Thứ Tư, 20 tháng 9, 2023

Nhận thức về vũ khí công nghệ cao trong thế trận quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc

 

Trong tình hình hiện nay, trước sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, vũ khí công nghệ cao là một trong những nhân tố quan trọng của thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh quân sự của quốc gia, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chiến tranh nhân dân là một nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự Việt Nam, được hun đúc và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước; được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phát huy cao độ trong các cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc và sự nghiệp đổi mới đất nước. Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa con người với vũ khí, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn vững chắc. Mới đây nhất, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc”; đồng thời, xác định nhiệm vụ trọng tâm: “tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.

Bên cạnh đó, có thể thấy, từ khi ra đời, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc xây dựng và phát huy cao độ sức mạnh quốc phòng toàn dân, tiến hành chiến tranh nhân dân để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa. Thực tế chứng minh rằng, trong chiến tranh nhân dân với nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhờ cách đánh tài tình sáng tạo, lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm cao mà các loại vũ khí hiện có đều được phát huy cao độ khiến kẻ thù phải khiếp sợ, buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta. Song, chiến tranh nhân dân không có nghĩa là chỉ có vũ khí thông thường mà đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố, sức mạnh tổng hợp của các lực lượng với những loại vũ khí trang bị từ thô sơ đến hiện đại.

Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, vũ khí công nghệ cao là “vũ khí được nghiên cứu thiết kế, chế tạo dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ h  iện đại, có sự nhảy vọt về chất lượng và tính năng chiến - kỹ thuật”. Trên thực tế, từ những năm 1970, thế giới đã bùng nổ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại với nhiều thành tựu mới về công nghệ thông tin, tự động hóa, vật liệu mới, sinh học, năng lượng mới. Cuộc cách mạng này đã tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực quân sự. Nhiều loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự mới có hàm lượng trí tuệ cao, có sự nhảy vọt về chất lượng và tính năng chiến - kỹ thuật, được gọi là vũ khí công nghệ cao đã ra đời. Theo thống kê, kể từ cuộc chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao đầu tiên là chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 (chiếm 8%); tiếp đến là chiến dịch “Con cáo sa mạc” ở Irắc (12/1998), vũ khí công nghệ cao chiếm 50%; chiến tranh Nam Tư (năm 1999) là 75-80%; thì đến chiến tranh Apganixtan (năm 2001) đã là 90% và chiến tranh Irắc (năm 2003) trên 90%. Hiện nay, vũ khí công nghệ cao được sử dụng phổ biến trong cuộc xung đột Nga và Ucraina

Do vậy, trong giai đoạn cách mạng mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhận thức đúng về vị trí, vai trò của vũ khí công nghệ cao trong thế trận quốc phòng toàn dân, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đầu tư, mua sắm mới kết hợp với nghiên cứu, chế tạo sản xuất trong nước. Đến nay, kết quả nghiên cứu thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật mới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Trở lại vấn đề nghiên cứu, vũ khí công nghệ cao được đặt trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố khác trong thế trận quốc phòng toàn dân, đến xây dựng tiềm lực quốc phòng như tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ và quân sự. Từ những phân tích, luận giải trên đây, để giải quyết tốt mối quan hệ về vũ khí công nghệ cao trong thế trận quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam hiện nay, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường tuyên truyền về vị trí, vai trò của vũ khí công nghệ cao trong thế trận quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân.

Nâng cao nhận thức cho toàn thể nhân dân và lực lượng vũ trang về ưu điểm, hạn chế cũng như dự báo sự phát triển vũ khí công nghệ cao trong tương lai. Tăng cường hiểu biết về khả năng tích hợp, ứng dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong phát triển các thế hệ vũ khí công nghệ cao; những tác động, ảnh hưởng của loại vũ khí này đến hình thức, phương pháp tác chiến, huấn luyện bộ đội, nhất là để đối phó và phòng, chống có hiệu quả vũ khí công nghệ cao. Tuyên truyền về quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước trong củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc làm chuyển biến nhận thức của các chủ thể về vũ khí công nghệ cao. Đấu tranh chống những quan điểm, nhận thức không đúng về vũ khí công nghệ cao trên cả hai khuynh hướng là đề cao hoặc xem nhẹ.

