Thứ Tư, 20 tháng 9, 2023

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH PHONG TRÀO NÊU GƯƠNG VỚI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

    Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, bậc đại trí, đại nhân, đại dũng, lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta! Người đã đi xa tròn nửa thế kỷ, nhưng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; sự nghiệp cao cả và  vĩ đại của Người để lại cho Đảng ta, đồng bào ta, dân tộc ta, nhân dân ta là vô cùng to lớn, quý giá, mãi mãi trường tồn. Tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh về nêu gương thể hiện rất phong phú, sinh động, rộng lớn, cụ thể, thống nhất trong mọi suy nghĩ, hành động, lời nói, việc làm từ nhỏ đến lớn, kết tinh thành những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Những việc lớn liên quan tới vận mệnh lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh nói là làm, làm bằng được. Với quan điểm kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính, phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, khắc phục biểu hiện lệch lạc nhằm góp phần khẳng định tính đúng đắn trong phương thức lãnh đạo của Đảng để xây dựng Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh”. Tạp chí Xây dựng Đảng xin giới thiệu với độc giả loạt bài 2 kỳ “Nêu gương - giải pháp quan trọng góp phần xây dựng Đảng về đạo đức” bàn về vấn đề này của Trung tá Vũ Thị Hồng Minh, Ban Phụ nữ Quân đội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

          Một trong những giá trị tinh thần, sức mạnh vật chất của Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong tâm trí và đời sống các thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân ta hiện nay và mai sau là tấm gương sáng về sự nêu gương của Người. Người hy sinh cống hiến trọn cả đời mình cho dân, cho nước, không một chút lo toan, tính toán riêng tư cho cá nhân mình tới tận lúc Người từ biệt thế giới này.

Nói đến sự nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta đều có thể nhận thức, học tập ở Người qua những câu chuyện kể về Hồ Chí Minh; qua tìm hiểu lịch sử và quá trình hoạt động của Người; qua nghiên cứu sâu sắc giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người được nâng lên ở tầm cao, chiều sâu tư tưởng, lý luận, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh. Song tấm gương nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể khái quát ở những điểm chính sau:

Tấm gương tiền phong gương mẫu, nhận trách nhiệm về mình bất kể mọi gian khổ, nguy nan. Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành 21 tuổi chứng kiến cảnh dân tộc, những người đồng bào mình bị bọn thực dân phong kiến áp bức vô cùng tàn bạo, sống quằn quại, đau thương của kiếp người nô lệ, đã tự đặt trách nhiệm cho mình phải ra đi tìm đường cứu nước, mang lại “tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc”.

Trong bối cảnh đất nước đắm chìm đau thương trong vòng nô lệ, với hai bàn tay trắng, người thanh niên ấy tự nhận trách nhiệm về mình, chấp nhận cuộc dấn thân lao vào vòng xoáy bão dông của chủ nghĩa đế quốc đang hoành hành thế giới để tìm đường cứu nước, cứu dân. Một quyết định lịch sử dám chấp nhận muôn vàn thử thách, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành chỉ có một khát khao, một niềm tin sắt đá rằng dân tộc mình, Tổ quốc mình nhất định phải được sống độc lập, tự do, hạnh phúc như các dân tộc khác trên thế giới. Có niềm tin, có khát vọng, nhưng Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh đã là kết tinh ý chí, khí phách, phẩm giá, nhân cách, truyền thống của các dân tộc dám đứng lên, tìm đường, dẫn dắt cả dân tộc tự giải phóng mình.

Suốt hành trình mấy chục năm bôn ba khắp thế giới tìm đường cứu nước và cả cuộc đời hoạt động lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tấm gương nêu gương của Hồ Chí Minh đã giúp Người vượt qua muôn vàn thử thách, tù đày, đánh bại những kẻ thù gian ác, hiểm độc, tàn bạo nhất hành tinh. Thực tế sinh động tấm gương nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học sâu sắc, bài học đầu tiên Người dạy cán bộ, đảng viên, nhân dân ta phải chủ động, tự giác, tiên phong, gương mẫu không ngại khó khăn, gian khổ, dám hy sinh vì sự nghiệp cao cả của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cán bộ, đảng viên phải nêu gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn. Người thường nhắc nhở, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Sự nêu gương đi đầu dám nghĩ, dám làm, dám lao vào nơi gian khổ để quần chúng nhân dân tin, noi theo là phẩm chất, nhân cách, khí phách của người cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ, đảng viên phải gạt bỏ chủ nghĩa cá nhân, không toan tính, thu vén lợi ích riêng tư, luôn đặt lợi ích chung của nhân dân, đất nước, dân tộc lên trước hết, trên hết. Đó là cơ sở, là điểm xuất phát cho nhận thức dám hy sinh phấn đấu, tính tiền phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên ở bất cứ thời điểm nào.

          Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại bế mạc Hội nghị giữa nhiệm kỳ BCH Trung ương khoá XIII ngày 17-5-2023 chỉ rõ: “Các thế lực xấu, thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng tình hình này để đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ chúng ta, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta”. Một trong những đòn chống phá của các thế lực thù địch, phản động vào quan điểm của Đảng về nêu gương chính là lợi dụng những khuyết điểm của cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, thiếu rèn luyện, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống... để công kích, truyền bá những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc nhằm “vô hiệu hóa” phương thức lãnh đạo bằng nêu gương bởi vì nó không chỉ làm tổn hại thanh danh của Đảng, mà còn ảnh hưởng tới sự tồn vong của chế độ.

