Thứ Tư, 20 tháng 9, 2023

Thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

 TCCS - Thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo vệ kỷ cương xã hội là mối quan hệ lớn thứ mười được Đại hội XIII của Đảng bổ sung. Đây là mối quan hệ lớn có ảnh hưởng rộng lớn đối với mọi mặt của đời sống xã hội, phản ánh tính ưu việt của hệ thống chính trị Việt Nam, đồng thời có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Trưởng Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương và các đại biểu tham quan phòng truyền thống của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao_Ảnh: TTXVN

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, là thuộc tính tự nhiên, vốn có của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước đề cao vai trò của pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội, trong đó Nhà nước và xã hội được tổ chức và hoạt động trên cơ sở một hệ thống pháp luật “đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(1) và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán nhằm bảo đảm công lý và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ thực hiện pháp luật nghiêm, triệt để, chính xác và không có ngoại lệ của mọi chủ thể pháp luật. Như vậy, để có pháp chế xã hội chủ nghĩa cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đòi hỏi mọi chủ thể trong xã hội phải thực hiện pháp luật đúng, nghiêm, triệt để, chính xác và mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo quy định. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, cần thiết phải nhận thức đầy đủ, nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở những khía cạnh căn bản sau:

Thứ nhất, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội luôn có tính thống nhất và quan hệ mật thiết, tạo tiền đề, cơ sở cho nhau cùng vận hành và phát triển. Nền dân chủ trong đời sống xã hội càng cao thì nhà nước pháp quyền và nguyên tắc pháp chế càng được củng cố và hoàn thiện, kỷ cương xã hội được bảo đảm và giữ vững. Kỷ cương xã hội là kết quả, là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Để có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cần phải có pháp chế xã hội chủ nghĩa; để có pháp chế xã hội chủ nghĩa thì cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện. Hệ thống pháp luật càng hoàn thiện bao nhiêu thì pháp chế càng cao bấy nhiêu. Tuy nhiên, không phải cứ có pháp luật là có pháp chế. Nhà nước nào trong lịch sử cũng đều sử dụng pháp luật, nhưng pháp chế chỉ có trong nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước chủ nô, phong kiến không có pháp chế vì pháp luật không nghiêm, theo kiểu “lễ nghi không đến thứ dân, hình phạt không đến trượng phu”, chỉ bảo vệ lợi ích độc tôn của giai cấp thống trị, cưỡng bức quần chúng tuân thủ. Có thể thấy, pháp luật là tiền đề, cơ sở pháp lý để thực hiện dân chủ và dân chủ được thi hành trong khuôn khổ của pháp chế thì mới bảo đảm được kỷ cương xã hội. 

Thứ hai, thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải đặt trong mối quan hệ với thiết chế nhà nước, cụ thể là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bởi lẽ không thể có một nền dân chủ tồn tại bên ngoài Nhà nước và Nhà nước chính là chủ thể ban hành pháp luật và duy trì pháp chế. Dân chủ là dân là chủ, dân làm chủ và trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải tăng cường thực hành dân chủ thực chất và rộng rãi, tránh cả hai thái cực là dân chủ hình thức hoặc dân chủ cực đoan, vô chính phủ. Nhà nước với vai trò là thiết chế kiến tạo điều kiện, môi trường cho thực hành dân chủ, do vậy, nó không còn là chủ thể quản lý bằng mệnh lệnh, bằng chức năng thống trị, mà phải vươn lên để trở thành nhà nước phục vụ, đặt người dân ở trung tâm của mọi hoạt động và tổ chức của Nhà nước, sự hài lòng của người dân là thước đo về thực hành dân chủ chính xác nhất. Chính vì vậy, thực hành dân chủ gắn với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội luôn phải gắn liền với sự kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong đó, tập trung vào một số nhiệm vụ được đề ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, của Hội nghị Trung ương 6 khoá XIII: Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội; Chính phủ, chính quyền địa phương; xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhân dân trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật… Bộ máy nhà nước hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả thì sẽ có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Thứ ba, thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải được bảo đảm trên cơ sở hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, nhất là dựa vào nhân dân. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực của Nhà nước là xuất phát từ nhân dân, điều này được khẳng định tại khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”, nghĩa là chủ thể của quyền lực nhà nước là nhân dân, nhân dân ủy quyền cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước để thực hiện quyền lực của mình. Do vậy, nhân dân có quyền giám sát chủ thể thực hiện quyền lực của mình bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau. Kiếm soát quyền lực nhà nước luôn có vai trò của nhân dân nhằm chống lạm quyền, lộng quyền hay tha hóa quyền lực của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhân viên nhà nước. Nhà nước gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Nhà nước hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu ban hành các văn bản của Đảng, văn bản pháp luật để thể chế hóa cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng(2), cũng như của Nhà nước, do nhân dân thực hiện, để bảo đảm phương châm dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực, là phương thức hữu hiệu nhất trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Cơ chế này đòi hỏi phải thể chế hóa vai trò của nhân dân trong kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Mặt khác, xây dựng hệ thống pháp luật cho phép các bộ phận bên trong của Đảng, Nhà nước có thể giám sát, chế ước lẫn nhau, hay còn gọi là kiểm soát nội bộ.

Thứ tư, thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải được bảo đảm trên cơ sở đổi mới, đa dạng hóa tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Nhân dân thực hiện quyền làm chủ không chỉ bằng Nhà nước, mà còn thông qua các tổ chức của mình. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò to lớn trong việc củng cố, bảo vệ Đảng, Nhà nước, hơn nữa đó là những thiết chế có vai trò quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời là môi trường, là trường học để nâng cao ý thức, năng lực và nhu cầu dân chủ cho các tầng lớp nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp để tổ chức các diễn đàn tuyên truyền về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân, từ đó làm cho nhân dân nhận thức đầy đủ hơn, hiểu sâu sắc hơn về trách nhiệm của mình với Đảng, Nhà nước. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp trong việc tiếp xúc với nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân, từ đó xem xét, xử lý, tháo gỡ những vướng mắc mà nhân dân kiến nghị, tạo điều kiện để nhân dân thực hành quyền dân chủ trên cơ sở, khuôn khổ pháp luật, pháp chế và bảo đảm kỷ cương xã hội.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn là những thiết chế để các tầng lớp nhân dân tham gia công việc của Nhà nước, quản lý, giám sát hoạt động của Nhà nước, phải đổi mới trên nhiều mặt theo hướng khắc phục tình trạng “hành chính hóa”, “nhà nước hóa” trong tổ chức và hoạt động. Đồng thời, đa dạng hóa hình thức tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội phù hợp với tính chất quần chúng và những biến động đa dạng về cơ cấu giai cấp - xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhân dân thực hiện các quyền dân chủ khi tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, giám sát hoạt động của Nhà nước phải bảo đảm các quy định của pháp luật, quy tắc, quy chế của các tổ chức chính trị - xã hội.

