Thứ Hai, 18 tháng 9, 2023

Nhận diện, đấu tranh với biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân - từ chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân của Đảng ta hiện nay

 

Nhận diện, đấu tranh với biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân - từ chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân của Đảng ta hiện nay

TS NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
01:26, ngày 10-09-2023

TCCS - Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân nói riêng; Người đã đưa ra nhiều chỉ dẫn quan trọng về chống chủ nghĩa cá nhân. Trong bối cảnh mới, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng lớn lao của quần chúng nhân dân.

Hội Chữ thập đỏ tỉnh Hòa Bình triển khai chương trình “Chung tay vì sức khỏe cộng đồng” tổ chức phiên chợ nhân đạo, nhằm giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn_Ảnh: TTXVN

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân

Bản chất của chủ nghĩa cá nhân

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, đặc thù đối tượng để chỉ rõ, nêu ví dụ hoặc đưa ra những so sánh phù hợp mô tả, giúp mọi người hiểu thế nào là chủ nghĩa cá nhân. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thuật ngữ chủ nghĩa cá nhân, Người so sánh “chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc”(1), “là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác”(2); “là kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội”(3)... Mặt khác, Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa cá nhân là tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, tách rời, coi thường và đối lập với lợi ích chung của tập thể, cộng đồng, xã hội; thể hiện tập trung ở khuynh hướng cực đoan, làm cho lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, cộng đồng, trái ngược với yêu cầu chăm lo đến lợi ích cá nhân chính đáng; sẵn sàng “đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc”(4) và “chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”(5).

Như vậy, chủ nghĩa cá nhân là hệ thống quan điểm, thái độ, hành vi của chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu lợi ích của chủ thể ấy trên cơ sở tuyệt đối hóa vai trò và lợi ích cá nhân, tách rời và đối lập, làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng, xã hội.

Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

Qua nhiều tác phẩm, bài phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cá nhân, bởi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân rất đa dạng, biến hóa “muôn hình vạn trạng”. Tổng hợp các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể khái quát biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng 10 “căn bệnh” sau:

1- Bệnh quan liêu: nghĩa là trong công việc thì trọng hình thức mà không xem xét toàn diện, không vào sâu vấn đề, không sát với công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng.

 2- Bệnh tham lam: “bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”(6), trong những trường hợp nhất định thường sinh ra tham ô, lãng phí, đây là một thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”, là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân.

3- Bệnh lười biếng: “không chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ”(7) và còn là lười suy nghĩ, ngại làm việc, lười đổi mới, sáng tạo,...

4- Bệnh kiêu ngạo: những người mắc bệnh này thường nghĩ rằng cái gì họ cũng biết, cũng làm được, dẫn đến coi thường tổ chức “xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng”(8).

5- Bệnh hiếu danh: theo Người, “những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”(9).

6- Bệnh “hữu danh vô thực”: loại bệnh này có biểu hiện là “làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch”(10).

7- Bệnh cận thị: nghĩa là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng, “không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ”(11).

8- Bệnh tị nạnh: nghĩa là luôn so sánh hơn thiệt giữa mình với người khác, luôn đòi hỏi sự bình đẳng nhưng thực chất họ “không hiểu rằng: Người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng”(12).

9- Bệnh xu nịnh: biểu hiện của căn bệnh này là “trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu(13); “theo gió bẻ buồm, không có khí khái”(14).

10- Bệnh a dua và kéo bè kéo cánh: biểu hiện của căn bệnh này là chỉ dùng những người bảo vệ lợi ích của mình (dù không có tài); ham dùng người nhà, anh em quen biết, bè bạn; những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực,...

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thứ bệnh trên đều do một thứ “vi trùng độc” là chủ nghĩa cá nhân sinh ra; tất cả cán bộ, đảng viên mắc các loại bệnh này là sa vào chủ nghĩa cá nhân và đều có tội với Đảng, với nhân dân.

Sự cần thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân

Trước tiên, chống chủ nghĩa cá nhân nhằm mục tiêu xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng thời, phát hiện và loại bỏ “căn bệnh” này khỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trước yêu cầu phát triển của cách mạng, nếu cán bộ, đảng viên không được giáo dục, tổ chức tốt, không tự rèn luyện tốt thì sẽ nảy sinh những tiêu cực, thoái hóa xuất phát từ chính chủ nghĩa cá nhân. Do vậy, “để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng”(15), chúng ta phải kịp thời phát hiện và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm: “chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”(16). Vì vậy, để xây dựng và hoàn thiện giá trị đạo đức cách mạng thì nhất thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, đồng thời nuôi dưỡng, bồi đắp tinh thần tập thể.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu “chống”, mà còn phải “trừ bỏ, quét sạch, tiêu diệt” chủ nghĩa cá nhân. “Xây” và “chống” có mối quan hệ hữu cơ với nhau ở chỗ xây dựng đạo đức cách mạng đi đôi với đấu tranh loại bỏ và chống ảnh hưởng xấu của chủ nghĩa cá nhân; xây dựng đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa gắn liền với việc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và các tàn dư tư tưởng. Người phân tích, ví như chúng ta mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới, thì trước khi kê vào phòng, cần phải quét dọn nhà cửa sạch sẽ đã. Do đó, phải “quét sạch” hết chủ nghĩa cá nhân ra khỏi tư tưởng của từng cán bộ, đảng viên thì mới có thể xây dựng được đạo đức cách mạng, con người mới.

