Thứ Hai, 18 tháng 9, 2023

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: CÁI T...ÁT VÔ MẶT NHỮNG KẺ PHẢN ĐỒ ĐANG ĐÒI TÔN VINH GIẶC!

NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH NÓI VỀ NHÀ NGUYỄN
     …Xin cho tôi được chọn và trích dẫn ra đây một vài bài viết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh từng kịch liệt phê phán vương triều nhà Nguyễn trong suốt nửa thế kỷ, nhằm giúp chúng ta có cơ sở thẩm định về quan điểm chính trị và học thuật của một số người làm công tác trong lĩnh vực nghiên cứu Sử học.

Trong thư gửi ông Utơlây, ngày 16/10/1919, Nguyễn Ái Quốc viết: ”Ngay trong cái cung điện Huế cũ kỹ và tối tăm, mà cuộc sống tù hãm, trụy lạc đã nhấn chìm những người sống trong đó vào sự nhu nhược, đến nỗi họ dửng dưng trước mọi việc diễn ra bên ngoài…”

– Trong ”Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản” ngày 21/9/1923, Nguyễn Ái Quốc viết: ”Triều đình và vua quan (nhà Nguyễn) lệ thuộc tuyệt đối vào chính quyền Pháp. Họ bị chủ Pháp khinh bỉ và nhân dân ghét”.

– Trong bài ”Nên học sử ta” đăng trên báo Việt Nam độc lập, ngày 01/02/1942, Nguyễn Ái Quốc viết: ”Trước khi vua Gia Long bán nước cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập”. ”Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều, con Lạc cháu Hồng hoá làm trâu ngựa”.

– Trong bài diễn ca ”Lịch sử nước ta”, do Việt Minh Tuyên Truyền Bộ xuất bản, tháng 2/1942, Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Gia Long như sau:
”Gia Long lại dấy can qua
Bị Tây Sơn đuổi,
chạy ra nước ngoài
Tư mình đã chẳng có tài
Nhờ Tây qua cứu,
tính bài giải vây
Nay ta mất nước thế này
Cũng vì vua Nguyễn
rước Tây vào nhà
Khác gì cõng rắn cắn gà
Rước voi giày mả, thiệt là ngu si”.

Và Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Tự Đức như sau:
”Nay ta mất nước nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn
Năm Tự Đức thập thất niên
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền
giặc Tây
Hăm lăm năm sau trận này
Trung Kỳ cũng mất,
Bắc Kỳ cũng tan
Ngàn năm gấm vóc giang san
Bị vua họ Nguyễn
đem hàng cho Tây!
Tội kia càng càng đắp càng dày
Sự tình càng nghĩ
càng cay đắng lòng”.

Trong bài diễn ca này, Nguyễn Ái Quốc đã điểm những cột mốc lịch sử quan trọng như sau: “Năm 1794, Gia Long thông với Tây. Năm 1847, Tây bắt đầu đánh nước ta. Năm 1862, vua nhà Nguyễn bắt đầu hàng Tây”.

– Trong ”Báo cáo đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài” họp tại Thành phố Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), vào tháng 3/1944, Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu: ”Năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hoà, Mỹ Tho cho giặc Pháp”.

– Trong ”Trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo” (Trung Quốc), ngày 3/4/1949, Hồ Chủ tịch đã viết bài về Bảo Đại-ông vua cuối cùng của vương triều Nguyễn như sau: ”Vĩnh Thụy trở về nước với hơn 10.000 viện binh Pháp để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy cam tâm bán nước. Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc”.

– Trong quyển ”Thường thức chính trị” do Nhà xuất bản Sự Thật ấn hành lần đầu năm 1954, Bác Hồ chỉ rõ: “Hơn 80 năm trước đây, đế quốc Pháp thấy nước ta người đông, của nhiều, bèn dùng vũ lực sang cướp nước ta. Giai cấp phong kiến (vua, quan) thì hủ bại hèn nhát, chỉ biết bán nước, không dám chống giặc”.

– Trong ”Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi” tại kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá I, ngày 18/12/1959, Bác Hồ viết: ”Giữa thế kỷ XIX, đế quốc Pháp bắt đầu xâm lược nước ta: Bọn vua quan phong kiến đã đầu hàng giặc ngoại xâm và bán nước ta cho đế quốc Pháp. Trong gần một thế kỷ, đế quốc Pháp đã cấu kết với giai cấp phong kiến để thống trị nước ta một cách vô cùng tàn bạo”.

Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với lịch sử là rất sòng phẳng, phân minh. Người không hề công kích các chúa Nguyễn. Cùng với việc kịch liệt phê phán Gia Long và Tự Đức, Người đã từng viết bài trên báo chí nước ngoài để đề cao tinh thần yêu nước của 3 ông vua thứ 8, thứ 10 và thứ 11 của vương triều nhà Nguyễn là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 12/7/1940, Nguyễn Ái Quốc viết: ”Năm 1885 vua Hàm Nghi và năm 1916 vua Duy Tân đã đứng ra lãnh đạo chống Pháp”.

Chúng ta còn được biết thêm một sự kiện rất lý thú: Ngày 24/02/1920, Nguyễn Ái Quốc đã nhận được thư của Hoàng thân Vĩnh San (vua Duy Tân), gửi cho Chủ nhiệm báo L’Humanité về việc đòi độc lập cho Việt Nam. Trung tuần tháng 3/1920, Nguyễn Ái Quốc gặp hai đồng chí Macxen Casanh, Giăng Lông Ghê và báo L’Humanité đã mời Nguyễn Ái Quốc đến trụ sở để bàn về vấn đề này.

Sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, trải qua 15 năm hoạt động bí mật trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, Đảng đã từng kịch liệt lên án vương triều nhà Nguyễn (Chính phủ Nam triều) và ông vua “bù nhìn Bảo Đại”.

– Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng (27-31/3/1935), đồng chí Tổng Bí thư Lê Hồng Phong chỉ rõ: Chính sách mới của đế quốc Pháp và mưu mô mới của bọn thống trị bản xứ là ”Trả quyền cho bù nhìn Bảo Đại, cải cách Nam triều, lập nguyên lão nghị viện. Thi hành các chính sách ấy, không phải trở lại điều ước nô lệ năm 1884 như nhiều người đã tưởng mà là kiên cố quyền thống trị của đế quốc Pháp”.

– Trong Nghị quyết của cuộc Hội nghị Trung ương lần thứ VI nổi tiếng (6-8/11/1939), do đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trình bày, đã phân tích kỹ: ”Chính phủ Nam triều Bảo Đại đã hoàn toàn bán mình cho đế quốc Pháp, làm tay sai đắc lực cho đế quốc trong cuộc đàn áp phong trào cách mệnh năm 1930-1931”. ”Bảo Đại đã hoàn toàn làm nô lệ một cách vô liêm sỉ cho đế quốc”.

Qua một số ít tư liệu mà tôi trích dẫn trên đây, tự nó, đã xác minh quan điểm chính thống về Sử học của Bác Hồ và của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn đã và đang bị một số người cố tình phản bác.

Quả thực cho đến nay, không phải trong giới Sử học ai cũng đồng thuận với khuynh hướng tư tưởng ấy. Ngay tại cuộc hội thảo lần này, không ít người như giáo sư Văn Tạo - nguyên Viện trưởng Viện Sử học đã khẳng định: Thống nhất đất nước của Tây Sơn là gắn với độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, còn thống nhất đất nước của vua Gia Long nhờ cắt đất dâng cho thực dân mà có được. Đây rõ ràng là có tội như ông cha ta đã từng phê phán là ”Rước voi về giày mả tổ”, ”Cõng rắn cắn gà nhà”.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều năm qua, tôi biết rõ giáo sư Trần Văn Giàu - một nhà Sử học lão thành bậc thầy được cán bộ và nhân dân mến mộ, cũng đã giữ quan điểm đúng đắn trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn. Chính vì lẽ ấy đồng chí Trần Văn Giàu đã không đồng tình với tác giả cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về Phan Thanh Giản bằng lối văn hư cấu tuỳ tiện, thoát ly hiện thực lịch sử…

Theo dõi cuộc hội thảo được tổ chức với quy mô lớn tại tỉnh Thanh Hoá, được báo chí tuyên truyền rầm rộ, nhiều người dân Sài Gòn trước đây ngạc nhiên nói: Những câu: ”Gia Long cõng rắn cắn gà nhà”, “Rước voi về giày mả tổ”, ”Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”,… đâu phải đến thời bây giờ mới có và đâu phải chỉ lưu hành riêng ở miền Bắc. Nhớ khi còn ngồi trên ghế nhà trường tại thành phố này qua các bậc trung học và đại học, chúng tôi đã từng nghe các giáo sư dưới chế độ cũ khi bước lên bục, đều giảng như vậy cả. Thế nhưng không hiểu vì sao, hàng chục năm qua, một số người làm công tác nghiên cứu Sử học ở miền Bắc lại tìm mọi cách để phản bác những câu đó?”.

Không chỉ Bác Hồ, trong thế kỷ XX, các đồng chí lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta (như Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…) cũng đều đánh giá vương triều nhà Nguyễn hoàn toàn nhất trí với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Không ai bài bác và bôi nhọ thanh danh các chúa Nguyễn. Cũng chẳng có ai phủ nhận sự đóng góp của triều nhà Nguyễn trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hoá và văn nghệ…

Sử học là một trong những lĩnh vực hoạt động hết sức nhạy cảm và có tầm quan trọng sống còn trên trận địa tư tưởng. Nếu chúng ta không quan tâm chăm lo củng cố sự vững mạnh của ngành Sử học kể cả trên ba mặt: về chính trị, về tư tưởng và về tổ chức, ắt sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường.

