Thứ Tư, 20 tháng 9, 2023

 

Học tập phong cách lý luận Hồ Chí Minh của giảng viên lý luận chính trị ở các nhà trường

(LLCT) - Phong cách lý luận Hồ Chí Minh là những đặc trưng riêng có, trong cách thức, phương pháp tiếp thu tinh hoa lý luận của phương Đông, phương Tây, đặc biệt là lý luận Mác - Lênin, tạo nên những giá trị riêng về các vấn đề lý luận của Hồ Chí Minh. Những đặc trưng và giá trị trong phong cách lý luận Hồ Chí Minh là một tài sản vô giá, luôn có sức hấp dẫn, là chuẩn mực để giảng viên lý luận chính trị học tập và rèn luyện theo, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, nghiên cứu, phát triển lý luận; đấu tranh, tuyên truyền bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng.


1. Phong cách Hồ Chí Minh được thể hiện trong mọi lĩnh vực sống và hoạt động của Người, tạo thành một chỉnh thể nhất quán, có giá trị khoa học, đạo đức và thẩm mỹ. Trong lĩnh vực lý luận, Hồ Chí Minh không tự nhận mình là nhà lý luận, nhưng những vấn đề lý luận của Người mang phong cách riêng, giá trị cốt lõi trong cách thức, phương pháp tiếp thu, bổ sung, phát triển làm phong phú tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại và lý luận Mác - Lênin, phù hợp yêu cầu thực tiễn cách mạng Việt Nam. Những đặc trưng đó là:

- Độc lập, tự chủ, sáng tạo trong tiếp thu, nghiên cứu, tìm ra lý luận mới

 Đây là giá trị nổi bật, xuyên suốt và thống nhất trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Từ những ngày đầu trên hành trình tìm đường cứu nước, việc lựa chọn hướng đi, con đường cách mạng đều cho thấy sự độc lập, tự chủ, sáng tạo của Hồ Chí Minh. Người không giáo điều, rập khuôn, vay mượn nguyên xi cái gì của người khác, hết sức tránh lối cũ, đường mòn, tự mình tìm tòi, suy nghĩ, truy đến tận cùng bản chất của sự vật, hiện tượng để tìm ra chân lý cách mạng, phù hợp với yêu cầu và điều kiện thực tiễn của đất nước. Theo đó, độc lập ở Người là cách nghĩ, cách làm không lệ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi, không giáo điều. “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”(1).  Tự chủ là tự mình làm chủ mọi suy nghĩ và hành động của mình, làm chủ bản thân và công việc của mình, tự bản thân mình phải thấy trách nhiệm trước đất nước và dân tộc. Tuy nhiên, độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với quan niệm siêu hình, hạn chế trong khuôn khổ những tư tưởng lý luận đã có, mà luôn liên hệ với những tư tưởng, lý luận tiến bộ của nhân loại.

Sáng tạo là vận dụng đúng những lý luận chung, lý luận tiến bộ của nhân loại cho phù hợp với cái riêng,  đặc thù của dân tộc Việt Nam. Sáng tạo là sẵn sàng từ bỏ những cái gì đã cũ, lỗi thời, không phù hợp với thực tiễn. Sáng tạo là tìm tòi, đề xuất những cái mới để có thể trả lời được những yêu cầu của cuộc sống đặt ra. Cái mới, cái sáng tạo của Hồ Chí Minh là phù hợp với quy luật khách quan, đồng thời phù hợp với quy luật phát triển chung của xã hội loài người. Cái mới có thể kế thừa cái cũ, bổ sung giá trị mới, làm cho cái mới khác về chất so với cái cũ. Cái mới cũng là cái chưa từng có trong tiền lệ lịch sử. Sự kế thừađó mang tính biện chứng, theo tinh thần: “Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ... Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý... Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm... Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm”(2). Do vậy, những lý luận của Hồ Chí Minh là sự tích hợp tinh hoa tư tưởng lý luận của dân tộc và nhân loại.

- Tư duy mở rộng, lựa chọn những vấn đề lý luận thiết thực với cách mạng Việt Nam

 Trong tư duy của Người luôn hướng tới những vấn đề thiết thực, cụ thể của cách mạng. Trong mọi suy nghĩ và hành động, Người luôn lấy nhu cầu và đặc điểm của thực tiễn dân tộc và xu thế phát triển của thời đại làm định hướng. Trong hành trình đi tìm lý luận cách mạng, tư duy của Người luôn đau đáu tìm xem hiện thực Việt Nam thiếu những gì, để tiếp thu những cái thiết thực, trực tiếp nhất phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giai cấp. Ngay từ những năm đầu hoạt động cách mạng, vấn đề tự do và bình đẳng giữa các dân tộc luôn được Hồ Chí Minh xem là điểm xuất phát và động lực để đi tìm chân lý. Hoàn cảnh đất nước đã đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm ra một lối đi mới, đưa cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi. Thực tiễn trong nước và các nước chính quốc đã là điểm xuất phát trong tư duy của Hồ Chí Minh để tìm ra lý luận cách mạng của dân tộc.

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin bắt đầu từ nhu cầu giải phóng dân tộc Việt Nam và các nước thuộc địa. Trong quá trình đó, Người luôn lựa chọn, tiếp thu những gì cần thiết cho giai đoạn trước mắt của cách mạng Việt Nam, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và dân tộc, từ đó đề ra được đường lối đúng đắn, bước đi thích hợp cho cách mạng. Khi áp dụng lý luận của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người luôn quán triệt quan điểm biện chứng, học tập những gì là đúng đắn, đồng thời bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác cho phù hợp với thực tiễn ở nước ta nói riêng và các nước phương Đông nói chung. Vì vậy, ngay từ khi còn hoạt động ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã viết: “Dù sao cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại. Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(3).

- Lý luận luôn xuất phát từ thực tiễn

Sự gắn bó giữa lý luận và thực tiễn là đặc điểm nổi bật trong phong cách tư duy của Hồ Chí Minh và thể hiện rõ trong toàn bộ hoạt động cách mạng của Người. Tư duy lý luận của Người luôn dựa trên thực tiễn sinh động của Việt Nam để tìm ra lý luận cách mạng, cái đích của lý luận là hướng đến độc lập - tự do - hạnh phúc cho dân tộc. Ngay từ những ngày đầu đi tìm lý luận cách mạng mới cho dân tộc Việt Nam, Người luôn hướng tư duy vào thực tiễn cách mạng các nước chính quốc và sự khủng hoảng đường lối cứu nước trong nước để tìm ra lý luận cách mạng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái... Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn náu đằng sau những chữ ấy”(4).

Suốt quá trình tìm đường cứu nước đến khi giành được chính quyền, xây dựng nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người luôn chú trọng tổng kết thực tiễn và khái quát thành lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Trong cuộc hành trình qua các châu lục, từ châu Âu đến châu Phi, châu Mỹ Latinh, Người luôn muốn tìm hiểu thực tiễn cuộc sống của nhân dân lao động, bằng việc trực tiếp làm những công việc của họ. Thực tiễn cuộc sống của nhân dân các nước thuộc địa và các nước tư bản đã giúp Người có những nhận thức mới. Đó là những tài liệu sống quý giá, chân thực cho những bài báo tố cáo tội ác của thực dân, là cơ sở để Người viết Bản án chế độ thực dân Pháp. Đồng thời là cơ sở để Người phác họa con đường cách mạng Việt Nam, thể hiện trong các văn kiện quan trọng như: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những dữ liệu thực tế và quá trình nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp Người đề ra tư tưởng cách mạng tự lực cánh sinh: “Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”(5). Sau này, Người khẳng định tiếp, một dân tộc cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không coi lý luận về CNXH của chủ nghĩa Mác là kinh thánh, là những công thức có sẵn, cứng nhắc, mà Ngườiluôn xuất phát từ thực tiễn đất nước để vận dụng lý luận đó phù hợp trong việc xác định hình thức, bước đi, tốc độ phát triển: “tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi dào của các nước anh em, nhưng chúng ta không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”(6). Khi vận dụng những kinh nghiệm xây dựng CNXH ở Liên Xô, Người cũng lưu ý phải xuất phát từ thực tiễn, phải nhận thức sâu sắc những đặc điểm riêng của đất nước để lựa chọn kinh nghiệm phù hợp: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác... Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(7). Như vậy, Hồ Chí Minh đã vận dụng nhuần nhuyễn nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác để xây dựng lý luận cách mạng cho Việt Nam.