Nhà nước Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức phi chính phủ nước ngoài thực hiện hoạt động nhân đạo, phát triển tại Việt Nam. Tổ chức phi chính phủ nước ngoài thực hiện hoạt động nhân đạo, phát triển tại Việt Nam phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và tuân thủ pháp luật Việt Nam. Nhân dân tham gia vào các tổ chức này phải bảo đảm các quy định của pháp luật Việt Nam. Đó là một trong những phương thức quan trọng cho việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thông qua các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam nhưng phải bảo đảm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo đảm kỷ cương xã hội.

Cán bộ, chiến sĩ Công an tỉnh Quảng Ninh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh_Nguồn: doanthanhnien.vn

Thứ năm, thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải được thể hiện qua giám sát và phản biện xã hội, tạo dựng thói quen thảo luận, bày tỏ quan điểm, chính kiến của nhân dân về các vấn đề quan trọng của đất nước.

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Đảng ban hành Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị, “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”Trên cơ sở đó, Nhà nước cụ thể hóa quy định của Đảng bằng việc ban hành Luật Thực hiện dân chủ cơ sở. Đó là bước tiến quan trọng trong việc phát huy sự tham gia của nhân dân trong xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tham gia giám sát và phản biện xã hội.

Thực hiện tốt phương châm “động viên nhân dân tham gia các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hoạt động tự quản cộng đồng”(3) đánh giá, phản biện và dự đoán các lĩnh vực chuyên biệt của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, dân chủ, tôn giáo, an ninh,… trở thành lực lượng cốt cán và tiên phong trong giám sát và phản biện xã hội. Biện pháp này góp phần khắc phục sự e ngại của các chủ thể khi tham gia phản biện xã hội, cũng như khơi dậy ý thức trách nhiệm của mỗi chủ thể để giám sát và phản biện xã hội phải thực sự được coi là một hoạt động có tính khách quan, chuyên nghiệp.

Thiết lập cơ chế phối hợp giữa hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cơ quan báo chí và nhân dân với hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng và hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, xét xử… của các cơ quan nhà nước. Từ cơ chế phối hợp đó, hoạt động giám sát và phản biện xã hội cung cấp thêm những góc nhìn, quan điểm, nguyện vọng từ phía quần chúng nhân dân để Đảng và Nhà nước có những quyết sách đúng đắn, phù hợp nhất và tạo sự đồng thuận xã hội. Mặt khác, hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, xét xử… của Nhà nước mang tính quyền lực công với những chế tài xử lý nghiêm minh sẽ góp phần bảo đảm những kết quả giám sát và phản biện xã hội phát huy được giá trị trong thực tiễn.

Bảo đảm cơ chế công khai, minh bạch, mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho các chủ thể giám sát và phản biện xã hội. Công khai hóa, minh bạch hóa là một xu thế tất yếu hiện nay và được các quốc gia trên thế giới ghi nhận và nỗ lực bảo đảm. Hoạt động giám sát và phản biện xã hội có tính khách quan, phản ánh ý chí, nguyện vọng, kiến nghị của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Để bảo đảm được tính khách quan, trung thực của sự phản biện, cần phải bảo đảm cơ chế công khai, minh bạch thông tin (trừ những thông tin mật ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, quyền con người), đặc biệt là những thông tin liên quan đến các chính sách, kế hoạch, chương trình phát triển đất nước và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Quá trình xây dựng chính sách, thể chế, tổ chức của Nhà nước phải được công khai, minh bạch (trừ vấn đề thuộc bí mật quốc gia). Quá trình tiếp thu ý kiến cũng cần được công khai, minh bạch để các chủ thể giám sát và phản biện nắm rõ được ý kiến của mình được tiếp thu và xử lý đến đâu hoặc biết rõ được lý do những ý kiến đó bị từ chối bởi các cơ quan hữu quan. Điều này nhằm khắc phục tình trạng bất cập hiện nay là chủ thể giám sát và phản biện xã hội không biết được cơ quan nhà nước tiếp thu ý kiến đến đâu và những kiến nghị có được giải quyết không, trách nhiệm thuộc về ai,…. Việc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin sẽ tạo ra cơ chế lắng nghe, tiếp thu và phản hồi ý kiến một cách thường xuyên và có trách nhiệm giữa cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân, bảo đảm việc tham gia ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và nhân dân thực chất, hiệu quả, tránh những sai lệch bởi thông tin không chính thống.

Mở rộng các hoạt động kiểm tra việc thực hiện các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động giám sát và phản biện xã hội. Các cơ quan của Đảng và Nhà nước cần tiến hành những hoạt động kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất để nắm bắt được quá trình tiếp nhận, xử lý và tiếp thu ý kiến giám sát và phản biện xã hội của các cấp chính quyền. Mặt khác, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội, cơ quan báo chí và nhân dân cần chủ động trong việc theo dõi việc xử lý thông tin phản ánh và sự điều chỉnh hành vi, chính sách từ phía các đối tượng được giám sát và phản biện xã hội. Có như vậy mới thiết lập được kỷ luật, nâng cao trách nhiệm của cả chủ thể và đối tượng được giám sát và phản biện xã hội, kịp thời ngăn chặn những hành vi sai trái, lệch lạc, vi phạm pháp luật trong hoạt động này.

Để nhân dân tham gia giám sát và phản biện xã hội có hiệu quả thì cần phải có đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm cao trong công việc, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân. Kiên trì thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(4).

Dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển đất nước. Thực hành dân chủ phải gắn với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội. Thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm kỷ cương xã hội cần trở thành nền nếp, thành quan hệ ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội. Đây là yêu cầu, điều kiện quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đồng thời cũng phản ánh tính ưu việt của hệ thống chính trị Việt Nam./.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc xây dựng bộ máy nhà nước Trung ương trong những năm 1945 - 1954 - Bài học kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện bộ máy nhà nước

 TCCS - Những năm 1945 - 1954, trong bối cảnh vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam non trẻ, giúp bộ máy nhà nước nói riêng và hệ thống chính trị Việt Nam nói chung dần được hoàn thiện, đáp ứng những đòi hỏi bức thiết mà sự nghiệp cách mạng đề ra. Trong giai đoạn hiện nay, những kinh nghiệm, bài học quý báu rút ra từ quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng bộ máy nhà nước vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn.

Xây dựng bộ máy nhà nước những năm 1945 - 1954 dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Giai đoạn 1945 - 1946

Trong giai đoạn này, hệ thống chính trị của Việt Nam có nhiều đảng phái hoạt động, trong đó bên cạnh các đảng phái ủng hộ cách mạng (nổi bật là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam), còn có một số đảng phái đối lập và phản cách mạng cùng tồn tại trong hệ thống (điển hình là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội (Việt Cách). Bối cảnh chính trị rối ren cùng sức ép của các thế lực phản động trong và ngoài nước buộc Đảng Cộng sản Đông Dương phải quyết định tuyên bố tự giải tán vào tháng 11-1945, thực chất là rút vào hoạt động bí mật để tiếp tục lãnh đạo cách mạng.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngày 28-8-1945, Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Hồ Chí Minh giữ vị trí Chủ tịch Chính phủ lâm thời kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Do các hình thức chính quyền tiền Cách mạng tháng Tám chưa phải là bộ máy nhà nước hoàn chỉnh, cũng chưa do nhân dân bầu ra bằng tổng tuyển cử, nên một trong những nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của Chính phủ cách mạng lâm thời là khẩn trương chuẩn bị điều kiện cần thiết để tổ chức càng sớm càng tốt một cuộc tổng tuyển cử toàn quốc. Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”(1). Chính phủ lâm thời đã thể hiện rõ quyết tâm của mình thông qua việc ban hành một loạt chính sách, tạo khung pháp lý và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sự kiện đặc biệt quan trọng này.

Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa I - Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội_Ảnh: Tư liệu

Tuy nhiên, sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đã cản trở không nhỏ tiến trình tổ chức Tổng tuyển cử. Luận điệu xuyên tạc của thế lực phản động xoay quanh những vấn đề, như “kêu gọi tẩy chay Tổng tuyển cử vì rằng trình độ dân trí của ta còn thấp kém(!), trên 90% dân số mù chữ nên không đủ năng lực thực hiện quyền công dân của mình, rằng cần tập trung chống Pháp xâm lược không nên mất thì giờ vào bầu cử, v.v.. và v.v..”(2). Mục đích của Việt Quốc, Việt Cách cùng những nhóm chống phá khác là ngăn chặn hợp thức hóa chính quyền cách mạng, bởi điều đó gần như chắc chắn sẽ gián tiếp loại phần lớn trong số họ khỏi đời sống chính trị đất nước. Đấu tranh với lực lượng phản động, các báo Cứu quốc, Sự thật đã liên tiếp đăng những bài báo nêu rõ bản chất cách mạng của chính phủ lâm thời, góp phần đập tan những luận điệu vô căn cứ của các thế lực thù địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết”(3).

Cuộc đấu tranh không chỉ nóng ở mặt trận tuyên truyền, mà còn rất quyết liệt trong vấn đề đàm phán, thương lượng. Nhằm tạo bầu không khí ổn định cho Tổng tuyển cử, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Chính phủ lâm thời đã chủ trương cố gắng nhân nhượng, hòa giải với các lực lượng chống phá. Ngày 2-12-1945, Chính phủ ký với Việt Quốc, Việt Cách bản Biện pháp đoàn kết gồm 14 điều chính và 4 điều phụ, qua đó thừa nhận 70 ghế không qua bầu cử cho họ, thành lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời để Việt Quốc, Việt Cách được giữ một số ghế trong Chính phủ.

Nhờ những chính sách nhân nhượng cần thiết, vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn, kiên quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời đã tập hợp được sự đoàn kết, ủng hộ của nhân dân, hạn chế tối đa sự chống phá của kẻ thù, từ đó thực hiện nhanh chóng nhất có thể cuộc Tổng tuyển cử toàn dân đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Những chủ trương sách lược và biện pháp trên đây đã “làm thất bại âm mưu của quân Tưởng muốn tiêu diệt chính quyền nhân dân, bảo đảm cho nhân dân ta tập trung sức kháng chiến chống xâm lược của thực dân Pháp ở miền Nam. Chính quyền nhân dân không những được giữ vững mà còn được củng cố về mọi mặt”(4). Ngày 6-1-1946, Tổng tuyển cử diễn ra trong không khí phấn khởi của toàn dân. Dù ở cả ba miền, các thế lực phản động, thù địch luôn chống phá quyết liệt, đặc biệt ở miền Nam, nhân dân phải đi bỏ phiếu dưới bom đạn của kẻ thù, nhưng cuộc bầu cử vẫn kết thúc thành công. Tổng kết lại, “nhìn chung ở cả 71 tỉnh thành trong cả nước, 89% tổng cử tri đã đi bỏ phiếu, phổ biến là 80%, nhiều nơi đạt 95%. Trừ một số nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó, có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau, 43% không đảng phái, 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu phụ nữ và 34 đại biểu các dân tộc thiểu số”(5).

Sau khi cuộc Tổng tuyển cử kết thúc, Chính phủ gấp rút chuẩn bị cho kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I. Sau những cố gắng thương lượng, bàn thảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ với lực lượng đối lập, ngày 25-2-1946, hội nghị liên tịch giữa Việt Minh, Đảng Dân chủ, Việt Quốc và Việt Cách đã thống nhất đề nghị với Quốc hội những nội dung chính sau(6): 1- Thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến chính thức gồm 10 bộ, trong đó Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ để các vị không thuộc đảng phái nào nắm giữ, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông công chính, Bộ Giáo dục và Bộ Tư pháp do Việt Minh và Đảng Dân chủ nắm giữ, Bộ Ngoại giao, Bộ Kinh tế, Bộ Xã hội và Bộ Canh nông do Việt Quốc và Việt Cách nắm giữ, Bộ Giao thông công chính và Bộ Canh nông dành cho các đại biểu Nam bộ; 2- Thành lập Ủy viên kháng chiến để chuyên lo công việc kháng chiến; 3- Thành lập Quốc gia cố vấn đoàn do Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy làm trưởng đoàn.