Xuất phát từ yêu cầu xây dựng Đảng trong thời kỳ mới; nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước “Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(6), cùng với đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài là đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên thì nhiệm vụ không thể thiếu chính là đẩy mạnh các biện pháp khắc phục biểu hiện lệch lạc trong thực hành nêu gương; kiên quyết đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Có thể thấy, khi cán bộ, đảng viên nắm kỹ, hiểu sâu và thực hành tốt nội dung nêu gương trong cả ba mối quan hệ (đối với mình, đối với người, đối với việc) như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy sẽ đầy đủ, trọn vẹn và phát huy được hiệu quả thiết thực. Theo đó, “đối với mình”: Không được tự cao tự đại, tự mãn, mà phải cần, kiệm, liêm, chính; phải là “Nhân, Trí, Dũng, Liêm”; bản thân mình phải làm gương trong công việc từ nhỏ đến lớn, thường xuyên học tập, rèn luyện, tự phê bình, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của bản thân về mọi mặt để tiến bộ. “Ðối với người”: Phải chân thành, khiêm tốn, thật thà, đoàn kết và có tình thương yêu, bao dung, độ lượng. “Đối với người”: Trước hết và quan trọng nhất là đối với đồng chí, đồng sự, nhất là đối với cấp dưới và sau đó là đối với quần chúng nhân dân. Đối với việc, phải tận tâm, tận lực, có trách nhiệm, gương mẫu phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; phải luôn giữ vững nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, phải “chí công vô tư”, phải biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Tổ quốc, Nhân dân và của Đảng

QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẢNG

           Điều lệ Đảng quy định 05 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng như sau: “Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất về ý chí và hành động; lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình; đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng; Đảng giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

          Để có 05 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng hoàn chỉnh như hiện nay là quá trình tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về xây dựng Đảng của Đảng ta qua các thời kỳ của cách mạng. Cụ thể là:

          1- Nguyên tắc tập trung dân chủ (có từ khi thành lập Đảng năm 1930);

          2- Nguyên tắc tự phê bình và phê bình (được bổ sung ở Đại hội II năm 1951, tại Kim Bình, Chiêm Hóa, Tuyên Quang).

          3- Nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng (bổ sung ở Đại hội III, năm 1960).

          4- Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân (bổ sung ở Đại hội X, năm 2006).

          5- Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật (bổ sung ở Đại hội X, năm 2006).

Trong 05 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng thì nguyên tắc tập trung dân

chủ được xác định là nguyên tắc tổ chức cơ bản, bởi vì: Nguyên tắc tập trung dân chủ quy định những nội dung cơ bản,quan trọng nhất, bảo đảm cho Đảng trở thành một tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động; là cơ sở để phân biệt giữa Đảng Cộng sản và các đảng không phải ĐCS. Nguyên tắc này được cụ thể hoá và quy định taị Điều 9, Điều lệ Đảng là: Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên của cấp đó. Giữa 2 kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương; ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (đảng ủy, chi ủy). Cấp ủy các cấp phải báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội đảng bộ cùng cấp, trước cấp ủy cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động đến các tổ chức đảng trực thuộc; thực hiện nghiêm việc tự phê bình và phê bình. Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức và đảng viên trong toàn Đảng phải phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương. Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được bảo lưu ý kiến của mình và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghị quyết, không được truyền bá ý kiến riêng của mình, trái với nghị quyết của Đảng. Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi, quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của tổ chức đảng cấp trên.

Mỗi cán bộ đảng viên có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW “về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”. Một trong những điểm nhấn quan trọng của Nghị quyết là Đảng ta đã đánh giá những ưu điểm, hạn chế của đội ngũ đảng viên ở Việt Nam hiện nay và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. "Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới" tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị, cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng phải gắn với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài, liên tục, là trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Hội nghị Trung ương 5, nhất là những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, những vấn đề mới, cốt lõi trong các Nghị quyết, đây là những nội dung rất cơ bản, liên quan mật thiết, tác động nhiều chiều đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đất nước, đời sống của nhân dân, ổn định chính trị, giữ vững an ninh quốc phòng, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực, trình độ, uy tín lãnh đạo đất nước.

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, học tập, quán triệt Nghị quyết phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, hấp dẫn, trong đó tuyên giáo đóng vai trò đi trước, nâng cao vai trò của các cơ quan báo chí, sức mạnh của các tổ chức chính trị xã hội để cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ, thông suốt và tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết. Đồng thời, chú trọng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, định hướng dư luận xã hội trong quá trình thực hiện nghị quyết. Hội nghị Trung ương 5 sẽ sớm đi vào cuộc sống, đạt nhiều kết quả, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Các cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc ý kiến chỉ đạo, tuyên truyền các nội dung các nghị quyết Trung ương 5 sâu rộng hơn nữa, lựa chọn những nội dung, hình thức phù hợp với các đối tượng cán bộ, đảng viên để có hiệu quả, thiết thực; đưa những quan điểm chỉ đạo của nghị quyết thành hành động cụ thể trong thực hiện phát triển kinh tế- xã hội. Trên cơ sở đánh giá khách quan, toàn diện cả những ưu điểm và hạn chế trong trong công tác phát triển đảng viên ở Việt Nam thời gian qua, Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII đã đưa ra những quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình mới.

Về quan điểm, Đảng ta chỉ rõ: “Đội ngũ đảng viên là nhân tố quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng”(9). Đội ngũ đảng viên chính là chủ thể tạo nên các cơ sở, tổ chức đảng nên sức mạnh của mỗi tổ chức đảng phụ thuộc trước hết vào đội ngũ đảng viên. Do đó, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, đã đưa ra quan điểm chỉ đạo cụ thể về nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Đó là một mặt, các tổ chức đảng cần tạo môi trường để đảng viên rèn luyện, phấn đấu; song mặt khác, mỗi đảng viên phải tự ý thức học tập, rèn luyện nhân cách, đạo đức, phong cách, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, tiên phong, gương mẫu, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng và lời thề khi vào Đảng. Đây là mối quan hệ hai chiều giữa tổ chức đảng và đảng viên, đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở Việt Nam hiện nay.                                                                  N.T.T

 

ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

           Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của việc phòng, chống các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, trong các văn kiện của các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Đảng ta đã luôn nhấn mạnh những quan điểm, chủ trương, phương hướng, nội dung, biện pháp phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Cùng với đó, chúng ta đã tổ chức triển khai thực hiện hoạt động phòng, chống các mối đe dọa an ninh phi truyền thống và đã thu được những kết quả quan trọng.  Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trong mục “Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, nguyên nhân và kinh nghiệm” đã nhấn mạnh: “Chủ động đấu tranh kịp thời, hiệu quả, từng bước đẩy lùi các loại tội phạm và ứng phó kịp thời với các mối đe dọa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống; làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động”.

An ninh phi truyền thống xuất hiện cùng với phát triển của xã hội và đã tác động tiêu cưc lớn đến đời sống xã hội. Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống nói chung hay các vấn đề an ninh môi trường, công nghệ, di cư bất hợp pháp… nói riêng, không chỉ đe dọa đến an ninh quốc gia mà ảnh hưởng tới khu vực và thế giới. Vì vậy, cần phải có các giải pháp đồng bộ kết hợp hành động của nhiều quốc gia để ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.

