Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2023

“CHÚNG TA KHÔNG SỢ CÓ KHUYẾT ĐIỂM, CHÚNG TA CHỈ SỢ KHÔNG CÓ QUYẾT TÂM SỬA ĐỔI, CHÚNG TA PHẢI LẤY LÒNG “CHÍ CÔNG VÔ TƯ” (1).


Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, đề ngày 17 tháng 9 năm 1945, viết tại Hà Nội, Người lấy danh nghĩa của một đồng chí già, mục đích là để san sẻ ít kinh nghiệm với các đồng chí quê mình. Thư gồm 4 mục nhỏ, đánh số rõ ràng nhằm chuyển tải 4 nội dung:
– Một là, ý nghĩa rất to lớn của cuộc cách mạng dân tộc;
– Hai là, lý giải vì sao cuộc cách mạng thắng lợi;
– Ba là, sự nghiệp kiến thiết xây dựng xã hội mới sau khi giành chính quyền;
– Phần thứ tư, dài nhất, đậm nhất cuối thư, Người nêu những khó khăn cần giải quyết, phải vừa làm vừa học, cái chính là theo cho đúng chính sách của Chính phủ ban hành.
Chính sách của Chính phủ ngay sau giành chính quyền, theo Người rút lại chỉ trong có 2 chuyện: Củng cố đoàn kết và sửa chữa khuyết điểm. Sức mạnh đoàn kết dân tộc, ai cũng rõ rồi, nhưng nêu rõ ra và yêu cầu sửa chữa những khuyết điểm trên nhiều phương diện chủ yếu của cán bộ, đảng viên lúc bấy giờ thì không phải ai cũng quán triệt. Những khuyết điểm đó, cụ thể ra là thói bao biện, hẹp hòi; lạm dụng hình phạt; kỷ luật không nghiêm; một số việc làm xấu xa như lên mặt làm quan cách mạng, độc đoán, dùng phép công để báo thù tư… Tất cả khiến dân chúng hoang mang, nền đoàn kết bị lung lay, uy tín của Chính phủ và đoàn thể bị ảnh hưởng xấu. Giành được chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn nhiều – nhận thức sâu sắc quy luật này, Bác kêu gọi đồng chí, đồng bào ở tỉnh nhà phải lập tức sửa đổi ngay.
Thông điệp trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị lịch sử của một giai đoạn hào hùng và ý nghĩa thời sự đối với việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của cán bộ, đảng viên các cấp trong thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 khóa XII của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện, thấu triệt lời dạy của Bác và được cụ thể hóa trong mọi mặt công tác, đặc biệt là trong chiến đấu. Sau mỗi trận đánh, mỗi nhiệm vụ, cấp ủy, chỉ huy các cấp đều lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc, đã có nhiều Hội nghị chỉnh huấn cấp toàn quân. Thông qua việc mở rộng dân chủ, đề cao trách nhiệm trong tự phê bình và phê bình đã làm rõ nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm quý để Quân đội ta càng đánh, càng mạnh, càng đánh, càng thắng, lập nên những chiến công vẻ vang, tô thắm truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
QĐND

CẦN HIỂU ĐÚNG CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM


Lợi dụng việc Nhà nước ta tổ chức lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), các thế lực thù địch, phản động đã ra sức tuyên truyền, xuyên tạc cho rằng: “Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân là sự khôn lỏi của Nhà nước, làm cho hàng triệu người khốn khổ; sở hữu toàn dân về đất đai là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân”.
Cần hiểu đúng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam
Đất đai là một bộ phận quan trọng của lãnh thổ quốc gia Việt Nam, được hình thành, tồn tại và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đó chính là thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước lâu dài của cả dân tộc, là thành quả từ công sức, xương máu của bao thế hệ cha ông chúng ta, cho nên không thể để cho một tầng lớp hay nhóm người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu.
Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân thì đất đai của quốc gia phải thuộc sở hữu của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của nhân dân.
Điều 53, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Thể chế Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai (sửa đổi) tiếp tục khẳng định quan điểm này. Trong nền kinh tế Việt Nam, chế độ công hữu tư liệu sản xuất (trong đó có đất đai) giữ vai trò chủ đạo giúp tạo ra sự bình đẳng về kinh tế, tạo cơ sở để người dân thực hiện quyền bình đẳng và quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác của đời sống.
Xét cả góc độ lý luận và thực tiễn, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay thể hiện tính đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta cũng như định hướng XHCN mà chúng ta lựa chọn.
Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu có thể thực hiện vai trò kiểm soát, quản lý và điều tiết quan hệ đất đai trên cơ sở bảo đảm bình đẳng của người dân với tư cách là chủ sở hữu thật sự đối với tài nguyên đất nhằm hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên này một cách công bằng; khắc phục và hạn chế thấp nhất sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập từ đất đai.
Ở nhiều nước tư bản như Mỹ, Canada, Hàn Quốc… thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, đa phần diện tích đất ở và đất sản xuất, kinh doanh đều thuộc sở hữu tư nhân mà chủ yếu là các nhà tư bản. Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc tại các quốc gia này. Hàn Quốc công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai nhưng khi cần nhà nước vẫn có thể trưng thu.
Cũng phải thấy rõ rằng, những sai lầm và thiếu sót thời gian qua trong lĩnh vực đất đai như tham nhũng, tiêu cực, hình thành các tranh chấp, “điểm nóng” không phải do chế độ sở hữu toàn dân về đất đai gây ra.
Muốn giải quyết những vấn đề này thì phải bắt đầu từ việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, trong đó có việc sửa đổi Luật Đất đai hiện hành và các quy định về quản lý, sử dụng đất đai; đẩy mạnh cải cách hành chính, minh bạch hóa, công khai hóa cơ chế quản lý, sử dụng đất đai; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về đất đai, kịp thời phát hiện, phòng ngừa và xử lý nghiêm các sai phạm.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG TRONG NHỮNG NĂM 1945-1954, BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

 