Ngày 2-3-1946, phiên họp đầu tiên của Quốc hội mang ý nghĩa lịch sử trọng đại. Dù chưa bàn được những quyết sách lớn, nhưng Quốc hội đã thành lập được một số cơ quan quan trọng của Nhà nước là: Ban Thường trực Quốc hội, Cố vấn đoàn, Kháng chiến uỷ viên hội và quan trọng nhất là Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, cơ quan quyền lực điều hành cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, tổng động viên nhân lực và tài lực quốc gia, là một quyết sách đúng đắn của Quốc hội vào thời điểm lịch sử lúc đó. Nhờ vậy, bộ máy nhà nước ở Trung ương đã được hoàn thiện thêm một bước. Việc trao nhiều quyền cho Chính phủ đã giúp “bảo đảm cho Chính phủ đủ uy tín, hiệu lực để tổ chức nhân dân kháng chiến, kiến quốc, thực hiện mọi chức năng, nhiệm vụ đối nội và đối ngoại, trước mắt là đàm phán thực hiện sách lược tạm hoà hoãn với Pháp, tiếp tục củng cố chính quyền cách mạng, bồi bổ thực lực, chuẩn bị lực lượng để chiến đấu bảo vệ tổ quốc khi tình thế bắt buộc quân và dân ta phải kháng chiến trong cả nước”(7).

Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I là dấu mốc quan trọng khác trong quá trình củng cố bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết là ở cấp Trung ương. Trong quá trình họp bàn, thảo luận, các đại biểu đã tỏ rõ sự tiến bộ cả về ý thức trách nhiệm cũng như tinh thần của một đại biểu dân cử với những ý kiến sôi nổi về nhiều vấn đề lớn của đất nước. Quốc hội đã ủy nhiệm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng ra lập chính phủ mới, biểu quyết thông qua danh sách chính phủ mới. Nhận định về Chính phủ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái... Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà”(8).

Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới, được soạn thảo bởi Tiểu ban dự thảo Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng Tiểu ban, được Quốc hội khóa I thông qua vào ngày 9-11-1946. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định đầy đủ cấu trúc, tổ chức của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản chất của nhà nước này được nêu rõ trong Điều thứ 1 như sau: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(9). Về tổ chức bộ máy nhà nước ở cấp trung ương, Nghị viện nhân dân được quy định là cơ quan có quyền cao nhất, do công dân Việt Nam bầu ra, có quyền giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài. Nghị viện bầu một Nghị trưởng, hai Phó Nghị trưởng, 12 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết để lập thành ra Ban thường vụ (Điều thứ 27)(10). Chính phủ gồm có Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch và Nội các (bao gồm Thủ tướng - người đứng đầu nội các và các Bộ trưởng, Thứ trưởng) (Điều thứ 44)(11). Tất cả thành viên của Chính phủ, trừ Phó Chủ tịch nước và các Thứ trưởng, đều phải là đại biểu Quốc hội. Chủ tịch nước có quyền chọn Thủ tướng, Thủ tướng có quyền chọn các Bộ trưởng để Nghị viện biểu quyết. Ngành Tư pháp gồm có tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp; các Thẩm phán đều do Chính phủ trực tiếp bổ nhiệm, và khi xét xử hình sự phải có sự tham gia của phụ thẩm nhân dân (Điều thứ 64, 65)(12)Ở cấp địa phương, hệ thống cơ quan nhà nước bao gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính, Tòa án (đệ nhị cấp - tòa án cấp tỉnh và thành phố xét xử phúc thẩm, tòa án sơ cấp ở huyện xét xử sơ thẩm và ban tư pháp ở cấp xã).

Giai đoạn 1946 - 1954

Do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bộ máy nhà nước từ Trung ương tới địa phương được xác lập về cơ bản theo Hiến pháp năm 1946 không có điều kiện vận hành như một chính quyền dân sự bình thường. Với đặc điểm của một Quốc hội kháng chiến, cuối tháng 12-1946, Quốc hội Việt Nam khóa I đã thống nhất cao về việc tập trung quyền lực vào Chính phủ, chỉ duy trì Trưởng Ban Thường trực Quốc hội cùng Chính phủ để bảo đảm vai trò của Quốc hội trong các quốc sách lớn; còn các đại biểu Quốc hội khác sẽ chủ động hoàn thành nhiệm vụ của mình tùy theo năng lực, vị trí và hoàn cảnh kháng chiến cụ thể. Sau đó, theo diễn biến thực tế, đại diện của Quốc hội hoạt động cùng Chính phủ đã có lúc mở rộng hơn thành Ban Thường vụ Quốc hội (như quyết định vào tháng 2-1950 gồm Bùi Bằng Đoàn, Tôn Đức Thắng, Tôn Quang Phiệt, Dương Đức Hiền, Trần Huy Liệu, Phạm Bá Trực) hoặc rộng hơn là Ban Thường trực Quốc hội. Điều đó cho thấy, đặc điểm quan trọng nhất về tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn này là “do hoàn cảnh chiến tranh, chiến trường bị chia cắt, công tác kháng chiến trên mọi mặt trận rất khẩn trương cho nên Quốc hội không có điều kiện để họp định kỳ như trong thời bình. Quyền lực tập trung vào Chính phủ”(13).

Trong điều kiện như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh với vai trò là người đứng đầu Chính phủ đã tiếp tục gánh vác những trọng trách lịch sử lớn lao để bảo đảm bộ máy nhà nước được xây dựng theo hướng đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc. Theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ vào ngày 19-12-1946, bộ máy nhà nước cơ bản được chuyển đổi sang mô hình thời chiến: ở cấp Trung ương gồm Chính phủ kháng chiến và Ban Thường vụ Quốc hội; ở cấp địa phương gồm các Ủy ban kháng chiến. Để tiếp tục hoàn thiện bộ máy nhà nước thời chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bổ sung các chức vụ, cơ quan chuyên trách công tác kháng chiến thông qua nhiều quyết định quan trọng, như ký Sắc lệnh số 110/SL, ngày 20-1-1948, để thụ cấp Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp, bổ nhiệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội vào tháng 7-1948; ký Sắc lệnh số 206/SL, ngày 19-8-1948, thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; ký Sắc lệnh số 141/SL, ngày 16-2-1953, thành lập Thứ Bộ Công an, rồi thông qua Hội đồng Chính phủ để đổi Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an vào tháng 6-1953;...