- Đề cao vai trò về chỉ đạo, hướng dẫn hành động thực tiễn cách mạng của lý luận

Kế thừa những tinh túy của triết học Mác - Lênin và đưa vai trò định hướng hành động của lý luận lên tầm cao mới, Hồ Chí Minh quan niệm: “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách. Xem nhiều sách để mà lòe, để làm ra ta đây, thế không phải là biết lý luận, phải ra sức thực hành mới là người biết lý luận”(8). Theo đó, Người đề cao vai trò định hướng thực tiễn của lý luận, hoạt động thực tiễn mà không có lý luận dẫn dắt thì sẽ mù quáng, bởi khi đó hoạt động thực tiễn không biết đi theo hướng nào, giống như con tàu giữa biển khơi mù mịt nhưng lại không có la bàn. Mọi nguyên lý của Người đều hàm chứa ý nghĩa chỉ dẫn hành động. Theo Người, cứu nước phải hành động, muốn hành động phải có phương hướng, đường lối. “Không có lý luận cách mạng thì không có cách mạng vận động”(9). Đề cao vai trò định hướng hành động cách mạng của lý luận,  khi viết những vấn đề lý luận, Người chọn lọc những gì cần thiết, cấp bách nhất với cách mạng Việt Nam, chứ không viết một cách giáo điều, sách vở, ồ ạt. Vì vậy, khi viết tác phẩm Đường Cách mệnh- cuốn sách vỡ lòng về lý luận cho các chiến sỹ cách mạng lớp đầu, Người đã trình bày những vấn đề lý luận hết sức cụ thể, thiết thực, thiên về hướng dẫn, chỉ đạo hành động cách mạng hơn là dùng những văn phong uyên bác, hàn lâm. Chính điều này đã quy định đặc trưng về văn phong chính luận của Hồ Chí Minh.

- Văn phong chính luận rất trong sáng, ngắn gọn, giàu hình ảnh, hiệu quả truyền đạt cao

Với phương châm: “lý luận cốt để  áp dụng vào thực tiễn” và soi rọi vào hoàn cảnh một nước thuộc địa, nửa phong kiến, 95% dân số là thất học mù chữ đứng dậy làm cuộc cách mạng, Hồ Chí Minh tin rằng phải cho lý luận cách mạng thấm sâu vào quần chúng mới có tác dụng dẫn dắt, chỉ đạo hành động cách mạng, nếu “Viết làm gì dài dòng và rỗng tuếch... là quyết không muốn cho quần chúng xem”(10). Điều đó đã quy định cách sử dụng văn phong chính luận của Người. Người chọn cách diễn đạt, ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn, trong sáng, sử dụng những hình ảnh sống động, gần gũi với đời sống hàng ngày, phù hợp với lối tư duy bằng hình ảnh của người phương Đông. Qua đó có tác dụng cải tạo tư tưởng của đối tượng nhưng không làm mất đi tính lý luận của nó. Vì vậy, phần lớn những bài viết của Người dưới dạng thư từ, lời kêu gọi, các bài nói chuyện về kinh tế, chính trị, xã hội và đạo đức... cho đồng bào và chiến sỹ, thanh niên, nhi đồng, phụ nữ... Những khái niệm lý luận hàn lâm được thay thế bằng những từ ngữ thông thường, giản dị. Khi diễn tả những vấn đề về cách mạng, mặc dù vấn đề phức tạp nhưng Người luôn chọn lọc những hình ảnh điển hình, khái quát nhất để so sánh, nói lên bản chất hơn là dùng lý luận dài dòng. Hình ảnh “con đỉa hai vòi” khi nói về bản chất của chủ nghĩa đế quốc; hình ảnh “hai cánh của con chim” khi nói về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng ở chính quốc; hình ảnh “lý luận như cái tên (hoặc viên đạn), thực hành cũng như cái đích để bắn” khi nói về vị trí vai trò của lý luận với hoạt động thực tiễn... là những minh chứng điển hình.

2. Phong cách lý luận Hồ Chí Minh là tài sản vô giá mà Người để lại cho Đảng và nhân dân ta, luôn có sức hấp dẫn và là bài học đối với tất cả thế hệ, đặc biệt đối với những người làm công tác tư tưởng, lý luận. Đối với giảng viên lý luận chính trị (GVLLCT) ở các nhà trường, họ vừa là người nghiên cứu, phát triển lý luận, vừa là người tuyên truyền lý luận và tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng. Do vậy, phong cách lý luận Hồ Chí Minh là chuẩn mực để GVLLCT học tập và noi theo, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GVLLCT, hướng đến nâng cao chất lượng giáo dục, nghiên cứu, phát triển lý luận; đấu tranh, tuyên truyền bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng. Thực chất của quá trình này là sự nhận thức đầy đủ những giá trị cốt lõi, những đặc trưng trong phong cách lý luận Hồ Chí Minh và cụ thể hóa vào nhiệm vụ học tập và rèn luyện của mỗi giảng viên.

Trong những năm qua, GVLLCT ở các nhà trường có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo cũng như trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GVLLCT đã được trang bị  một cách cơ bản, hệ thống những tri thức lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng, trực tiếp tác động và hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và phương pháp luận khoa học định hướng các giá trị và phát triển nhân cách người học. Trong công tác tư tưởng của Đảng, họ là những chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần bảo vệ chế độ XHCN. GVLLCT trong các học viện, trường đại học, cao đẳng là một bộ phận của giới nghiên cứu lý luận, đã và  đang tích cực tham gia nghiên cứu, đưa ra những luận cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới. Đánh giá về thành tựu của công tác tư tưởng, lý luận, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5  khóa IX Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mớivà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X về Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mớiđã khẳng định: công tác tư tưởng, lý luận và báo chí đạt được nhiều thành tựu quan trọng, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, vào công cuộc đổi mới và triển vọng phát triển tốt đẹp của đất nước; làm cho nhân dân ta nhận rõ hơn bản chất và mưu đồ của chủ nghĩa đế quốc, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi một bước tư tưởng muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, lái đất nước đi chệch con đường XHCN... Thành tựu đó, có một phần đóng góp rất lớn của GVLLCT ở các nhà trường.

Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ GVLLCT vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Đó là việc thiếu tâm huyết, trách nhiệm với nghề, không chịu đào sâu suy nghĩ hiểu đến cùng bản chất của các vấn đề lý luận, chưa thường xuyên cập nhật những tri thức mới, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đứng trước các vấn đề lệch lạc của xã hội, các luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, nhiều giảng viên còn thờ ơ, bàng quan, trong nội bộ chưa mạnh dạn đấu tranh phê bình và tự phê bình. Cá biệt còn có những giảng viên thiếu mẫu mực, chưa có ý thức tự giác trong tu dưỡng và rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống. Về năng lực chuyên môn, phương pháp sư phạm của nhiều giảng viên còn chưa đáp ứng yêu cầu giáo dục - đào tạo hiện nay. Biểu hiện ở việc chưa gắn các vấn đề lý luận với thực tiễn xã hội; luận giải các vấn đề còn khô khan, cứng nhắc, máy móc, giáo điều. Bởi vậy, người học chưa được định hướng rõ về tư tưởng, trong nhận thức thiếu nhãn quan và bản lĩnh chính trị, trong hoạt động thực tiễn chưa có phương pháp luận để định hướng hành động.

Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện việc học tập và rèn luyện theo phong cách lý luận Hồ Chí Minh cần tiếp tục nâng cao hiệu quả việc thực hiện Chỉ thị số 05 CT/TW của Bộ Chính trị về Đẩy mạnh cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minhđối với đội ngũ GVLLCT. Phải làm cho mọi giảng viên thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng và nội dung, yêu cầu của việc học tập và làm theo phong cách lý luận Hồ Chí Minh. Từ đó, cụ thể hóa và xác định những yêu cầu cơ bản về phong cách lý luận cho phù hợp với đặc điểm, môi trường, nhiệm vụ công tác của từng giảng viên.

Phong cách lý luận của GVLLCT không hình thành một cách tự nhiên mà đòi hỏi phải có sự rèn luyện nghiêm túc. Hiện nay, đối tượng người học có trình độ nhận thức, kinh nghiệm thực tiễn, quan hệ xã hội ngày càng mở rộng; các thành tựu về khoa học - công nghệ được ứng dụng vào đời sống, giúp người học được tiếp cận được nhiều thông tin mới, đa chiều. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch ra sức thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bằng nhiều hình thức nhằm gây chia rẽ đoàn kết nội bộ. Trong nước, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận đảng viên và nhân dân đang diễn ra phức tạp. Do vậy, mỗi GVLLCT phải tự mình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, trung thành với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, nắm vững tri thức về khoa học, thu thập và xử lý thông tin một cách chính xác, kịp thời, có nhãn quan chính trị sắc bén, nhanh nhạy, kịp thời định hướng tư tưởng, hình thành thế giới quan chính trị đúng đắn cho người học.

Để mỗi giảng viên có căn cứ học tập và rèn luyện, cần xây dựng chuẩn mực về phong cách lý luận của GVLLCC theo phong cách lý luận Hồ Chí Minh. Cấp ủy, người đứng đầu các nhà trường cần lượng hóa và cụ thể hóa các đặc trưng thành các tiêu chí cho mỗi cán bộ, giảng viên ở cơ quan, đơn vị học tập và rèn luyện theo tinh thần của chỉ thị 05 CT/TW là: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị với phương châm “sát chức năng, nhiệm vụ, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện và đánh giá việc thực hiện”(12). Mỗi nhà trường cần xây dựng những điển hình mẫu mực, từ đó nhân rộng điển hình thông qua các hoạt động thực tiễn như: hội thi hội thao, văn hóa văn nghệ, tuyên truyền cổ động... để đưa các điển hình đó vào thực tế đơn vị. Đồng thời, qua các giai đoạn cần có sự đánh giá rút kinh nghiệm, điều chỉnh chuẩn mực mô hình để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

Trong công tác cán bộ cần xem xét, đánh giá phong cách lý luận của giảng viên một cách khách quan, khoa học, góp phần làm cơ sở để cất nhắc đề bạt, luân chuyển, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Phải: “Lấy kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một trong những tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm”(13). Hằng năm, lãnh đạo các cấp cần thống nhất đánh giá thực trạng phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn của giảng viên, xây dựng kế hoạch giáo dục, bồi dưỡng phương pháp sư phạm, phong cách công tác cho giảng viên phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ, điều kiện, khả năng và chức trách. Thực hiện tốt chế độ kiểm tra báo cáo, sơ kết, tổng kết kinh nghiệm, sớm phát hiện yếu kém, lệch lạc về phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn của giảng viên để uốn nắn, khắc phục kịp thời.

_______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017

(1), (2), (8), Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.162, 112-113, 274.

(3) Hồ Chí Minh, Sđd, t.1, tr.510.

(4) Ôxíp Manđenxtam: Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc, báo Ogoniok, Liên Xô, số 39, ngày 23-12-1923.

(5)Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr.138.

(6)Hồ Chí Minh, Sđd, t.11, tr.97.

(7)Hồ Chí Minh, Sđd, t.10, tr.391.

(10)Hồ Chí Minh, Sđd, t.7, tr.588.

(11), (12), (13) Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trịvề đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,Hà Nội, ngày 15-5-2016.

Nguồn: ThS Nguyễn Hồng Điệp

Trường Đại học Chính trị - Bộ Quốc phòng

 

 

Phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong điều kiện mới

(LLCT) - Phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng là việc xây dựng mới hoặc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện, mở rộng, cập nhật, nâng cao các chương trình đào tạo, bồi dưỡng.  Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, với tư cách là ngôi trường cao cấp nhất của Đảng, là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội..., luôn đặc biệt quan tâm việc phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần sớm khắc phục. Trong thời gian tới, Học viện cần tiếp tục đổi mới việc phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, bản sắc và hội nhập.


 

1. Đánh giá khái quát về phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thời gian qua

Những ưu điểm nổi bật

Về cách thức xây dựng chương trình đào tạo

Nhìn chung, các chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Học viện đều được triển khai thực hiện qua ba công đoạn (khung, đề cương chi tiết, giáo trình), với các bước nghiệm thu, thẩm định, phê duyệt nghiêm túc, chặt chẽ, nhằm bảo đảm tính cơ bản, tính hệ thống, tính liên thông, tính nâng cao (theo bậc học), tính hiện đại và tính cập nhật. Trong quá trình xây dựng chương trình, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã mời các chuyên gia đầu ngành của các lĩnh vực trong toàn quốc tham gia vào các Hội đồng đánh giá nghiệm thu, thẩm định độc lập các chương trình, giáo trình; bảo đảm chất lượng tốt nhất có thể cho các chương trình đào tạo.

Về nội dung chương trình

Các chương trình đã từng bước khắc phục được sự trùng lặp, phù hợp với từng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng theo tinh thần Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 30-7-2005 của Bộ Chính trị “về đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh”.

Thứ nhất, chương trình đã cập nhật những kết quả nghiên cứu mới về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ hai, chương trình thường xuyên cập nhật những vấn đề mới của thực tiễn, nhất là những nội dung mới trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thể hiện trong các nghị quyết Đại hội Đảng, các Hội nghị Trung ương; cập nhật những diễn biến quan trọng của tình hình thế giới trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, ngoại giao, an ninh, quốc phòng; những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, đặc biệt là khoa học xã hội, nhân văn...

Thứ ba, các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đã được bổ sung nhiều tri thức hiện đại và kỹ năng cần thiết cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; đồng thời, tăng cường rèn luyện đạo đức cách mạng, tu dưỡng tính đảng và phương pháp lãnh đạo, quản lý, góp phần phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học.

Về cách thức triển khai chương trình đào tạo

Thứ nhất, cơ cấu và thời lượng các khối kiến thức đã được điều chỉnh hợp lý hơn; khắc phục được sự khép kín trong từng viện chuyên ngành, bộ môn giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện phương pháp giảng dạy tích cực, “lấy học viên làm trung tâm, lấy tương tác làm nòng cốt”, người học không bị động, bị áp lực trước khối kiến thức đồ sộ; giảng viên và học viên được trao đổi thường xuyên trên lớp...