Những năm 1945 - 1954, trong bối cảnh vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam non trẻ, giúp bộ máy nhà nước nói riêng và hệ thống chính trị Việt Nam nói chung dần được hoàn thiện, đáp ứng những đòi hỏi bức thiết mà sự nghiệp cách mạng đề ra. Trong giai đoạn hiện nay, những kinh nghiệm, bài học quý báu rút ra từ quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng bộ máy nhà nước vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn.
Xây dựng bộ máy nhà nước những năm 1945 - 1954 dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Giai đoạn 1945 - 1946
Trong giai đoạn này, hệ thống chính trị của Việt Nam có nhiều đảng phái hoạt động, trong đó bên cạnh các đảng phái ủng hộ cách mạng (nổi bật là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam), còn có một số đảng phái đối lập và phản cách mạng cùng tồn tại trong hệ thống (điển hình là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội (Việt Cách). Bối cảnh chính trị rối ren cùng sức ép của các thế lực phản động trong và ngoài nước buộc Đảng Cộng sản Đông Dương phải quyết định tuyên bố tự giải tán vào tháng 11-1945, thực chất là rút vào hoạt động bí mật để tiếp tục lãnh đạo cách mạng.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngày 28-8-1945, Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Hồ Chí Minh giữ vị trí Chủ tịch Chính phủ lâm thời kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Do các hình thức chính quyền tiền Cách mạng tháng Tám chưa phải là bộ máy nhà nước hoàn chỉnh, cũng chưa do nhân dân bầu ra bằng tổng tuyển cử, nên một trong những nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của Chính phủ cách mạng lâm thời là khẩn trương chuẩn bị điều kiện cần thiết để tổ chức càng sớm càng tốt một cuộc tổng tuyển cử toàn quốc. Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”(1). Chính phủ lâm thời đã thể hiện rõ quyết tâm của mình thông qua việc ban hành một loạt chính sách, tạo khung pháp lý và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sự kiện đặc biệt quan trọng này.
Tuy nhiên, sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đã cản trở không nhỏ tiến trình tổ chức Tổng tuyển cử. Luận điệu xuyên tạc của thế lực phản động xoay quanh những vấn đề, như “kêu gọi tẩy chay Tổng tuyển cử vì rằng trình độ dân trí của ta còn thấp kém(!), trên 90% dân số mù chữ nên không đủ năng lực thực hiện quyền công dân của mình, rằng cần tập trung chống Pháp xâm lược không nên mất thì giờ vào bầu cử, v.v.. và v.v..”(2). Mục đích của Việt Quốc, Việt Cách cùng những nhóm chống phá khác là ngăn chặn hợp thức hóa chính quyền cách mạng, bởi điều đó gần như chắc chắn sẽ gián tiếp loại phần lớn trong số họ khỏi đời sống chính trị đất nước. Đấu tranh với lực lượng phản động, các báo Cứu quốc, Sự thật đã liên tiếp đăng những bài báo nêu rõ bản chất cách mạng của chính phủ lâm thời, góp phần đập tan những luận điệu vô căn cứ của các thế lực thù địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết”(3).
Cuộc đấu tranh không chỉ nóng ở mặt trận tuyên truyền, mà còn rất quyết liệt trong vấn đề đàm phán, thương lượng. Nhằm tạo bầu không khí ổn định cho Tổng tuyển cử, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Chính phủ lâm thời đã chủ trương cố gắng nhân nhượng, hòa giải với các lực lượng chống phá. Ngày 2-12-1945, Chính phủ ký với Việt Quốc, Việt Cách bản Biện pháp đoàn kết gồm 14 điều chính và 4 điều phụ, qua đó thừa nhận 70 ghế không qua bầu cử cho họ, thành lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời để Việt Quốc, Việt Cách được giữ một số ghế trong Chính phủ.
Nhờ những chính sách nhân nhượng cần thiết, vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn, kiên quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời đã tập hợp được sự đoàn kết, ủng hộ của nhân dân, hạn chế tối đa sự chống phá của kẻ thù, từ đó thực hiện nhanh chóng nhất có thể cuộc Tổng tuyển cử toàn dân đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Những chủ trương sách lược và biện pháp trên đây đã “làm thất bại âm mưu của quân Tưởng muốn tiêu diệt chính quyền nhân dân, bảo đảm cho nhân dân ta tập trung sức kháng chiến chống xâm lược của thực dân Pháp ở miền Nam. Chính quyền nhân dân không những được giữ vững mà còn được củng cố về mọi mặt”(4). Ngày 6-1-1946, Tổng tuyển cử diễn ra trong không khí phấn khởi của toàn dân. Dù ở cả ba miền, các thế lực phản động, thù địch luôn chống phá quyết liệt, đặc biệt ở miền Nam, nhân dân phải đi bỏ phiếu dưới bom đạn của kẻ thù, nhưng cuộc bầu cử vẫn kết thúc thành công. Tổng kết lại, “nhìn chung ở cả 71 tỉnh thành trong cả nước, 89% tổng cử tri đã đi bỏ phiếu, phổ biến là 80%, nhiều nơi đạt 95%. Trừ một số nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó, có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau, 43% không đảng phái, 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu phụ nữ và 34 đại biểu các dân tộc thiểu số”(5).
Sau khi cuộc Tổng tuyển cử kết thúc, Chính phủ gấp rút chuẩn bị cho kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I. Sau những cố gắng thương lượng, bàn thảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ với lực lượng đối lập, ngày 25-2-1946, hội nghị liên tịch giữa Việt Minh, Đảng Dân chủ, Việt Quốc và Việt Cách đã thống nhất đề nghị với Quốc hội những nội dung chính sau(6): 1- Thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến chính thức gồm 10 bộ, trong đó Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ để các vị không thuộc đảng phái nào nắm giữ, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông công chính, Bộ Giáo dục và Bộ Tư pháp do Việt Minh và Đảng Dân chủ nắm giữ, Bộ Ngoại giao, Bộ Kinh tế, Bộ Xã hội và Bộ Canh nông do Việt Quốc và Việt Cách nắm giữ, Bộ Giao thông công chính và Bộ Canh nông dành cho các đại biểu Nam bộ; 2- Thành lập Ủy viên kháng chiến để chuyên lo công việc kháng chiến; 3- Thành lập Quốc gia cố vấn đoàn do Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy làm trưởng đoàn.