An ninh phi truyền thống đã và đang tác động lớn đến nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có nước ta. Việc nhận diện các loại an ninh phi truyền thống và tác động của nó sẽ góp phần hạn chế những tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế xã hội và phát triển bền vững. Do vậy, để hạn chế những tác động ảnh hưởng của an ninh phi truyền thống cần thực hiện các giải pháp sau:

Nâng cao ý thức cho mọi tầng lớp nhân dân về bảo vệ Tổ quốc theo yêu cầu của thời kỳ mới thức và ý thức trách nhiệm xã hội, trách nhiệm cộng đồng của chính quyền các cấp, của các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, và nhất là tình trạng biến đổi khí hậu. đẩy mạnh hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế, chú trọng tăng cường quan hệ hợp tác với các nước ASEAN trong đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, đặc biệt trong phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, bảo đảm an ninh biển, đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu, thảm họa thiên nhiên, với các chương trình, kế hoạch và cơ chế phù hợp.

Đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống vừa là yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc, vừa là điều kiện quan trọng để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi sự đồng thuận và nỗ lực của toàn xã hội, sự quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, với những giải pháp, biện pháp phù hợp và hiệu quả.

 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, của chính quyền các cấp; phát huy sức mạnh của các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân, nhất là lực lượng nòng cốt, CAND, QĐND, tham gia phòng ngừa và ứng phó với các mối de dọa an ninh phi truyền thống.

          - Quan tâm xây dựng các lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách để sẵn sàng ứng phó với các mối de dọa an ninh phi truyền thống. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối, kết hợp các lực lượng trong ứng phó kịp thời, có hiệu quả với các mối đe dọa an ninh truyền thống.

          - Tăng cường đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị, bảo đảm thông tin cho các hoạt động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch phòng ngừa và ứng phó kịp thời, có hiệu quả với các mối đe dọa an ninh truyền thống.

          - Tăng cường phối hợp, hợp tác quốc tế, khu vực trong phòng ngừa và ứng phó kịp thời, có hiệu quả với các mối đe dọa an ninh truyền thống.                N.T.T

 

 

 

PHÁT HUY HIỆU QUẢ CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG QUÂN ĐỘI

           Đảng ta luôn xác định, công tác dân vận là một bộ phận quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới thắng lợi đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Đây cũng là vấn đề chiến lược, xuyên suốt nhằm vận động, động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia vào các phong trào cách mạng, thi đua yêu nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng. Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được quan tâm triển khai thực hiện trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, là trách nhiệm của cấp ủy và cả hệ thống chính trị; trong đó, chú trọng đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống, đảm bảo an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng đồng bào DTTS. Đáp ứng với tình hình hiện nay, công tác vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch, chương trình phát triển knh tế, văn hóa, xã hội mới của địa phương; đây là vấn đề càn thiết trog giai đoạn hiện nay. Trong những năm qua, sự phát triển của đất nước, những thành tựu về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, của đồng bào các dân tộc tôn giáo, tín đồ tôn giáo

          Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp và cán bộ, chiến sĩ đối với công tác dân vận trong tình hình mới. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu, tạo cơ sở, nền tảng đảm bảo cho công tác dân vận đạt hiệu quả cao trong thực tiễn, bởi chỉ khi nào từng cấp ủy, cán bộ, chiến sĩ có nhận thức đúng đắn, thái độ, trách nhiệm cao thì những chủ trương, chính sách của Đảng mới thực sự đi vào cuộc sống. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và hướng dẫn của Tổng cục Chính trị về công tác dân vận. Trọng tâm là các nhiệm vụ, giải pháp được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Kết luận số 43-KL/TW, ngày 07/01/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, v.v. Quá trình thực hiện phải bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ, thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và đặc điểm, tình hình của mỗi địa phương. Việc quán triệt phải được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều hình thức, bảo đảm sát thực tiễn, đối tượng, làm chuyển biến sâu sắc về nhận thức, hành động của cấp ủy, chỉ huy các cấp và cán bộ, chiến sĩ đối với công tác dân vận trong tình hình mới; nhận thức rõ việc tiến hành công tác dân vận là chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, là công tác quan trọng của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, vừa là tình cảm và trách nhiệm chính trị của mỗi quân nhân đối với nhân dân. Từ đó, sẵn sàng đến những nơi khó khăn, gian khổ, phức tạp nhất để giúp đỡ nhân dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.

          Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong thực hiện công tác dân vận. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, nhằm đảm bảo cho công tác dân vận luôn đi đúng định hướng, chặt chẽ, khoa học, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ. Vì thế, công tác dân vận ở từng cơ quan, đơn vị phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chi bộ, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan dân vận cấp trên. Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Quy chế số 718-QC/QUTW, ngày 05/11/2021 của Quân ủy Trung ương về công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam; thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn của cơ quan, đơn vị mình. Đồng thời, xây dựng nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch thực hiện bảo đảm sát, đúng, chặt chẽ, hiệu quả; huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong tiến hành công tác dân vận.

          Ba là, tích cực đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức, phương thức tiến hành công tác dân vận; trọng tâm hướng vào giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn. Công tác dân vận trong Quân đội là một hoạt động quan trọng của công tác đảng, công tác chính trị, vừa mang tính đặc thù, tính tổng hợp cao, được tiến hành theo các nguyên tắc, quy chế, quy định, vừa phải linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với đặc điểm, tình hình cụ thể của từng địa phương. Vì thế, để đạt hiệu quả cao, các cơ quan, đơn vị phải tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp, bám sát phương châm: “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” và phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”. Cần chú trọng triển khai thực hiện hiệu quả các hình thức kết nghĩa; hành quân dã ngoại làm công tác dân vận; tổ, đội công tác tăng cường cho cơ sở. Phối hợp với cơ quan dân vận và tổ chức chính trị xã hội các cấp trong thực hiện Phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xây dựng “Đơn vị dân vận tốt”, gắn với thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giảm nghèo bền vững, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở địa phương vững mạnh; các phong trào thi đua, các cuộc vận động trong và ngoài Quân đội.