Thứ hai, Học viện đã xây dựng hệ thống tài liệu học tập (bắt buộc và tham khảo) khá phong phú và phù hợp; có các loại câu hỏi sát hợp cho quá trình học tập (trước khi lên lớp, thảo luận và ôn tập). Mỗi chuyên đề, mỗi học phần đều xác định cách thức đánh giá kết quả theo trọng số từng hoạt động trong quá trình học tập. Các hình thức thi, kiểm tra, đánh giá kết thúc học phần được đa dạng hóa, phù hợp với từng hệ lớp, từng môn học...

Thứ ba, trong quá trình triển khai chương trình mới, các đơn vị trong Học viện đã chủ động phân công giảng viên đảm nhiệm những nội dung phù hợp, tạo điều kiện cho giảng viên phát huy được thế mạnh chuyên môn và tính sáng tạo trong quá trình giảng dạy. Học viên đã chủ động hơn trong học tập, dành thời gian cần thiết để tập trung nghiên cứu, tìm hiểu những kiến thức cơ bản cũng như chuyên sâu và kỹ năng vận dụng trong thực tiễn từ nội dung truyền đạt của giảng viên.

Những vấn đề cần khắc phục trong thời gian tới

Mặc dù hệ thống chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Học viện đã có nhiều chuyển biến tích cực đáng ghi nhận, song trước thực tiễn sôi động, với những đòi hỏi ngày càng cao về năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, không ít nội dung và cách thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã bị thực tiễn vượt qua. Có thể đánh giá khái quát như sau:

Về cách thức xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng

Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nhất là các chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, nhìn chung, chưa được thực hiện đúng theo chuẩn phát triển chương trình, từ việc xác định nhu cầu của từng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, theo chuẩn đầu ra, với từng đối tượng cho đến phát triển chương trình tổng thể và chương trình chi tiết, xây dựng hệ thống tài liệu học liệu theo nội dung đã được thống nhất, kiểm tra đánh giá hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng. Việc xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng còn nhiều bất cập ở khâu đánh giá nhu cầu, xác định mục tiêu và chuẩn đầu ra.

Về nội dung đào tạo, bồi dưỡng

Nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng tuy đã được đầu tư điều chỉnh, đổi mới khá thường xuyên, nhưng nhiều nội dung chuyên đề còn khô cứng, lạc hậu so với thực tiễn đang thay đổi nhanh chóng; chưa được bổ sung kịp thời những nội dung mới, những vấn đề quan trọng mà văn kiện Đại hội Đảng và các nghị quyết Trung ương đặt ra. Bên cạnh đó, việc chậm cập nhật những tri thức mới về các lĩnh vực liên quan cả trong nước và quốc tế vào nội dung bài giảng, cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến cho bài giảng thiếu sống động, hấp dẫn.

Về kết cấu và thời gian của các chương trình đào tạo, bồi dưỡng

Về kết cấu tổng thể, mặc dù chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị được điều chỉnh tương đối nhiều, nhưng hiện nay vẫn còn những nội dung trùng lặp nhất định với một số chương trình đào tạo khác. Các chương trình đào tạo lý luận chính trị đang được triển khai chủ yếu theo tư duy môn học là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trùng lặp khó tránh khỏi giữa việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý và hoạt động giáo dục, đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân, cũng như sự trùng lặp trong đào tạo trình độ trung cấp và trình độ cao cấp lý luận chính trị.

Trên bình diện tổng thể, chương trình đào tạo hiện nay vẫn chưa bảo đảm được đầy đủ các yêu cầu học thuật của các môn học, chưa đáp ứng tốt nhất các yêu cầu đặc thù của các chuyên đề dành cho đối tượng người học là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý rất đa dạng về nghề nghiệp, chuyên môn, vị trí công tác..., chưa cung cấp đủ những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Thời gian thực hiện chương trình đào tạo lý luận chính trị như hiện nay cần có sự nghiên cứu để có đầy đủ căn cứ khoa học hơn. Chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị dành cho cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào hiện đang thực hiện với nội dung chủ yếu lấy từ chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị của Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian thực hiện chương trình chỉ là 5 tháng học tập trung, với hình thức học qua phiên dịch. Do vậy, các nội dung chuyển tải trong chương trình chưa thể bảo đảm tính hệ thống, cung cấp đầy đủ tri thức cho trình độ cao cấp lý luận chính trị như kỳ vọng.

Các khung chương trình bồi dưỡng chức danh lãnh đạo, quản lý hiện có cũng chưa được thiết kế thống nhất. Thời gian thực hiện chương trình có sự co giãn quá lớn tùy theo điều kiện thực tế. Kết cấu và nội dung các chuyên đề cũng chưa thực sự hợp lý và chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của thực tế, đặc biệt theo Quy định số 164-QĐ/TW ngày 01-02-2013 của Bộ Chính trị “về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức kỹ năng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”, thì việc cập nhật quan điểm, lý luận và thực tiễn mới phải thường xuyên được bổ sung vào chương trình bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Đối với chương trình Bồi dưỡng cập nhật kiến thức kỹ năng cho cán bộ quy hoạch cấp chiến lược của Đảng, mặc dù Học viện đã đầu tư nhiều công sức xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, nhưng các ý kiến đánh giá về 06 lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp, chuẩn bị nhân sự tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và 05 lớp bồi dưỡng kiến thức mới cho cán bộ quy hoạch cấp chiến lược khóa XIII, vẫn còn một số vấn đề đáng lưu ý như: Một số chuyên đề có tính thực tiễn chưa cao; các chuyên đề về khoa học lãnh đạo, quản lý và kỹ năng xử lý tình huống điểm nóng như: tranh chấp đất đai, tôn giáo, dân tộc..., còn ít và chưa được tổng kết, đánh giá một cách toàn diện để rút ra những bài học kinh nghiệm; nội dung nghiên cứu thực tế còn chưa đa dạng...

Về cách thức tổ chức triển khai hoạt động đào tạo, bồi dưỡng

Hiện nay, Học viện Trung tâm và các Học viện khu vực không có sự phân định về đối tượng, nội dung chương trình và cách thức đào tạo cao cấp lý luận chính trị. Trong khi đó, khảo sát thực tiễn cho thấy, sự phân định này là cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Bên cạnh đó, trong bối cảnh mở rộng chức năng, nhiệm vụ suốt hơn hai thập niên vừa qua, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh còn có lúc chưa tập trung làm nổi bật bản sắc của Trường Đảng Trung ương mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Về đội ngũ giảng viên

Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy vẫn còn bất cập. Việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng, phương pháp giảng dạy, trong nhiều trường hợp, còn mang tính đơn lẻ, tự phát. Việc trao đổi kinh nghiệm giảng dạy của các thế hệ giảng viên còn hạn chế. Các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ và kỹ năng chuyên sâu cho giảng viên chưa được triển khai thường xuyên, chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng lực lượng cán bộ giảng dạy của Học viện vừa đạt trình độ học thuật cao, vừa có kinh nghiệm thực tiễn phong phú và kỹ năng giảng dạy hiện đại; cơ chế cử giảng viên đi luân chuyển thực tế tại địa phương chưa phát huy hiệu quả như mong đợi.