Ngày 2-3-1946, phiên họp đầu tiên của Quốc hội mang ý nghĩa lịch sử trọng đại. Dù chưa bàn được những quyết sách lớn, nhưng Quốc hội đã thành lập được một số cơ quan quan trọng của Nhà nước là: Ban Thường trực Quốc hội, Cố vấn đoàn, Kháng chiến uỷ viên hội và quan trọng nhất là Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, cơ quan quyền lực điều hành cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, tổng động viên nhân lực và tài lực quốc gia, là một quyết sách đúng đắn của Quốc hội vào thời điểm lịch sử lúc đó. Nhờ vậy, bộ máy nhà nước ở Trung ương đã được hoàn thiện thêm một bước. Việc trao nhiều quyền cho Chính phủ đã giúp “bảo đảm cho Chính phủ đủ uy tín, hiệu lực để tổ chức nhân dân kháng chiến, kiến quốc, thực hiện mọi chức năng, nhiệm vụ đối nội và đối ngoại, trước mắt là đàm phán thực hiện sách lược tạm hoà hoãn với Pháp, tiếp tục củng cố chính quyền cách mạng, bồi bổ thực lực, chuẩn bị lực lượng để chiến đấu bảo vệ tổ quốc khi tình thế bắt buộc quân và dân ta phải kháng chiến trong cả nước”(7).
Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I là dấu mốc quan trọng khác trong quá trình củng cố bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết là ở cấp Trung ương. Trong quá trình họp bàn, thảo luận, các đại biểu đã tỏ rõ sự tiến bộ cả về ý thức trách nhiệm cũng như tinh thần của một đại biểu dân cử với những ý kiến sôi nổi về nhiều vấn đề lớn của đất nước. Quốc hội đã ủy nhiệm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng ra lập chính phủ mới, biểu quyết thông qua danh sách chính phủ mới. Nhận định về Chính phủ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái... Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà”(
😎
.
Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới, được soạn thảo bởi Tiểu ban dự thảo Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng Tiểu ban, được Quốc hội khóa I thông qua vào ngày 9-11-1946. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định đầy đủ cấu trúc, tổ chức của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản chất của nhà nước này được nêu rõ trong Điều thứ 1 như sau: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(9). Về tổ chức bộ máy nhà nước ở cấp trung ương, Nghị viện nhân dân được quy định là cơ quan có quyền cao nhất, do công dân Việt Nam bầu ra, có quyền giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài. Nghị viện bầu một Nghị trưởng, hai Phó Nghị trưởng, 12 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết để lập thành ra Ban thường vụ (Điều thứ 27)(10). Chính phủ gồm có Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch và Nội các (bao gồm Thủ tướng - người đứng đầu nội các và các Bộ trưởng, Thứ trưởng) (Điều thứ 44)(11). Tất cả thành viên của Chính phủ, trừ Phó Chủ tịch nước và các Thứ trưởng, đều phải là đại biểu Quốc hội. Chủ tịch nước có quyền chọn Thủ tướng, Thủ tướng có quyền chọn các Bộ trưởng để Nghị viện biểu quyết. Ngành Tư pháp gồm có tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp; các Thẩm phán đều do Chính phủ trực tiếp bổ nhiệm, và khi xét xử hình sự phải có sự tham gia của phụ thẩm nhân dân (Điều thứ 64, 65)(12). Ở cấp địa phương, hệ thống cơ quan nhà nước bao gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính, Tòa án (đệ nhị cấp - tòa án cấp tỉnh và thành phố xét xử phúc thẩm, tòa án sơ cấp ở huyện xét xử sơ thẩm và ban tư pháp ở cấp xã).
Giai đoạn 1946 - 1954
Do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bộ máy nhà nước từ Trung ương tới địa phương được xác lập về cơ bản theo Hiến pháp năm 1946 không có điều kiện vận hành như một chính quyền dân sự bình thường. Với đặc điểm của một Quốc hội kháng chiến, cuối tháng 12-1946, Quốc hội Việt Nam khóa I đã thống nhất cao về việc tập trung quyền lực vào Chính phủ, chỉ duy trì Trưởng Ban Thường trực Quốc hội cùng Chính phủ để bảo đảm vai trò của Quốc hội trong các quốc sách lớn; còn các đại biểu Quốc hội khác sẽ chủ động hoàn thành nhiệm vụ của mình tùy theo năng lực, vị trí và hoàn cảnh kháng chiến cụ thể. Sau đó, theo diễn biến thực tế, đại diện của Quốc hội hoạt động cùng Chính phủ đã có lúc mở rộng hơn thành Ban Thường vụ Quốc hội (như quyết định vào tháng 2-1950 gồm Bùi Bằng Đoàn, Tôn Đức Thắng, Tôn Quang Phiệt, Dương Đức Hiền, Trần Huy Liệu, Phạm Bá Trực) hoặc rộng hơn là Ban Thường trực Quốc hội. Điều đó cho thấy, đặc điểm quan trọng nhất về tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn này là “do hoàn cảnh chiến tranh, chiến trường bị chia cắt, công tác kháng chiến trên mọi mặt trận rất khẩn trương cho nên Quốc hội không có điều kiện để họp định kỳ như trong thời bình. Quyền lực tập trung vào Chính phủ”(13).
Trong điều kiện như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh với vai trò là người đứng đầu Chính phủ đã tiếp tục gánh vác những trọng trách lịch sử lớn lao để bảo đảm bộ máy nhà nước được xây dựng theo hướng đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc. Theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ vào ngày 19-12-1946, bộ máy nhà nước cơ bản được chuyển đổi sang mô hình thời chiến: ở cấp Trung ương gồm Chính phủ kháng chiến và Ban Thường vụ Quốc hội; ở cấp địa phương gồm các Ủy ban kháng chiến. Để tiếp tục hoàn thiện bộ máy nhà nước thời chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bổ sung các chức vụ, cơ quan chuyên trách công tác kháng chiến thông qua nhiều quyết định quan trọng, như ký Sắc lệnh số 110/SL, ngày 20-1-1948, để thụ cấp Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp, bổ nhiệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội vào tháng 7-1948; ký Sắc lệnh số 206/SL, ngày 19-8-1948, thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; ký Sắc lệnh số 141/SL, ngày 16-2-1953, thành lập Thứ Bộ Công an, rồi thông qua Hội đồng Chính phủ để đổi Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an vào tháng 6-1953;...