                                                                                                N.T.T

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC DÂN TỘC, TÔN GIÁO TRONG QUÂN ĐỘI

 

Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Hiện nay, Nhà nước đã công nhận tư cách pháp nhân và cấp giấy chứng nhận hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, có hơn 26 triệu tín đồ chiếm trên 27% dân số cả nước. Đồng bào theo các tôn giáo chủ yếu là nhân dân lao động, có tinh thần yêu nước, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, sống “tốt đời đẹp đạo”. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm thực hiện chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chăm lo xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo; tập hợp mọi tầng lớp nhân dân trong mặt trận chung, tạo thành lực lượng cách mạng to lớn, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng do Đảng lãnh đạo.

Tôn giáo, công tác tôn giáo luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và xác định là một trong những nội dung quan trọng, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, cùng với các cấp, ngành, lực lượng, cả hệ thống chính trị và toàn dân, Quân đội cần tiếp tục nghiên cứu, có nhiều giải pháp phù hợp, thiết thực để không ngừng nâng cao hiệu quả thực hiện công tác quan trọng này. Công tác tuyên truyền về vấn đề dân tộc, tôn giáo trong giai đoạn hiện nay đối với quân đội là sự cần thiết hơn bao giờ hết; để Quân đội thực hiện vấn đề dân tôc, tôn giáo được tốt và đúng với đường lối lãnh đạo về vấn đề dân tôc tôn giáo đối cần thực hiện tốt các nội dung, biện pháp cơ bản sau.

Một là: Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành công tác dân vận ở vùng đồng bào tôn giáo phù hợp với thực tiễn. Nội dung chủ yếu công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta là công tác vận động quần chúng, gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung, tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thực hiện chủ trương này, trong thời gian qua, công tác dân vận của toàn quân nói chung, ở các cơ quan, đơn vị Quân đội ở vùng đồng bào tôn giáo nói riêng được tiến hành với nhiều nội dung, hình thức phong phú, như: “Hành quân dã ngoại làm công tác dân vận”, phong trào “Họ đạo gương mẫu”, “Gắn kết yêu thương giữa lương và giáo”,... đã mang lại hiệu quả thiết thực. Đây là cơ sở để các cơ quan, đơn vị cùng lực lượng chuyên trách thực hiện công tác dân vận trong toàn quân tiếp tục nghiên cứu, phát triển, vận dụng cho phù hợp thực tiễn mới. Trong đó, cần đặc biệt chú trọng đổi mới cả về nội dung, hình thức và cách thức, biện pháp tiến hành. Cái cũ không phù hợp cần mạnh dạn thay đổi bằng nội dung, hình thức, phương pháp mới phù hợp với thực tiễn. Để có được nội dung, hình thức, phương pháp mới, phù hợp, hiệu quả, thì một trong những nguyên tắc cơ bản là phải bám sát đời sống của đồng bào tôn giáo; tăng cường tiếp xúc với chức sắc, chức việc, người có uy tín,... để phát hiện những bất cập, thấy được cái mà đồng bào cần để xác định nội dung, hình thức, phương pháp làm công tác dân vận cho phù hợp, hiệu quả. Quá trình thực hiện, cần lấy mục tiêu quan trọng, trên hết là củng cố mối quan hệ đoàn kết, tin cậy giữa lực lượng vũ trang với đồng bào tôn giáo; xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững chắc; khơi dậy, phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nhân ái, giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp các tôn giáo; vận động đồng bào tôn giáo tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động của Trung ương và địa phương, sống “tốt đời, đẹp đạo”, tạo sự đồng thuận, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, cấp ủy các cấp cần quan tâm xây dựng, củng cố, kiện toàn cơ quan, cán bộ làm công tác dân vận, đảm bảo đủ số lượng, có chất lượng cao; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng mô hình, gương điển hình tiên tiến. Tích cực đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy ở các học viện, nhà trường cũng như hoạt động tập huấn, bồi dưỡng ở các cơ quan, đơn vị, nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng công tác dân vận và kiến thức về tôn giáo cho cán bộ, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nâng cao hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận, công tác tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo.        

Hai là: Tăng cường hơn nữa công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ  về công tác dân tộc, chính sách dân tộc; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mục tiêu phát triển đất nước và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng.

Ba là: Thực hiện có hiệu quả đề án công tác dân tộc của Quân đội trong công tác dân tộc của Chính phủ. Tích cực tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, tập trung ở cơ sở các địa bàn chiến lược, nhất là chất lượng chính trị; làm tốt công tác phát triển đảng, tạo nguồn trong công tác tuyển quân, đào tạo nghệ cho bộ đội xuất ngũ là người dân tộc tôn giáo. Đặc biệt ưu tiên vùng sâu, vùng sa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có nhiều yếu tố mất ổn định chính trị.

Bốn là: Thực hiện tốt công tác văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, thực hiện các chính sách xã hội, các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của Đảng, Nhà nước, để nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Năm là, Phải đào tạo, bồi dưỡng nguồn cán bộ dân tộc tôn giáo trong quân đội; kết hợp chặt chẽ việc đào tạo, bồi dưỡng với quy hoạch, quản lý, sắp xếp, sử dụng cán bộ người dân tộc tôn giáo, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc tôn giáo chất lượng tốt đưa vào quy hoạch cán bộ chủ trì các cấp; thường xuyên quan tâm chính sách hậu phương Quân đội, gia đình đội ngũ cán bộ Quân đội là người dân tộc tôn giáo.                                                                                                             N.T.T

 

Đại đoàn kết toàn dân tộc – Cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam

 Tư tưởng đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vị trí đặc biệt quan trọng, nhất quán và xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Trải qua các thời kỳ cách mạng, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được hoàn thiện, phát triển. Đảng luôn xác định, “đoàn kết” là giá trị cốt lõi, “đại đoàn kết toàn dân tộc” là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, là cội nguồn sức mạnh của mọi thành công, chiến thắng. Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã đem lại những thành tựu to lớn.

Vượt qua những khó khăn, thách thức nặng nề những năm sau khi đất nước thống nhất bởi hậu quả tàn phá nặng nề của chiến tranh kéo dài chưa kịp được khắc phục, đất nước bị bao vây, cấm vận, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu bộc lộ nhiều khiếm khuyết… Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựng mặt trận dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc và phát huy mạnh mẽ vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa đất nước tiến lên.