Cùng với công cuộc kháng chiến, tiếp tục xây dựng bộ máy nhà nước theo hướng pháp quyền cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng. Đơn cử, để nâng cao hiệu quả xây dựng văn bản pháp luật và điều chỉnh Hiến pháp nếu cần thiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 72/SL, ngày 18-6-1949, thành lập Hội đồng tư luật do Bộ Tư pháp chủ trì (từ năm 1950 Hội đồng này nằm dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Quốc hội). Dù rất khó khăn trong điều kiện chiến tranh, việc xây dựng nền dân chủ mới từ cấp cơ sở vẫn được Chính phủ và Ban Thường vụ Quốc hội nỗ lực duy trì. Ngoài tổ chức bầu lại Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp xã sau khi kháng chiến bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ đạo việc duy trì các kênh liên lạc mật thiết giữa chính quyền trung ương với các chính quyền và tổ chức kháng chiến địa phương, thể hiện qua những sự kiện, như các buổi tiếp và làm việc giữa đại diện Chính phủ, Quốc hội với Đoàn đại biểu Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ (tháng 9-1949), Đoàn đại biểu Nam Bộ (tháng 10-1949); các đoàn đại biểu thay mặt Chính phủ, Quốc hội đi thăm cơ sở (ở Liên khu Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV) trong năm 1951 để nắm bắt tình hình thực tế, giải thích các chính sách mới của Trung ương;... Một sự kiện điển hình quan trọng khác thể hiện nỗ lực bảo đảm tinh thần pháp quyền trước những thử thách của thời chiến là việc tổ chức kỳ họp thứ 3 của Quốc hội Khóa I tại Việt Bắc từ ngày 1 đến ngày 4-12-1953. Dù gặp vô vàn khó khăn do sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, nhưng việc triệu tập họp Quốc hội ở thời điểm này là yêu cầu bắt buộc, bởi chỉ phiên họp toàn thể của Quốc hội mới đủ thẩm quyền xem xét và thông qua Luật Cải cách ruộng đất - một chính sách đặc biệt lớn trong giai đoạn 1953 - 1956. Sau khi được Quốc hội biểu quyết thông qua, luật này đã được ban bố chính thức bằng Sắc lệnh số 197/SL, ngày 19-12-1953, của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là tiền đề để triển khai thí điểm các đợt giảm tô và cải cách ruộng đất từ ngày 25-12-1953 đến giữa năm 1954, tạo thêm động lực để quần chúng đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến, góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử ngày 7-5-1954.

Trong giai đoạn này, để xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt lưu tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức và những người làm việc trong cơ quan công quyền, kết hợp nghiêm trị những trường hợp thoái hóa, biến chất. Nhiều luận điểm, tác phẩm quan trọng thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, công tác cán bộ và phòng, chống tham nhũng đã được ra đời trong khoảng thời gian này, tiêu biểu như: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”(14); “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”(15); “Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm... Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm”(16); “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính... Vì những lẽ đó, chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”(17)... Cùng với hệ thống quan điểm chỉ đạo rất sâu sắc, khoa học, với vai trò là người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ra sức tham gia công tác phòng, chống tham nhũng bằng những biện pháp, như ra Sắc lệnh số 138/SL, ngày 18-1-1949, về tổ chức thanh tra Chính phủ, cho phép Thanh tra Chính phủ được thanh tra sự liêm khiết của các ủy ban kháng chiến hành chính và viên chức nhà nước (trước đó đã có Ban Thanh tra đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập bằng Sắc lệnh số 64/SL, ngày 23-11-1946, Ban này có quyền đỉnh chỉ, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Chính phủ hay Ủy ban Nhân dân phạm lỗi trước khi đưa ra xét xử).

Một số kinh nghiệm cho giai đoạn hiện nay

Nhìn lại quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo việc xây dựng bộ máy nhà nước Việt Nam những năm 1945 - 1954, có thể rút ra một số kinh nghiệm quan trọng cho giai đoạn hiện nay:

Thứ nhất, để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tinh thần thượng tôn pháp luật kết hợp với một hệ thống pháp luật văn minh phải được đặt lên hàng đầu. Dù không chính thức sử dụng khái niệm nhà nước pháp quyền, nhưng tư tưởng và quá trình hoạt động lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rất sâu sắc nội hàm của nhà nước pháp quyền, “là nhà lãnh đạo chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra các quyết sách và lãnh đạo xây dựng nền pháp quyền của chế độ mới, trong đó tập trung ở xây dựng một nhà nước hợp pháp, hợp hiến và hệ thống pháp luật dân chủ”(18). Những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm và thực hiện trong những năm 1945 - 1954 cho thấy, một điều kiện cực kỳ quan trọng của nhà nước pháp quyền là phải có cơ chế pháp lý đủ mạnh để những người làm việc cho cơ quan công quyền, dù người đó giữ cương vị cao đến đâu, đều phải nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật. Cùng với đó, bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật bảo đảm quyền làm chủ rộng rãi của người dân cũng là một phương diện không thể thiếu khác để chứng minh sự tiến bộ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tiếp xúc cử tri thành phố Hải Phòng_Ảnh: TTXVN

Thứ hai, sự tinh gọn về tổ chức là tiền đề rất cần thiết của một nhà nước hiệu lực, hiệu quả. Trong những năm 1945 - 1954, do “nhìn thấy nguy cơ “phình đại” của bộ máy hành chính quan liêu ở nước ta từ rất sớm”(19), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến yêu cầu tinh gọn về tổ chức của bộ máy nhà nước. Tháng 12-1945, khi được hỏi về việc tại sao Chính phủ liên hiệp kháng chiến chỉ có 10 bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Vì nước mình nhỏ nên không cần nhiều bộ”(20). Tháng 8-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất”(21). Tháng 3-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa và tầm quan trọng của tinh gọn bộ máy nhà nước, “Các cơ quan chính quyền và đoàn thể, các cơ quan kinh tế và các Ủy ban, cần phải nâng cao năng suất, giảm bớt số người (tinh giản). Hiện nay, các cơ quan của ta người nhiều, việc ít, xài phí lu bù... Vô luận thế nào cũng phải tìm đủ cách để biên chế các cơ quan lại. Chúng ta phải dùng tinh thần bônsêvích mà thực hành một chế độ tiết kiệm nghiêm ngặt. Nếu chúng ta không muốn dùng vốn liếng của ta vào những việc linh tinh, thì chúng ta phải thực hành ngay chế độ ấy”(22).