Cùng với công cuộc kháng chiến, tiếp tục xây dựng bộ máy nhà nước theo hướng pháp quyền cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng. Đơn cử, để nâng cao hiệu quả xây dựng văn bản pháp luật và điều chỉnh Hiến pháp nếu cần thiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 72/SL, ngày 18-6-1949, thành lập Hội đồng tư luật do Bộ Tư pháp chủ trì (từ năm 1950 Hội đồng này nằm dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Quốc hội). Dù rất khó khăn trong điều kiện chiến tranh, việc xây dựng nền dân chủ mới từ cấp cơ sở vẫn được Chính phủ và Ban Thường vụ Quốc hội nỗ lực duy trì. Ngoài tổ chức bầu lại Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp xã sau khi kháng chiến bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ đạo việc duy trì các kênh liên lạc mật thiết giữa chính quyền trung ương với các chính quyền và tổ chức kháng chiến địa phương, thể hiện qua những sự kiện, như các buổi tiếp và làm việc giữa đại diện Chính phủ, Quốc hội với Đoàn đại biểu Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ (tháng 9-1949), Đoàn đại biểu Nam Bộ (tháng 10-1949); các đoàn đại biểu thay mặt Chính phủ, Quốc hội đi thăm cơ sở (ở Liên khu Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV) trong năm 1951 để nắm bắt tình hình thực tế, giải thích các chính sách mới của Trung ương;... Một sự kiện điển hình quan trọng khác thể hiện nỗ lực bảo đảm tinh thần pháp quyền trước những thử thách của thời chiến là việc tổ chức kỳ họp thứ 3 của Quốc hội Khóa I tại Việt Bắc từ ngày 1 đến ngày 4-12-1953. Dù gặp vô vàn khó khăn do sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, nhưng việc triệu tập họp Quốc hội ở thời điểm này là yêu cầu bắt buộc, bởi chỉ phiên họp toàn thể của Quốc hội mới đủ thẩm quyền xem xét và thông qua Luật Cải cách ruộng đất - một chính sách đặc biệt lớn trong giai đoạn 1953 - 1956. Sau khi được Quốc hội biểu quyết thông qua, luật này đã được ban bố chính thức bằng Sắc lệnh số 197/SL, ngày 19-12-1953, của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là tiền đề để triển khai thí điểm các đợt giảm tô và cải cách ruộng đất từ ngày 25-12-1953 đến giữa năm 1954, tạo thêm động lực để quần chúng đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến, góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử ngày 7-5-1954.
Trong giai đoạn này, để xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt lưu tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức và những người làm việc trong cơ quan công quyền, kết hợp nghiêm trị những trường hợp thoái hóa, biến chất. Nhiều luận điểm, tác phẩm quan trọng thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, công tác cán bộ và phòng, chống tham nhũng đã được ra đời trong khoảng thời gian này, tiêu biểu như: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”(14); “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”(15); “Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm... Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm”(16); “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính... Vì những lẽ đó, chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”(17)... Cùng với hệ thống quan điểm chỉ đạo rất sâu sắc, khoa học, với vai trò là người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ra sức tham gia công tác phòng, chống tham nhũng bằng những biện pháp, như ra Sắc lệnh số 138/SL, ngày 18-1-1949, về tổ chức thanh tra Chính phủ, cho phép Thanh tra Chính phủ được thanh tra sự liêm khiết của các ủy ban kháng chiến hành chính và viên chức nhà nước (trước đó đã có Ban Thanh tra đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập bằng Sắc lệnh số 64/SL, ngày 23-11-1946, Ban này có quyền đỉnh chỉ, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Chính phủ hay Ủy ban Nhân dân phạm lỗi trước khi đưa ra xét xử).
Một số kinh nghiệm cho giai đoạn hiện nay
Nhìn lại quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo việc xây dựng bộ máy nhà nước Việt Nam những năm 1945 - 1954, có thể rút ra một số kinh nghiệm quan trọng cho giai đoạn hiện nay:
Thứ nhất, để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tinh thần thượng tôn pháp luật kết hợp với một hệ thống pháp luật văn minh phải được đặt lên hàng đầu. Dù không chính thức sử dụng khái niệm nhà nước pháp quyền, nhưng tư tưởng và quá trình hoạt động lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rất sâu sắc nội hàm của nhà nước pháp quyền, “là nhà lãnh đạo chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra các quyết sách và lãnh đạo xây dựng nền pháp quyền của chế độ mới, trong đó tập trung ở xây dựng một nhà nước hợp pháp, hợp hiến và hệ thống pháp luật dân chủ”(18). Những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm và thực hiện trong những năm 1945 - 1954 cho thấy, một điều kiện cực kỳ quan trọng của nhà nước pháp quyền là phải có cơ chế pháp lý đủ mạnh để những người làm việc cho cơ quan công quyền, dù người đó giữ cương vị cao đến đâu, đều phải nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật. Cùng với đó, bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật bảo đảm quyền làm chủ rộng rãi của người dân cũng là một phương diện không thể thiếu khác để chứng minh sự tiến bộ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, sự tinh gọn về tổ chức là tiền đề rất cần thiết của một nhà nước hiệu lực, hiệu quả. Trong những năm 1945 - 1954, do “nhìn thấy nguy cơ “phình đại” của bộ máy hành chính quan liêu ở nước ta từ rất sớm”(19), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến yêu cầu tinh gọn về tổ chức của bộ máy nhà nước. Tháng 12-1945, khi được hỏi về việc tại sao Chính phủ liên hiệp kháng chiến chỉ có 10 bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Vì nước mình nhỏ nên không cần nhiều bộ”(20). Tháng 8-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất”(21). Tháng 3-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa và tầm quan trọng của tinh gọn bộ máy nhà nước, “Các cơ quan chính quyền và đoàn thể, các cơ quan kinh tế và các Ủy ban, cần phải nâng cao năng suất, giảm bớt số người (tinh giản). Hiện nay, các cơ quan của ta người nhiều, việc ít, xài phí lu bù... Vô luận thế nào cũng phải tìm đủ cách để biên chế các cơ quan lại. Chúng ta phải dùng tinh thần bônsêvích mà thực hành một chế độ tiết kiệm nghiêm ngặt. Nếu chúng ta không muốn dùng vốn liếng của ta vào những việc linh tinh, thì chúng ta phải thực hành ngay chế độ ấy”(22).
Thứ ba, cùng với năng lực chuyên môn, sự liêm khiết về đạo đức cách mạng của cá nhân, tổ chức là yêu cầu tối quan trọng để xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày 19-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố “Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(23). Tại Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I cuối năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định, “Tuy trong nghị quyết không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết”(24). Tháng 6-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(25). Lịch sử đã chứng minh, những kinh nghiệm, bài học quý báu rút ra từ quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng bộ máy nhà nước những năm 1945 - 1954 vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp đổi mới của Việt Nam hiện nay./.
Nguồn: Tạp chí Cộng sản
Tất cả cảm xúc:
1