Nếu những vấn đề trên đây không được giải quyết rốt ráo, sẽ dẫn đến sự rối loạn về nhận thức trong xã hội. Thật vậy, trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn, hàng chục triệu nhân dân ta – nhất là một khối lượng rất lớn học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh đang ngồi học tập và viết luận án khoa học trên ghế nhà trường sẽ nghe và viết theo quan điểm của ai? Nghe và viết theo sự chỉ dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh, theo quan điểm Sử học của Đảng ta, hay nghe và viết theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu lịch sử đã và đang được công khai quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong cuộc hội thảo vừa qua tại tỉnh Thanh Hoá và trong những cuộc hội thảo trước đó.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến chủ trương của Hội Khoa học lịch sử về việc gấp rút tiến hành chỉnh sửa sách giáo khoa phổ thông về Sử học và chuẩn bị biên soạn bộ quốc sử mới, như báo chí đã nhất loạt đưa tin. Đây là nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng.

Chúng tôi hoàn toàn không yên tâm nếu như nhiệm vụ này được giao trọn gói cho những người đã từng đi chệch tư tưởng Hồ Chí Minh về Sử học và đã nặng lời công kích “phương pháp luận Sử học mác-xít ấu trĩ, giáo điều, công thức”. Vậy thì thử hỏi, nếu giao cho họ chỉnh sửa sách giáo khoa Sử học và biên soạn bộ quốc sử của nước nhà, họ sẽ đứng trên quan điểm lập trường nào và theo phương pháp luận Sử học của ai? Điều đó chắc chắn sẽ gây ra cho chúng ta những tổn thất không nhỏ trong lĩnh vực công tác giáo dục, cũng như trên địa hạt tư tưởng./.


Website Đảng cộng sản Việt Nam.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VUA GIA LONG-NGUYỄN ÁNH! ĐỂ VUA YÊN NGHỈ HAY BỚI LÊN TRUY TỘI?

     Quả thật tôi không đọc nhiều về thời, giai đoạn Nguyễn Ánh làm Vua vì lúc còn học đã nghe rằng Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà rồi. Tuy nhiên tôi đọc nhiều về "thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ", do đó từ góc nhìn lý luận quân sự tôi thấy:
1. Công lớn của Nguyễn Ánh là nguyên nhân ghi danh vào sử sách trận "Rạch Gầm - Xoài Mút", đặc biệt, khiến cho "người Xiêm mà nghe đến Tây Sơn (người Việt) là sợ như sợ cọp" (Hoàng Lê thống nhất chí".
2. Việc dành ngôi Vua thì giết cả cha mình người ta cũng làm, cho nên việc Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm, quân Pháp cũng không có gì là lạ, tuy nhiên, phải khẳng định đó là hành động "cõng rắn cắn gà nhà" như đã truyền tụng trong dân gian là đúng hoàn toàn, cấm cãi.
3. Có cái lão "sử học" nào đó muốn đề nghị cả nước vinh danh Nguyễn Ánh (dòng họ của nhà "sử học"). OK! Vậy thì lão hãy giải quyết các mâu thuẫn sau đây:
- Phủ nhận trận Rạch Gầm-Xoài Mút là một chiến công hiển hách chống quân xâm lược của dân tộc Việt Nam (cả trăm họ chiến đấu ngoại trừ gia tộc họ Nguyễn Ánh)...
- Công nhận Pháp lã "Mẫu quốc" là quốc gia đi "khai phá văn minh cho dân tộc Việt gần một thế kỷ" (đến 1975, dân tộc Việt đổ không biết bao xương máu mới đuổi được 2 nên "văn minh" ấy đi). Bởi vì sau khi Pháp "mượn đường để xâm lược nhà Thanh" thì thấy con gái tộc Nguyễn Ánh đẹp quá nên ngủ lại gần 100 năm... tất cả đều liên can đến dòng tộc Nguyễn Ánh cả.
- Nguyễn Ánh và Nguyễn Huệ là kẻ thù không đội trời chung, trong khi đó, Nguyễn Huệ, toàn bộ dân tộc Việt, từ cổ chí kim đều coi là người anh hùng dân tộc, áo vải cờ đào chống quân xâm lược; là niềm từ hào của giới quân sự, nghệ thuật quân sự Việt Nam, là vị tướng bách chiến bách thắng trong lịch sử quân sự NHÂN LOẠI.

Nguyễn Huệ và Nguyên Ánh như 2 thái cực, nếu phủ nhận người này là công nhận người kia. Vậy ông (nhà sử học kia) định dìm cái người mà cả trăm họ (dân tộc Việt) tôn sùng, ghi nhớ để đưa tộc của ông làm Vua lại ư?
Nói thì nói vậy thôi chứ không ai đào mồ tiên tổ để trách cứ, vì đó là lịch sử. Không có Nguyễn Ánh thì không có Rạch Gầm-Xoài Mút; có Nguyễn Huệ, hay Nguyên Huệ sống thọ hơn thì không bao giờ Pháp đặt chân nổi lên Đà Nẵng 1858.
Người ta nói: "Nếu bắn vào lịch sử một viên đạn thì lịch sử sẽ đáp trả lại một phát đại bác" lại rất đúng với con cháu dòng họ nhà Nguyễn Ánh. Đừng thấy đám lật sử nổi lên như nấm vừa qua mà tưởng dễ rồi a dua lật lại sử, gia phả dòng họ. Hãy để các bậc tiên tổ yên nghỉ và lên thiên đường hay địa ngục theo công tội của mình. Trăm họ dân Việt thờ ai, suy tôn ai không phải là chuyện chơi, không phải là từ những kẻ dở hơi đề nghị, quảng bá...
Yêu nước ST.

CÙNG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG; BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

         Hiện nay các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tăng cường sử dụng mọi âm mưu, thủ đoạn để chống phá Đảng, Nhà nước ta với cấp độ ngày càng tinh vi. Chúng lợi dụng không gian mạng, mạng xã hội (Facebook) để tuyên truyền xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, họ phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ lợi dụng tình hình dư luận xã hội đang bức xúc về những tệ tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, cán bộ công chức, viên chức, rồi quy chụp mọi khuyết điểm, sai lầm, tiêu cực trong chủ trương, đường lối đổi mới cán bộ và công tác cán bộ của Đảng.
     Để góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi tổ chức, cá nhân chúng ta cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp:
     Một là, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.
     Hai là, chủ động phát hiện kịp thời những tư tưởng đối lập do các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, không để chúng tạo dựng ngọn cờ tập hợp được lực lượng.
     Ba là, chủ động phê phán, bác bỏ các quan điểm tư tưởng sai trái và ý đồ thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.
     Bốn là, tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống những luận điểm sai trái, thù địch, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng để có luận chứng bác bỏ có sức thuyết phục từng luận điểm./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “THẾ TRẬN LÒNG DÂN”!

         Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ, bên cạnh những thuận lợi như: Xu hướng hòa bình và hợp tác giữ vai trò chủ đạo đã tạo điều kiện cho việc mở rộng quan hệ, hợp tác trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân; tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến trong phát triển đất nước; nâng cao trình độ nguồn nhân lực… cũng đặt ra không ít thách thức đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đáng chú ý là tình hình thế giới, khu vực, nhất là Biển Đông diễn biến phức tạp; các vấn đề an ninh phi truyền thống như: xung đột sắc tộc, tôn giáo, tội phạm xuyên quốc, thiên tai, dịch bệnh; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với Việt Nam bằng thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; các nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt gay gắt hơn… Bởi vậy, để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, vấn đề quan trọng là phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của đất nước, điều này đồng nghĩa với việc phải xây dựng được “thế trận lòng dân” vững chắc.
     Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang đứng trước thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Trước tình hình đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải quán triệt sâu sắc vị trí, vai trò quan trọng của “thế trận lòng dân” và quan điểm của Đảng về “Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân./.




Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ ĐỔ LỖI CHO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN!

         Hiện nay, có một số luận điệu cho rằng sự bảo thủ, trì trệ trong nhận thức, những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lênin?
     Xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, có tính khoa học, đòi hỏi thời gian, nguồn lực to lớn và nhiều điều kiện khác. Chúng ta bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề sau cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài suốt 30 năm. Khó khăn lớn nhất trước hết không phải từ sự thiếu thốn về của cải, vật chất mà đa phần chính ở quan điểm, tác phong mang nặng tính chất của nền văn hóa nông nghiệp. Không có kinh nghiệm tiền lệ, không có sự hỗ trợ của phe xã hội chủ nghĩa như trước đây, nhiều thế lực đang nhòm ngó, chống phá, trong điều kiện ấy, những thành tựu mà công cuộc đổi mới đạt được là đặc biệt quan trọng. Chúng ta đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao trong suốt hơn 35 năm thực hiện chính sách đổi mới. Từ GDP bình quân đầu người chỉ 80 USD đã tăng lên mức trên 3.000 USD. Đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước cơ bản. Những điều đó là không thể phủ nhận và mặc nhiên đã được nhiều tổ chức, cá nhân trên thế giới, trong đó có nhiều học giả phương Tây thừa nhận.
     Từ thực tế cho thấy, không thể có lý gì để nói rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam bảo thủ, cố chấp hay định kiến mà không đổi mới nhận thức, đổi mới chính sách về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng như không thể đổ cho học thuyết Mác - Lênin có lỗi trong những khó khăn, hạn chế, sai lầm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước./.


Môi trường ST.

SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG!

     Với tâm địa đen tối, cái nhìn hằn học, các thế lực thù địch thường xuyên chống phá cách mạng nước ta, nhất là trên một số đài, báo nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFA, RFI, VOA... và các trang mạng xã hội phản động, nhất là tổ chức Việt Tân luôn xuyên tạc rằng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam tính hiệu quả không cao. Thực ra, những nhận định này là hồ đồ và xuyên tạc vì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục của Đảng để “cơ thể Đảng” thường xuyên khỏe mạnh, có khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” trước sự chống phá của các thế lực thù địch.
     Từ lý luận và thực tiễn đều chứng minh một vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược, đó là Đảng phải thường xuyên được xây dựng, chỉnh đốn để Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, đủ sức và xứng đáng với vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước, dân tộc. Càng làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bao nhiêu thì Đảng ta ngày càng vững mạnh bấy nhiêu, luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.
     Kết quả đã đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua là niềm tin để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vững tin xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh./.