Thứ hai, chống chủ nghĩa cá nhân góp phần xây dựng xã hội mới tốt đẹp, đúng bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cần xây dựng xã hội mới, một xã hội “cần, kiệm, liêm, chính”. Xuất phát từ mục tiêu của cách mạng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận diện kẻ thù nguy hiểm nhất, trực tiếp nhất là chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, “chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(17). Nói cách khác, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa... Muốn thành người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phải chống chủ nghĩa cá nhân”(18), bởi chủ nghĩa xã hội hướng tới giải phóng con người khỏi áp bức, bất công và xây dựng nền dân chủ thật sự gắn với sự công bằng, văn minh vì lợi ích chân chính của cộng đồng.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) chỉ rõ: “nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở... Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(19). Đây chính là những biểu hiện tập trung nhất của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do đó, chủ nghĩa cá nhân chính là kẻ địch “nội xâm” của những người cộng sản, là “kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”(20).

Quán triệt quan điểm về chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều văn bản quan trọng để cụ thể hóa chủ trương của Đảng về công tác xây dựng Đảng(21). Để thực hiện tốt quyết tâm chính trị đó, trên cơ sở quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, Đảng và Nhà nước ta trong thời gian tới cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản trong thời gian tới:

Nhóm giải pháp về tổ chức đảng

Trước tiên, “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”(22). Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân chỉ thực sự hiệu quả khi mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng, đường lối của Đảng; tiêu chuẩn, tư cách đạo đức của người cộng sản. Yêu cầu đặt ra là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải chú trọng công tác giáo dục nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên qua tổ chức học tập chính trị kết hợp với rèn luyện trong thực tiễn. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị(23); việc quán triệt phải song song với tuyên truyền sâu, rộng để cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính chất quan trọng của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, từ đó tạo ra sự đồng thuận, quyết tâm, tự giác đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân ở mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”(24) nhằm tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc và có lý, có tình. Đồng thời, Đảng ta cần phát huy vai trò của nhân dân trong hoạt động giám sát, lên án và phê bình cán bộ, đảng viên có biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; có cơ chế khuyến khích việc phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân; làm tốt công tác tiếp nhận, xử lý thông tin và bảo vệ người tố cáo.

Thứ ba, thực hiện “sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”(25) và “kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh”(26). Bởi, chi bộ là tổ chức tế bào của Đảng, tạo thành nền tảng của Đảng, là nơi thể hiện đầy đủ các mặt hoạt động và sức chiến đấu của Đảng. Do đó, yêu cầu đặt ra trong sinh hoạt chi bộ là mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Mỗi đảng viên phải chịu sự quản lý của chi bộ, tham gia sinh hoạt chi bộ nghiêm túc dù ở bất kỳ cương vị công tác nào. Đồng thời, việc thi hành kỷ luật Đảng phải nghiêm minh, tránh bao che hoặc trù dập, trả thù lẫn nhau; kiên quyết sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phần tử cơ hội, thực dụng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân.

Thứ tư, để chống chủ nghĩa cá nhân thì “công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(27), nhằm thể hiện tính răn đe đối với cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Vì vậy, công tác kiểm tra phải được tiến hành một cách có tổ chức, bài bản và khoa học. Không để tạo ra “vùng cấm”, không “ưu tiên” bất cứ cá nhân và tổ chức nào, không mắc “bệnh thành tích”, “bệnh hình thức” trong kiểm tra. Để công tác kiểm tra của Đảng phát huy hiệu quả, cần chú trọng kiểm tra, đánh giá năng lực, phẩm chất đạo đức người đứng đầu trong công tác lãnh đạo, quản lý; đồng thời, tiến hành kiểm tra, đánh giá thái độ tích cực của cán bộ, đảng viên với công việc, với nhân dân; kiểm tra, đánh giá kết quả tu dưỡng đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao của cán bộ, đảng viên.

Cán bộ, đảng viên hướng dẫn đồng bào Pa Dí ở xã Tung Chung Phố, huyện biên giới Mường Khương, tỉnh Lào Cai kỹ thuật trồng quýt cho giá trị kinh tế cao_Ảnh: TTXVN 

Nhóm giải pháp về sự tự ý thức rèn luyện của cán bộ, đảng viên

Trước tiên, mỗi cán bộ, đảng viên cần xác định một cách rõ ràng trong nhận thức, “phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”(28) và “phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”(29). Mỗi cán bộ, đảng viên không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc, cho nhân dân; nếu khi lợi ích chung của Đảng, của Tổ quốc mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân thì sẵn sàng hy sinh lợi ích của cá nhân; kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên “phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”(30). Bởi lẽ, Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và cả dân tộc. Đảng chỉ có sức mạnh nếu giữ vững được mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Muốn làm cho quần chúng phấn khởi, tin tưởng, người đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân; không lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai.

Thứ ba, cán bộ, đảng viên “phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”(31). Mỗi cán bộ, đảng viên cùng với đạo đức cách mạng còn phải có năng lực và trình độ, vì có năng lực mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phải ra sức học tập nâng cao hiểu biết về đường lối, chủ trương của Đảng và trình độ chuyên môn; có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn, lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải đi đôi với hành.

Nhóm giải pháp bảo đảm về điều kiện, môi trường làm việc

Trước tiên, huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an sinh xã hội. Bởi, kinh tế - xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống được bảo đảm, nguồn vốn tích lũy không ngừng tăng cao là điều kiện thuận lợi để hạn chế sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân hiệu quả. Để huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế; phát triển kinh tế nhanh và bền vững, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân...

