXVN
Bản chất của quyền con người
Thứ nhất, quyền con người là giá trị chung của nhân loại, là mục tiêu hướng tới của mọi xã hội dân chủ và văn minh. Quyền con người là phạm trù tổng hợp, phức tạp, nên có nhiều quan niệm khác nhau, tuy nhiên quyền con người không trừu tượng, mà luôn gắn với cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột và “phụ thuộc vào bản chất của phương thức sản xuất và bản chất chính trị - xã hội với quan hệ sản xuất thống trị quy định nên chế độ chính trị - xã hội ấy”(3), “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát nhằm bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động và sự lãng quên làm tổn hại đến các quyền tự do cơ bản và phẩm giá con người”(4)...
Tư tưởng quyền con người xuất hiện từ chế độ thị tộc, nhưng phải đến thời kỳ cận đại mới được thảo luận sôi nổi và được đề cập như một học thuyết thực sự. Vì vậy, quyền con người thường bị lợi dụng nhằm gây hiểu lầm rằng, nó là thành tựu của riêng văn minh phương Tây. Cùng với sự ra đời của Liên hợp quốc năm 1945, những văn kiện quốc tế về quyền con người cũng được xây dựng và phát triển (Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948, Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ năm 1952, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc năm 1965, Công ước về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR) năm 1966...), quyền con người được khẳng định là những giá trị bẩm sinh, vốn có của mỗi cá nhân, được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc gia và quốc tế; là những giá trị, ngôn ngữ và tiêu chuẩn chung của nhân loại. Thực tế, quyền con người trước khi chuyển hóa vào hiện thực trong cuộc sống, “phải trở thành quan niệm của chính con người, nghĩa là được con người coi là cái thiết yếu, cái cần phải như vậy - cần cho sự tồn tại”(5).
Ở Việt Nam, Đảng ta luôn coi quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại. Việc chỉ rõ nguồn gốc quyền con người là cơ sở bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc, coi quyền con người như một phát kiến, sản phẩm của riêng giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản phương Tây; góp phần quan trọng trong đấu tranh chống các quan điểm cực đoan, phiến diện của các lực lượng thù địch, phản động luôn sử dụng thủ đoạn áp đặt cái gọi là “chuẩn mực” quyền con người tư sản vào các nước không “cùng quỹ đạo” hòng xóa bỏ chế độ chính trị ở những quốc gia này.
Thứ hai, quyền con người luôn gắn liền với quyền dân tộc tự quyết và chủ quyền quốc gia, gắn bó mật thiết trong toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử. Muốn có quyền con người, phải thực sự có chủ quyền quốc gia. Khi chủ quyền của một quốc gia, dân tộc bị xâm phạm, chà đạp thì không thể tồn tại các “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” của nhân dân. Ở cấp độ quốc tế, quyền dân tộc tự quyết được khẳng định trong Hiến chương Liên hợp quốc(6) và được nhấn mạnh trong các văn kiện quốc tế, rằng: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết... Khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm quyền con người”(7). Vì vậy, không một quốc gia, không một tổ chức nào được phép tự coi mình là đại diện cho quyền con người toàn nhân loại, sử dụng cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền” hay “nhân quyền không biên giới” nhằm can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia có chủ quyền, bởi đó là hành động vi phạm nghiêm trọng quyền con người.
Đối với Việt Nam, thực tiễn lịch sử cho thấy, khi mất chủ quyền thì người dân không có tự do, dẫn đến các quyền con người bị chà đạp, “Thân phận người An Nam chỉ là thân phận người nông nô”(8). Do đó, để giành quyền tự do của mỗi cá nhân thì trước hết phải giành quyền tự do cho cả dân tộc. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là nền tảng, là điều kiện quan trọng để thực hiện quyền con người. Chỉ đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Dân chủ Cộng hòa ra đời, địa vị của người dân Việt Nam mới được thay đổi từ nô lệ trở thành chủ nhân của một quốc gia độc lập, các quyền công dân của người Việt Nam lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 1946. Gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, hiện nay Việt Nam đang từng bước thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” - đây chính là biểu hiện cao nhất và cụ thể nhất của quyền con người Việt Nam, của sự khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc.