Thứ ba, cùng với năng lực chuyên môn, sự liêm khiết về đạo đức cách mạng của cá nhân, tổ chức là yêu cầu tối quan trọng để xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày 19-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố “Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(23). Tại Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I cuối năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định, “Tuy trong nghị quyết không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết”(24). Tháng 6-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(25). Lịch sử đã chứng minh, những kinh nghiệm, bài học quý báu rút ra từ quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng bộ máy nhà nước những năm 1945 - 1954 vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp đổi mới của Việt Nam hiện nay./.

Nhận diện, đấu tranh với biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân - từ chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân của Đảng ta hiện nay

 TCCS - Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân nói riêng; Người đã đưa ra nhiều chỉ dẫn quan trọng về chống chủ nghĩa cá nhân. Trong bối cảnh mới, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng lớn lao của quần chúng nhân dân.

Hội Chữ thập đỏ tỉnh Hòa Bình triển khai chương trình “Chung tay vì sức khỏe cộng đồng” tổ chức phiên chợ nhân đạo, nhằm giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn_Ảnh: TTXVN

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân

Bản chất của chủ nghĩa cá nhân

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, đặc thù đối tượng để chỉ rõ, nêu ví dụ hoặc đưa ra những so sánh phù hợp mô tả, giúp mọi người hiểu thế nào là chủ nghĩa cá nhân. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thuật ngữ chủ nghĩa cá nhân, Người so sánh “chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc”(1), “là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác”(2); “là kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội”(3)... Mặt khác, Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa cá nhân là tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, tách rời, coi thường và đối lập với lợi ích chung của tập thể, cộng đồng, xã hội; thể hiện tập trung ở khuynh hướng cực đoan, làm cho lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, cộng đồng, trái ngược với yêu cầu chăm lo đến lợi ích cá nhân chính đáng; sẵn sàng “đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc”(4) và “chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”(5).

Như vậy, chủ nghĩa cá nhân là hệ thống quan điểm, thái độ, hành vi của chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu lợi ích của chủ thể ấy trên cơ sở tuyệt đối hóa vai trò và lợi ích cá nhân, tách rời và đối lập, làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng, xã hội.

Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

Qua nhiều tác phẩm, bài phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cá nhân, bởi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân rất đa dạng, biến hóa “muôn hình vạn trạng”. Tổng hợp các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể khái quát biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng 10 “căn bệnh” sau:

1- Bệnh quan liêu: nghĩa là trong công việc thì trọng hình thức mà không xem xét toàn diện, không vào sâu vấn đề, không sát với công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng.

 2- Bệnh tham lam: “bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”(6), trong những trường hợp nhất định thường sinh ra tham ô, lãng phí, đây là một thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”, là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân.

3- Bệnh lười biếng: “không chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ”(7) và còn là lười suy nghĩ, ngại làm việc, lười đổi mới, sáng tạo,...

4- Bệnh kiêu ngạo: những người mắc bệnh này thường nghĩ rằng cái gì họ cũng biết, cũng làm được, dẫn đến coi thường tổ chức “xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng”(8).

5- Bệnh hiếu danh: theo Người, “những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”(9).

6- Bệnh “hữu danh vô thực”: loại bệnh này có biểu hiện là “làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch”(10).

7- Bệnh cận thị: nghĩa là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng, “không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ”(11).

8- Bệnh tị nạnh: nghĩa là luôn so sánh hơn thiệt giữa mình với người khác, luôn đòi hỏi sự bình đẳng nhưng thực chất họ “không hiểu rằng: Người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng”(12).

9- Bệnh xu nịnh: biểu hiện của căn bệnh này là “trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu(13); “theo gió bẻ buồm, không có khí khái”(14).

10- Bệnh a dua và kéo bè kéo cánh: biểu hiện của căn bệnh này là chỉ dùng những người bảo vệ lợi ích của mình (dù không có tài); ham dùng người nhà, anh em quen biết, bè bạn; những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực,...

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thứ bệnh trên đều do một thứ “vi trùng độc” là chủ nghĩa cá nhân sinh ra; tất cả cán bộ, đảng viên mắc các loại bệnh này là sa vào chủ nghĩa cá nhân và đều có tội với Đảng, với nhân dân.

Sự cần thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân

Trước tiên, chống chủ nghĩa cá nhân nhằm mục tiêu xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng thời, phát hiện và loại bỏ “căn bệnh” này khỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trước yêu cầu phát triển của cách mạng, nếu cán bộ, đảng viên không được giáo dục, tổ chức tốt, không tự rèn luyện tốt thì sẽ nảy sinh những tiêu cực, thoái hóa xuất phát từ chính chủ nghĩa cá nhân. Do vậy, “để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng”(15), chúng ta phải kịp thời phát hiện và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm: “chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”(16). Vì vậy, để xây dựng và hoàn thiện giá trị đạo đức cách mạng thì nhất thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, đồng thời nuôi dưỡng, bồi đắp tinh thần tập thể.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu “chống”, mà còn phải “trừ bỏ, quét sạch, tiêu diệt” chủ nghĩa cá nhân. “Xây” và “chống” có mối quan hệ hữu cơ với nhau ở chỗ xây dựng đạo đức cách mạng đi đôi với đấu tranh loại bỏ và chống ảnh hưởng xấu của chủ nghĩa cá nhân; xây dựng đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa gắn liền với việc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và các tàn dư tư tưởng. Người phân tích, ví như chúng ta mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới, thì trước khi kê vào phòng, cần phải quét dọn nhà cửa sạch sẽ đã. Do đó, phải “quét sạch” hết chủ nghĩa cá nhân ra khỏi tư tưởng của từng cán bộ, đảng viên thì mới có thể xây dựng được đạo đức cách mạng, con người mới.