Thứ hai, xây dựng và triển khai thực hiện quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức công vụ của cán bộ, đả#ng viên. Các chuẩn mực và quy tắc ứng xử công vụ cần được xây dựng theo hướng hài hòa giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, tăng cường tính công tâm và thanh liêm trong giải quyết công vụ; đồng thời, xây dựng quy định về xử lý kỷ luật. Các quy tắc đạo đức phải hướng vào điều chỉnh việc nhận quà biếu, cấm hối lộ và các hình thức lạm dụng công quyền để thu vén lợi ích cá nhân.

Thứ ba, xây dựng môi trường làm việc thân thiện, đoàn kết, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ, đảng viên yên tâm công tác, rèn luyện và phấn đấu. Xây dựng và phát huy lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam. Kịp thời ngăn chặn thông tin sai trái tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhất là trên không gian mạng. Tăng cường quản lý và định hướng thông tin, kịp thời ngăn chặn thông tin xấu, độc, thông tin cổ xúy lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân trên không gian mạng.

Thứ tư, phải “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín với nhân dân”(32).

1- Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đủ sức ngăn chặn các hành vi lạm quyền, chuyên quyền, sử dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân. Xây dựng chế độ giám sát quyền lực thông qua các hình thức: chế độ giám sát của Hội đồng nhân dân, chế độ giám sát trong nội bộ Đảng, chế độ giám sát trong bộ máy nhà nước; có cơ chế khuyến khích người phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện chủ nghĩa cá nhân bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân.

2- Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường và nâng cao hiệu quả việc lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài... Nâng cao chất lượng công tác đánh giá đúng, chính xác chất lượng cán bộ để biết đâu là cán bộ tốt, đâu là cán bộ yếu kém, vi phạm để sàng lọc; nếu vi phạm nghiêm trọng thì loại bỏ. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”.

3- Xây dựng chế tài đủ mạnh đối với hành vi cố ý “không làm” của các cơ quan công quyền, của đội ngũ cán bộ, đảng viên có quyền quyết định chính sách khi họ có đủ thông tin về một chính sách có lợi cho đất nước, cho nhân dân, nhưng cố tình trì hoãn hoặc không quyết định vì mục đích vụ lợi cá nhân, lợi ích nhóm./.

--------------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 295
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 156
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 66
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 156
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 66
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 611
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 29
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 609
(9) (10), (11), (12), (13, (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 295, 297, 297, 300, 301, 301
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547
(16), (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 602, 609
(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 123
(19) Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 12
(20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 469
(21) Như: Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Quy định số 102-QĐ/TW, ngày 15-11-2017, của Ban Chấp hành Trung ương, “Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”,...
(22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547
(23) Như: Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””,...
(24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547
(25), (26), (27), (28), (29), (30), (31) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547
(32) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 178 - 179

Phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

 

TCCS - Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 khẳng định khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong các khâu đột phá chiến lược quan trọng. Vì vậy, để phát triển nhanh và bền vững đất nước cần hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới.

1- Ngày 1-11-2012, Nghị quyết số 20-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đưa ra quan điểm: Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ(1).

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH - CN và ĐMST). Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo”(2). Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 được thông qua tại Đại hội XIII cũng nhấn mạnh: Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính để tăng trưởng kinh tế(3). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước phải dựa trên nền tảng KH - CN và ĐMST, tận dụng tốt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để có sự bứt phá, vươn lên trong một số ngành, lĩnh vực. Trong đó: Một là, làm rõ mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng các biện pháp cụ thể, như về cơ chế, chính sách phát triển, ưu tiên KH - CN, gắn nông nghiệp với công nghiệp và thị trường... Phát triển mạnh khu vực dịch vụ dựa trên nền tảng ứng dụng thành tựu KH - CN hiện đại, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao, như du lịch, viễn thông, logistics, ngân hàng - tài chính; hai là, nhấn mạnh hơn về hạ tầng kết nối liên vùng. Đại hội XIII của Đảng đặt mục tiêu tới năm 2030, cả nước phải có ít nhất 5.000km cao tốc, trong khi từ năm 2000 tới năm 2021, cả nước mới hoàn thành được gần 1.100km cao tốc(4); tiếp đến là hạ tầng năng lượng và hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông, phát triển hạ tầng số đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN; ba là, phát triển kinh tế biển trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó có phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển và đô thị ven biển, trong đó chú ý phát triển kinh tế biển gắn với an ninh - quốc phòng, phát triển kinh tế gắn với môi trường và phòng, chống thiên tai; phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế và đô thị ven biển; bốn là, phát triển đô thị và kinh tế đô thị, nhấn mạnh xây dựng đô thị văn minh, thông minh phù hợp với văn hóa vùng, miền.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm các đơn vị nghiên cứu, sản xuất trong Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC)_Ảnh: TTXVN

Ngày 11-5-2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030. Chiến lược đưa ra ba quan điểm phát triển KH - CN và ĐMST: 1- Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là quốc sách hàng đầu, đóng vai trò đột phá chiến lược trong giai đoạn mới; là động lực chính để thúc đẩy tăng trưởng, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả; là nhân tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội, địa phương và doanh nghiệp; là nền tảng để thực hiện chuyển đổi số quốc gia; góp phần quan trọng nâng cao đời sống nhân dân, phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; 2- Phát triển đồng bộ, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và các hệ thống đổi mới sáng tạo ngành, vùng, trong đó lấy doanh nghiệp làm trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh, Nhà nước thực hiện định hướng, điều phối, kiến tạo môi trường thể chế, chính sách thuận lợi cho hoạt động hiệu quả của toàn hệ thống; 3- Kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa phát triển năng lực nội sinh với tận dụng tối đa cơ hội, nguồn lực bên ngoài, ưu tiên tiếp thu, hấp thụ, làm chủ và ứng dụng nhanh chóng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới, đặc biệt là chủ động, tích cực tiếp cận và khai thác triệt để cơ hội và thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng phục vụ thiết thực đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội, đồng thời chú trọng nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng để tiến tới sáng tạo, tự chủ và cạnh tranh về công nghệ ở những lĩnh vực then chốt mà Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế(5). Chiến lược cũng khẳng định: KH - CN và ĐMST góp phần quan trọng trong xây dựng, phát triển giá trị văn hóa, xã hội, con người Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước; đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII)...