Thứ ba, quyền con người là giá trị phổ quát và mang tính tất yếu, song phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Quyền con người dù được thừa nhận, song lại không mặc định được áp dụng trực tiếp trong xã hội, chỉ khi mang tính pháp lý, các quyền ấy mới chuyển thành những quyền con người mang đầy đủ giá trị hiện thực, và pháp luật chính là phương tiện để thực hiện quá trình chuyển hoá đó. Trên phạm vi thế giới, việc pháp điển hóa các quyền ấy thành các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về quyền con người diễn ra một cách có hệ thống kể từ khi Liên hợp quốc ra đời. Theo đó, quyền con người đã trở thành một hệ thống tiêu chuẩn pháp luật quốc tế, và việc tôn trọng, bảo vệ các quyền con người là thước đo về trình độ văn minh của các nước và các dân tộc trên thế giới. Trong phạm vi quốc gia, việc bảo vệ quyền con người thể hiện ở việc ghi nhận các quyền trong pháp luật cùng với các thành quả phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, qua đó, cũng là cách để một quốc gia tuyên bố với thế giới về hiện thực quyền con người của mình. Vì thế, không thể có cái gọi là “nhân quyền không biên giới”, nhân danh quyền con người để thực hiện các hành động bất hợp pháp, như xâm phạm chủ quyền và can thiệp vào công việc nội bộ của các nước.
Tại Việt Nam, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập cho đến nay, cả hệ thống chính trị Việt Nam luôn nỗ lực bảo đảm quyền con người. Cùng với sự phát triển của đất nước, những tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố. Trên cơ sở này, Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, tham gia các điều ước quốc tế, phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng nhằm thực hiện tiến bộ xã hội, mang lại những thành tựu quan trọng, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.
Trong gần 4 thập niên đổi mới, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong bảo vệ quyền con người _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn
Thứ tư, quyền không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân. Sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ được hiểu rằng, các quyền của con người chỉ ra những nghĩa vụ của xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu của mỗi cá nhân, đồng thời mỗi cá nhân phải tôn trọng và thực thi nghĩa vụ, trách nhiệm của mình với xã hội và cộng đồng. “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi”(9). “Ai cũng có nghĩa vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ”(10)... Điều này có nghĩa, mỗi cá nhân trong khi được hưởng thụ các quyền cần tôn trọng tự do của người khác và tôn trọng lợi ích của cộng đồng, cũng như vậy, “Nhà nước trong các chức năng của mình, vừa phải tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, vừa phải bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cũng như lợi ích chung của cả cộng đồng”(11). Mọi thành viên của xã hội đều có quyền và nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền và tự do của người khác. Do đó, tuyệt đối hóa quyền con người một cách máy móc mà không thấy nghĩa vụ cá nhân với cộng đồng và với xã hội là sai lầm.
Quan điểm quyền không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân cũng được Đảng ta khẳng định: “Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân”(12). Năm 2005, Sách trắng “Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam” cũng khẳng định: “... các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng”(13). Đây chính là cơ sở quan trọng để chúng ta bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền con người.
Sự lợi dụng, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam
Nhìn chung, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lợi dụng, xuyên tạc quyền con người, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam, hiện nay chủ yếu bao gồm: những người theo đường lối chính trị trái ngược với giá trị của chủ nghĩa xã hội; những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam; các nhóm, hội, tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài; một số tổ chức phi chính phủ “khoác áo quyền con người”,... Những chiêu trò xuyên tạc của chúng thường được biểu hiện như sau:
Thứ nhất, cổ xúy cho những giá trị quyền con người phương Tây, nhân danh cái gọi là “quyền con người phổ quát”, coi phương Tây là trung tâm, chi phối quyền con người toàn thế giới, đồng thời các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, cổ vũ cho luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng, quốc gia”. Chúng cũng tìm cách khoét sâu những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý xã hội, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng và công bằng xã hội nhằm cường điệu hóa các giá trị tư sản, coi quyền con người là sản phẩm của riêng giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản phương Tây. Chúng lợi dụng những vụ việc phức tạp nảy sinh trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng thổi phồng, bóp méo tình hình thực tế để xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, quyền con người, đàn áp dân tộc, tôn giáo nhằm kích động các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam, tạo cớ mở đường để bên ngoài can thiệp; phê phán, xuyên tạc rằng Nhà nước Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp(14). Bên cạnh đó, chúng còn triệt để khai thác các vấn đề nhạy cảm, phức tạp, như tham nhũng, khiếu kiện, tội phạm, tệ nạn xã hội, tình hình dịch bệnh COVID-19, việc bắt, xử lý các đối tượng chống phá Nhà nước Việt Nam,... hòng vu khống Việt Nam vi phạm quyền con người.