VẠCH TRẦN, ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI


Nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đội lốt “yêu nước thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai.
Đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc và đất nước với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi.
NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI KHÔNG THỂ XEM THƯỜNG
Chủ nghĩa cơ hội vốn không xa lạ. Nó thường che giấu bộ mặt thật của mình. Bản chất của những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội là khi cách mạng gặp thuận lợi, phát triển thì luôn tỏ ra cấp tiến, nhưng khi đất nước gặp khó khăn thì dao động, ngả nghiêng, sẵn sàng thỏa hiệp với các đối tượng phản động và phần tử xấu để chống phá cách mạng hoặc lợi dụng những kẽ hở của chính sách, pháp luật để làm nhiều điều mờ ám, gây tổn hại đến sự nghiệp chung. Thời gian gần đây, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện những biểu hiện mới không thể xem thường.
Một số ít người từng giữ cương vị lãnh đạo, quản lý lâu năm trong hệ thống chính trị các cấp, nhưng ít nhiều có biểu hiện “trở cờ” sau khi về hưu. Khi còn làm việc trong bộ máy công quyền, họ ít kêu ca, than phiền và cũng cố gắng làm tròn chức phận để vừa “giữ ghế”, vừa tận dụng cơ hội để có chức vụ cao hơn. Nhưng trong quá trình công tác, có thể có những điều gì đó làm họ không hài lòng và không đạt được mục đích như tham vọng cá nhân. Thế nên, khi trở về đời thường không còn liên quan đến việc công, họ đã giải tỏa những ức chế tâm lý và sự bức xúc cá nhân thông qua những phát ngôn trái chiều, những bài viết chủ yếu khoét sâu vào những mặt trái, tiêu cực xã hội, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước rồi đưa lên mạng xã hội khiến dư luận hoang mang, phân tâm.
Một số người lợi dụng các đợt đóng góp ý kiến vào các dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đưa ra những quan niệm “mập mờ đánh lận con đen”. Số người này bề ngoài thì tỏ ra am tường, minh triết, học cao, hiểu rộng, nhưng khi viết bài, đóng góp ý kiến lại có những lời lẽ, ý tứ ngụy biện được bọc trong một cái lớp vỏ phản biện trên tinh thần khoa học. Không những thế, có ý kiến còn vẽ ra con đường này, lối dẫn nọ của nước khác để khuyến cáo, thậm chí đòi hỏi Việt Nam phải áp dụng. Thế nhưng, những “bức vẽ, lối đi” đó không màu sắc, không đường nét rõ ràng, bởi thực chất đấy chỉ là một thứ học đòi, học lỏm hay dung hòa, trộn lẫn hỗn độn bởi đủ thứ lý thuyết, học thuyết rối rắm, xa lạ, không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế ở nước ta.
Một số người từng là cán bộ, đảng viên lâu năm đã mắc bệnh công thần chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò, cống hiến của mình trong quá khứ để phê phán quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề xuất những ý kiến lệch lạc. Mặc dù có ý kiến đã được cơ quan chức năng và người có trách nhiệm tiếp thu, giải trình một cách nghiêm túc, cầu thị, nhưng họ vẫn không đồng ý. Lợi dụng mạng xã hội, những người này công khai bày tỏ quan điểm thiếu thiện chí, cực đoan nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc và phủ nhận con đường dân tộc ta đang đi.
Một số ít trí thức, văn nghệ sĩ vốn là đảng viên cộng sản có những đóng góp nhất định trong lịch sử và có những công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học nghệ thuật được khá nhiều công chúng biết đến, nhưng nay lại bày tỏ sự sám hối của mình. Trên các mạng xã hội, ngoài việc công khai “hối hận”, “mặc cảm” và cố ý chối bỏ quá khứ cống hiến đáng quý của mình, những người này còn có những ý kiến hết sức chủ quan, thiên lệch về tình hình đất nước, xã hội và đời sống nhân dân. Đáng nói hơn, có người đã liên lạc, kết nối với các phần tử thù địch ở hải ngoại để "tiền hô hậu ủng", tạo thêm bệ đỡ cho các thế lực đó thường xuyên công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống chính sách, luật pháp để làm những việc sai pháp luật, trái đạo lý. Có những người triệt để lạm dụng lúc "tranh tối tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân. Xuất phát từ chủ nghĩa cơ hội mà sinh ra bao thứ phiền toái: Nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau một tấc lên trời, lôi bè kéo cánh, cục bộ địa phương, thấy sai trái không dám đấu tranh, thấy cái đúng không biết bảo vệ, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác... Cái thứ cơ hội này tuy không dễ “bắt tận tay, day tận mặt”, nhưng cũng là kẻ thù bên trong không kém phần nguy hiểm.
CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CƠ HỘI
Trong những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội nêu trên, tuy mỗi loại có tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau, nhưng có đặc điểm chung là đều chĩa mũi nhọn trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, thách thức sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực cản con đường đưa nước ta hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những biểu hiện đó của chủ nghĩa cơ hội cũng là “mảnh đất màu mỡ” để đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên sớm thành hiện thực, là chất xúc tác thúc đẩy âm mưu “diễn biến hòa bình” ngày càng trở nên sâu sắc và nguy hiểm hơn.
Vì vậy, nhận diện và đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đột lốt “yêu nước, thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai. Đây là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc, với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi.
Chủ động không để chủ nghĩa cơ hội len lỏi vào các tổ chức tổ đảng, bộ máy công quyền các cấp là một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của công tác tư tưởng chính trị hiện nay. Muốn vậy, trước hết các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên tìm hiểu, nắm chắc diễn biến tư tưởng, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên để kịp thời ngăn ngừa, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc phát sinh, chủ động triệt tiêu mầm mống của chủ nghĩa cơ hội ngay từ khi manh nha. Cùng với vạch trần, tẩy chay với các loại chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, xét lại và những biểu hiện mơ hồ, dao động về tư tưởng chính trị, cần chú trọng làm tốt công tác giáo dục, bồi đắp nâng cao niềm tin cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân vào những giá trị tốt đẹp của Đảng và của chế độ xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng.
Một vấn đề không kém phần quan trọng là các cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng các cấp cần chú trọng công tác quản lý nội bộ, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật Đảng, giáo dục cán bộ, đảng viên (nhất là những người làm ở những vị trí nhạy cảm, phức tạp, có quan hệ xã hội sâu rộng) phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn, không được tự ý nói năng, phát ngôn, bày tỏ ý kiến, kiến nghị của mình hay tán phát các tài liệu trên mạng xã hội có nội dung trái quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước và không có lợi cho việc giữ vững đồng thuận xã hội, ổn định chính trị và an ninh tư tưởng-văn hóa.
Trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, các cơ quan, đơn vị cần chủ động định hướng, hướng dẫn, giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc sử dụng mạng xã hội; động viên, khuyến khích mọi người tiếp thu có chọn lọc và làm lan tỏa những thông tin tích cực, lành mạnh trên mạng xã hội, góp phần nhân lên những giá trị tiến bộ, nhân văn trong cuộc sống. Cùng với đó phải kịp thời nhận diện, kiên quyết sàng lọc, loại bỏ những thông tin lệch lạc, sai trái, tiêu cực, không để những thông tin này có cơ hội tán phát, lây lan trên không gian mạng dễ làm vẩn đục môi trường thông tin và gây nhiễu dư luận xã hội. Làm tốt việc này cũng là một cách góp phần ngăn ngừa, phòng, chống những tư tưởng cơ hội, lợi dụng mạng xã hội để thông tin sai lệch, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 18/9


“Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình”.
Nguyễn Ái Quốc viết bài “Người cách mạng mẫu mực”, đăng trên báo Thanh Niên, số 61, năm 1926. Bài viết nêu 12 điều đòi hỏi ở một người cách mạng, bao quát các mặt về lý tưởng, về tinh thần hy sinh, về phẩm chất đạo đức, về phương pháp công tác. Người nhấn mạnh: Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên - những người cách mạng suốt đời phấn đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Theo Bác, người cách mạng mẫu mực trước hết phải là người có đạo đức cách mạng. Bởi “không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”, có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng.
Thấm nhuần tư tưởng về vị trí, vai trò của đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn phát huy tốt tính tiền phong gương mẫu, trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước, đã có rất nhiều cán bộ, đảng viên bất chấp mọi hiểm nguy, gian khổ, sẵn sàng hy sinh thân mình vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng tiếp tục phát huy tính tiền phong gương mẫu trên mọi lĩnh vực công tác đã góp phần làm nên những thành tựu bước đầu rất quan trọng của công cuộc đổi mới.
Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn luôn khắc ghi lời dạy của Người về phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên, trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nhân cách theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mới trở thành người quân nhân kiểu mẫu, thật sự xứng đáng là người quân nhân cách mạng của một Quân đội anh hùng./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há» CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

Nêu gương thực hành đạo đức cách mạng-"ngọn lửa" thiêu rụi lối sống ích kỷ, thực dụng

 

Lối sống thực dụng bắt đầu hình thành từ trong tư tưởng, nhận thức, đến một giai đoạn nhất định, nó sẽ được thể hiện thông qua hành động của chủ thể. Từ chỗ cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Đảng, của dân tộc, khi bị tác động bởi lối sống thực dụng nếu không có sự trui rèn đạo đức, lối sống, con người bắt đầu xuất hiện những tư tưởng đắn đo giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa cống hiến và hưởng thụ, từng bước tạo ra sự chuyển hóa từ bên trong, khiến cho người mang lối sống này không còn là chính họ của ngày hôm qua.

Chúng ta rất quen thuộc với câu nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đây là lời nói dân gian nhưng trong đó chứa đựng tình cảm, sự tin tưởng của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên và thể hiện trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với nhân dân. Muốn hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình và góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, cán bộ, đảng viên phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là về đạo đức, lối sống.

Cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng thì lối sống thực dụng sẽ không có cơ hội phát sinh, phát triển. Bởi vì, đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng, là thước đo phẩm chất của người cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Đạo đức cách mạng là bài thuốc hữu hiệu, đặc trị “vi trùng độc hại”-lối sống thực dụng. Để diệt tận gốc “vi trùng độc hại” này, phương thức tối ưu nhất đó là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng: Đảng không phải là nơi để thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp.

Điều quan trọng nhất là cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp nói phải đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức. Đây là hành động cơ bản thể hiện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Thực tế trong Đảng ta hiện nay, có không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói và làm có những khoảng cách, thậm chí trái ngược nhau. Không ít quan chức tự cho mình cái quyền được nói “làm những điều tôi nói, không được nói điều tôi làm”, thậm chí có người rất hay "lên mặt" rao giảng, dạy dỗ người khác bằng những từ đại ngôn, hoa mỹ, nhưng hành động, việc làm lại trái những nguyên tắc của Đảng, thậm chí còn làm ô danh Đảng. Người cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, chỉ huy muốn thu phục quần chúng, muốn quần chúng tin theo phải thực sự mẫu mực về phương pháp, tác phong làm việc, lời nói gắn liền với việc làm, hành động cụ thể, mang lại ích nước, lợi dân.

Mục tiêu, lý tưởng cách mạng của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy, các thế hệ cha ông ta đã không tiếc xương máu hy sinh để giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, tạo cơ sở, tiền đề xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta được sống trong hòa bình, có cơ hội phát triển toàn diện, những thành tựu to lớn của đất nước hôm nay đã được viết bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước, của lớp lớp cán bộ, đảng viên kiên trung với lối sống cao đẹp, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, rèn luyện và nâng cao đạo đức cách mạng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm mọi việc để góp phần cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là lương tâm, bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của thế hệ cán bộ, đảng viên hôm nay.