Thứ hai, chống chủ nghĩa cá nhân góp phần xây dựng xã hội mới tốt đẹp, đúng bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cần xây dựng xã hội mới, một xã hội “cần, kiệm, liêm, chính”. Xuất phát từ mục tiêu của cách mạng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận diện kẻ thù nguy hiểm nhất, trực tiếp nhất là chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, “chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(17). Nói cách khác, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa... Muốn thành người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phải chống chủ nghĩa cá nhân”(18), bởi chủ nghĩa xã hội hướng tới giải phóng con người khỏi áp bức, bất công và xây dựng nền dân chủ thật sự gắn với sự công bằng, văn minh vì lợi ích chân chính của cộng đồng.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) chỉ rõ: “nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở... Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(19). Đây chính là những biểu hiện tập trung nhất của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do đó, chủ nghĩa cá nhân chính là kẻ địch “nội xâm” của những người cộng sản, là “kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”(20).

Quán triệt quan điểm về chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều văn bản quan trọng để cụ thể hóa chủ trương của Đảng về công tác xây dựng Đảng(21). Để thực hiện tốt quyết tâm chính trị đó, trên cơ sở quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, Đảng và Nhà nước ta trong thời gian tới cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản trong thời gian tới:

Nhóm giải pháp về tổ chức đảng

Trước tiên, “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”(22). Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân chỉ thực sự hiệu quả khi mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng, đường lối của Đảng; tiêu chuẩn, tư cách đạo đức của người cộng sản. Yêu cầu đặt ra là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải chú trọng công tác giáo dục nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên qua tổ chức học tập chính trị kết hợp với rèn luyện trong thực tiễn. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị(23); việc quán triệt phải song song với tuyên truyền sâu, rộng để cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính chất quan trọng của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, từ đó tạo ra sự đồng thuận, quyết tâm, tự giác đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân ở mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”(24) nhằm tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc và có lý, có tình. Đồng thời, Đảng ta cần phát huy vai trò của nhân dân trong hoạt động giám sát, lên án và phê bình cán bộ, đảng viên có biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; có cơ chế khuyến khích việc phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân; làm tốt công tác tiếp nhận, xử lý thông tin và bảo vệ người tố cáo.

Thứ ba, thực hiện “sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”(25) và “kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh”(26). Bởi, chi bộ là tổ chức tế bào của Đảng, tạo thành nền tảng của Đảng, là nơi thể hiện đầy đủ các mặt hoạt động và sức chiến đấu của Đảng. Do đó, yêu cầu đặt ra trong sinh hoạt chi bộ là mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Mỗi đảng viên phải chịu sự quản lý của chi bộ, tham gia sinh hoạt chi bộ nghiêm túc dù ở bất kỳ cương vị công tác nào. Đồng thời, việc thi hành kỷ luật Đảng phải nghiêm minh, tránh bao che hoặc trù dập, trả thù lẫn nhau; kiên quyết sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phần tử cơ hội, thực dụng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân.

Thứ tư, để chống chủ nghĩa cá nhân thì “công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(27), nhằm thể hiện tính răn đe đối với cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Vì vậy, công tác kiểm tra phải được tiến hành một cách có tổ chức, bài bản và khoa học. Không để tạo ra “vùng cấm”, không “ưu tiên” bất cứ cá nhân và tổ chức nào, không mắc “bệnh thành tích”, “bệnh hình thức” trong kiểm tra. Để công tác kiểm tra của Đảng phát huy hiệu quả, cần chú trọng kiểm tra, đánh giá năng lực, phẩm chất đạo đức người đứng đầu trong công tác lãnh đạo, quản lý; đồng thời, tiến hành kiểm tra, đánh giá thái độ tích cực của cán bộ, đảng viên với công việc, với nhân dân; kiểm tra, đánh giá kết quả tu dưỡng đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao của cán bộ, đảng viên.

Cán bộ, đảng viên hướng dẫn đồng bào Pa Dí ở xã Tung Chung Phố, huyện biên giới Mường Khương, tỉnh Lào Cai kỹ thuật trồng quýt cho giá trị kinh tế cao_Ảnh: TTXVN 

Nhóm giải pháp về sự tự ý thức rèn luyện của cán bộ, đảng viên

Trước tiên, mỗi cán bộ, đảng viên cần xác định một cách rõ ràng trong nhận thức, “phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”(28) và “phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”(29). Mỗi cán bộ, đảng viên không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc, cho nhân dân; nếu khi lợi ích chung của Đảng, của Tổ quốc mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân thì sẵn sàng hy sinh lợi ích của cá nhân; kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên “phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”(30). Bởi lẽ, Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và cả dân tộc. Đảng chỉ có sức mạnh nếu giữ vững được mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Muốn làm cho quần chúng phấn khởi, tin tưởng, người đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân; không lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai.

Thứ ba, cán bộ, đảng viên “phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”(31). Mỗi cán bộ, đảng viên cùng với đạo đức cách mạng còn phải có năng lực và trình độ, vì có năng lực mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phải ra sức học tập nâng cao hiểu biết về đường lối, chủ trương của Đảng và trình độ chuyên môn; có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn, lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải đi đôi với hành.

Nhóm giải pháp bảo đảm về điều kiện, môi trường làm việc

Trước tiên, huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an sinh xã hội. Bởi, kinh tế - xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống được bảo đảm, nguồn vốn tích lũy không ngừng tăng cao là điều kiện thuận lợi để hạn chế sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân hiệu quả. Để huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế; phát triển kinh tế nhanh và bền vững, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân...

Thứ hai, xây dựng và triển khai thực hiện quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức công vụ của cán bộ, đả#ng viên. Các chuẩn mực và quy tắc ứng xử công vụ cần được xây dựng theo hướng hài hòa giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, tăng cường tính công tâm và thanh liêm trong giải quyết công vụ; đồng thời, xây dựng quy định về xử lý kỷ luật. Các quy tắc đạo đức phải hướng vào điều chỉnh việc nhận quà biếu, cấm hối lộ và các hình thức lạm dụng công quyền để thu vén lợi ích cá nhân.

Thứ ba, xây dựng môi trường làm việc thân thiện, đoàn kết, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ, đảng viên yên tâm công tác, rèn luyện và phấn đấu. Xây dựng và phát huy lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam. Kịp thời ngăn chặn thông tin sai trái tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhất là trên không gian mạng. Tăng cường quản lý và định hướng thông tin, kịp thời ngăn chặn thông tin xấu, độc, thông tin cổ xúy lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân trên không gian mạng.