Chỉ thị số 17-CT/TW của Đảng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển của Mặt trận, đề cao vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc, có ý nghĩa thiết thực đối với việc tạo ra sức mạnh nội sinh để đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng; tạo điều kiện, tiền đề để phá bỏ bao vây, cấm vận, tiến tới bình thường hóa quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1986 đến nay, Đảng đã có nhiều chủ trương, quyết sách và biện pháp quan trọng để tiếp tục củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân; động viên Nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội kịp thời có chính sách, pháp luật đúng đắn, phù hợp với mọi lực lượng nhân dân tham gia vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần động viên Nhân dân phát huy tinh thần sáng tạo, năng động, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp mở rộng quan hệ hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.

Trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Đảng và cả hệ thống chính trị cùng toàn thể đồng bào ở trong nước và ngoài nước đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, quyết tâm “chống dịch như chống giặc” để từng bước đẩy lùi và vượt qua đại dịch Covid-19. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, phát huy vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo; vận động các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân; vận động Nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước và các chương trình an sinh xã hội...

Những kết quả đạt được trong việc tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng tầm cao uy tín, vị thể của Việt Nam trên trường quốc tế, thắt chặt mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc trong giai đoạn phát triển mới, cao hơn, sâu sắc hơn.

Đánh giá những thành tựu đạt được, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Những thành tựu này đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng với đồng bào các dân tộc tại Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại xã Dur Kmăl, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng với đồng bào các dân tộc tại Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại xã Dur Kmăl, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.


LHQ-ST

Những giải pháp tăng cường Quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ta

 Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ chiến lược, trọng yếu, thường xuyên của cách mạng Việt Nam. Đây là một trong những vấn đề lớn, hệ trọng, liên quan đến vận mệnh, tương lai của dân tộc nên luôn được xác định rõ trong các nghị quyết của Đảng. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán nhiệm vụ đó và bổ sung rõ hơn, rộng hơn, toàn diện hơn về nhiều vấn đề mới, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc với các sĩ quan tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc_Ảnh: TTXVN

Về mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1). Như vậy, mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh tiếp tục được Đảng ta khẳng định nhất quán, xuyên suốt, nhưng có sự bổ sung rõ hơn, toàn diện hơn cả về nội hàm và phạm vi bảo vệ. Điểm nhấn ở đây được văn kiện lần này chỉ rõ: Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc không đơn thuần là để ứng phó với chiến tranh; mà vấn đề quan trọng và thiết yếu hơn là, tạo ra sức mạnh để giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, nhằm xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, là sự vận dụng nhuần nhuyễn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Bảo vệ phải gắn với xây dựng, xây dựng phải đi đôi với bảo vệ. Mục tiêu của bảo vệ là để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho xây dựng và phát triển đất nước; và, xây dựng, phát triển đất nước sẽ tác động trở lại tạo cơ sở, tiền đề bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Mục tiêu là, giải quyết mối quan hệ biện chứng sâu sắc giữa việc bảo vệ Tổ quốc về mặt tự nhiên - lịch sử với việc bảo vệ Tổ quốc về mặt chính trị - xã hội trong tính chỉnh thể thống nhất; chỉ rõ hướng đích phát triển đất nước là theo định hướng xã hội chủ nghĩa; vì vậy, phải gắn chặt việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; phải gắn chặt việc giữ vững ổn định chính trị, xã hội với bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Mục tiêu đó cũng khẳng định rõ lập trường và ý chí của toàn dân tộc quyết tâm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây là quan điểm biện chứng khách quan, cụ thể, lịch sử và phát triển, đáp ứng sự phát triển của tình hình thế giới, khu vực, của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Điểm mới được bổ sung trong văn kiện lần này là việc xác định rõ: Bảo đảm an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước. Đây là vấn đề mới, quan trọng trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay, phản ánh đúng xu thế và đặc điểm tình hình đất nước. Bởi lẽ, con người là vấn đề có tính chiến lược, là trung tâm của mọi hoạt động, là mục tiêu và động lực phát triển đất nước và bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa mà nước ta đang xây dựng cũng hướng đến bảo vệ cuộc sống bình yên, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Vì vậy, trong bối cảnh mới hiện nay, bảo đảm an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để mang lại hạnh phúc cho nhân dân là vấn đề đặc biệt quan trọng, cần được tập trung thực hiện. Một điểm mới trong văn kiện lần này là các nội dung, vấn đề trong mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh được đặt trong một tổng thể chung, có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời. Đây là những định hướng quan trọng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Về phương thức và giải pháp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục có những bước phát triển mới trong tư duy về phương thức và giải pháp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng ta “Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”(2). Đây là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm “giữ nước từ lúc chưa nguy”, phát triển tư tưởng bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” để xác định rõ phương thức, giải pháp “chủ động phòng ngừa” là chính. Điều đó thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng về quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, nhằm chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi, giải tỏa các “điểm nóng”, các nguy cơ dẫn đến xung đột vũ trang; nhất là việc chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống đang ngày càng gia tăng và đe dọa trực tiếp đối với an ninh quốc gia và toàn cầu hiện nay. Thực tế hiện nay, đại dịch COVID-19 đã và đang diễn ra phản ánh rõ tính chất phức tạp và đặc biệt nguy hiểm của an ninh phi truyền thống, mà mọi quốc gia, dân tộc đều phải chung tay giải quyết.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng xác định: “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”(3). Quan điểm trên thể hiện sự nhất quán với các quan điểm trước đó của Đảng, nhưng có sự nhấn mạnh rõ hơn là phải: phát huy mạnh mẽ và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc. Ở đây, nét mới trong phương thức, giải pháp bảo vệ Tổ quốc chính là: Đảng ta đã đặt các thành tố kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh trong một chỉnh thể gắn kết, thống nhất. Đây cũng là bước phát triển, bổ sung mới về phương thức bảo vệ Tổ quốc, làm tăng khả năng phát huy nội lực, tiềm năng, bản sắc và truyền thống của dân tộc Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc cũng như trong xây dựng đất nước hiện nay; phát huy và làm sâu sắc thêm tính chất toàn dân, toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xét trong tính tổng thể, các phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc được sử dụng một cách tổng hợp, linh hoạt, mềm dẻo, đặt trong mối quan hệ và sự tương tác lẫn nhau để huy động sức mạnh tổng hợp và vai trò của mọi lĩnh vực, mọi lực lượng để bảo vệ Tổ quốc.

Một nét mới khác về phương thức và giải pháp tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc đó là việc Đảng ta xác định rõ: Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo; vừa có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh. Đó là bước phát triển mới về mặt tư duy trong định hướng phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, phản ánh đúng yêu cầu thực tiễn. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo sức mạnh tổng hợp cho cả quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ khác, tạo ra nguồn lực lớn cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới.