Không ít giảng viên chưa đủ trình độ ngoại ngữ, tin học và kỹ năng học thuật hiện đại để đáp ứng yêu cầu khai thác thông tin khoa học từ các nguồn tài liệu quốc tế phục vụ hoạt động giảng dạy, khiến nội dung bài giảng có lúc còn bó hẹp, thiếu sức hấp dẫn, trong khi trình độ tiếp cận tri thức quốc tế của các đối tượng học viên ngày càng cao, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư lan tỏa ngày càng sâu rộng.

Đội ngũ giảng viên các trường chính trị tỉnh/thành phố hiện nay đang chịu rất nhiều áp lực cả về số lượng và chất lượng giảng dạy, trong khi phải đảm đương cả việc hướng dẫn chuyên môn đối với các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và tăng cường giảng dạy kiêm nhiệm ở cấp ủy cấp huyện.

2. Một số gợi ý về phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế vận động nhanh chóng như hiện nay, việc thiết kế, phát triển các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cần phải có những đổi mới căn bản. Sự đổi mới phải bắt đầu từ tư duy về triết lý đào tạo, bồi dưỡng của Học viện tới phương pháp thiết kế, mô hình thiết kế, cách xác định nhu cầu, cách xác định mục tiêu, chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, bồi dưỡng; lựa chọn và sắp xếp nội dung, phương thức, hình thức đào tạo, bồi dưỡng; hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng. Đặc biệt, phải quan tâm đến việc huy động, sử dụng công nghệ, thiết bị hiện đại để phục vụ cho mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng đa dạng trong bối cảnh mới nhưng phù hợp với điều kiện hiện có của Học viện.

Chất lượng của một chương trình đào tạo, bồi dưỡng được bắt đầu bằng một chương trình đào tạo, bồi dưỡng có mô hình và cách thức tổ chức thực hiện phù hợp.

Về mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng

Phải phù hợp với sứ mạng, tầm nhìn và chức năng, nhiệm vụ của Học viện được quy định tại Quyết định số 145-QĐ/TW ngày 08-8-2018 của Bộ Chính trị “về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh”.

Về nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng

Đối với hệ đào tạo lý luận chính trị

Nội dung phải hướng tới chuẩn đầu ra của học viên nhằm: nâng cao năng lực tư duy về quản trị quốc gia, nắm vững lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hiểu rõ cơ sở khoa học của chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, có nền tảng tri thức lý luận liên ngành tốt, tạo tiền đề để am hiểu tình hình trong nước, quốc tế.

Cấu trúc gọn, có tính khả thi cao dựa trên các chuyên ngành khoa học độc lập, các môn học có sự liên kết chặt chẽ về logic.

Đối tượng học viên của Học viện là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Xét về góc độ năng lực, họ là những người đã có kỹ năng tư duy bậc cao (có tư duy phê phán, khả năng giao tiếp tốt, giải quyết các vấn đề thành thạo), do vậy, nội dung chương trình phải vừa giúp họ củng cố các năng lực này, vừa góp phần để họ ý thức rõ hơn về sứ mệnh, về vai trò lãnh đạo, quản lý trong hệ thống quản trị quốc gia, từ đó, nâng cao tính tiền phong, gương mẫu.

Nội dung chương trình phải bảo đảm tính thực tiễn, với nhiều tình huống được đặt ra nhằm phát huy tính sáng tạo trong giải quyết tình huống. Kết hợp lý thuyết với thực tiễn, học đi đôi với hành: các kiến thức, kỹ năng được cung cấp thêm trên lớp được gia tăng, củng cố thông qua cơ hội áp dụng vào cuộc sống, giải quyết các vấn đề đặt ra ở cơ quan, đơn vị học viên đang công tác.

Phát huy tính tích cực, chủ động của học viên trong suốt quá trình tham gia khóa học. Học viên sẽ học tập tốt nhất khi có động lực và định hướng rõ ràng. Học viên luôn có sự hợp tác, hỗ trợ nhau thay vì chỉ học độc lập.

Đối với hệ bồi dưỡng

Bồi dưỡng kiến thức mới: Đối tượng bồi dưỡng của loại hình này là các học viên đã từng được đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện, hiện đang công tác tại địa phương, cơ quan; sau một thời gian nhất định trở lại trường để bồi dưỡng cập nhật những tri thức mới, kỹ năng mới của lĩnh vực đã được đào tạo, bồi dưỡng.

Yêu cầu về nội dung đối với loại hình này phải là những tri thức, kỹ năng mới của lĩnh vực, ngành nghề; những kết quả nghiên cứu mới nhất được công bố giúp cho học viên có thêm tri thức, kỹ năng để giải quyết công việc trong thực tiễn, đơn vị công tác.

Việc thiết kế nội dung, chương trình của loại hình này phải thể hiện dưới dạng các chuyên đề cập nhật mới nhất do các chuyên gia thực hiện.

Bồi dưỡng theo nhiệm vụ được giao: Loại hình này được thực hiện không thường xuyên theo nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước giao (các lớp dự nguồn chiến lược, các lớp bồi dưỡng cán bộ sau các nhiệm kỳ đại hội, bầu cử...).

Đối với các đối tượng này, yêu cầu về chương trình bồi dưỡng phải hướng tới nâng cao kỹ năng lãnh đạo ,quản lý, nâng cao tầm nhìn, năng lực giải quyết các vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn tại địa phương, ban, bộ, ngành.

Đối với đối tượng học viên là lãnh đạo chiến lược và dự nguồn lãnh đạo chiến lược thì yêu cầu nội dung bồi dưỡng phải nhấn mạnh các kỹ năng hoạch định đường lối, chính sách; kỹ năng tổng kết thực tiễn; kỹ năng giải quyết điểm nóng; kỹ năng đóng góp và phát triển lý luận. Đối tượng học viên lớp này chính là những người đang nắm giữa các vị trí trọng trách trong hệ thống quản trị đất nước. Do đó, nội dung của các chương trình bồi dưỡng này phải góp phần củng cố bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng về những lĩnh vực cốt yếu nhất, am hiểu thế giới, tình hình đối nội, đối ngoại, rèn luyện tư duy chiến lược để nâng cao trách nhiệm đối với vận mệnh của đất nước; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Đối với hệ đào tạo đại học, thạc sĩ, tiến sĩ

Thực hiện theo Thông tư 17/2021/TT-BGDĐT ngày 22-6-2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về chuẩn chương trình đào tạo; xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.

Nội dung chương trình tiệm cận dần với sự phát triển khoa học chính trị của khu vực và thế giới; đồng thời, thể hiện rõ đặc thù của Học viện là Trung tâm quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cho hệ thống chính trị.

Chương trình đại học chính trị: Nội dung phải giúp học viên am hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, hình thành tư duy và tri thức khoa học chính trị; phải bảo đảm học viên am hiểu lịch sử phát triển của khoa học chuyên ngành; có cơ cấu phù hợp đối với việc hình thành kỹ năng thực hành, thao tác nghiệp vụ, kỹ năng phân tích nghiên cứu lý luận chuyên ngành, góp phần hình thành ý thức đạo đức và sứ mệnh chuyên ngành.

Chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ: Sau khi hoàn thành khóa học, học viên có khả năng thực hành cao trong trong lĩnh vực được đào tạo, có tiền đề để trở thành những người vừa am hiểu lý luận, vừa có năng lực tham mưu, chỉ đạo và trực tiếp tổ chức triển khai trong thực tiễn công việc được đào tạo.

Chương trình đào tạo tiến sĩ: Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, nghiên cứu sinh có đủ kiến thức, kỹ năng để tốt chức triển khai, hoàn thành công trình khoa học độc lập; trở thành chuyên gia, nhà lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực chuyên môn được đào tạo, đóng góp về nhiều mặt để phát triển ngành.