Thứ hai, dựa trên thủ đoạn tuyệt đối hóa các quyền tự do cá nhân và coi đây là thước đo về dân chủ, quyền con người của một quốc gia, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tự cho mình quyền “can thiệp nhân đạo”, áp đặt những “chuẩn mực” quyền con người, nhân danh “tinh thần thời đại” và “giá trị phổ biến” đối với Việt Nam; tìm cách gắn “điều kiện”, “tiêu chuẩn” phi pháp về quyền con người trên nhiều lĩnh vực, như quan hệ ngoại giao, hợp tác kinh tế, thương mại, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục,... hòng gây sức ép yêu cầu Việt Nam cải cách thể chế kinh tế, chính trị, pháp lý theo cái gọi là chuẩn mực, giá trị dân chủ, quyền con người kiểu phương Tây(15). Các thế lực bên ngoài còn thông qua các tổ chức phi chính phủ nước ngoài triển khai các dự án hỗ trợ cải cách tư pháp để tìm cách can thiệp vào quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật Việt Nam và gây sức ép đòi mở rộng các quyền và tự do cơ bản của công dân theo tiêu chí của họ, tạo hành lang cho các tổ chức và phần tử chống đối trong nước hoạt động.
Thứ ba, các thế lực thù địch tìm cách tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần cho các phần tử, tổ chức chống Đảng, Nhà nước Việt Nam với chiêu bài “bảo vệ quyền con người” ở cả trong và ngoài nước, hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng và Nhà nước Việt Nam; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc; từng bước làm mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng(16). Ở bên trong, chúng tìm cách móc nối các phần tử bất mãn; mua chuộc, ép buộc những người nhẹ dạ tham gia để làm bình phong, lá chắn; tập hợp những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, cái gọi là những “nhà dân chủ” tự xưng, để hình thành các tổ chức dưới danh nghĩa quyền con người, như “Nhóm tuổi trẻ yêu nước”, “Nhóm công dân tự do”, “Hội phụ nữ nhân quyền”,... Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ra sức thúc đẩy các hoạt động phi pháp, như kích động, chống đối, vận động các tổ chức quốc tế trao cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt ở trong nước... nhằm làm cho các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt hơn. Các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “trong đánh ra, ngoài tiến công vào” để lôi kéo lực lượng, tạo dựng “ngọn cờ” và thành lập các tổ chức chính trị phản động, chống phá Đảng và Nhà nước, thường được che giấu tinh vi dưới danh nghĩa “cứu tinh ngoại quốc”, “bảo vệ dân chủ” và “đấu tranh vì nhân quyền”... Tuy nhiên, thực chất là gây rối, phá hoại, tạo mâu thuẫn trong nội bộ và can thiệp vào Việt Nam.
Thứ tư, xâm nhập, kích động, tuyên truyền hòng thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nước ta sang tư tưởng quyền con người tư sản là cách thức các thế lực thù địch, phản động ưu tiên nhằm làm “chệch hướng” nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ trong nội bộ. Chúng xác định rằng, lực lượng bên ngoài là tác nhân quan trọng; lực lượng “ngầm” bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước Việt Nam đóng vai trò quyết định, nòng cốt, chúng ““móc nối và tìm cách mua chuộc bằng tiền, hiện vật có giá trị để làm thay đổi tư tưởng, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cơ quan trọng yếu nhằm thay đổi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm chệch hướng XHCN trong bảo đảm dân chủ, nhân quyền và quá trình đổi mới đất nước nói chung””(17). Bên cạnh đó, chúng cũng ráo riết lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình chống tham nhũng, tiêu cực hòng kích động, gây chia rẽ, tạo nghi ngờ trong các tầng lớp nhân dân; gây mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, Nhà nước. Nhằm can thiệp sâu hơn vào nội bộ Việt Nam, chúng thành lập một số nhóm tư vấn ở nước ngoài, qua đó để tác động và thúc đẩy Việt Nam cải cách quyền con người theo hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, các thế lực thù địch tích cực lôi kéo, thu hút và tiếp cận các bộ, ngành, viện nghiên cứu để móc nối và tác động vào nội bộ Việt Nam, mưu toan hòng “chuyển hóa” một số chuyên gia đầu ngành và nhà khoa học thông qua con đường “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” để đưa cái gọi là các giá trị quyền con người phương Tây vào Việt Nam. Chúng sử dụng nhiều hình thức trá hình, như con đường “ngoại giao thân thiện”, “hỗ trợ nhân đạo”,... để đưa người vào Việt Nam với các danh nghĩa khác nhau, với mục đích tìm hiểu tình hình, thu thập thông tin, móc nối và lôi kéo các lực lượng “ngầm” gây rối ở một số địa phương, phản ánh bóp méo sự thật, gây hoang mang, nghi ngờ và gây mâu thuẫn dân tộc, tạo điều kiện thúc đẩy “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” hòng can thiệp vào nội bộ của Việt Nam.
Đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quyền con người để chống phá Việt Nam
Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quyền con người của các thế lực thù địch, phản động, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Một là, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người hiệu quả trên thực tế, điều kiện đầu tiên là cán bộ, đảng viên và nhân dân phải nắm vững chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền con người. Cần tạo sự chuyển biến trong nhận thức về quyền con người qua các kênh tuyên truyền và giáo dục, qua đó, những âm mưu, thủ đoạn và hoạt động lợi dụng, xuyên tạc của các thế lực thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người, xâm phạm đến quyền con người, đến lợi ích của nhân dân Việt Nam dễ được nhận diện và có căn cứ để đấu tranh, phản bác hiệu quả. Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, không ngừng củng cố nhận thức chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, tự giác, tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh, giữ vững “thế trận lòng dân”, có khả năng nhận diện và “tự miễn dịch” trước các thông tin xấu, độc. Tăng cường và nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, thực hiện mỗi cán bộ, đảng viên một là chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng; thực hành phát huy dân chủ và quyền con người.
Hai là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, coi trọng và thúc đẩy các quyền con người, coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội, “đưa lực lượng sản xuất phát triển ngày càng nhanh chóng và tiến lên hiện đại là yêu cầu cơ bản và cấp bách để thực hiện có hiệu quả chiến lược con người”(18). Làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là một trong những minhchứng sinh động, thuyết phục nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, vô căn cứ của các thế lực thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Đồng thời, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công với cách mạng; quan tâm đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các chính sách cần chú trọng đúng mức đến các quan điểm và nguyện vọng của các nhóm xã hội(19).
Chăm sóc trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội _Ảnh: TTXVN
Ba là, tiếp tục hoàn thiện chính sách xã hội, pháp luật về quyền con người, trong đó, con người là trung tâm, là chủ thể, là động lực và là mục tiêu của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, phù hợp với nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của người dân, phấn đấu vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Tiếp tục củng cố hệ thống các quyền con người, quyền công dân đã được hiến định, để mọi người dân đều được hưởng thụ các thành quả phát triển kinh tế, xã hội của đất nước một cách công bằng thông qua việc được tiếp cận các cơ hội bình đẳng và phù hợp, bảo đảm sự tương thích với các nguyên tắc, tiêu chuẩn pháp luật quốc tế về quyền con người. Việc hoàn thiện pháp luật đó cũng là kiến tạo cơ sở pháp lý và chính trị cho mọi hoạt động khác vì sự phát triển của con người Việt Nam. Bên cạnh đó, Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện, giám sát thực hiện và xử lý các vi phạm quyền con người để bảo đảm tất cả quyền con người đều được tôn trọng, bảo đảm trong thực tế.
Bốn là, mở rộng quan hệ quốc tế trong nghiên cứu và thực thi quyền con người. Việc bảo vệ quyền con người ở các quốc gia được coi như một điều kiện quan trọng trong quá trình hợp tác quốc tế hiện nay. Do đó, trong nhận thức và giải quyết vấn đề quyền con người, cần quán triệt nguyên tắc thống nhất tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người khi xem xét những vấn đề thực tiễn về quyền con người.