Cán bộ, chiến sĩ Hải quân vùng 4 chia tay người thân lên đường ra nhận nhiệm vụ tại huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa_Ảnh: TTXVN

Về lực lượng và sức mạnh quốc phòng, an ninh

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”(4). Sức mạnh tổng hợp tiếp tục được Đảng ta khẳng định nhất quán, là sức mạnh, lực lượng của toàn thể dân tộc, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Đó còn là sức mạnh bên trong, kết hợp với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Đặc biệt, điểm mới trong văn kiện lần này, Đảng ta đã xác định rõ phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”(5); trong đó, tiếp tục nhấn mạnh và chỉ rõ việc xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân “vững mạnh về chính trị”.

Quan điểm trên thể hiện ý chí, quyết tâm và nỗ lực của Đảng ta trong suốt nhiều nhiệm kỳ Đại hội trước đó, nhằm xây dựng lực lượng vũ trang tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, ở văn kiện lần này, Đảng ta đã xác định rõ các mốc thời gian cụ thể là: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là định hướng đặc biệt quan trọng trong thời gian tới để phát triển tiềm lực và sức mạnh của quân đội và công an, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện phải lấy xây dựng lực lượng vững mạnh về chính trị làm cơ sở; bảo đảm cho lực lượng vũ trang luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, gắn bó máu thịt với nhân dân; không mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác; tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” của các thế lực thù địch.

Một điểm mới và điểm nhấn quan trọng nữa là, trong văn kiện lần này, Đảng ta đã xác định rõ: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”(6). Trải qua quá trình nghiên cứu và tổng kết không ngừng từ thực tiễn, các chiến lược để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên mọi phương diện đã được xây dựng một cách tổng thể và đồng bộ. Đây là các chiến lược rất quan trọng và là một thể thống nhất, liên quan mật thiết với nhau, tác động trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thể hiện quan điểm quốc phòng, an ninh toàn diện. Vì vậy, việc triển khai đồng bộ các chiến lược đó sẽ tạo ra thế và lực, lực lượng và sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

LHQ- ST

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH VỚI CÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, đồng bào có đạo và nhân dân tích cực tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Các lực lượng chức năng đã kịp thời giải quyết bức xúc trong cộng đồng các tôn giáo và nhân dân, ổn định an ninh trật tự tại địa bàn, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật; tranh thủ được sự ủng hộ của đa số quần chúng và đồng bào các tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và các địa phương đã chủ động rà soát hệ thống pháp luật về tôn giáo hiện hành, xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phù hợp thực tế; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền đối nội kết hợp với tuyên truyền đối ngoại nhằm tuyên truyền mạnh mẽ về thành tựu của ta trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu, thông tin xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở trong nước, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền.   

Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác này phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tiếp tục chú trọng xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cấp cơ sở vững mạnh, trong sạch, thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các dân tộc thiểu số (DTTS) không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.

Đồng thời, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa; giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ; xây dựng lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương. Các ban, bộ, ngành chức năng cần tiếp tục chủ động, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo về chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo và âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá ta thông qua nhiều kênh, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú khác nhau; làm cho tín đồ, chức sắc và người dân hiểu rằng, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật cũng là bảo vệ tôn giáo chân chính và quyền lợi của chính họ. Để từ đó khuyến khích, thúc đẩy nhân dân, tín đồ, chức sắc tự giác tham gia vào công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo vi phạm pháp luật của kẻ địch. Làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện, phối hợp giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, “điểm nóng” liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. 

Cần chú trọng đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, phát huy tác dụng của các đoàn thể tôn giáo yêu nước. Kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi phát triển các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, tà đạo, đạo lạ, kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và đấu tranh đối ngoại; thông qua các phương tiện thông tin truyền thông, qua kênh ngoại giao, hợp tác quốc tế, làm cho các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới hiểu đúng, hiểu đầy đủ về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, kết quả xử lý những vụ việc, đối tượng lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, cần tuyên truyền tới đông đảo quần chúng trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng bản chất hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua. Vận động nhân dân tích cực ủng hộ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; góp phần đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của những phần tử xấu./.

                                                                                                          VHT.



PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP TRONG BẢO ĐẢM AN TOÀN, AN NINH MẠNG

 

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 việc bảo đảm an toàn, an ninh mạng được xác định là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng trong điều kiện, bối cảnh hiện nay. Công tác này phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục với những cơ chế, chính sách phù hợp. Để vượt qua thách thức bảo toàn an ninh thông tin đòi hỏi không chỉ các giải pháp kỹ thuật, công nghệ mà còn cần quản trị yếu tố con người. Có thể khẳng định yếu tố con người được xem là mắt xích yếu nhất trong việc tạo ra môi trường kỹ thuật số an toàn và bảo mật.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trong phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng quốc gia có chỉ đạo: Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của người dân và doanh nghiệp, trong đó các lực lượng chức năng làm nòng cốt là một trong những giải pháp hết sức quan trọng trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Thực tiễn đó ở Việt Nam, những năm qua, các cấp có thẩm quyền đã ban hành các chính sách về an toàn, an ninh mạng; các chiến lược, đề án về an ninh mạng đã được xây dựng. Công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng đạt được nhiều kết quả tích cực, nhất là đối với hệ thống mạng thông tin quốc gia, hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia; đấu tranh có hiệu quả với vi phạm pháp luật về an toàn, an ninh mạng. Bảo đảm an toàn, an ninh mạng đối với hệ thống mạng thông tin quốc gia; bảo vệ uy tín, hình ảnh của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên không gian mạng. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh mạng.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, như: Nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng, sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo về an toàn, an ninh mạng còn chưa cao. Hành lang pháp lý và hệ thống pháp luật về an toàn, an ninh mạng chưa hoàn thiện. Công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh mạng chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, đặc biệt đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch xuyên biên giới. Hoạt động tấn công mạng gia tăng. Tình trạng thu thập trái phép, mua bán thông tin, dữ liệu cá nhân vẫn diễn biến phức tạp. Tội phạm sử dụng công nghệ cao tiếp tục có chiều hướng tăng...