Yêu nước ST.

NÂNG CAO CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC!

     Hiện nay, mạng xã hội bùng nổ với số lượng người tham gia ngày càng lớn. Đặc biệt là các trang mạng như: Facebook, Zalo. Vì vậy, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các công cụ này để đẩy mạnh các hoạt động chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong. Các phần tử phản động xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
     Để làm tốt nhiệm vụ đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, các quan điểm xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta của các thế lực phản động trong và ngoài nước trên mạng xã hội, mỗi chúng ta cần: (1) Nâng cao khả năng nhận diện với các thông tin xấu, độc, nguy hại đối với bản thân và xã hội; (2) Xây dựng phong cách văn hóa khi tham gia trên không gian mạng; (3) Có ý thức cảnh giác, không đăng tải hoặc để lộ, lọt thông tin, tài liệu liên quan đến bí mật; (4) Phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch trên không gian mạng, chỉ cập nhật những thông tin chính thống, không xem và chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng, kịp thời phát hiện, góp ý, phê bình; (5) Không để đồng nghiệp, người nhà của mình bị lôi kéo, dụ dỗ mà cố ý hoặc vô tình ủng hộ, chia sẻ, lan truyền những thông tin phản động, độc hại trên mạng xã hội; (6) Sử dụng trang mạng xã hội như một kênh thông tin, tuyên truyền những thông tin chính thống về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; (7) Chủ động và thường xuyên tham gia bình luận, chia sẻ các bài viết về những điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, những mô hình mới, cách làm hay của các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân trong tham gia thực hiện các phong trào thi đua yêu nước./.
Yêu nước ST.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHO RẰNG "ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CƯỚP CHÍNH QUYỀN CỦA ĐẾ QUỐC VIỆT NAM" ĐƯA ĐẤT NƯỚC VÀO 2 CUỘC CHIẾN CHỐNG PHÁP, MỸ KHỐC LIỆT!

         Hiện nay trên không gian mạng xuất hiện những bài viết ca ngợi “Đế quốc Việt Nam”; các tổ chức phản động cho rằng “Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Đế Quốc Việt nam được thành lập với Bảo Đại là vua và Trần Trọng Kim làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời. Tuy thân Nhật, nhưng đây là một chính phủ mới được thành lập nhằm mục đích đón nhận nền độc lập được trao tay từ quân Nhật mà không phải qua chiến tranh đổ máu. Đây là nước đi vô cùng khôn khéo của vua Bảo Đại và Trần Trọng Kim. Nhưng tiếc thay, nó đã bị Cộng sản phá nát và dẫn đến hệ quả là xuất hiện 2 cuộc chiến thảm khốc sau này”. 

Ý đồ rất rõ, họ muốn lái dư luận và đầu độc thế hệ trẻ, phủ nhận công lao của Đảng và nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước. Xuyên tạc sự thật lịch sử, bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh tráo khái niệm một cách tinh vi, xảo trá. Nhân kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước ta. Xin có đôi lời như sau:

ĐẾ QUỐC VIỆT NAM là cái tên mỹ miều và có vẻ hùng mạnh mà Đế Quốc Nhật đặt cho khi “trao trả độc lập” cho Việt Nam. Nó chỉ tồn tại trong vài tháng, từ tháng 3 đến tháng 8, 1945 thì bị chính quyền cách mạng khai tử vì bản chất phản động, tay sai của nó. Ngày 9/3/1945, Nhật “đảo chánh” Pháp và “trao trả độc lập” cho Việt Nam. Sau đó Bảo Đại và Trần Trọng Kim lần lượt được người Nhật đưa lên ngồi trên 2 chiếc ghế gọi là “Quốc trưởng” và “Thủ tướng”. Nhật đuổi Pháp chỉ để thực hiện mục đích là khai thác tài nguyên, bắt phu bắt lính phục vụ cho ý đồ thôn tính thế giới của chủ nghĩa Phát xít. Cái gọi là “Đế quốc Việt Nam” do một tay người Nhật dựng lên, do người Nhật quyết định để hợp thức hóa việc xâm lược nước ta. Các “bộ” được thành lập nhưng cái quan trọng nhất là quân đội thì “Đế quốc Việt Nam” lại không được Nhật cho phép thành lập; nghĩa là quân đội do người Nhật nắm để phục vụ ý đồ họ, chống lại dân tộc Việt Nam. Bảo Đại và Trần Trọng kim trơ mắt nhìn người Nhật tàn sát dân lành, cướp bóc, hãm hiếp, gây ra tội ác tày trời với nước ta.

Với chính sách bạo tàn và phi nhân tính, người Nhật bắt các tỉnh miền Bắc bỏ lúa để trồng đay, thu gom lúa gạo để chở về chính quốc đã gây ra cái chết oan nghiệt, đau thương của 2 triệu đồng bào miền Bắc và Bắc Trung bộ. Thái Bình là vựa lúa của miền Bắc nhưng dân Thái Bình chết do nạn đói 1945 lại cao nhất cả nước, tất cả cũng chỉ vì chính sách này. Bảo Đại và Trần Trọng Kim không dám lên tiếng khi mà các kho thóc của Nhật đầy ắp lúa gạo nhưng để nhân dân ta chết đói thảm thương. Người miền Bắc chỉ được cứu khi cách mạng tháng 8 diễn ra, Việt Minh phá kho thóc Nhật để cứu dân ta.  

Dân thì chết đói thê thảm, Hoàng Đế Bảo Đại lại nói Việt Nam tin cậy vào Nhật, sẽ đem tài lực giúp cho Đế Quốc Đại Đông Á của Nhật, sẽ quyết chí đem hết tài sản đất nước Việt Nam “hợp tác” với Nhật. Vậy “Đế quốc Việt Nam” đã thực sự bán nước cho Nhật rồi còn gì.

 “Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung. Vậy Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên” (Bảo Đại, “Tuyên Ngôn Độc Lập” 11/3/1945). 
Trần Trọng Kim thì tuyên bố: “Quốc dân phải gắng sức làm việc, chịu nhiều hy sinh hơn nữa và phải thành thực hợp tác với nước Đại Nhật Bản trong sự kiến thiết nền Đại Đông Á, vì cuộc thịnh vượng chung của Đại Đông Á có thành thì sự độc lập của nước ta mới không phải là giấc mộng thoáng qua”. 

Hy sinh nhiều hơn nữa ư? 2 triệu nhân mạng của người Việt để đổi lấy một “chính phủ” bù nhìn, vô thưởng vô phạt ấy, và sẽ còn cao hơn nữa nếu như Nhật không bị đồng minh đánh bại. Khi đó, Bảo Đại và Trần Trọng Kim lại vinh thân phì gia trên không biết bao xương máu của nhân dân ta nữa.

Những có kẻ đổ lỗi cho sự sụp đổ của “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” là do Việt Minh cướp “chính quyền”, nếu không thì Việt Nam đã có độc lập và không có chiến tranh là những kẻ không hề có trái tim và khối óc! Việt minh đuổi Nhật giành chính quyền về tay nhân dân chứ không phải là từ Pháp hay “đế quốc Việt Nam” vì bản chất “đế quốc Việt Nam” chỉ là đám ôm gối người Nhật, có quyền hành gì đâu mà bảo là cướp? Tuyên Bố Cairo ngày 27/11/1943 của phe Đồng minh đã nói rõ : Sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do Đế Quốc Nhật thành lập tại các lãnh thổ chiếm đóng. Như vậy, “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” của Hoàng Đế Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim chắc chắn sẽ không có tư cách pháp lý nào để tồn tại và sẽ bị phe đồng minh giải thể khi Nhật đầu hàng. 

Muốn lấy lại quyền làm chủ vận mệnh thực sự của dân tộc thì chắc chắn chỉ người Việt Nam mới giành và giữ được chính quyền của dân tộc mình. Cụ Hồ và Đảng ta không bao giờ muốn chiến tranh, gây đau thương, mất mát nên đã nhân nhượng khi Pháp trở lại Việt Nam. Nhưng “chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp lại càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta một lần nữa” vì lý do đó nên người Việt “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Đó là nguyên nhân để chúng ta phải chiến đấu với Pháp. 

Mỹ thay Pháp để thực hiện chia cắt nước ta, vi phạm Hiệp định Giơnevơ và dựng lên cái gọi là “đệ nhất cộng hòa” của Diệm và “đệ nhị cộng hòa của Thiệu” để biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Đó là nguyên nhân mà cụ Hồ kêu gọi “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!” Đó là cuộc chiến giữa một bên là nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với một bên là đế quốc Mỹ, chư hầu. VNCH cũng như Đế quốc Việt Nam về bản chất là giống nhau, chỉ khác một bên là tay sai của Nhật còn một bên là tay sai của Mỹ. 

Từ những lẽ trên, có thể nói, luận điệu cho rằng: “Đế Quốc Việt nam được thành lập với Bảo Đại là vua và Trần Trọng Kim làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời. Tuy thân Nhật, nhưng đây là một chính phủ mới được thành lập nhằm mục đích đón nhận nền độc lập được trao tay từ quân Nhật mà không phải qua chiến tranh đổ máu. Đây là nước đi vô cùng khôn khéo của vua Bảo Đại và Trần Trọng Kim. Nhưng tiếc thay, nó đã bị Cộng sản phá nát nà dẫn đến hệ quả là xuất hiện 2 cuộc chiến thảm khốc sau này” là luận điệu xuyên tạc lịch sử, mục đích cuối cùng là phủ nhận công lao to lớn của Đảng, của Bác Hồ Vĩ đại và của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đương nhiên những lập luận đó sẽ bị người Việt Nam bác bỏ vì nó vốn là sản phẩm của các thế lực thù địch.