Khoa học - công nghệ và ĐMST là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau: 

Thứ nhất, KH - CN và ĐMST là động lực cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy sự hình thành và phát triển các ngành, nghề, lĩnh vực mới.

Thứ hai, KH - CN và ĐMST góp phần thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; làm thay đổi cơ cấu sản xuất của các ngành, nghề cũng như cơ cấu trong nội bộ từng ngành; theo đó phân công lao động ngày càng sâu sắc hơn.

Thứ ba, KH - CN và ĐMST phát triển cùng với sự xuất hiện của các công nghệ mới, hiện đại,... góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào và làm gia tăng các yếu tố của sản xuất, kinh doanh.

Thứ tư, KH - CN và ĐMST góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế. Với chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao, nhiều sản phẩm mới được tạo ra với công nghệ tiết kiệm nguyên liệu,... sẽ tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và khu vực, mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.

Thứ năm, KH - CN và ĐMST tạo ra việc làm mới và thúc đẩy phân công lao động quốc tế, góp phần tạo ra nền sản xuất chung và thị trường chung của thế giới. Sự thay đổi về công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, vận tải đã tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới.

2- Quan niệm về phát triển bền vững, năm 1980, “Chiến lược Bảo tồn thế giới” đưa ra khái niệm “Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người”; và mục tiêu của phát triển bền vững là “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật”. Thuật ngữ phát triển bền vững ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật.

Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban thế giới về Môi trường và phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” được định nghĩa là “sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Quan niệm này chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển.

Nội hàm về phát triển bền vững được khẳng định lại ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Bra-xin) năm 1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Nam Phi) năm 2002: “Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, bao gồm phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng, chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).

Như vậy, phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời ở các bình diện phát triển: kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định, văn hóa đa dạng và môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững. Do vậy, hệ thống hoàn chỉnh các nguyên tắc đạo đức cho phát triển bền vững bao gồm các nguyên tắc phát triển bền vững trong cả “ba thế chân kiềng” kinh tế, xã hội, môi trường(6).

Việt Nam là quốc gia cam kết mạnh mẽ trong thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững thông qua việc ban hành Định hướng phát triển bền vững Việt Nam năm 2004, Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và gần đây nhất là Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững. Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững có độ bao phủ chính sách rộng lớn, vì lợi ích của mọi người dân trên thế giới, cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Chương trình này đã đưa tầm nhìn cho giai đoạn phát triển 15 năm (2016 - 2030) trên phạm vi toàn cầu với 17 mục tiêu phát triển bền vững và 169 mục tiêu cụ thể, định hướng phương thức thực hiện, các quan hệ đối tác toàn cầu và các hành động triển khai thực hiện. Như vậy, có thể thấy, phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu của toàn cầu.

Việt Nam cũng đã khẳng định chủ trương phát triển KH - CN và ĐMST, ban hành nhiều cơ chế, chính sách tạo thuận lợi cho KH - CN và ĐMST phát triển, có những hành động cụ thể quyết liệt hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững. Điều này được thể hiện trong các văn bản của Đảng(7). Hiến pháp năm 2013 khẳng định phát triển KH - CN là quốc sách hàng đầu; KH - CN giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đến nay, Quốc hội cũng đã ban hành nhiều luật chuyên ngành trong lĩnh vực khoa KH - CN(8). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng định hướng cho việc xây dựng các văn bản pháp luật về phát triển KH - CN và ĐMST bảo đảm cho sự phát triền bền vững đất nước.

Nhìn lại chặng đường vừa qua, KH - CN và ĐMST đã đóng góp quan trọng, toàn diện trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu được Đảng và Nhà nước giao, từng bước khẳng định vai trò động lực trong phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động nâng lên rõ rệt. Chỉ số đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng tăng từ 33,6% bình quân giai đoạn 2011 - 2015 lên 45,2% giai đoạn 2016 - 2020, tính chung 10 năm 2011 - 2020 đạt 39% (vượt mục tiêu 35%). Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa tăng từ 19% năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020, đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ trong đóng góp của xã hội, nhất là từ khu vực doanh nghiệp với tỷ lệ tương đối cân bằng đầu tư từ ngân sách nhà nước là 52% và từ doanh nghiệp là 48%; thể hiện rõ vai trò và những đóng góp quan trọng của lực lượng doanh nghiệp thông qua hoạt động chú trọng đầu tư nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ.