Trên đây là một số ý kiến mang tính gợi mở bước đầu về phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong thời gian tới. Trước mắt, cần xây dựng đội ngũ chuyên gia về phát triển chương trình. Họ không chỉ tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển chương trình mà còn có khả năng tham mưu, tư vấn, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động này. Tiếp đó, biên soạn tài liệu và tổ chức các lớp tập huấn về phát triển chương trình cho đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý đào tạo. Mặt khác, cần chuẩn bị tốt các điều kiện liên quan về hành lang pháp lý; cơ chế, chính sách; cơ sở vật chất.

Chỉ trên cơ sở hội tụ đủ các yếu tố cần thiết, chúng ta mới có thể phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 541 (tháng 3-2023)

Ngày nhận bài: 7-3-2023; Ngày bình duyệt: 19-3-2023; Ngày duyệt đăng: 22-3-2023.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Hoàng Anh: Quy trình xây dựng nội dung chương trình cao cấp lý luận chính trị ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5-2020.

2. Hoàng Anh: Phát triển chương trình và tổ chức thực hiện quá trình đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tài liệu bồi dưỡng phương pháp giảng dạy lý luận chính trị, tập 1, Một số vấn đề chung về giảng dạy lý luận chính trị, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr.99-127.

3. Nguyễn Đức Chính, Trần Hữu Hoan: Quản trị phát triển chương trình giáo dục nhà trường, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2020.

4. Hồ Trọng Hoài và Trần Thị Tú Anh: Xây dựng chuẩn đầu ra cho các chương trình đào tạo ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Lý luận chính trị, số 12-2017.

5. Nguyễn Văn Lượng: Phát triển đội ngũ giảng viên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội; Phương pháp quản lý đào tạo cán bộ và công chức, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2016.

6. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 30-7-2005 của Bộ Chính trị về đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

7. Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”.

8. Quy định số 164-QĐ/TW ngày 01-02-2013 của Bộ Chính trị “về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức kỹ năng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”.

9. Quyết định số 145-QĐ/TW ngày 08-8-2018 của Bộ Chính trị “về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh”.

Nguồn: PGS, TS HOÀNG ANH

Vụ Tổ chức - Cán bộ,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU ĐỐI LẬP GIỮA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN!

         Một trong những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin.
    Mục đích của chúng nhằm phá hoại, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh từ gốc rễ, qua đó tiến công trực diện vào một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
     Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.      
     Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin./.




Yêu nước ST.

 

Một số biện pháp đẩy mạnh công tác đấu tranh, ngăn chặn thông tin xấu, độc trên không gian mạng trong giai đoạn hiện nay

 

Trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, mạng xã hội đã trở thành một thuật ngữ phổ biến với những tính năng đa dạng cho phép người dùng kết nối, chia sẻ, tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả. Không thể phủ nhận vai trò tích cực của mạng xã hội, song cũng phải nhận thấy, các thế lực thù địch và bọn phản động đã và đang biến nó thành công cụ đắc lực cho các hoạt động phá hoại tư tưởng, “diễn biến hòa bình” và các hoạt động phạm tội khác.

     Trong thời gian gần đây, lợi dụng mạng xã hội các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động chống phá trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, nhất là những sự kiện chính trị, xã hội lớn của nướcta để xuyên tạc, bịa đặt, kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, biểu tình chống đối chính quyền, tập dượt bạo loạn, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta.

     Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của không gian mạng; nhằm thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, Kết luận số 53-KL/TW ngày 04/6/2019 của Ban Bí thư về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt phá tin giả, thông tin sai sự thật, xấu, độc trên Internet, mạng xã hội; Ban chỉ đạo 35 huyện đã chủ động, tích cực triển khai và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền và đấu tranh phản bác các thông tin và luận điệu sai trái của các thế lực thù địch trên các trang mạng xã hội. Nâng cao hiệu quả tuyên truyền chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước thông qua mạng xã hội. Tổ chức đông đảo các lực lượng cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đấu tranh, phản bác có hiệu quả với những thông tin và luận điệu sai trái của các thế lực thù địch trên các trang mạng xã hội, đảm bảo an ninh tư tưởng, định hướng dư luận, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Đặc biệt,thường xuyên cập nhật thông tin dịch bệnh, phản bác các thông tin sai lệch về tình hình dịch Covid-19 gia tăng đột biến, căng thẳng, khó lường ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, chiến lược tiêm vắc-xin Covid-19, về công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19, phản bác các luận điệu xuyên tạc về Đại hội Đảng các cấp, cuộc Bầu cử Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026, kết quả Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XV... Ban chỉ đạo 35 huyện đã thành lập trang fanpage “Thông tin Thăng Bình” - đây là nơi chia sẻ, cập nhật những thông tin mới nhất của huyện Thăng Bình, những thông tin chính thống nhằm định hướng thông tin trên không gian mạng; thành lập nhóm Mocha-35TB phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành. Trên cơ sở chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 huyện, một số địa phương, đơn vị cũng đã thành lập các fanpage, group như Công an Thăng Bình, Tuổi trẻ với tinh thần thép, Lực lượng DQTV Thăng Bình, một số trang, nhóm của một số xã, thị trấn… qua đó, góp phần tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

     Việc tham gia hay không tham gia mạng xã hội là quyền tự do của mỗi cá nhân. Song với vai trò và nhiệm vụ của cán bộ, công chức, đảng viên đang công tác ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị, mỗi cán bộ, đảng viên trên địa bàn huyện cần nhận thức đầy đủ về những mặt tích cực và tiêu cực khi sử dụng mạng xã hội, nhất là xác lập thái độ, hành vi ứng xử đúng đắn của bản thân trong giao tiếp, tiếp nhận, xử lý thông tin trên mạng xã hội. Thời gian qua, bên cạnh đa số cán bộ, đảng viên có ý thức trách nhiệm, mạnh dạn đăng tải, chia sẻ các thông tin, hình ảnh từ các trang chính thống thể hiện quan điểm, lập trường, chính kiến của bản thân về một vấn đề nào đó hoặc phản ánh trước những thông tin xấu độc trên mạng xã hội, thì vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên còn thờ ơ, chủ quan, mất cảnh giác, chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm và tính cấp bách của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

     Để công tác công tác đấu tranh, ngăn chặn thông tin xấu, độc ngày càng có hiệu quả trong thời gian tới, thiết nghĩ các cấp ủy đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

     Một là, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước các thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Phải luôn chủ động nâng cao kiến thức xã hội về mọi mặt, nhằm xây dựng cho mình nhận thức chính trị đúng đắn để xem xét, tiếp cận thông tin một cách khách quan, đầy đủ, chính xác từ những nguồn thông tin chính thống, tránh tiếp cận thông tin phiến diện, một chiều. Cảnh giác trước các nguồn thông tin sai trái, thù địch, trái với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó phải có ý thức tự giác, phát huy tính kỷ luật của người cán bộ, đảng viên trong quá trình tiếp xúc thông tin; chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tiếp cận Thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng; những điều Đảng viên không được làm…

     Hai là, mỗi cán bộ, công chức, đảng viên khi tham gia mạng xã hội cần biến trang mạng xã hội của mình thành một kênh thông tin, tuyên truyền thường xuyên, chính thống về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, chủ động phân tích, bình luận, chia sẻ, cung cấp những thông tin chính thống, tuyên truyền quảng bá về hình ảnh đẹp của mảnh đất và con người Thăng Bình. Tăng cường đăng tải các thông tin về thành tựu phát triển kinh tế -xã hội; quốc phòng, an ninh, gương điển hình người tốt, việc tốt;những mô hình mới, cách làm hay trong các phong trào thi đua yêu nước, học tập và làm theo tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh. Cùng với đó phải tố giác và sẵn sàng tham gia đấu tranh ngăn chặn kẻ xấu kích động việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, kịp thời thông báo cho các cơ quan chức năng để xử lý.