Việc thực hiện dân chủ và quyền con người còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện, trước hết là trình độ phát triển kinh tế và điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi dân tộc trên tất cả các phương diện của đời sống. Các nước có chế độ chính trị khác nhau, trình độ phát triển khác nhau, không thể lấy quan niệm, thực tiễn của nước này, của dân tộc này về dân chủ và quyền con người áp đặt cho dân tộc khác, nước khác. Do đó, xây dựng và thúc đẩy đối thoại trên lĩnh vực dân chủ, quyền con người có ý nghĩa tích cực, góp phần nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng với các đối tác quốc tế trong vấn đề quyền con người. Qua đối thoại cũng nhằm bác bỏ những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các nhóm, cá nhân cực đoan trong và ngoài nước về tình hình quyền con người ở Việt Nam. Bên cạnh việc thực hiện cơ chế đối thoại chính thức với các nước, cần chủ động và tích cực đăng cai tổ chức các hội thảo quốc tế để các nhà chính trị và các nhà khoa học tham dự và thảo luận về các vấn đề liên quan đến quyền con người.
“Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”(20), tôn trọng và bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Quyền con người luôn là quyền cơ bản và quan trọng nhất, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, nhận diện, vạch trần và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm ổn định và sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay./.
Trong bối cảnh Việt Nam - Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác Chiến lược toàn diện, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, các thế lực chống phá lại tiếp tục tung ra những luận điệu sai trái, cố tình tạo ra những cái nhìn meo mó về quan hệ hai nước.
Những ngày qua, vụ hỏa hoạn xảy ra tại chung cư mini tại số nhà 37 ngách 29/70 phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân vào đêm 12, rạng sáng 13/9/2023 với nhiều thiệt hại về người và tài sản thu hút sự quan tâm lớn từ dư luận người dân trong và ngoài nước.
Sáng 14-9, Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam dự Lễ khai giảng năm học 2023-2024 tại Học viện Kỹ thuật Quân sự.
Dự lễ khai giảng còn có các đồng chí: Thiếu tướng Lê Minh Thái, Giám đốc học viện; Thiếu tướng Trần Văn Thưởng, Chính ủy học viện.
Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam phát biểu tại lễ khai giảng.
Phát biểu tại lễ khai giảng, Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam biểu dương và ghi nhận những thành tích của Học viện Kỹ thuật Quân sự đã đạt được.
Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn gửi tặng lẵng hoa chúc mừng tới đại diện lãnh đạo Học viện Kỹ thuật Quân sự.
Trước những yêu cầu mới, Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn yêu cầu Học viện Kỹ thuật Quân sự cần triển khai đúng tiến độ, có chất lượng các đề tài, dự án, nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp. Bám sát chủ trương, định hướng khoa học công nghệ của Bộ Quốc phòng, của Nhà nước và nhu cầu thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm kỹ thuật của đơn vị, nhất là đối với các hướng hiện đại hóa Quân đội để đề xuất, mở mới các đề tài nghiên cứu khoa học; đẩy mạnh tính tự chủ, phát huy thế mạnh liên ngành trong nghiên cứu khoa học, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu phát triển với sản xuất chế thử, chuyển giao công nghệ và đào tạo sau đại học, tập trung nghiên cứu làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi, khuyến khích đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng.
Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu, tập trung đầu tư xây dựng nhóm nghiên cứu đạt trình độ quốc gia và khu vực. Đẩy mạnh thực hiện kế hoạch nâng hạng học viện với danh nghĩa Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn; tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học…
Thiếu tướng Lê Minh Thái, Giám đốc Học viện Kỹ thuật Quân sự phát biểu tại lễ khai giảng.
Tại buổi lễ, Thiếu tướng Lê Minh Thái, Giám đốc học viện đã ôn lại truyền thống vẻ vang của học viện, với gần 57 năm xây dựng và phát triển, Học viện Kỹ thuật Quân sự đã và đang trở thành trung tâm giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học quan trọng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Quân đội và đất nước, có vị thế, uy tín cả trong nước và quốc tế; đào tạo được hàng chục nghìn kỹ sư quân sự, hàng nghìn kỹ sư dân sự, hàng trăm tiến sĩ, hàng nghìn thạc sĩ có phẩm chất và năng lực tốt, nghiên cứu thành công nhiều đề tài khoa học có sản phẩm nghiên cứu được đưa vào sử dụng, đáp ứng hiệu quả nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu của Quân đội, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.