Các doanh nghiệp Việt Nam đã chi khoảng 1,6% doanh thu hằng năm cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Nhiều tập đoàn, doanh nghiệp đã thành lập Quỹ Phát triển KH - CN để đẩy mạnh các hoạt động KH - CN và ĐMST. Việc đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng KH - CN trong các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp đã mang đến diện mạo và sức cạnh tranh mới trên trường quốc tế. Điều đó càng minh chứng cho sự hợp tác công - tư, kết hợp tốt hơn giữa nội lực và ngoại lực trong phát triển KH - CN và ĐMST giải quyết những vấn đề đặt ra từ cuộc sống. Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển KH - CN và ĐMST đã và đang được ngành KH - CN cụ thể hóa, trong đó đặc biệt chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực, cơ chế, chính sách phù hợp, vượt trội, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi nhất để các nhà khoa học nghiên cứu, sáng tạo. Những nghiên cứu KH - CN và ĐMST ngày càng bám sát thực tiễn cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh, giải quyết được ngày càng nhiều nhu cầu phát triển toàn diện trên tất cả lĩnh vực: kinh tế, chính trị, khoa học, giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội...

Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo toàn cầu ghi nhận Việt Nam xếp thứ 54, tăng 5 bậc so với năm 2021. Việt Nam hiện nay có 4 “kỳ lân” công nghệ (VNG, VNPAY, Momo, Sky Mavis) khẳng định vị thế trong “tam giác vàng” khởi nghiệp của Đông Nam Á, bên cạnh Xin-ga-po và In-đô-nê-xi-a. Mô hình Techfest (Ngày hội Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia) được lan tỏa và cộng hưởng trên cả nước, với hơn 10 Techfest vùng, địa phương được tổ chức trong năm 2022. Đồng thời, ra mắt nhiều mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp địa phương và cấp vùng cho thấy sự lớn mạnh của hệ sinh thái là kết quả nỗ lực sau 8 năm kể từ lần đầu tiên Việt Nam tổ chức Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Điều này thể hiện trên bảng xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), trong 12 năm liền, Việt Nam luôn có kết quả đổi mới sáng tạo cao hơn so với mức độ phát triển, cho thấy hiệu quả trong việc chuyển các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra đổi mới sáng tạo(9).

Những kết quả đạt được trong thời gian qua là sự tiếp nối quan trọng các thành tựu, là nền tảng quan trọng tạo đà phát triển trong giai đoạn mới. Giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tình hình thế giới được dự báo sẽ tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Tăng trưởng kinh tế thế giới và thương mại, đầu tư quốc tế có xu hướng giảm; nợ công toàn cầu tăng, thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế tiềm ẩn nhiều rủi ro. Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn biến rất nhanh, đột phá, tác động sâu rộng và đa chiều trên phạm vi toàn cầu. Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Công nghệ số sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, làm thay đổi phương thức quản lý nhà nước, mô hình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và đời sống văn hóa, xã hội. Ở trong nước, nền kinh tế phát triển chưa bền vững, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình là hiện hữu; những đòi hỏi mới của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... Trong bối cảnh mới đầy khó khăn, thách thức đó cần đổi mới tư duy phát triển, đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, nâng cao vai trò KH - CN và ĐMST trong phát triển bền vững đất nước.

Trung tâm Bloom - trung tâm khơi nguồn sáng tạo và xúc tiến đổi mới toàn cầu đầu tiên tại Việt Nam (vốn đầu tư Thủy Điển) chính thức đưa vào vận hành tại Khu Công nghiệp Việt Nam-Singapore IIA, tháng 7-2023_Ảnh: TTXVN

Để KH - CN và ĐMST đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững, trong thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục quán triệt các nội dung KH - CN và ĐMST đã được nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030.

Hai là, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về KH - CN và ĐMST, trong đó chú trọng đến việc xây dựng thể chế vượt trội và chấp nhận rủi ro trong hoạt động KH - CN và ĐMST.

Ba là, tăng cường nguồn lực xã hội đầu tư cho KH - CN và ĐMST nhất là từ doanh nghiệp; chú trọng phát triển khoa học xã hội và nhân văn; gắn kết chặt chẽ, đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn với khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ phục vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước; tiếp tục đầu tư để phát triển, hiện đại hóa hạ tầng và tiềm lực KH - CN và ĐMST.

Bốn là, phát triển nhân lực KH - CN, khuyến khích khu vực tư nhân và các doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân lực KH - CN; tăng cường cơ chế hợp tác công - tư trong đào tạo nhân lực KH - CN. Nghiên cứu, hoàn thiện chính sách thu hút, trọng dụng cá nhân hoạt động KH - CN và ĐMST, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tại Việt Nam.

Năm là, phát triển tổ chức KH - CN công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động KH - CN và ĐMST. Thúc đẩy các hoạt động phối hợp giữa tổ chức KH - CN với doanh nghiệp trong thực hiện các nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Sáu là, phát triển thông tin KH - CN và ĐMST. Theo đó, thúc đẩy sử dụng dữ liệu dùng chung, chia sẻ, mở theo hướng đa ngành, liên ngành và xuyên ngành để nâng hiệu quả đầu ra của các hoạt động nghiên cứu và phát triển. Khuyến khích xây dựng và phát triển khoa học mở.

Bảy là, bảo hộ, thực thi phát triển và khai thác tài sản trí tuệ phù hợp với các hiệp định thương mại mới; xây dựng các văn bản hướng dẫn bảo đảm hiệu quả việc thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, khắc phục tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; thực hiện đồng bộ các giải pháp để tăng nhanh hơn nữa tiến độ xử lý đơn, khắc phục tình trạng tồn đọng đơn.

Tám là, phát triển thị trường KH - CN và hợp tác quốc tế theo hướng lựa chọn đối tác chiến lược trên cơ sở gắn kết chặt chẽ giữa hợp tác về KH - CN và ĐMST với hợp tác về kinh tế, quốc phòng để xây dựng nội dung hợp tác, ký kết các thỏa thuận song phương và đa phương, chú trọng chuyển giao công nghệ phù hợp phục vụ các mục tiêu phát triển quốc gia, ngành, vùng, địa phương./.