     Ba là, phát huy vai trò, tính chủ động của Ban Chỉ đạo 35 huyện về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; đẩy mạnh tuyên truyền đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên chia sẻ những thông tin chính thống để cùng tuyên truyền vận động bạn bè, người thân, đồng nghiệp, cộng đồng hiểu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp; bên cạnh đó cần định hướng những trang thông tin, những tài khoản facebook chính thống để cán bộ, công chức, đảng viên theo dõi, cập nhật thông tin.

     Bốn là, các cấp ủy, chính quyền cơ sở thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, định hướng kịp thời dư luận xã hội trong cán bộ, đảng viên; lắng nghe ý kiến phản ánh, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng Nhân dân địa phương, thường xuyên tổ chức sinh hoạt nhằm kịp thời trao đổi, làm rõ, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn từ những thông tin xấu xa, độc hại, ác ý của các thế lực thù địch, phản động. Cần dựa vào những tài liệu, thông tin chính thống, hướng dẫn của cấp ủy cấp trên để tổ chức cung cấp nhanh cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động những luận cứ, thông tin xác đáng và dựa vào đó, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc trên mạng xã hội. Tích cực, chủ động xử lý nghiêm các đối tượng cá nhân, tổ chức thuộc địa bàn, đăng tải, phát tán thông tin xấu độc, vi phạm quy định của pháp luật và công khai các kết quả xử lý để răn đe, cảnh tỉnh các đối tượng khác.

     Tin tưởng rằng, với những kết quả đạt được cùng với sự cố gắng, nỗ lực của mỗi cán bộ, đảng viên, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị sẽ góp phần lan toả những thông tin tích cực, định hướng dư luận xã hội, đấu tranh, phản bác tin giả, tin sai sự thật, xấu độc trên internet, mạng xã hội, góp phần làm thất bại các âm mưu, hoạt động phản động của các thế lực thù địch, góp phần chung tay giữ vững ổn định chính trị, an ninh, an toàn xã hội trên quê hương Thăng Bình./.

                                                                                                P.V.T-01                                                                                                                                                                                                             

 

Bám dân, hiểu dân, dựa vào dân

Thực tế cho thấy, không ít trường hợp từ những điểm nóng nhỏ lẻ có nguyên nhân là các vấn đề dân sinh, lại bị các lực lượng thù địch lợi dụng, thúc đẩy các mâu thuẫn nội tại, gây bức xúc trong dân chúng và tạo điểm nóng trên thực địa, hoặc trên mạng xã hội. Trong khi đội ngũ cán bộ không hiểu được dân, không nắm chắc dân càng tạo điều kiện để các thế lực thù địch hiện thực âm mưu đó một cách dễ dàng. Ví như, sự vụ ở xã Đồng Tâm (Mỹ Đức) có nguyên nhân từ việc cán bộ cơ sở không hiểu dân; không nắm chắc và chưa phân tích đúng tình hình, do đó lúng túng trong xử lý.

Nghị quyết Đại hội lần thứ XVII Đảng bộ TP Hà Nội (nhiệm kỳ 2020-2025) thẳng thắn đánh giá: Công tác nắm bắt, dự báo tình hình, tham mưu với cấp ủy, chính quyền trong giải quyết một số vụ việc phát sinh, giải quyết điểm nóng... còn hạn chế. Nghị quyết xác định mục tiêu: Không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, an toàn xã hội, phòng, chống tội phạm hiệu quả; bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não của Trung ương và thành phố, các sự kiện quốc gia, quốc tế. Một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu đó là phải bám dân, hiểu dân, dựa vào dân.

Giải pháp này thực chất là một bài học thực tiễn quý báu, có tính kế thừa, kế tiếp qua các nhiệm kỳ. Theo thông tin từ đội ngũ làm công tác tuyên giáo, nhiều năm qua, trong quá trình tiến hành công tác dự báo và nắm bắt thông tin, cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm đến cả những vấn đề thông tin nhỏ nhất từ quần chúng. Vì quần chúng có trăm nghìn “tai mắt” nên kẻ thù dẫu có tinh vi cũng khó lòng “cất giấu” mọi thủ đoạn, manh mối. Mặt khác, nếu kẻ thù có lợi dụng, mua chuộc quần chúng thì cũng bắt đầu từ những con người cụ thể. Do đó, để kiếm tìm, nhận rõ các nguy cơ, dấu hiệu nảy sinh dư luận tiêu cực, hình thành điểm nóng, Ban Tuyên giáo Thành ủy và ngành tuyên giáo định kỳ tổ chức các cuộc điều tra dư luận xã hội. Định kỳ hoặc đột xuất, ngành tuyên giáo tiến hành tổng hợp phản ánh tình hình xã hội theo phân cấp, trên cơ sở thu thập, phân tích, tổng hợp từ nhiều nguồn: Phản ánh của nhân dân, dư luận từ cơ sở, hội nghị, hội họp và báo chí...

Hà Nội cũng sớm có chủ trương tạo mọi điều kiện, cơ chế để các cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị tăng cường phối hợp, phát huy sức mạnh tham gia vào việc tổng hợp, phân tích tình hình nhân dân chính xác, kịp thời. Hiện ở Hà Nội có rất nhiều cơ quan cùng thực hiện chức năng, nhiệm vụ nắm tình hình nhân dân, như: Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận, Mặt trận Tổ quốc, LLVT, cấp ủy các cấp, các cơ quan thanh tra, kiểm tra, tổ chức đoàn thể, các trung tâm nghiên cứu và hệ thống học viện, nhà trường... Theo chức năng, nhiệm vụ và theo phân công, phân cấp, mỗi cơ quan, đơn vị nắm số liệu, tư liệu liên quan tình hình nhân dân ở từng địa bàn, từng lĩnh vực, khu vực. Trên cơ sở đó, tổng hợp, phân tích qua các kênh thông tin của cả hệ thống chính trị làm cơ sở để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền thành phố lãnh đạo, chỉ đạo đạt hiệu quả cao hơn.

Một điểm nhấn khác trong công tác nắm bắt dư luận xã hội là Đảng bộ TP Hà Nội sớm có chủ trương, giải pháp, cơ chế, quy chế phát huy cao nhất vai trò của đội ngũ cộng tác viên; xây dựng các phương án, kịch bản công tác tuyên truyền đối với những vấn đề phức tạp, nhạy cảm trên địa bàn để sẵn sàng đối phó, chuẩn bị các phương án truyền thông trước mọi tình huống và đấu tranh hiệu quả trên không gian mạng.