Cách mạng tháng Tám thành công và thành quả vĩ đại mà nó mang đến chính là ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của nhân dân Việt Nam anh hùng đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ đây đất nước ta đã đã dùng cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược; bảo vệ độc lập, tự do và phẩm giá của người Việt Nam. Đất nước ta rũ bùn đứng dậy sáng loà và có cơ đồ, vị thế, uy tín trên trường quốc tế như hôm nay đều nhờ trí tuệ, tâm huyết, máu xương của cha anh. Thời đại Hồ Chí Minh bất diệt! Lịch sử dân tộc đã chứng minh, những kẻ phản bội tổ quốc, đi ngược lợi ích của quốc gia, dân tộc như Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu...đều có kết cục chung là thảm bại. Hào khí Việt Nam sẽ nhấn chìm những kẻ bán nước cầu vinh./.
Yêu nước ST.

VIỆT NAM-THẾ GIỚI: ĐẠI SỨ MỸ NÓI VỀ NHỮNG GIÂY PHÚT XÚC ĐỘNG TRONG CHUYẾN THĂM CỦA TỔNG THỐNG JOE BIDEN!

     Đại sứ Marc E.Knapper chia sẻ ông thực sự cảm động khi Tổng thống Joe Biden gặp lại Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là lần thứ hai, hai nhà lãnh đạo gặp nhau và có những trao đổi thân tình.

Cuộc gặp lần đầu tiên của Tổng thống Joe Biden với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào năm 2015 khi ông Joe Biden là Phó Tổng thống Mỹ. Cả hai nhà lãnh đạo đã ôn lại kỷ niệm về cuộc gặp ở Washington. Tình cảm, sự hiểu biết giữa hai nhà lãnh đạo đã ngày càng phát triển cho đến ngày hôm nay.

Đại sứ Marc E.Knapper khẳng định mối quan hệ Việt Nam-Mỹ phát triển tốt đều mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia. Mỹ mong muốn trở thành một phần trong quá trình Việt Nam nỗ lực để trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, cũng như có một nền kinh tế số vào năm 2030 và thực hiện cam kết mạnh mẽ đưa phát thải carbon về 0 vào năm 2050. Với cơ sở đó, Đại sứ Mỹ nhận định việc nâng cấp quan hệ đã phản ánh thực tế hợp tác chặt chẽ giữa hai nước.

Đại sứ Marc E.Knapper nhấn mạnh việc hai nước nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện cho thấy hai nước ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong Tuyên bố chung, hai nước cam kết cùng nhau hợp tác trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, chất bán dẫn, giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực giúp đảm bảo hiện thực hóa mục tiêu của Việt Nam về việc có lực lượng lao động chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trong thế kỷ 21... Việt Nam ngày càng có vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Giờ đây, hai nước đồng hành với nhau và cùng hướng tới tương lai.

Bình luận thêm về mối quan hệ Mỹ-Việt Nam là quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững, Đại sứ Marc E.Knapper thông tin mối quan hệ mới nâng cấp của hai nước, trước hết là sự phản ánh vai trò quan trọng của Việt Nam đối với an ninh và thịnh vượng của chính nước Mỹ. Điều đó có nghĩa là hai nước đang cùng nhau hợp tác và hữu nghị hơn nữa vì thịnh vượng, an ninh của nhân dân hai nước; vì vai trò, tương lai của Việt Nam và Mỹ trong khu vực và trên toàn cầu.

Đại sứ Marc E.Knapper cũng chia sẻ về hợp tác kinh tế, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu giữa Việt Nam và Mỹ trong tương lai. Theo Đại sứ, một trong những điểm nhấn của chuyến thăm là "sự đặc biệt cảm động" khi Tổng thống Joe Biden đến Nhà Quốc hội Việt Nam và sau cuộc hội kiến với Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, hai nhà lãnh đạo đã chứng kiến việc trao tặng các kỷ vật chiến tranh giữa hai bên.

"Có một số món đồ thuộc về quân nhân Mỹ nhưng chúng tôi đã bàn giao để Việt Nam lưu trữ. Khoảnh khắc đó cũng rất đặc biệt với cá nhân tôi. Tôi đã gọi đó là "Ngày của cha" bởi các bạn biết đấy, cha tôi là một cựu binh. Sự hợp tác giữa hai quốc gia chúng ta về tìm kiếm hài cốt quân nhân Mỹ và bộ đội Việt Nam mất tích trong cuộc chiến là một điểm sáng, thể hiện sự trọng thị, hợp tác và tình cảm của cả hai bên" - Đại sứ Marc E.Knapper chia sẻ.

Đại sứ Marc E.Knapper cũng nhắc lại "khoảnh khắc đặc biệt" khi Tổng thống Mỹ Joe Biden cùng Đặc phái viên của Tổng thống - ông John Kerry ghé thăm phù điêu cố Thượng nghị sĩ John McCain được đặt bên hồ Trúc Bạch, người đồng nghiệp của cả hai và là nhân vật có ảnh hưởng đặc biệt trong thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Mỹ.

Kết thúc bài phát biểu, Đại sứ Mỹ nhận định chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Joe Biden không chỉ là một dịp để hai bên thúc đẩy các nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, vốn là một nền tảng của quan hệ song phương từ trước khi bình thường hóa, mà còn là cơ hội mở rộng sự hợp tác chặt chẽ đó trong các lĩnh vực khác, bao gồm hợp tác về công nghệ cao.

"Từ những nỗ lực hướng tới hòa giải tới sự hợp tác về công nghệ cao đã thể hiện được toàn bộ phạm vi và chiều rộng của mối quan hệ giữa hai nước. Cùng với đó là những khát vọng rất mạnh mẽ về việc tăng cường hơn nữa tình hữu nghị, làm sâu sắc thêm các lĩnh vực hợp tác hiện có, đồng thời tìm kiếm các lĩnh vực hợp tác mới, tất cả như là một lời khẳng định mạnh mẽ rằng Việt Nam và Mỹ đang cùng nhau hướng tới tương lai. Tương lai của hai nước gắn kết với nhau. Đó là sự phi thường" - Đại sứ Marc E.Knapper nhấn mạnh./.
Yêu nước ST.

 Phản bác quan điểm “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế” Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay.

 Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp cũng hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
Trong đó có lĩnh vực kinh tế. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không làm thay các cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho hoạt động kinh tế, xác định phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng đắn và lành mạnh .
Chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền để thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng chủ trương “phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm”. Lãnh đạo kinh tế của Đảng đã trở thành mắt xích chủ yếu, quan trọng, thiết thực và quyết định nhất trong toàn bộ đường lối lãnh đạo, trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua bao gian nan, thử thách, được cả thế giới ngưỡng mộ, đặc biệt là trong thời kỳ phải đối mặt với đại dịch Covid-19. Ngân hàng Standard Chartered mới đây đã đưa ra dự báo, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, với tốc độ tăng trưởng 6,7%, tăng trưởng năm 2023 là 7% và Việt Nam tiếp tục có triển vọng tích cực trong trung hạn.
Trong bản Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh khởi đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Fitch Ratings là một trong những tổ chức có cái nhìn lạc quan nhất về kinh tế Việt Nam với dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 7,9% trong năm nay và 6,5% vào năm 2023.
Báo chí quốc tế trong thời gian gần đây đã có nhiều bài đánh giá tích cực triển vọng kinh tế Việt Nam nhờ chính sách ứng phó linh hoạt với Covid-19, hoạt động sản xuất, kinh tế đang ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ. Chuyên trang tư vấn đầu tư ở châu Á Vietnam Briefing của công ty Dezan Shira nhận định, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mới mà Việt Nam tham gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khi Việt Nam mở cửa biên giới, tăng tốc phục hồi.
Các FTA không chỉ giúp phát triển kinh tế, mạng lưới sản xuất, mà còn góp phần nâng cao các tiêu chuẩn lao động. Tờ Reuters cũng có bài viết khẳng định: Nhờ các chính sách linh hoạt của Chính phủ Việt Nam, các hoạt động kinh doanh đã được khôi phục, đặc biệt là từ quý IV năm trước, nhờ đó, ngành dệt may Việt Nam đã hạn chế đáng kể sự gián đoạn chuỗi cung ứng, kỳ vọng tăng mạnh xuất khẩu trong năm nay.
Thực tiễn đã trả lời rõ ràng cho câu hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có nên lãnh đạo kinh tế hay không. Thực tiễn cũng đã khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế" là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này.