-----------------------------

(1) Xem: Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 1-11-2012, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-20-nqtw-ngay-01112012-hoi-nghi-lan-thu-6-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-phat-trien-khoa-hoc-va-576
(2), (3) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 115, 227
(4) Xem: Văn Kiên: “Đến năm 2023, cả nước phải có ít nhất 5.000 km đường cao tốc”, Báo Điện tử Tiền phong, ngày 10-8-2022, https://tienphong.vn/den-nam-2030-ca-nuoc-phai-co-it-nhat-5000-km-duong-cao-toc-post1460413.tpo
(5) Xem: Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Quyet-dinh-569-QD-TTg-2022-Chien-luoc-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-512896.aspx
(6) Xem: Phạm Thị Thanh Bình: “Phát triển bền vững: Nhận thức, kết quả và vấn đề đặt ra”, Trang Thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương, ngày 12-4-2023, https://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/phat-trien-ben-vung-nhan-thuc-ket-qua-va-van-de-dat-ra.html
(7) Chẳng hạn như Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 20-4-1981, của Bộ Chính trị về “Chính sách khoa học và kỹ thuật”; Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30-3-1991, của Bộ Chính trị về “Khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới”; Nghị quyết số 02-NQ/HNTW, ngày 24-12-1996, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Định hướng chiến lược phát triển  khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”; Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 1-11-2012, của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; Kết luận số 50-KL/TW, ngày 30-5-2019, của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về “Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã bổ sung các nội hàm mới, như “Đổi mới sáng tạo”, “Khởi nghiệp sáng tạo”...; Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” nêu rõ vai trò quan trọng của KH - CN và ĐMST đối với phát triển kinh tế, xã hội, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế và quá trình chuyển đổi số quốc gia; Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh vai trò của KH - CN và ĐMST; Hiến pháp năm 2013 khẳng định phát triển KH - CN là quốc sách hàng đầu; KH - CN giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
(8) Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2013; Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006; Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2007; Luật Năng lượng nguyên tử năm 2008; Luật Công nghệ cao năm 2008; Luật Đo lường năm 2011; Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013; Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006, được thay thế bởi Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017
(9) Xem: Khánh Nguyễn: “Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo khẳng định vị thế Việt Nam trong khởi nghiệp”, Báo Điện tử VTV News, ngày 28-12-2022, https://vtv.vn/cong-nghe/khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-khang-dinh-vi-the-viet-nam-trong-khoi-nghiep-20221228181638004.htm

 

Cảnh giác trước thông tin nhiễu loạn về vụ cháy chung cư mini ở Hà Nội

Ngày 13/9, ngay sau khi vụ cháy được dập tắt, Công an TP Hà Nội đã phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ điều tra làm rõ nguyên nhân vụ cháy khiến 56 người tử vong, 37 người bị thương (tính đến 19h tối 13/9) xảy ra tại chung cư mini địa chỉ số 37 ngách 29/70 phố Khương Hạ (phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội). Tuy nhiên, bên cạnh các hoạt động của cơ quan chức năng trong việc điều tra, khắc phục hậu quả và chăm sóc các nạn nhân của thì trên không gian mạng đã xuất hiện nhiều thông tin, bài viết thậm chí là cả video xuyên tạc sự thật, hướng lái dư luận và lợi dụng vụ việc để tiến hành câu like, câu view như: Fanpage Việt Tân đưa tin xuyên tạc, vu cáo việc đoàn lãnh đạo Bộ Công an đang có chuyến thăm và làm việc tại Trung Quốc khi vụ cháy xảy ra; hay bài viết khác của page này cũng chỉ trích Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khi không cho dừng các hoạt động lễ hội, văn hóa, văn nghệ ở nhiều nơi khi vụ cháy xảy ra…

Hay một Facebook có nhiều người theo dõi đã có bài viết về việc nhiều nghệ sỹ ủng hộ nạn nhân vụ hỏa hoạn xong so sánh, quy kết cơ quan chức năng và nhiều lãnh đạo không có hoạt động ủng hộ các nạn nhân trong vụ hỏa hoạn rồi lái sang vấn đề tham nhũng tại Việt Nam và cho rằng nhà nước bỏ rơi các nạn nhân vụ cháy. Thậm chí một Facebook của một diễn viên nổi tiếng cũng lên bài chỉ trích bằng những từ ngữ tục tĩu đối với công tác cứu hộ, cứu nạn của cơ quan chức năng khi vụ cháy xảy ra. Thậm chí nhiều Facebook và Fanpage còn tự ý sử dụng hình ảnh của các nạn nhân để lên bài viết kêu gọi người dân quyên góp ủng hộ các nạn nhân vụ hỏa hoạn thông qua số tài khoản cá nhân mà chưa hề có thông tin nào xác thực về người nhận ủng hộ và xác nhận từ phía chính quyền hay người nhà nạn nhân.

Như vậy, đến thời điểm hiện nay bất chấp những nỗ lực của chính quyền, cơ quan chức năng và người dân chung tay trong việc xử lý, khắc phục hậu quả vụ hỏa hoạn xảy ra tại chung cư mini thì nhiều Fanpage, người nổi tiếng có ảnh hưởng trên không gian mạng lại chọn việc chỉ trích, xuyên tạc vụ việc và gây nhiễu loạn thông tin và gây hoang mạng cho quần chúng nhân dân.