Với các giải pháp căn cơ, đồng bộ như vậy, cùng kinh nghiệm đã có là tiền đề nền tảng để cấp ủy, chính quyền nắm chắc "trận địa lòng dân"; kịp thời phát hiện, ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các lực lượng thù địch. Minh chứng là qua các kênh nắm bắt tư tưởng, tâm lý xã hội thường xuyên, đã giúp Hà Nội phát hiện, khống chế được các làn sóng dư luận tiêu cực và tin đồn; đẩy lùi mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, khống chế, triệt phá từ sớm những điểm nóng trên địa bàn. Ví như ngay từ những tháng đầu của quý II-2018, cơ quan chức năng đã sớm nắm thông tin, phát hiện: Vào thời điểm Quốc hội khóa XIV bàn về Dự thảo Luật Đơn vị Hành chính-Kinh tế đặc biệt và Dự thảo Luật An ninh mạng, trên các trang mạng xuất hiện những bài viết kích động biểu tình, gây bạo loạn chính trị, hướng vào nhiều tầng lớp xã hội. Các bài viết trên có nhiều nội dung bịa đặt, phiến diện hoặc bóp méo sự thật, “biên tập” có chủ đích một số nội dung của dự thảo luật nhằm gây bức xúc trong cộng đồng. Nhờ nắm chắc thông tin dư luận xã hội, Đảng bộ TP Hà Nội đã chủ động, tập trung lãnh đạo ngăn chặn ngay từ đầu những mầm mống nảy sinh điểm nóng, khống chế, kiểm soát được tình hình; trong khi vào cùng thời điểm, không ít địa phương khác lại rơi vào thế bị động, để xảy ra tụ tập đám đông, gây rối, đập phá công sở và tấn công người thi hành công vụ.

Cũng với cách làm đó, hơn 13 năm trước, Hà Nội đã sớm nhận diện, bóc gỡ thành công các âm mưu kích động dư luận, chống phá chủ trương mở rộng địa giới hành chính Hà Nội; hay gần đây là thủ đoạn kêu gọi tẩy chay, vận động người dân không sử dụng tàu điện đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông; bóc gỡ, triệt phá thành công nhiều âm mưu bôi nhọ, hạ bệ danh dự, uy tín của lãnh đạo Thủ đô...

P.V.T.02

 

 

BÔI NHỌ, XUYÊN TẠC MỤC ĐÍCH CHUYẾN THĂM

CỦA TỔNG THỐNG MỸ TỚI VIỆT NAM

 

                                                                                     

Theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ ngày 10-11/9, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm cấp nhà nước tới Việt Nam. Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của Tổng thống Joe Biden kể từ khi ông nhậm chức đầu năm 2021. Sự kiện diễn ra vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện. Nhiều hãng truyền thông lớn trên thế giới đã đăng tải những thông điệp tích cực của chuyến thăm, khẳng định Việt Nam tiếp tục cho cả thế giới biết và hiểu hơn về đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Việc nâng mức quan hệ ngoại giao từ Đối tác toàn diện lên Đối tác Chiến lược toàn diện tiếp tục khẳng định mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ ở tầm cao mới, đó là Đối tác Chiến lược toàn diện, vì hoà bình, hợp tác và phát triển bền vững. Ngay sau chuyến thăm, Tổng thống Joe Biden đăng tải trên mạng xã hội video chia sẻ những khoảnh khắc quan trọng với hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì lễ đón chính thức tại Phủ Chủ tịch, cuộc hội đàm giữa hai nhà lãnh đạo và các cuộc hội kiến của Tổng thống Hoa Kỳ với các nhà lãnh đạo Việt Nam. Trên trang cá nhân ông viết: “Sau 50 năm tiến triển trong mối quan hệ giữa hai nước, từ xung đột đến bình thường hóa, tôi tự hào đã tăng cường hơn nữa mối quan hệ với Việt Nam – một đối tác quan trọng ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”…  Những tình cảm đó cho thấy cá nhân Tổng thống Joe Biden nói riêng, Hoa Kỳ nói chung rất coi trọng mối quan hệ hợp tác với Việt Nam.

Ngược lại với thực tế đó, những phần tử phản động lưu vong ở hải ngoại lại tỏ ra lo lắng, tìm cách bôi nhọ, xuyên tạc về chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ đến Việt Nam và việc nâng tầm mối quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược toàn diện. Các đối tượng tăng cường phát tán nhiều bài viết có nội dung sai trái, xấu độc để chống phá Đảng, Nhà nước; xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ cũng như quan hệ của Việt Nam với nhiều nước khác… Có trường hợp khi không thể ngăn cản chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden thì quay sang miệt thị các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chính sách ngoại giao “bốn không” của Việt Nam…Những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, đối lập với chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Trong phát biểu trước báo chí tối 10/9, Tổng thống Joe Biden đã nhắc lại quá khứ quan hệ 2 nước trước năm 1975 với sự can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam, tiếp đó đến mãi năm 1995, hai nước mới bắt tay hòa giải quan hệ ngoại giao.

Trải qua 28 năm, nay đã nâng đến mức độ cao nhất cho thấy sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau của cả hai nước. Tổng thống Joe Biden chia sẻ rằng, trước đây khi trở thành nghị sĩ, ông đã bỏ phiếu phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, yêu cầu Chính phủ, Quốc hội Mỹ phải rút quân về nước. Ngay trong chuyến thăm Việt Nam lần này, ông Biden nhắc đến cố Thượng nghị sỹ John McCain, nghị sĩ Kerry - người bắc cầu cho quan hệ Việt - Mỹ. Phải khẳng định rằng, việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là phù hợp với thực tiễn của quan hệ ngoại giao hai nước, đáp ứng sự mong mỏi và tình cảm của các nhà lãnh đạo, nhân dân hai nước. Như Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E.Knapper đã nhấn mạnh trong cuộc gặp gỡ với báo chí trưa 13/9 rằng, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển tốt đều mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia và Hoa Kỳ muốn trở thành một phần trong quá trình Việt Nam nỗ lực để trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2050. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ cựu thù trở thành đối tác và Đối tác Chiến lược toàn diện đã được nhiều nhà ngoại giao thế giới gọi là hình mẫu trong quan hệ quốc tế, là tấm gương để các quốc gia khác noi theo, học tập. Nghĩa là không chỉ hai quốc gia Việt Nam - Hoa Kỳ mà cả cộng đồng thế giới đều ghi nhận, trân trọng những nỗ lực trong bước tiến vượt bậc về quan hệ ngoại giao giữa hai bên bởi điều này còn có sự ảnh hưởng tích cực lớn đến an ninh, hòa bình, sự đoàn kết, thịnh vượng của khu vực và trên thế giới.

Do vậy, những lời lẽ kiểu hậm hực rằng, Hoa Kỳ đừng nên quan hệ với Việt Nam, rằng Hoa Kỳ cần đưa ra yêu sách buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chế độ mới nâng cấp quan hệ hoặc châm chọc rằng, Việt Nam nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ là “theo phe này, chống phe kia”…  là không đúng với thực tiễn. Rõ là những lời bịa đặt, vu khống cũ mòn về nhân quyền ở Việt Nam. Thực tiễn, ngoài những thành tựu đạt được về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chính sách cho đồng bào dân tộc và đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người khuyết tật..., những nỗ lực trong việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam luôn được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Thực tế, dân chủ, nhân quyền là một vấn đề lớn, không một quốc gia nào dám tự coi là đã thực hiện một cách đầy đủ. Mỗi quốc gia thực hiện dân chủ, nhân quyền còn tùy thuộc vào tình hình chính trị - xã hội, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán và trình độ dân trí…

Đảng, Nhà nước Việt Nam xác định rõ, bảo đảm quyền con người là bản chất của chế độ, là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, đồng thời là động lực của chế độ. Vì thế, Nhà nước Việt Nam luôn đẩy mạnh và coi trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người; củng cố tăng cường các thể chế, chính sách nhằm thúc đẩy thực thi quyền con người, bảo đảm thực hiện đầy đủ hơn, tốt hơn các quyền tự do chính đáng của nhân dân./.