HAIVAN

Xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo vừa hồng, vừa chuyên

 

Học tập và làm theo tư tưởng, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tuyên giáo, Đảng ta luôn khẳng định công tác tuyên giáo có vai trò đặc biệt, là một lĩnh vực trọng yếu trong công tác lãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân và tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở mọi thời kỳ, mọi chặng đường phát triển. Công tác tuyên giáo đã có nhiều tiến bộ, từng bước vươn lên hoàn thành nhiệm vụ, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, khơi dậy phong trào cách mạng của nhân dân, tạo ra những nhân tố cơ bản để cả nước phấn đấu đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng; thực sự giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân có nhận thức sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó kiên định và nỗ lực phấn đấu thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Trong thời gian tới, dự báo tình hình thế giới, trong nước sẽ tiếp tục có những diễn biến mới, phức tạp, nhanh chóng, khó lường. Tình hình kinh tế - xã hội nước ta bên cạnh thành tựu lớn cũng xuất hiện những khó khăn và thách thức mới. Bốn nguy cơ mà Đảng ta nêu ra từ Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khoá VII vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Bên cạnh đó, bốn vấn đề bức xúc trong xã hội hiện nay là an toàn an ninh mạng, an toàn môi trường, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm đang hằng ngày, hằng giờ tác động, ảnh hưởng đến tư tưởng, chất lượng cuộc sống và sức khoẻ, tính mạng của nhân dân. Các tệ nạn xã hội còn nảy sinh phức tạp, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… Lợi dụng những khó khăn này, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, hòng gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” mưu đồ làm thay đổi chế độ chính trị nước ta, đã tác động đến tư tưởng trong Đảng và trong xã hội.

Trước tình hình đó, công tác tuyên truyền giáo dục càng phải được đẩy mạnh để làm cho toàn Đảng, toàn Dân nắm vững, nhất trí với các mục tiêu, quan điểm, định hướng, nhiệm vụ lớn về xây dựng và phát triển đất nước; kiên trì đấu tranh bảo vệ tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, khả năng sáng tạo, tạo ra phong trào hành động cách mạng của toàn dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Chính vì vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo có bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng; có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh; tinh thông, nhanh nhạy và sáng tạo, có phương pháp làm việc khoa học… xứng đáng là “người chiến sĩ xung kích trên mặt trận tuyên giáo của Đảng” có vai trò vô cùng quan trọng trong tình hình hiện nay.

Thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ tuyên giáo các cấp của Đảng ta hiện nay cần phấn đấu, rèn luyện về phẩm chất, năng lực trên các tiêu chí cụ thể như:

Thứ nhất, cán bộ tuyên giáo phải có bản lĩnh chính trị, tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức lối sống trong sáng, lành mạnh, phải có “tâm” và “tầm”. Đây là tiêu chí quan trọng hàng đầu của người cán bộ tuyên giáo. Là cầu nối giữa Nhân dân với Đảng, là người gieo niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

Thứ hai, cán bộ tuyên giáo phải là người biết nêu gương, chủ động, nhạy bén, sáng tạo, kịp thời tham mưu làm tốt công tác tư tưởng tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong Nhân dân. 

Thứ ba, cán bộ tuyên giáo phải là người say mê, tâm huyết và luôn trao dồi kiến thức, kỹ năng nói, viết để nâng cao năng lực công tác. Theo đó, cần thực hiện đúng chỉ dẫn của Người là: Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Cán bộ tuyên truyền cần xác định rõ ràng nội dung, đối tượng, mục đích và phương pháp: “Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào?”.

Thứ tư, cán bộ tuyên giáo phải luôn hướng về cơ sở, bám sát thực tiễn và gắn bó mật thiết với nhân dân. Đội ngũ cán bộ tuyên giáo muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ thì phương pháp lãnh đạo, phong cách quản lý, cách tổ chức, cách đặt kế hoạch phải phù hợp với quần chúng; phải luôn hướng về cơ sở, sâu sát cơ sở, luôn gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân.

Thứ năm, phải có phong cách làm việc dân chủ, khoa học, hiệu quả. Phương pháp, tác phong làm việc của người cán bộ giữ vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Người cán bộ có tri thức, nhiệt tình, nhưng nếu thiếu phương pháp, tác phong làm việc tốt cũng khó có thể hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao.

Tư tưởng và chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo của Đảng cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Đảng ta đã chỉ rõ: “Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, trưng bày triển lãm, tuyên truyền cổ động được tổ chức sôi nổi, rộng khắp từ Trung ương đến cơ sở, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị và các sự kiện chính trị, văn hóa, thể thao và du lịch trọng đại của đất nước, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân”. “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động định hướng thông tin tuyên truyền của Đảng và đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch”.

Trong bối cảnh hiện nay, để chủ trương, đường lối của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, đạt được thành quả, đáp ứng được nguyện vọng của Nhân dân tất yếu cần quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo vững mạnh, nhất là về năng lực, trình độ, phẩm chất, bản lĩnh chính trị ngang tầm nhiệm vụ là nội dung vô cùng quan trọng, vừa cấp bách, vừa cơ bản, thường xuyên, lâu dài.

HAIVAN

Nâng cao tinh thần trách nhiệm để xây dựng đất nước phồn vinh

 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thực hiện công việc người cán bộ, phải tích cực, tự giác thực hiện nhiệm vụ được giao, ý thức đúng đắn về trách nhiệm của mình trên mọi cương vị, vị trí công tác, “có gan phụ trách”, dám nghĩ dám làm, chủ động sáng tạo và đặc biệt phải có khát vọng vươn lên để có kết quả cao nhất. Nói đến khát vọng là nói đến yếu tố tinh thần, là sự mong muốn, khao khát, quyết tâm dồn sức lực, trí tuệ để đạt cho được mục tiêu; là nguồn động lực có sức mạnh vô biên để thực hiện những nhiệm vụ nặng nề nhằm đạt được ước mơ, không khuất phục trước mọi thử thách… là động lực để cho mọi tầng lớp nhân dân đem hết sức mình thực hiện khát vọng, mà cụ thể ở thời điểm này khát vọng của dân tộc Việt Nam là đưa đất nước đi tới phồn vinh, hùng cường, thịnh vượng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Để góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường, phải thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu; có cơ chế, quy định cụ thể, rõ ràng và ràng buộc trách nhiệm của cá nhân trong hệ thống chính trị, hệ thống công quyền.