Trước mỗi thông tin, hình ảnh có nội dung xuyên tạc, nhiễu loạn về vụ hỏa hoạn đang được lan truyền trên không gian mạng người dân cần tỉnh táo, suy nghĩ xem những tin tức, hình ảnh đó khởi nguồn thế nào, ai phát ra, liệu có đủ khả năng tin cậy? Nếu những tin tức đó mang đến suy nghĩ tiêu cực, cần phải suy xét thận trọng, tránh việc ấn like hay chia sẻ, bình luận tạo hiệu ứng lan truyền tin giả, độc hại.

Phải cẩn trọng khi tiếp nhận thông tin trên không gian mạng, nhất là thông tin được chia sẻ bởi mạng xã hội, chủ thể không rõ nguồn gốc, không xác thực. Đặc biệt, không chia sẻ nguồn tin phát ra từ trang mạng của những cá nhân, tổ chức thường xuyên đưa tin có nội dung tiêu cực, sai trái gây hoang mang cho quần chúng nhân dân.

 

Cần giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển

 

Lợi ích quốc gia - dân tộc là các mục tiêu mà Việt Nam luôn theo đuổi để bảo đảm sự tồn tại và phát triển của mình, bao gồm: Giữ vững chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; ổn định chế độ chính trị; bảo đảm an ninh và an toàn cho người dân; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; bảo đảm các điều kiện cho quốc gia phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao... Thế nhưng, những lợi ích này chỉ có thể đạt được trọn vẹn trong một môi trường hòa bình, ổn định.

Có thể khẳng định, Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục đối với những sự kiện lịch sử, trong đó có cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc và đặc biệt quan tâm tới vấn đề bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Thông tin, tuyên truyền, giáo dục luôn làm nổi bật tính chính nghĩa của các cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc; ngợi ca truyền thống lịch sử, lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, ý chí tự lực, tự cường và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; ghi nhận, tri ân công lao to lớn, sự hy sinh anh dũng của quân và dân ta trong các cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, việc thông tin, tuyên truyền về các vấn đề trên luôn thận trọng, bảo đảm đúng quan điểm của Đảng và tôn trọng lịch sử, không lấy lịch sử để kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn được tập trung thực hiện kiên quyết, kiên trì nhưng theo đúng nguyên tắc là bảo đảm lợi ích của quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế; góp phần giữ gìn, thúc đẩy mối quan hệ láng giềng hữu nghị với các nước xung quanh.

Với vị trí địa chính trị đặc biệt cùng sự phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị, Việt Nam đang trở thành quốc gia quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Vì thế, mỗi động thái ngoại giao của Việt Nam đều thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế, nhất là trong bối cảnh thế giới đang lâm vào khủng hoảng địa chính trị, các cường quốc phân cực mạnh mẽ. Khi các cường quốc gia tăng sức ép để lôi kéo đồng minh, những quốc gia nhỏ hơn phải chịu rất nhiều áp lực về việc chọn phe. Chỉ những quốc gia với tiềm lực nhất định, khéo léo và bản lĩnh mới có thể cân bằng tình thế để bảo đảm lợi ích cho quốc gia, dân tộc.

Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh, nhân dân đã phải đổ nhiều máu xương đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước thì không một ai có thể quên đi quá khứ đau thương, càng không bao giờ được lơ là, mất cảnh giác. Tuy nhiên, cũng chính vì thế, chúng ta càng cần trân quý và gìn giữ mỗi trường hòa bình, ổn định để dựng xây đất nước. Chỉ có thể thực hiện được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” trong điều kiện hòa bình, hợp tác, đoàn kết các dân tộc anh em để phát triển. Kiểu thông tin theo thuyết âm mưu của các trang tin và tổ chức chống cộng là muốn kích động sự hiềm khích dân tộc, kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi, nhằm làm rối ren tình hình chính trị và đẩy Việt Nam vào tình thế khó khăn. Bởi thế, mỗi người cần tỉnh táo để nhận rõ âm mưu thâm độc, dã tâm phá hoại quan hệ quốc tế, ngăn cản sự phát triển của đất nước ta./.

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan là mối hiểm họa gây hiềm khích, đối đầu giữa các quốc gia

 

Đối với quan hệ quốc tế, thế lực bên ngoài luôn tìm cách kích động gây hiềm khích giữa dân tộc Việt Nam và các nước xung quanh để từ đó trục lợi. Có thể thấy, trong xã hội Việt Nam, do bị nhiễm độc từ các thông tin trên mạng nên đang hình thành một lớp người rất định kiến, hẹp hòi khi nhìn nhận, đánh giá về các dân tộc, quốc gia mà Việt Nam đã có quan hệ đối ngoại. Theo cách nhìn nhận vừa định kiến, vừa ngây thơ của họ, có những dân tộc, quốc gia đã được mặc định là “xấu xa”, “nên bỏ”, dứt khoát phải đối đầu, ngược lại, có những dân tộc, quốc gia được mặc định là “tốt”, “nên theo”, nên kết tình đồng minh. Nhân các sự kiện ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc, luôn có các âm mưu chống phá, hòng kích động những quan điểm, tư tưởng dân tộc cực đoan, hẹp hòi. Không ít kẻ cố tình xuyên tạc những sự kiện ngoại giao theo thông lệ, hết sức tốt đẹp thành những vấn đề nóng, cố tình lái dư luận đến cách hiểu sai trái, nguy hiểm rằng Việt Nam “đang lệ thuộc Trung Quốc”, “đang bán rẻ chủ quyền biển, đảo cho Trung Quốc”. Những hoạt động kinh tế-xã hội giữa Việt Nam với Trung Quốc là nhu cầu tất yếu, bởi Trung Quốc là một nước láng giềng, giao thông thuận lợi, lại là một trong hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Thế nhưng, với nhu cầu hiển nhiên ấy, những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi vẫn cố tình không hiểu, phản đối và đòi hỏi rất vô lý rằng phải “thoát Trung” cả về chính trị và kinh tế.