 NHỮNG MƯU ĐỒ CHỐNG PHÁ CỦA “CHÍ PHÈO” THỜI HIỆN ĐẠI

 Nếu như “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao là những nạn nhân bị bần cùng hóa của một chế độ thực dân, phong kiến trước cách mạng tháng 8 năm 1945 thì “Chí Phèo” trong thời đại ngày nay là nạn nhân của chính bản thân mình trước những mưu toan, lợi ích thấp hèn và tự đặt biến mình thành một kẻ đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Chí Phèo trong tác phẩm của nhà văn Nam Cao được khắc họa qua những cơn say, còn những “Chí Phèo” thời nay, không cần có rượu, không cần say vẫn có thể chửi, vẫn có thể ăn vạ.
  Chúng ta có thể thấy họ là những con người quen thuộc trên các diễn đàn mạng xã hội, đến các vụ việc tập trung đông người biểu tình trước của cơ quan Đảng, Nhà nước hoặc cơ quan đai diện ngoại giao của nước ngoài gây rối trật tự công cộng, ngăn chặn xe cộ lưu thông trên quốc lộ, ăn vạ... Họ luôn lấy lí do “Vì lợi ích của dân tộc, vì lợi ích của Nhân dân”, họ có những lời nói, việc làm đi ngược lợi ích của toàn dân tộc. Họ lợi dụng các trang mạng xã hội đăng tải thông tin sai trái, không đúng sự thật, một số người làm thơ ca, hò vè, biếm họa, phim ảnh, tiểu thuyết nói xấu chế độ, vu cáo Nhà nước Việt Nam là độc tài, đảng trị, không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do ngôn luận, tự do tôn giáo... Từ đó, họ lập ra các hội như: “Dân oan”, “Nhà báo độc lập”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội bầu bí tương thân”... để tập hợp lực lượng đối lập, kêu gọi sự can thiệp từ nước ngoài vào Việt Nam, đòi thay đổi thể chế chính trị đấu tranh đòi đa nguyên, đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, nhằm tạo ra sự bất ổn về chính trị - xã hội. Cách nhận biết những con người đó chính là những câu từ “chửi bới”, những chiêu trò gây rối thu hút sự chú ý của người dân hiếu kỳ và truyền thông nước ngoài. Họ chửi từ chính sách đối ngoại của đất nước đến các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cả những người dân lên tiếng phản đối bất chấp hay phủ nhận những thành tựu về kinh tế, chính trị, đối ngoại mà Việt Nam đã đạt, đã được quốc tế ghi nhận trong thời gian qua. Khi lực lượng chức năng vận động, thuyết phục và giải thích việc làm của họ đang gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự công cộng, đến cuộc sống thường ngày và sự vận chuyển hang hóa giao thông vận tải thì họ lại lấy quyền tự do ngôn luận, quyền phản biện xã hội, quền con người ra bao biện, vu không lực lượng chức năng, nhà nước Việt Nam vi phạm quyền con người.
          Trên tinh thần xây dựng đất nước, rõ ràng, mỗi người Việt Nam đều có quyền bày tỏ lòng yêu nước của mình, góp ý, phản biện những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Thế nhưng “Chí Phèo” thời nay lại lấy việc phát ngôn tự do, vô lối, xuyên tạc, kích động gây rối, đập phá tài sản, vi phạm pháp luật là những hành động góp ý, tự do ngôn luận, phản biện xã hội, thậm chí là đe dọa, chửi bới những người không cùng quan điểm với họ. Họ ngụy tạo bức tranh sai lệch về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quyền con người tại Việt Nam, phát tán tin giả, dựng chuyện về số “Chí Phèo” đội lốt các nhà “dân chủ”, “nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến” bị chính quyền đàn áp, tra tấn nhằm tạo tâm lý bất bình cho cộng đồng, làm xáo trộn đời sống xã hội, gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ta. Phải thừa nhận rằng, ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng luôn tồn tại những hạn chế, yếu kém nhất định, bên cạnh sự tiến bộ, phát triển, do chế định của điều kiện cụ thể. Vấn đề là mỗi quốc gia sẽ có sự nhìn nhận, khắc phục những mặt hạn chế đó một cách kịp thời, thấu đáo, toàn diện, quyết liệt,... Tại Việt Nam, qua những sự việc gấy rối an ninh, trật tự gần đây của số “Chí Phèo” trên có thể thấy rằng, người dân cũng cần phải có một cái nhìn thấu đáo về “tự do ngôn luận”, “phản biện xã hội” một cách đúng đắn, xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, biết phân biệt đúng - sai, tốt - xấu, xây dựng - phá hoại,... để từ đó tự trang bị, bảo vệ mình trước những kẻ “Chí Phèo” lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng bức xúc của nhân dân để kích động chống phá. Tự do không có nghĩa là tùy tiện, vô lối, muốn làm gì thì làm, tự do ngôn luận, phản biện xã hội đích thực phản ánh năng lực nhận thức và khả năng tự chủ bản thân cả về mặt phát ngôn và hành động. Suy cho cùng, hành động đúng đắn mới là thước đo chính xác về giá trị đích thực của tự do ngôn luận, phản biện xã hội và quyền con người. Không thể nói “tự do nguôn luận”, “phản biện xã hội”, “yêu nước” bao biện cho các hành động lại phá hoại tự do của người khác, tự do xã hội theo kiểu của “Chí Phèo” được.
          Từ chỗ là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới, Việt Nam đã phát triển vượt bậc, trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp, với GDP đầu người đạt khoảng 2.800 USD năm 2019, hơn 45 triệu người thoát nghèo; là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và năng động nhất trong khu vực. Tính theo quy mô tổng sản phẩm quốc nội, Việt Nam là nền kinh tế đứng thứ 46 trên thế giới. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), GDP của Việt Nam hiện nay ước đạt hơn 340 tỷ USD, vượt Singapore, Malaysia, đứng thứ tư trong khu vực.. Chính vì lẽ đó. Tại phiên khai mạc Đại hội XIII của Đảng sáng 26/1/2021, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định "Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta..." Một lần nữa khẳng định con đường đúng đắn đi lên Chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam và những thành tựu của Việt Nam đã đạt được./.

Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2023

THÔNG ĐIỆP TỪ LỊCH SỬ: CÂU CHUYỆN LẠ VỀ BẢN LĨNH TRẦN QUỐC TUẤN

 Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1228 - 1300) là người được đông đảo nhân dân tôn thờ, gọi ông là “Đức Thánh Trần”. Tuy nhiên, cuộc đời của vị thánh này không chỉ là những chiến công, những sự kiện được huyền thoại hóa. Ở ông, còn một khía cạnh rất con người, có vẻ như xa lạ với danh tướng này.