Hai là, mỗi cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần thực sự tiên phong, gương mẫu về tinh thần trách nhiệm trước công việc và nhân dân theo phương châm “nói đi đôi với làm”, nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động; cán bộ cấp trên nêu gương cho cán bộ cấp dưới; đảng viên nêu gương cho quần chúng noi theo.

Ba là, từng cán bộ, đảng viên cần nêu cao tính chủ động, sáng tạo trước công việc được giao. Khi thực hiện nhiệm vụ, công việc cần có chương trình, kế hoạch, tránh để chậm trễ gây tồn đọng, ách tắc, cấp trên hoặc lãnh đạo phải nhắc nhở hoặc nhân dân phải phàn nàn, chê trách, góp ý phê bình về ý thức và tinh thần trách nhiệm. Trong thực hiện nhiệm vụ cần thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đúng quy trình, thủ tục, đồng thời linh hoạt, sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm để hoàn thành công việc với hiệu quả cao nhất.

Bốn là, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, viên chức phải gắn với trao đổi, tự phê bình và phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng cho cán bộ, đảng viên. Kịp thời khen thưởng, biểu dương những việc làm tốt và uốn nắn những hạn chế, khuyết điểm, có biện pháp phù hợp để cán bộ, đảng viên nhận thức được sai sót, hạn chế của mình, từ đó phấn đấu sửa chữa. Nghiêm túc đấu tranh chống bệnh tranh công, đổ lỗi cho khách quan hoặc đổ trách nhiệm cho người khác; những biểu hiện né tránh, bao biện hoặc kiểm điểm, phê bình một cách hình thức, chiếu lệ, qua loa.

Hơn 70 năm đã qua đi, nhưng những lời chỉ dẫn của Hồ Chí Minh trong tác phẩm Tinh thần trách nhiệm vẫn còn nguyên giá trị để Đảng và Nhà nước Việt Nam “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” nhằm đưa đất nước cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc.

HAIVAN

Tinh thần trách nhiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân là tư tưởng xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Trách nhiệm đó được thể hiện trong mọi hoạt động của Người: trong học tập, lao động, nghiên cứu lý luận, hoạt động thực tiễn, cùng Đảng lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển...

Với thân phận của một người dân sống trong một đất nước mất độc lập, dân nô lệ, lầm than, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ trách nhiệm của một người dân mất nước, quyết tâm đi tìm đường cứu nước, giải phóng đồng bào. Trách nhiệm đó thấm sâu vào từng suy nghĩ và hành động của Người, để rồi trong suốt 30 năm, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã tìm đến các nước tư bản phát triển, các nước thuộc địa, sẵn sàng làm nhiều nghề để vừa nuôi sống bản thân, vừa hoạt động cách mạng. Người đã thể hiện trách nhiệm và quyết tâm cháy bỏng tìm con đường cứu nước bằng cách khám phá thế giới, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” rồi trở về giúp đồng bào. Không lo cho bản thân mình, Người sẵn sàng tranh luận, trao đổi các vấn đề lớn liên quan tới vận mệnh của nhân dân Việt Nam cũng như các dân tộc thuộc địa. Bản lĩnh và trách nhiệm của một chiến sĩ cách mạng dần hé lộ trong tư duy và hành động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Khi trở thành người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Bác vẫn thể hiện rõ trách nhiệm của một người đứng ở vị trí cao nhất. Người khẳng định: “chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thực thi công vụ với ý thức trách nhiệm của một người lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu không phải bằng việc sử dụng hay lạm dụng quyền lực mà thuyết phục bằng cảm hóa, bằng phong cách nói đi đôi với làm. Ý thức trách nhiệm của Người thể hiện từ những việc lớn như hoạch định đường lối, chính sách đến những việc nhỏ như lo tương cà, mắm muối cho dân. Người sống đời sống của dân, cùng nhịp đập với trái tim của dân, lo toan, trăn trở khi dân ốm, dân đói, dân rét, dân bị bóc lột, bị mù chữ, nghèo nàn… Theo Bác, người nấu bếp, lo làm cho luôn luôn cơm lành canh ngon, bát đũa sạch sẽ. Không phí phạm của công. Tìm cách tăng gia trồng rau, nuôi gà… Khi anh em ốm yếu, thì có bát canh bát cháo. Khi bộ đội đang mải đánh giặc thì tìm cách đưa cơm đến nơi cho anh em ăn. Khi tiếp tế khó khăn thì tìm cách vượt qua, không để anh em thiếu thốn. Như thế là có tinh thần trách nhiệm.

Người cán bộ quân sự, thì luôn luôn học hỏi chính trị và kỹ thuật, chiến thuật. Luôn luôn săn sóc đến tinh thần và vật chất của đội viên. Đoàn kết nội bộ. Giúp đỡ nhân dân. Kiên quyết chấp hành mệnh lệnh trên giao xuống. Khi đánh giặc thì làm cho toàn đội thấm nhuần tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Gặp việc khó khăn thì cố tìm cách giải quyết đúng. Như thế là có tinh thần trách nhiệm.

Đảng và Chính phủ đề ra chính sách. Cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần chính sách ấy. Theo chính sách ấy mà điều tra, nghiên cứu, thấu hiểu hoàn cảnh thiết thực của đơn vị mình, địa phương mình. Rồi đặt kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho mọi người hiểu và ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như là của họ, rồi thi đua thực hiện đầy đủ chính sách ấy. Như thế là làm trọn nhiệm vụ.

Để thực hiện chính sách, làm tròn nhiệm vụ, cán bộ chẳng những phải chịu khó giải thích, tuyên truyền, cổ động mà còn phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoanh nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình là gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính để nhân dân noi theo. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, Chính phủ và đối với Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, mọi suy nghĩ và hành động của cán bộ công chức phải đi đúng đường lối quần chúng. Đi đúng đường lối quần chúng là một nét đặc sắc trong tư duy Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ. Người khẳng định: “Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ”.

Ý thức trách nhiệm, tinh thần trách nhiệm, hành động có trách nhiệm là nhân tố có tính quyết định trong hoạt động thực tiễn của con người, là khía cạnh quan trọng nhất của đạo đức nghề nghiệp. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ công chức phải đặt lên hàng đầu ý thức và tinh thần trách nhiệm, hết lòng hết sức phục sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

HAIVAN