Thứ tư, phải “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín với nhân dân”(32).

1- Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đủ sức ngăn chặn các hành vi lạm quyền, chuyên quyền, sử dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân. Xây dựng chế độ giám sát quyền lực thông qua các hình thức: chế độ giám sát của Hội đồng nhân dân, chế độ giám sát trong nội bộ Đảng, chế độ giám sát trong bộ máy nhà nước; có cơ chế khuyến khích người phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện chủ nghĩa cá nhân bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân.

2- Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường và nâng cao hiệu quả việc lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài... Nâng cao chất lượng công tác đánh giá đúng, chính xác chất lượng cán bộ để biết đâu là cán bộ tốt, đâu là cán bộ yếu kém, vi phạm để sàng lọc; nếu vi phạm nghiêm trọng thì loại bỏ. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”.

3- Xây dựng chế tài đủ mạnh đối với hành vi cố ý “không làm” của các cơ quan công quyền, của đội ngũ cán bộ, đảng viên có quyền quyết định chính sách khi họ có đủ thông tin về một chính sách có lợi cho đất nước, cho nhân dân, nhưng cố tình trì hoãn hoặc không quyết định vì mục đích vụ lợi cá nhân, lợi ích nhóm./.

DỰA VÀO DÂN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

 Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng kể từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của mình, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời, xác định rõ đây là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự mất còn của Đảng, chế độ, đất nước và dân tộc. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Bài viết phân tích vị trí, vai trò của các chủ thể trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chỉ ra những hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai trò của các chủ thể trong hoạt động này.

Xuất phát từ vai trò của báo chí, tin tức ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân.  Báo chí, tin tức có tác dụng tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

Ngược lại báo trí, và thông tin cũng là mảnh đất mầu mỡ đê các thế lực phản động lợi dụng, viết và tuyên truyền sai, bóp méo sự thật. từ những sự việc rất đời thường nhưng chúng đã lợi dụng, tuyên truyền kích động, tạo nên những dư luận xấu lôi kéo đông đảo người xem, gây tâm lí hoang mang, mất lòng tin vào Đảng và con đương đi lên XHCN.

Do vậy để bài viết được đông đảo người đón nhận, tạo hiệu quả tích cực có giá trị xây dựng và đấu tranh thì không chỉ chú trọng đến số lượng mà còn phải chú trọng đến chất lượng, bài viết phải gần gũi và thân thiện với người đọc, để hướng đến nhu cầu của người đọc chứ không phải là người viết.

Vì cách mạng, vì Đảng, vì nhân dân - đó vừa là mục đích, vừa là điều kiện, vừa là tiêu chuẩn đạo đức trong hoạt động; đó cũng là tính đảng của báo chí, là biểu hiện sự trung thành của báo chí đối với Đảng, là cống hiến của báo chí vào sự nghiệp vĩ đại của Đảng. Để bài viết thực hiện đắc lực cho cách mạng, phục vụ tốt nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân tức là Đảng đã làm tốt vai trò lãnh đạo báo chí.

Trả lời cho câu hỏi viết cho ai? Đối tượng của bài viết là đại đa số dân chúng, vì vậy, cách viết bài báo phải đơn giản, dễ hiểu, ngôn ngữ phải trong sáng, tránh dùng từ nước ngoài; viết “phục vụ nhân dân” thì nhất định phải chọn cái gì có lợi cho dân và phục vụ cách mạng. Vì vậy, Người nhắc nhở: “Bác biết các chú văn hay chữ tốt, nhưng dù sao, nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn. Không riêng gì viết sách viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Viết như thế nào? Trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng. Trong suốt quá trình đấu tranh, xây dựng và trưởng thành của Đảng, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt báo chí dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; coi trọng phát tiển toàn diện báo chí, coi báo chí là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí, người viết phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được.

Để viết cho mọi người dễ hiểu, dễ nhớ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và bảo vệ, phát triển tiếng nói của dân tộc. Người căn dặn các nhà báo phải có trách nhiệm đừng để cho tiếng mẹ đẻ của chúng ta mỗi ngày mai một đi. Bác chỉ ra 5 cách tìm tài liệu để viết: “Nghe: lắng tai nghe các cán bộ, nghe các chiến sĩ, nghe đồng bào để lấy tài liệu mà viết; Hỏi: hỏi những người đi xa về, hỏi nhân dân, hỏi bộ đội những việc, những tình hình ở các nơi; Thấy: mình phải đi đến, xem xét mà thấy; Xem: xem báo chí, xem sách vở, xem báo chí trong nước, xem báo chí nước ngoài; Ghi: những gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã đọc được thì chép lấy để dùng mà viết, có khi xem mấy tờ báo mà chỉ được một tài liệu thôi. Tìm tài liệu cũng như những công tác khác, phải chịu khó”.

          Bác còn chỉ rõ: “Phải tránh cái lối viết rau muống, nghĩa là lằng nhằng, tràng giang đại hải, làm cho người xem như là chắt chắt vào rừng xanh”. Tuy nhiên, viết gọn gàng, vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi, mà phải có đầu, có đuôi, ngắn gọn dễ nhớ, dễ hiểu, mà lại lôi cuốn người đọc mới là hay, tuy là vậy nhưng không hề dễ đòi hỏi tất cả chúng ta cần phải nỗ lực cố gắng nhiều hơn nữa.

          1. Tiếp tục thể chế hóa bằng các quy định pháp lý tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng Đảng gắn liền với bảo vệ Đảng phù hợp, hiệu quả.

          2. Giữ vững trận địa thông tin, kịp thời và chủ động thông tin, tuyên truyền về những vấn đề, vụ việc nhạy cảm để nhân dân nắm vững quan điểm của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; đồng thời, thấy rõ sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, từ đó định hướng dư luận, tạo sự ổn định chính trị - xã hội, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

          3. Nhân dân là lực lượng tin cậy bảo vệ Đảng, Nhà nước, trực tiếp là cấp ủy, chính quyền cơ sở. Do đó, phải dựa vào nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân trong việc nắm chắc tình hình địa bàn, kịp thời phát hiện những “hiện tượng khác thường”, nhất là sự hoạt động chống phá dưới mọi hình thức của các tổ chức, lực lượng phản động ngay từ cơ sở.