Khảo sát gần đây cho thấy chỉ có 17% doanh nghiệp Việt Nam được xếp ở giai đoạn triển khai nâng cao và sẵn sàng giải quyết các rủi ro bảo mật; 23% doanh nghiệp chuẩn bị tốt về dữ liệu; 31% doanh nghiệp chuẩn bị tốt về thiết bị cho giải quyết các vấn đề bảo mật; 53% tổ chức, doanh nghiệp mới đang ở giai đoạn bắt đầu. Điều này cho thấy việc chuẩn bị và mức độ sẵn sàng cho giải quyết vấn đề an ninh mạng chưa cao. Đây là một trong các nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng thời gian qua. Nếu người dùng nhận thức đầy đủ và có kỹ năng bảo vệ an toàn thông tin cơ bản thì có thể tự phòng tránh được tới hơn 80% nguy cơ mất an toàn thông tin khi tham gia không gian mạng. Trên thực tế, nhận thức của nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người sử dụng trong cộng đồng hiện nay còn nhiều tồn tại, hạn chế, chưa đủ để tự bảo vệ mình trước những mối đe dọa về an toàn thông tin. Nhiều người dùng chưa có các kỹ năng bảo vệ an toàn thông tin, phòng tránh lây nhiễm mã độc; sử dụng các phần mềm lậu, truy cập các trang web không uy tín, hoặc không sử dụng các phần mềm bảo vệ thiết bị.

Hiện nay, chúng ta xác định không gian mạng đã trở thành không gian chiến lược; phải chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, phải có sự tham gia, vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, người dân; trong đó Ban Chỉ đạo, Văn phòng Ban Chỉ đạo, các Tiểu ban An toàn, An ninh mạng, các lực lượng bảo đảm an toàn, an ninh mạng là nòng cốt, là trực tiếp. Để phát huy sức mạnh tổng hợp trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng, cần đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức về bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Thực hiện có hiệu quả Quyết định 1907/QĐ-TTg ngày 23/11/2020 về Đề án Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và phổ biến kiến thức về an toàn thông tin giai đoạn 2021 - 2025. Tăng cường giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng; cách thức nhận diện các âm mưu, thủ đoạn tấn công mạng và các hình thái tiêu cực phát sinh trên không gian mạng cho toàn thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

Nâng cao hiệu quả điều hành, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng quốc gia. Tiếp tục bám sát các nhiệm vụ trọng tâm (an ninh mạng; an toàn thông tin mạng; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trên không gian mạng; đấu tranh xử lý thông tin xấu, độc). Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, để công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng chuyển biến mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn. Tham mưu cho cấp có thẩm quyền hoàn thiện các chính sách về an toàn, an ninh mạng, thực hiện các chiến lược, đề án về an ninh mạng. Phát huy tốt vai trò nòng cốt của các lực lượng chuyên trách và các lực lượng tham gia trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Nắm chắc tình hình có liên quan đến hoạt động bảo vệ an toàn, an ninh mạng; phòng, chống tấn công và bảo vệ hoạt động ổn định của hệ thống thông tin quan trọng; ngăn chặn hoạt động sử dụng không gian mạng nhằm gây phương hại an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; chủ động tấn công vô hiệu hóa mục tiêu trên không gian mạng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Không ngừng nâng cao trách nhiệm và các kỹ năng cần thiết về an toàn, an ninh mạng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng. Tuyệt đối tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an toàn, an ninh mạng. Kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến bảo vệ an toàn, an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an toàn, an ninh mạng, hành vi xâm phạm an ninh mạng cho cơ quan có thẩm quyền, lực lượng bảo vệ an ninh mạng. Thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền trong bảo vệ an toàn, an ninh mạng; giúp đỡ, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức và người có trách nhiệm tiến hành các biện pháp bảo vệ an toàn, an ninh mạng. Đồng thời chú trọng hơn nữa việc đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện tốt Đề án “Đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng, giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”. Nghiên cứu, đề xuất thí điểm một số chế độ ưu đãi và chế độ đặc thù đối với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, nhân sự làm về an toàn thông tin mạng./.

                                                                                                     VHT.


CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH VỚI CÁC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá. Trước tình hình diễn biến trên không gian mạng ngày càng phức tạp cùng với các hoạt động chống phá có tổ chức, xây dựng và lên kế hoạch tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, chủ động sử dụng thông tin chính thống đóng vai trò dẫn dắt định hướng dư luận. Các ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí cần phát huy được vai trò trong cung cấp thông tin chính thống kịp thời và chính xác, tránh tạo khoảng trống thông tin để các đối tượng phản động lợi dụng phát tán các thông tin xuyên tạc, để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận với thông tin chính thống trước khi tiếp cận với thông tin phản động. Hệ thống các kênh truyền thông của các cấp từ Trung ương đến địa phương cần được xây dựng đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các kênh truyền thông để tạo ra sức ảnh hưởng lớn với dư luận.

Hai là, tích cực nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài Quân đội có thế mạnh trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và trên báo chí, Trong đó lực lượng của Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp có cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, yêu cầu thực hiện đúng theo pháp luật Việt Nam, hợp tác trong việc xóa bỏ các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phối hợp lực lượng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cung cấp trao đổi thông tin kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng Internet mạng xã hội để tổ chức các hoạt động phát tán tin giả, thông tin sai sự thật nguy hại đến chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Ba là, tiếp tục nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đấu tranh. Xây dựng và khai thác có hiệu quả các trọng tâm nghiên cứu công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực, từ đó có kế hoạch để triển khai các nhiệm vụ truyền thông, đấu tranh với thông tin xấu bảo đảm sự bài bản, tính chính xác, hiệu quả. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp, ứng dụng sức mạnh của khoa học, công nghệ thông tin để tăng cường khả năng theo dõi, bám nắm, giám sát tình hình; hỗ trợ cho công tác quản lý, đánh giá chất lượng các hình thức đấu tranh. Nghiên cứu, xây dựng nội dung, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ hoạt động triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc. Xây dựng hệ thống kênh chỉ đạo điều hành đồng bộ từ chỉ huy đến cấp thực hiện, kênh liên lạc giữa các lực lượng tham gia đấu tranh. Hệ thống cho phép điều hành tổ chức các nhiệm vụ triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc trên Internet, mạng xã hội đồng thời là kênh để cán bộ thực hiện có thể chia sẻ kinh nghiệm cách thức tổ chức xử lý thông tin xấu độc. Trang bị cho lực lượng đấu tranh các hệ thống hiện đại để giám sát phát hiện thông tin phát hiện kịp thời các thông tin xuyên tạc trước khi bị phát tán ra nhiều tài khoản mạng xã hội tiếp cận đến số lượng lớn cộng đồng mạng.