Có thể nói, những Trần Quang Khải, Trần Khánh, Trần Nhật Duật, hay Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái… là tướng của một chiến dịch, một trận đánh. Còn Trần Quốc Tuấn khác hẳn, ông là vị tướng tổng chỉ huy toàn bộ cuộc chiến, người đảm bảo cho thắng lợi cuối cùng.
Nhắc lại như vậy để thấy rõ hơn vai trò của vị tướng này trong kháng chiến chống Nguyên Mông, đặc biệt là ở lần 2 và 3, khi ông giữ vai trò tổng chỉ huy. Nhắc lại, để thấy không đơn giản các vua nhà Trần sử dụng Trần Quốc Tuấn ở vị trí cao nhất trong quân đội; cũng để thấy, mỗi tính cách, bản lĩnh, kiến thức khoa học quân sự của vị tướng này được hun đúc từ nhỏ. Do đó, có những hiện tượng ông bị phê phán, nếu nhìn lại, ở góc độ khác đó là phần tất yếu của con người này, tạo nên tính cách lỗi lạc trong chiến đấu.
Quyết bảo vệ tình yêu
Đời nhà Trần, chuyện hôn nhân, yêu đương được các sử gia phong kiến cho là có nhiều điều đáng bàn cãi, những huyền thoại được xây dựng thêm phần hấp dẫn. Tuy nhiên, trước hết, đây là thời kỳ “Tam giáo đồng nguyên”, Nho giáo chưa chiếm ưu thế. Nhưng khi nhìn nhận vấn đề, các sử gia phong kiến đứng dưới góc độ Nho giáo để phê phán.
Trần Quốc Tuấn đem lòng yêu công chúa Thiên Thành, con của vua Trần Thái Tông. Thời nhà Trần, hoàng tộc thường gả con cho nhau. Thiên Thành là con vua Trần Thái Tông, tức là con chú - con bác với Trần Quốc Tuấn.
Đầu năm 1251, Trần Thái Tông chuẩn bị gả công chúa Thiên Thành cho Trung Thành vương (chưa rõ tên), nên đã cho công chúa đến ở trong dinh Nhân Đạo Vương (cha của Trung Thành vương, cũng chưa rõ tên). Ngày rằm tháng Giêng, Trần Thái Tông mở hội lớn 7 ngày 7 đêm cho người trong ngoài ý muốn cho công chúa làm lễ kết hôn với Trung Thành Vương.
Trước tình thế người yêu sắp bị gả cho người khác, Trần Quốc Tuấn đang đêm vượt tường để vào với nàng. Sách sử kể lại: “Công chúa Thụy Bà liền đến gõ cửa điện cáo cấp. Người coi cửa vội vào tâu. Vua hỏi việc gì. Thụy Bà trả lời: “Không ngờ Quốc Tuấn điên cuồng càn rỡ, đêm vào chỗ Thiên Thành ở, Nhân Đạo Vương đã bắt giữ lại rồi, sợ bị giết, xin bệ hạ thương cho, sai người đến cứu”.
Vua vội vàng sai nội nhân đến nhà Nhân Đạo Vương. Đến nơi thấy im lặng, bèn vào chỗ Thiên Thành ở thì thấy Quốc Tuấn ở đấy. Nhân Đạo bấy giờ mới biết. Hôm sau, Thụy Bà dâng 10 mâm vàng sống, tâu rằng: “Vì vội vàng không sắm đủ lễ vật”. Vua bất đắc dĩ đem công chúa Thiên Thành gả cho Quốc Tuấn, lấy 2.000 khoảnh ruộng ở Ứng Thiên để trả cho Trung Thành Vương” (Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên, Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, NXB Văn học 2009, trang 280).
Ở đây, chúng ta nếu tinh ý sẽ thấy cuộc “vượt tường tìm đến của người yêu” của Trần Quốc Tuấn dường như có sự giúp sức, đồng tình của Công chúa Thụy Bà (chị ruột của vua cũng là cô ruột Trần Quốc Tuấn, người nuôi Trần Quốc Tuấn từ nhỏ). Bởi lẽ, bà tâu với vua Trần Quốc Tuấn bị Nhân Đạo Vương bắt và sắp bị giết để vua can thiệp khẩn cấp; thực tế khi đến nhà của Nhân Đạo Vương thì chính vị này cũng chưa biết chuyện gì xảy ra. Hơn thế, ngay sáng hôm sau Công chúa Thụy Bà đã có sẵn 10 mâm vàng để xin cưới cho Quốc Tuấn. Đây có vẻ như có sự sắp đặt từ trước. Thêm nữa, Công chúa Thiên Thành rõ ràng là đã đồng tình cho sự gặp gỡ Trần Quốc Tuấn nên mới im lặng, không có động thái phản đối.
Về sự việc này, sử thần Ngô Sĩ Liên phê phán Trần Quốc Tuấn nặng nề: “Con gái vua đi lấy chồng, tất phải nhờ chư hầu cùng họ đứng làm chủ hôn, theo lễ thì phải thế. Thái Tông đem Thiên Thành công chúa gả cho Trung Thành Vương mà công chúa lại về với Hưng Đạo Vương (Quốc Tuấn), việc hôn nhân không chính quá lắm vậy” (Sđd, trang 280).
Tuy nhiên, ở đây chúng ta thấy, Trần Quốc Tuấn có dũng khí để bảo vệ tình yêu của mình, bảo vệ người yêu. Do vậy, cô ruột của ông, cũng như nhà vua, buộc phải chấp thuận cuộc hôn nhân này. Tính cách mạnh mẽ, quyết đoán của Trần Quốc Tuấn bộc lộ ngay từ thời trẻ. Phải chăng đây cũng là yếu tố giúp các vua Trần nhận ra tính cách, bản lĩnh của ông, để giao cho ông trọng trách sau này?
Sự nhún mình của người phi thường
Ở các cuộc chiến Đại Việt - Nguyên Mông thời nhà Trần, vai trò của Trần Quốc Tuấn là nổi bật, đó là điều không ai bàn cãi. Tuy nhiên, cách đánh của vị tướng này rất khó để nắm bắt. nếu như cuốn binh pháp của ông “Vạn Kiếp tông bí truyền thư” của ông không thất lạc, người đọc sẽ rõ hơn về tư duy chiến lược của ông, binh pháp của ông.
Người đọc sử chỉ thấp thoáng thấy tư duy, quan niệm về chiến tranh, về giữ nước của danh tướng này qua lần ông trò chuyện với vua Trần Anh Tông khi ông ốm nặng và sắp qua đời; và khi đọc lời tựa “Vạn Kiếp tông bí truyền thư” của Trần Khánh Dư...
Còn nhiều điều rất khó lý giải về tư duy của danh tướng này, như việc ông cho cắm cọc ở sông Bạch Đằng trong kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 3 là cọc hướng vào thượng nguồn, nhằm chặn đường rút của địch, khác với bãi cọc của Ngô Quyền là chặn đường tiến công của thuyền địch. Tại sao Trần Quốc Tuấn lại lường trước được là địch sẽ tháo chạy?
Nhiều nguyên nhân để dẫn đến thắng lợi của Đại Việt trước quân Nguyên Mông, như: Vua - tôi, quân - dân đồng lòng; khí hậu khắc nghiệt khiến quân Nguyên Mông mắc bệnh; quân giặc thiếu lương thực vì bị Đại Việt dùng kế “thanh dã” - vườn không nhà trống, rồi đánh phá thuyền lương…
Nhưng trên hết là tài dùng binh của quân nhà Trần từ cách hành binh, lúc thoái binh cũng như lúc phản công; sự bài binh bố trận hợp lý; sự chuẩn bị quân lương khoa học; sự tuyển mộ và rèn binh kịp thời; sử dụng quân tướng chuẩn xác… Trong đó, cách dùng binh mềm dẻo, tấn - thoái vô cùng hợp lý, đúng thời điểm của Đại Việt trước sức mạnh tưởng không gì cản nổi của quân Nguyên Mông là điều khiến ngay cả địch cũng bất ngờ. Cách đánh này, đương nhiên phần lớn là của chủ tướng - tổng chỉ huy quân đội Trần Quốc Tuấn.
Câu chuyện dưới đây minh chứng tinh cách khi nhu, khi cương của Trần Quốc Tuấn. Đầu năm 1281, tức trước cuộc chiến Đại Việt - Nguyên Mông lần thứ 2, hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt sai Sài Xuân (có sách viết là Sài Thung) đem ngàn quân hộ tống nhóm Trần Di Ái về nước. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Xuân kiêu ngạo vô lễ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh. Quân sĩ Thiên Trường ngăn lại, Xuân dùng roi ngựa quất họ bị thương ở đầu... Vua (Trần Nhân Tông) sai Trần Quang Khải đến sứ quán khoản tiếp.
Xuân nằm khểnh không ra, Quang Khải vào hẳn trong phòng, hắn cũng không dậy tiếp. Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn nghe thấy thế, tâu xin đến sứ quán xem Xuân làm gì. Bấy giờ Quốc Tuấn đã gọt tóc, mặc áo vải đi đến sứ quán, vào trong phòng. Xuân đứng dậy vái chào mời ngồi. Mọi người đều lấy làm lạ, có biết đâu gọt tóc, mặc áo vải là vẻ hòa thượng phương Bắc. Khi đã ngồi yên, pha trà mời uống, người hầu của Xuân cầm cái tên đứng sau Quốc Tuấn, chọc vào đầu Quốc Tuấn đến chảy máu, nhưng sắc mặt Quốc Tuấn vẫn không hề thay đổi. Khi trở về, Sài Xuân tiễn đến cửa" (Sđd, trang 300).
Đọc đoạn này thấy rõ, Trần Quốc Tuấn nhún mình như thế nào và bản lĩnh cứng cỏi như thế nào. Điều lạ ở đây là ông không phải là nhà ngoại giao chuyên nghiệp như Trần Quang Khải hay Trần Nhật Duật, nhưng ông tỏ ra rất khôn khéo (mặc áo, cạo tóc như hòa thượng) và tỏ cho kẻ ngạo mạn biết đảm lược của người Đại Việt như thế nào. Đây cũng là lần bộc lộ tính cách của một danh tướng cương hay nhu hợp lý trong một con người phi thường.
Hai câu chuyện nhỏ về Trần Quốc Tuấn không thể lột tả đầy đủ con người của ông. Danh tướng này là con người hết sức quyết liệt, cũng là người biết nhún nhường đúng lúc. Tính cách này của ông trong đời thường đã giúp ông bảo vệ được tình yêu, hạnh phúc gia đình của mình; trong chiến đấu đã khiến quân thù không thể thực hiện ý đồ chiến lược của chúng và đã giúp Đại Việt thắng lợi ở những trận đánh cuối cùng của cuộc chiến.
Danh tướng Trần Quốc Tuấn là con người hết sức quyết liệt, cũng là người biết nhún nhường đúng lúc. Tính cách này của ông trong đời thường đã giúp ông bảo vệ được tình yêu, hạnh phúc gia đình của mình; trong chiến đấu đã khiến quân thù không thể thực hiện ý đồ chiến lược của chúng và đã giúp Đại Việt thắng lợi ở những trận đánh cuối cùng của cuộc chiến./.
St

HOA HẬU BẢO NGỌC NHẬN LÀM CHỊ NUÔI CỦA MỘT HỌC SINH LỚP 8 CÓ BỐ MẸ VÀ EM TRAI KHÔNG QUA KHỎI TRONG VỤ CHÁY CHUNG CƯ KHƯƠNG ĐÌNH

 Bé gái này là học sinh lớp 8. Cô bé kể lại ở thời điểm phát hiện ra cháy, ban đầu cả gia đình gồm bố, mẹ, em trai và em đều chạy cùng nhau nhưng sau đó vì khói lửa nên đã lạc mất.

Khi em đang lạc bố mẹ ở hành lang tầng 7 thì may mắn được một gia đình kéo tay vào bên trong. Họ cho em trùm khăn ướt, khăn mặt nhúng qua nước để dễ thở hơn. Em sống sót sau vụ cháy nhưng không may bố mẹ và em trai của em đều không qua khỏi.
Hoa hậu Lê Nguyễn Bảo Ngọc đã trực tiếp đến thăm hỏi trường hợp của em và chia sẻ từ hôm nay cô có thêm một người em dù không phải máu mủ ruột thịt:
"Chị không làm được nhiều, cũng không thể chữa khỏi vết thương lòng này trong em. Nhưng chị sẽ cố gắng làm một người bạn đồng hành để em có một điểm tựa trong hành trình trưởng thành sắp tới. Chị sẽ lo cho em ăn học đến khi em tròn 18 tuổi. Em là một cô gái mạnh mẽ với nhiều hoài bão, nên nếu sau đấy em vẫn cần chị, thì chị vẫn sẽ ở bên.
Em nói rằng em muốn học tiếng Anh, ba mẹ cũng từng mong ước em có thể đi du học,... Trước những nguyện vọng của em và gia đình, chị sẽ hướng dẫn em hết mình, và chị cũng mong hai chị em mình sẽ cùng nỗ lực để biến ước mơ của em - cũng là ước mơ của chị trở thành sự thật, em nhé!"
St

NGUYỄN CHÍ VỊNH - VỊ TƯỚNG CON NHÀ TƯỚNG

 Bài viết về Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh với một số tư liệu lần đầu tiên công bố của Tiến sĩ Lê Mạnh Hà, con trai Đại tướng Lê Đức Anh dành riêng cho VietNamNet.