Nhân các dịp kỷ niệm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, rồi vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, trên không gian mạng xuất hiện những luồng ý kiến sai trái rằng cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc đã bị lãng quên. Có những kẻ lợi dụng việc này để xuyên tạc, chửi bới chính quyền, thông qua đó kích động dư luận.

Có thể thấy những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái. Bởi xét từ trong lịch sử các triều đại của Việt Nam, bên cạnh việc kiên quyết bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì đều rất coi trọng vấn đề bang giao, tạo mối quan hệ tốt đẹp với nước láng giềng. Ngày nay, môi trường quan hệ quốc tế đang ngày càng phức tạp, tuy nhiên, qua đó lại thấy rõ tính đúng đắn trong chính sách đối ngoại của Việt Nam với trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”, chọn lẽ phải chứ không chọn bên. Vấn đề lợi ích quốc gia-dân tộc được nêu rõ trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

Một số hoạt động gây chia rẽ, suy yếu các dân tộc của Chủ nghĩa dân tộc cực đoan

 

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan hay tư tưởng dân tộc hẹp hòi là xu hướng tư tưởng tuyệt đối hóa giá trị dân tộc mình, đặt dân tộc mình ở vị trí cao nhất trong toàn bộ hệ thống giá trị, đi đến chỗ bài ngoại, tự phụ, định kiến, kỳ thị, thù ghét, ngờ vực dân tộc khác, sẵn sàng gây thiệt hại cho dân tộc khác. Trên bình diện quốc tế, chủ nghĩa dân tộc cực đoan dễ dẫn đến xu hướng biệt lập, cục bộ, vị kỷ, chống lại xu hướng hợp tác, liên kết và hội nhập quốc tế, thậm chí có thể thúc đẩy xu hướng chiến tranh, xâm lược. Do đó, nó cản trở sự giao thoa và hợp tác quốc tế, làm suy giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia.

Tại mỗi quốc gia, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tư tưởng dân tộc hẹp hòi đề cao lợi ích cục bộ của mỗi tộc người, chia rẽ tình đoàn kết, thống nhất trong nội bộ quốc gia. Ví dụ như tại Việt Nam, có thể thấy có những âm mưu kích động các đồng bào dân tộc ít người như Mông, Khmer từ bỏ lợi ích chung của dân tộc Việt Nam để đòi thành lập “nhà nước riêng”... Mục đích của việc kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi là chia cắt đất nước ta thành nhiều vùng, miền, khu vực tự trị của đồng bào dân tộc thiểu số và không phụ thuộc vào Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thay vào đó sẽ là lực lượng chính trị phản động nắm giữ. Được các thế lực thù địch thúc đẩy, tạo điều kiện, những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan không từ bỏ phương tiện và thủ đoạn nào. Lúc đầu, họ sẽ đòi phục hồi các quyền lợi về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, rồi cao hơn là gây bạo loạn, lật đổ, đòi dân tộc tự trị, cuối cùng là đòi ly khai lập quốc gia riêng.

Mưu đồ đó nếu được thực hiện thành công thì sẽ gây bất ổn chính trị-xã hội, thậm chí tạo nguy cơ xung đột, làm suy yếu dân tộc Việt Nam dưới góc độ quốc gia-dân tộc và ảnh hưởng bất lợi đến sự tồn tại và phát triển của 54 dân tộc anh em. Như vậy, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tư tưởng dân tộc hẹp hòi không chỉ gây bất lợi cho sự phát triển của dân tộc với ý nghĩa là một quốc gia mà còn bất lợi cho sự tồn tại, phát triển đối với các dân tộc với ý nghĩa là các tộc người.  

Đổi mới hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Tình hình trên cho thấy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong thời đại công nghệ số hiện nay là rất khó khăn, phức tạp. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn gần 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Nghị quyết số 35-NQ/TW nêu rõ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ uy tín, hình ảnh Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

Thực tế, những quan điểm thù địch, xuyên tạc bản chất của Nhà nước Việt Nam XHCN hướng tới mục tiêu làm thay đổi bản chất dân chủ của Nhà nước, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nhằm làm chệch hướng. Bên cạnh các quy định của pháp luật, các biện pháp quản lý không gian mạng từ cơ quan có thẩm quyền thì vai trò của dư luận xã hội trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người thông qua cơ chế giám sát cũng hết sức cần thiết. Cần nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo, định hướng, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhất là sức mạnh tổng hợp của các “binh chủng” công tác tư tưởng để thực hiện thắng lợi đồng thời cả hai mục tiêu: Bảo vệ, phát triển, vận dụng sáng tạo nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của người sử dụng mạng internet, nâng cao khả năng nhận thức và năng lực tự sàng lọc thông tin của người dân và cộng đồng, hình thành thói quen hành xử tích cực trên môi trường mạng. Đây là giải pháp có ý nghĩa then chốt và lâu dài để mỗi người dân trở thành bộ lọc thông tin hiệu quả cho chính mình và cộng đồng. Mỗi người khi sử dụng mạng internet cần đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ âm mưu, bản chất của các thế lực thù địch để không tin, không bị lôi kéo, dẫn dắt trước các thông tin xấu, độc.