Bốn là, nâng cao nhận thức, vai trò cán bộ, đảng viên và quần chúng trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nâng cao hơn nữa nhận thức, vai trò, trách nhiệm, tiền phong, gương mẫu nêu gương trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Phát huy tính hiệu quả, thiết thực việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền tải, nhân rộng những yếu tố tích cực, tấm gương tiêu biểu, người tốt, việc tốt, những giá trị văn hóa nhân văn, tinh thần tương thân, tương ái của quốc gia, dân tộc. Đồng thời, tích cực đấu tranh chống các thông tin sai trái, phản động, bịa đặt trên mạng xã hội, phê bình, phản đối các hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội để chia sẻ, thông tin, bình luận, đăng tải những hình ảnh phản cảm, thiếu tinh thần trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm với những khó khăn, mất mát của nhân dân./.

                                                                                             VHT.




SỰ CHỐNG PHÁ NGÀY CÀNG TINH VI, PHỨC TẠP CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

 

 Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, chặt chẽ, thường xuyên, liên tục và quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, bài bản, đi vào chiều sâu với quan điểm không có vùng cấm, sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào và được tiến hành sâu rộng từ Trung ương đến cơ sở. Phương châm PCTN, tiêu cực mà Đảng ta đề ra là: Phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách. 

Thực tiễn tham nhũng đã xuất hiện từ khi có giai cấp, nhà nước và tồn tại ở các chế độ chính trị khác nhau. Bản chất của tham nhũng luôn gắn liền với quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế mà không phụ thuộc vào bất cứ chế độ chính trị hay đảng phái nào. Ngày nay, tham nhũng là căn bệnh phức tạp, hoành hành trên nhiều lĩnh vực, gây ra những hậu quả nghiêm trọng ở các quốc gia với các chế độ xã hội khác nhau. Vì lẽ đó, đấu tranh chống tham nhũng được nhiều nước quan tâm, thực hiện quyết liệt với các hình thức, biện pháp đa dạng, linh hoạt. Song, đây cũng là quá trình khó khăn, lâu dài và gian nan, không thể nôn nóng. Từ thực trạng tham nhũng ở các quốc gia trên thế giới; sự tham gia, vào cuộc mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, khẳng định rõ Việt Nam đẩy mạnh công tác, tiêu cực vừa là yêu cầu tất yếu của sự phát triển đất nước, vừa là cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.

 Bất chấp những thành tựu đạt được trong công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, với dã tâm thâm độc, nham hiểu, âm mưu chống phá đến cùng, thái độ hằn học mà các thế lực thù địch, phản động không từ bỏ thủ đoạn nào để xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ, bóp méo sự thật về công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam. Chúng đã nhắm mắt làm ngơ trước những điều tốt đẹp mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được. Với luận điệu trơ tráo, lố bịch, các thế lực thù địch cố tình dùng mọi thủ đoạn để thực hiện mưu đồ xấu xa; xuyên tạc về công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam. Lợi dụng công nghệ truyền thông, mạng xã hội và sự thiếu thông tin, hiểu biết của một bộ phận người dân để lập các trang web, đăng tải tin, video clip với nội dung xuyên tạc, bôi đen, gán ghép, dựng chuyện và cho rằng tham nhũng ở Việt Nam đang xảy ra ở khắp mọi nơi, ngõ ngách. Với những nhận định và kết luận vô căn cứ mang tính xuyên tạc, kích động, gây tâm lý bất ổn trong nhân dân; sự hoài nghi về các chủ trương, quyết sách của Đảng về PCTN, tiêu cực nhằm làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chúng dẫn dắt dư luận, gây tâm lý hoài nghi, dao động, tạo cớ, kích động và tạo sự đối lập, bất ổn từ bên trong và xa hơn là phá hoại, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (XHCN) ở Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch tung ra luận điệu, tham nhũng là bản chất của chế độ XHCN, là căn bệnh nan y của “chế độ độc đảng cầm quyền”; một đảng không thể chống được tham nhũng; do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng tất yếu xảy ra, rồi đi đến quy chụp tham nhũng là “do chế độ độc đảng cầm quyền”. Chúng suy diễn rằng, còn Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo thì còn tham nhũng và ngày càng táo tợn, trầm trọng hơn. Rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng vì Đảng cũng suy thoái; là sự phân chia quyền lực, là các trận đấu giữa băng này với nhóm kia trong hệ thống chính trị, trong hệ thống công quyền... Chúng còn lớn tiếng hô hào, “chỉ tự do chính trị mới giúp Việt Nam chống được tham nhũng” và công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam chỉ là mị dân; càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng gia tăng vì không có dân chủ; căn nguyên của tham nhũng là do Đảng đứng trên pháp luật... Từ đó, chúng kêu gọi muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải đa nguyên, đa đảng, phải thực hiện “xã hội dân sự”.

Với âm mưu cực kỳ tinh vi, xảo quyệt hòng thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng việc xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng, nhất là sau các vụ việc ở Bộ tư lệnh Cảnh sát biển và Học viện Quân y, các phần tử xấu đã thổi phồng, vơ đũa cả nắm với luận điệu cho rằng, tham nhũng xảy ra ở toàn quân.

Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã thảo luận Đề án thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực. Đã có nhiều cuộc hội thảo được tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn về PCTN, tiêu cực. Đề án cũng được triển khai lấy ý kiến các ban, bộ, ngành, địa phương và các thành viên Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực. “Đề án đã trình bày đầy đủ, đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết, căn cứ và nguyên tắc thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh”. Sau một năm đi vào hoạt động đã khẳng định chủ trương đúng và tầm nhìn chiến lược của Ðảng trong lãnh đạo công tác PCTN, tiêu cực. Vậy mà, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc chủ trương thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực là giả tạo và không cần thiết, chỉ tốn tiền của dân. Rằng, thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực cho thấy sự kém hiệu quả của công tác chống tham nhũng. Những luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ, sự bịa đặt thiển cận và gán ghép, quy chụp trên nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng của nhân dân ta; phủ định sạch trơn những thành tựu to lớn của đất nước; hạ thấp vai trò lãnh đạo và quyết tâm PCTN, tiêu cực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./.

                                                                                                        VHT.