Những năm 1960 nhà tôi ở 91 Lý Nam Đế, Hà Nội. Phía bên kia đường, chếch khoảng 100m là nhà của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Phố Lý Nam Đế được gọi là phố lính vì có rất nhiều khu tập thể quân đội và nhà riêng có các gia đình ở chung. Ngôi nhà 91 Lý Nam Đế lúc đầu chỉ có gia đình tôi và gia đình bác Đồng Sỹ Nguyên. Gia đình tôi chuyển đến đây từ nhà 32 Điện Biên Phủ sau khi ba tôi - Đại tá Lê Đức Anh đã đi B (vào Nam chiến đấu). Lúc đó ông Lê Đức Anh và ông Đồng Sỹ Nguyên đều đã là Phó Tổng tham mưu trưởng nên được chuyển đến nhà rộng hơn.
Nhà bác Nguyễn Chí Thanh là một bí ẩn đối với chúng tôi vì là nhà của Đại tướng kia mà. Cha tôi là Đại tá đã là cấp to so với bố mấy đứa trong lớp. Một lần bọn trẻ chúng tôi đi học về đi qua nhà bác Nguyễn Chí Thanh. Mấy thằng nhóc nhắm một mắt nhìn qua khe hở hàng rào thấy một cậu bé đang ngồi học, có đứa thì thào: “con ông Nguyễn Chí Thanh đấy”. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy anh Vịnh chính là hôm đấy.
Chúng tôi lớn lên, đi bộ đội, học trường quân đội, ra trường phục vụ quân đội. Con đường của rất nhiều con nhà lính thời chống Pháp, chống Mỹ là thế. Các cụ lúc đấy định hướng tương lai cho con cái rất rõ và giản dị: đi bộ đội để bảo vệ Tổ quốc và học kỹ thuật để xây dựng đất nước theo phương châm khoa học-kỹ thuật là then chốt. Không ai nói đến chức tước, bổng lộc mà chỉ nói về chiến đấu, học hành.
Thời kỳ chúng tôi phục vụ quân đội là lúc cuộc chiến ở Campuchia rất khốc liệt và tiếng súng vẫn nổ ở biên giới phía Bắc. Anh Vịnh xin các đồng chí lãnh đạo và xin trực tiếp Tư lệnh chiến trường Campuchia là Đại tướng Lê Đức Anh sang mặt trận nóng bỏng này.
Anh Vịnh rất thân Đại tá Nguyễn Bá Ngọc, bí thư của Đại tướng Lê Đức Anh (lúc đó thư ký của lãnh đạo bộ quốc phòng được gọi là bí thư). Đại tá Ngọc chính là người đội trưởng đội trinh sát luồn sâu bắt liên lạc với lực lượng vùng 20 của ông Chea Sim (sau này là Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch Đảng nhân dân Campuchia) vào tháng 9/1978.
Cuộc gặp với ông Sáu Nam
Anh Vịnh kể trực tiếp với tôi và nhà báo Lương Thị Bích Ngọc vào năm 2018:
Mình biết ông Sáu Nam từ năm 83, qua ông Sáu Ngọc, thư ký ông Sáu Nam. Năm 83 sau khi tốt nghiệp sĩ quan trong nước thì mình được chú Văn Tiến Dũng (lúc đó là Bộ trưởng Quốc phòng) bố trí cho đi Liên Xô. Sau một thời gian học để chuẩn bị đi, mình nhận ra rằng việc cho đi Liên xô là sự ưu đãi của Nhà nước chứ mình chưa đủ điều kiện (học sĩ quan ra thì chưa có trình độ đại học, ngoại ngữ không đủ). Mình nghĩ: “Xin thôi và xin ra mặt trận”.
Lúc bây giờ, các cán bộ ra trường đều hướng về hai mặt trận: mặt trận Tây Nam và mặt trận phía Bắc. Sĩ quan đều muốn ra mặt trận, vô tư, đơn giản. Mình gặp chú Văn Tiến Dũng, xin đi đánh giặc. Ông Văn Tiến Dũng bảo: “Không được, về đi học đi”. Mình buồn lắm, trong lúc ngồi uống rượu, tâm sự với ông Sáu Ngọc: “Em buồn lắm, học thì không học được, làm gì cũng không đến nơi đến chốn mà xin đi mặt trận thì không được”.
Ông Ngọc bảo: Sang Campuchia, mày gặp ông Sáu Nam (Đại tướng Lê Đức Anh) đi.
Ông ấy ở đây, ngay trạm 66. Từng thấy chưa từng gặp. Lúc ấy chỉ nghe ông ấy lừng danh từ hồi năm 1973, chiến trường miền Tây Nam bộ. Khi ông lên thẳng từ Đại tá lên Trung tướng.
Nhưng gặp rất khó, một trung uý mới ra trường, ông ấy thì lừng danh như thế.
Mình từng có một quá khứ đánh nhau, ham chơi. Nhưng 3 năm ở trường thông tin thì mình rèn luyện kinh khủng lắm: tốt nghiệp thủ khoa, kết nạp Đảng, đội trưởng đội văn nghệ, đọc nhiều lắm…Nhiều năng lượng nhưng chưa được dùng, các bác, các chú vẫn cứ xếp mình vào cái loại “cần phải đi học tiếp”. Ông Ngọc bảo: “Phải liên lạc với ông Sáu”.
- Nhưng ông ấy có tiếp em không?
- Tao sẽ nói mày là con ông Thanh!
Ngay hôm sau, ông Ngọc hớt hải bảo: “Mày vào đi”.
Hôm đó, ông Sáu Nam ngồi ở phòng nho nhỏ ở trạm 66. Vừa nhìn thấy mình, ông ấy cười rất hiền. Rồi nói: “Vào quân đội là tốt đấy cháu ạ”.
Công việc thế nào? Mẹ cháu sao rồi?
Ấn tượng đầu tiên là ông vô cùng hiền hậu, vô cùng gần gũi, vô cùng tình cảm. Tôi vẫn cứ nghĩ là chưa chắc Mạnh Hà đã có những khoảnh khắc ông ấy dành tình cảm như vậy; vì tôi là con ông Thanh mà ông Thanh đã chết rồi.
- Tôi nói với ông là mẹ cháu đã mất, nhà thì bọn cháu đã trả rồi. Ông gằn mặt một chút: “Sao lại trả?”
Tôi nói: Nhà rộng quá, bọn cháu không ở như nhà hoang, chẳng ở làm gì. Mẹ cháu dặn trả thì chúng cháu trả.
Lúc ấy trông nét mặt ông có vẻ không vui, ông nhíu mày.
Tôi kể năm 1976 đi bộ đội thế nào, đánh nhau thế nào…Ông cười rất khoái, không cáu. Như chuyện đánh nhau ở Thanh Hoá, đảo ngũ 2,3 lần. Không định kiến. Không như một số người, họ nghe đến tên thằng Vịnh là ghê hết cả người rồi, không để cho mình kể thoải mái.
Ông nói: Sao không đi Liên Xô mà đi chiến trường?
Cháu định xin chú cho cháu đi đánh nhau ở Campuchia. Cháu có nghe chú Phạm Văn Trà ở sư 330 (ông Ngọc xúi nói như thế) – Tây Bắc Campuchia …
Ông ấy nghĩ một lúc rồi nói: Việc cháu muốn đi chiến trường Campuchia để rèn luyện, tham gia công tác, chiến đấu thì chú ủng hộ. Nhưng có 2 vấn đề: một, xem làm ở đâu cho phù hợp năng lực. Hai, chú phải xin ý kiến chú Văn Tiến Dũng.
Khoảng một tuần sau thì chú Văn Tiến Dũng gọi tôi đến hỏi: “Cháu nghĩ kỹ chưa?”. “Cháu đi là cháu không quay lại, cháu không đảo ngũ đâu”. Ông ấy bảo: “Chú Lê Đức Anh nói là sẽ đào tạo cháu nên người và không để cháu hi sinh ở chiến trường. Cháu về bàn với chị Hà”.
Bẵng đi khoảng 2 tuần, không có liên lạc gì thì Cục cán bộ gọi đến bảo: hôm nay cháu sẽ gặp Cục trưởng Cục 2 (cục tình báo quân đội).
Ông Phan Bình, cục trưởng cục 2, buổi tối đạp xe đến nhà mình. Ông ấy nói với mình và chị Hà: “Chú Lê Đức Anh quyết định cháu về mặt trận 719. Chú đã chọn cho cháu một người chỉ huy trực tiếp mà chú Lê Đức Anh trực tiếp chỉ là ông Ba Quốc”.
Bước ngoặt của cuộc đời thanh niên nghịch ngợm, cứng đầu Nguyễn Chí Vịnh chính là quyết định này.
Tình báo quân đội và đội quân nhà Phật
Chiến tranh biên giới Tây Nam rất khốc liệt và kéo dài. Từ 30/4/1977 đến cuối năm 1978 là giao tranh ở biên giới. Mười năm sau đó (1979-1989) là giúp bạn lật đổ chế độ diệt chủng và truy quét tàn quân Khmer đỏ. Sau năm 1989 vẫn còn các hoạt động hỗ trợ đảm bảo an ninh. Vai trò của tình báo quân đội trên chiến trường là vô cùng quan trọng. Đại tướng Lê Đức Anh có một bản đánh giá sâu sắc về tình báo quốc phòng nói chung và về ông Ba Quốc nói riêng từ thời đánh Mỹ đến thời đánh Pol Pot. Thông tin của tình báo chiến lược đã giúp lãnh đạo ra những quyết định chính xác, xoay chuyển cục diện chiến trường.
Quân tình nguyện Việt Nam có thể chấp nhận thương vong nhưng không đánh tiêu diệt mà chỉ phá rã lực lượng địch là chủ trương mang tính chiến lược và vô cùng nhân đạo được hình thành từ thực tế chiến trường và ý kiến thông tin, nhận định của tình báo quốc phòng. Trích đoạn ý kiến trong bản đánh giá về công tác tình báo của Đại tướng Lê Đức Anh:
“Khi có quyết định của Bộ Chính trị đưa quân sang Campuchia và sau ở lại giúp bạn. Tư lệnh chiến trường thực hiện nghiêm chỉ thị của Bộ Chính trị nhưng điều chỉnh cho sát với thực tiễn: quân tình nguyện Việt Nam không đánh tiêu diệt mà chỉ phá rã lực lượng của Pôn Pốt. Việt Nam cũng không xây dựng chính quyền quân quản của ta mà hỗ trợ cho bạn, giúp bạn mạnh lên để tự quản lý đất nước.
Và từ chỗ đó, Việt Nam chấp nhận có thể thương vong nhưng không đánh tiêu diệt. Bắt tù binh, không được giết, cũng không cầm tù mà cho về quê. Dưới thời Pôn Pốt nhân dân sống như nô lệ, ăn đói, mặc rách, sống cơ cực, chỉ lao động và chờ chết. Quân đội nhân dân Việt Nam cứu họ, cứu đói, cứu lụt, giải thoát dân khỏi Pôn Pốt và từ những người này xây dựng lực lượng cách mạng Campuchia, giúp Campuchia hồi sinh dân tộc, khôi phục đất nước như trước ngày Pôn Pốt lên nắm quyền. Kêu gọi những người trong hàng ngũ Pôn Pốt về quê sum họp gia đình và những người này cùng những dân Campuchia đi gọi chồng con họ về quê sinh sống cùng gia đình.
Việc đó khó lắm. Ta có một thái độ khoan dung không ai tưởng tượng được. Vua sãi Campuchia từng nói: ‘Nhân dân Campuchia luôn nhớ mãi quân đội Việt Nam, một đội quân nhà Phật, từ đất Phật xa xôi về cứu lấy dân tộc Campuchia’.
Sở dĩ Quân đội ta làm được như vậy là vì có những người cung cấp thông tin chính xác, trong sáng, không hận thù mà vì chân lý, vì dân tộc, vì nhân loại. Trong thành công này, ngành tình báo đóng góp to lớn lắm, trong đó có sự đóng góp nổi bật của Ba Quốc”.
Tình báo quân đội cũng góp phần không nhỏ giúp bạn loại trừ các nguy cơ khủng bố, ám sát. “Đội đặc nhiệm có 5 người ở Phnom Pênh đã giúp bạn bắt hết lực lượng định thủ tiêu các lãnh đạo Campuchia, đội đã cứu thoát ban lãnh đạo. Có 5 người thôi mà họ làm được như vậy đấy. Họ là học trò của Ba Quốc”, Đại tướng Lê Đức Anh viết.
Nguyễn Chí Vịnh đã nên người (theo cách nói của anh) khi chiến đấu trong một đội quân như vậy dưới sự dìu dắt trực tiếp của người thầy Ba Quốc và các người thầy khác như anh đã kể lại trong cuốn “Người Thầy”. Khi anh Vịnh viết cuốn sách “Người Thầy”, rất tiếc tôi đã không kịp phối hợp để đưa nội dung bản đánh giá về tình báo quốc phòng về ông Ba Quốc của Đại tướng Lê Đức Anh vào sách.
Ở nơi xa, các vị tướng đã gặp nhau
Tôi không nói về thành tích, công trạng của tướng Nguyễn Chí Vịnh. Việc này có đồng đội, cấp trên của anh ghi nhận, đánh giá. Tôi không biết các chiến sĩ tình báo mà Đại tướng Lê Đức Anh ghi nhận chiến công của họ trong bản đánh giá trên là ai và có lẽ mãi mãi chúng ta không biết được. Lúc nhỏ, trẻ con đứa nào cũng say mê nghe chuyện tình báo. Vinh quang nhưng đắng cay. Trở về được là vinh quang. Nếu không trở về, có những việc chỉ một mình họ và cấp trên của họ biết và đôi khi phải “chết trong ô nhục” vì ta thì tưởng là địch mà địch thì xác định là ta.
Trong các cuộc trò chuyện, Nguyễn Chí Vịnh không ngần ngại nhắc đến quá khứ nghịch ngợm của mình. Tôi nghe không ít những lời ác ý nhắm vào anh về quá khứ và trong công việc, kể cả khi anh đã nằm xuống. Trong cuốn “Người Thầy”, Nguyễn Chí Vịnh cũng nhắc đến “sóng gió” của ngành tình báo và của cả cá nhân anh vào năm 2000. Anh nghĩ chỉ một vài tháng hoặc dài lắm 1-2 năm sóng gió sẽ qua nhưng phải mất 5-6 năm sau sóng gió mới thật sự lắng xuống.
Trong chiến tranh, ta chủ động đánh địch, gian khổ bao nhiêu cũng thanh thản lạc quan. Ngược lại, những cuộc tấn công ác ý, tấn công gây chia rẽ nội bộ, bôi nhọ và hạ nhục lại do “người mình” chủ động thực hiện mới thực sự gây hại.
Đúng là Nguyễn Chí Vịnh được nhiều lãnh đạo quan tâm, đào tạo nhưng nếu không dựa vào năng lực, phẩm chất cá nhân thì anh không thể “nên người”.
“Ông Sáu Nam chỉ tin khi nhìn vào công việc. Còn nói tin là vì con ông Thanh, còn lâu. Công việc mà làm. Thái độ của mày trước vấn đề này, vấn đề kia chứ không phải mày làm cái gì?
Ông ấy nhạy cảm về con người. Nhạy cảm về những thứ giả dối. Đặc biệt là người cộng sản mà giả dối. Ông bảo: Cái thứ giả dối trên đời này là đáng ghét, nhưng cộng sản mà giả dối là đáng ghét, đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất”, anh Vịnh kể như vậy về Đại tướng Lê Đức Anh.
Nguyễn Chí Vịnh đã từng bị ông Sáu Nam cho “ngồi chơi” và định đưa ra khỏi ngành tình báo vì có thông tin cho rằng ông Vịnh đã báo cáo sai. Chỉ sau khi được giải oan, ông Vịnh mới được tiếp tục làm việc.
Tôi với Nguyễn Chí Vịnh rất ít gặp nhau, không phải là bạn bè, chưa từng làm việc chung. Những lần gặp gỡ của chúng tôi, dù tình cờ hay có sắp đặt thì câu chuyện chỉ có một chủ đề là về Đại tướng Lê Đức Anh mà do anh Vịnh chủ động nói trước. Anh Vịnh vô cùng kính trọng Đại tướng Lê Đức Anh, từ lời nói đến trong sâu thẳm, trong những cơn say.
Anh viết nhiều bài báo về đại tướng Lê Đức Anh. Anh chủ động mời tôi và một số bạn bè, nhà báo đến nhà anh bàn về xuất bản một cuốn sách kỷ niệm 100 năm ngày sinh đại tướng Lê Đức Anh vào năm 2020.
Tất cả đều vui và nhiệt huyết với việc này. Các bạn trẻ rất tích cực sưu tầm tài liệu, hình ảnh. Đề cương cuốn sách cũng đã hoàn thành. Thế nhưng, tôi quyết định chưa viết và chưa xuất bản vào dịp đó. Anh Vịnh cũng thống nhất với tôi. Các bạn trẻ hơi cụt hứng và tiếc một cơ hội tham gia vào việc đầy ý nghĩa. Lý do của tôi đưa ra là cần chuẩn bị kỹ hơn, đầy đủ hơn, không nên vội. Nhưng trong thâm tâm, với bản tính cẩn thận và chắc chắn, tôi muốn phải có cuốn sách thật hay, thật hấp dẫn và phải rất chính xác, trung thực dựa trên các hồ sơ, tài liệu thật, các sự việc phải được kiểm chứng. Vì vậy, rất cần thời gian chuẩn bị và cơ hội chín muồi.
Anh Vịnh là người đầu tiên đến lúc Đại tướng Lê Đức Anh lâm chung. Tôi và anh đứng bên cửa sổ trước cửa căn phòng trong trạm 66, nơi anh đã gặp ông xin đi chiến đấu. Chúng tôi nói chuyện, nhìn xuống sân với những cây sấu, cây xà cừ anh đã băng qua để đến gặp Đại tướng 35 năm trước. Câu chuyện vẫn chỉ là về con người mà anh yêu mến và kính trọng. Mấy hôm sau anh điện cho tôi: “Anh Hun Sen sẽ sang dự lễ tang”.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: 1914-1967
Đại tướng Lê Đức Anh: 1920-2019
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: 1959-2023
Bây giờ, ở nơi xa đó, các vị tướng đã gặp nhau và mãn nguyện về cống hiến của mình cho Tổ quốc, cho dân tộc, cho đấu tranh và cho hoà bình.
Tiến sĩ Lê Mạnh Hà – con trai Đại tướng Lê Đức Anh
Đồng chí Nguyễn Chí Vịnh báo cáo Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Tổng cục trưởng Vũ Chính và Thiếu tướng Ba Quốc. /.
St


CHÍNH TRỊ GIA KIEV: TỔNG THỐNG ZELENSKY SẼ KHIẾN MỘT BỘ PHẬN ĐÁNG KỂ ĐÀN ÔNG UKRAINE BỊ HỦY DIỆT NẾU TIẾP TỤC CHIẾN SỰ

 "Có một nhóm người - đây là phe chiến tranh của Zelensky và đoàn tùy tùng của ông ta. Họ chủ trương chiến đấu cho đến người Ukraine cuối cùng. Nếu chúng ta tính đến những tổn thất phải gánh chịu trong hơn một năm đã qua và dự đoán cho năm rưỡi tới, thì có nghĩa là đàn ông sẽ không còn nữa. Trong hai hoặc ba năm nữa, đàn ông Ukraine sẽ trở thành đồ cổ rất hiếm” - chuyên gia Oleg Soskin lưu ý.

Theo ông Oleg Soskin, tất cả những người phải thực hiện nghĩa vụ quân sự sinh từ năm 1980 đến năm 2000 sẽ bị chết do tình trạng thù địch đang diễn ra. Đồng thời, như ông Soskin nhắc lại, không ai giao cho Zelensky nhiệm vụ kích động chiến tranh và giết hại đồng bào, ông ta được bầu ra để thiết lập hòa bình trong nước.
“Có nghĩa là, ông ta (Zelensky) đã lừa dối, cũng như mọi vấn đề khác”, cựu cố vấn Oleg Soskin kết luận.
Chiến dịch quân sự ở Donbass
Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine vào ngày 24/2. Tổng thống Putin gọi mục tiêu của nó là "bảo vệ những người đã bị chế độ Kiev đàn áp và diệt chủng trong 8 năm qua". Ông lưu ý rằng chiến dịch quân sự đặc biệt là một biện pháp bắt buộc, Nga "không còn cơ hội để làm khác, rủi ro về an ninh đã được tạo ra đến mức không thể phản ứng bằng các biện pháp khác."
Theo ông, Nga đã cố gắng trong 30 năm để thỏa thuận với NATO về các nguyên tắc an ninh ở châu Âu, nhưng để đáp lại, Nga đã phải đối mặt hoặc với sự lừa lọc và dối trá cay độc, hoặc bị gây áp lực và tống tiền, trong khi đó liên minh này bất chấp sự phản đối của Matxcơva lại dần dần mở rộng và tiếp cận với biên giới của Liên bang Nga./.
St