Hai là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa vũ khí công nghệ cao với vũ khí thông thường và các nhân tố khác trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hiện đại hóa Quân đội, trong đó có một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại và phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại. Theo đó, nhiều thế hệ vũ khí mới, hiện đại đã từng bước được trang bị cho Quân đội. Song, do điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, việc hiện đại hóa quân đội phải được tiến hành từng bước, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Hơn nữa, vũ khí dù có hiện đại đến đâu vẫn phải do con người sử dụng, con người vẫn là nhân tố quyết định. Do đó, để xây dựng nền quốc phòng hiện đại, phải gắn và giải quyết đồng bộ các nhân tố của nền quốc phòng. Trong đó, tập trung phát triển kinh tế, tăng cường dự trữ cơ sở vật chất cho quốc phòng, vận dụng hiệu quả các thành tựu của khoa học - công nghệ, xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh hiện đại. Kết hợp chặt chẽ giữa cải tiến, hiện đại hóa vũ khí, trang bị hiện có với nghiên cứu, sản xuất và mua sắm trang bị hiện đại.

Ba là, tổ chức, triển khai, bố trí vũ khí công nghệ cao phù hợp với điều kiện địa hình, vùng miền, địa bàn chiến lược.

Kết hợp chặt chẽ giữa vũ khí công nghệ cao với vũ khí thông thường, tạo nên thế trận liên hoàn vững chắc, nhiều tầng, nhiều nấc, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân linh hoạt, hiệu quả. Phát huy cách đánh, lối đánh sáng tạo, linh hoạt của các lực lượng và toàn thể nhân dân. Khơi dậy, phát huy thế mạnh của các địa phương, vùng miền để tạo nên sức mạnh tổng hợp; khai thác có hiệu quả các loại vũ khí hiện có trong phòng, chống vũ khí công nghệ cao; triển khai, bố trí vũ khí công nghệ cao phù hợp để bảo toàn lực lượng; bố trí các trang - thiết bị nghi trang phù hợp, góp phần hạn chế tính năng các loại vũ khí công nghệ cao của đối phương. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, chính quyền địa phương trong quán triệt và triển khai thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trên từng khu vực, địa bàn, tạo ra thế trận liên hoàn, vững chắc, sâu rộng của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ góp phần khai thác, sử dụng có hiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật, nhất là vũ khí công nghệ cao.

Hiện đại hóa Quân đội không chỉ đòi hỏi vũ khí hiện đại mà cần phải có những con người hiện đại. Con người hiện đại ở đây là sự phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, đức và tài, “vừa hồng, vừa chuyên”. Đặc biệt, trong chiến tranh hiện đại, người lính không chỉ cần có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, có niềm tin và ý chí quyết tâm cao, lòng yêu nước, mà cần phải được đào tạo bài bản, có kiến thức, trình độ chuyên môn, đủ khả năng làm chủ các loại vũ khí công nghệ cao. Nói cách khác, muốn có vũ khí công nghệ cao thì trước hết phải có nguồn nhân lực chất lượng cao. Do đó, cần quan tâm, nâng cao chất lượng đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ, góp phần khai thác, làm chủ và sử dụng có hiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật nói chung và vũ khí công nghệ cao nói riêng.

Năm là, nghiên cứu nghệ thuật quân sự, kinh nghiệm phòng, chống vũ khí công nghệ cao trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân.

Ngày nay, với sự xuất hiện của nhiều thế hệ vũ khí hiện đại, cục diện thế giới có nhiều thay đổi; sự toan tính của các cường quốc đã tác động mạnh đến chính sách quốc phòng của nhiều nước. Bởi vậy, việc đối phó với các cuộc chiến tranh hiện đại là sự đấu tranh toàn diện trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu nghệ thuật quân sự Việt Nam, kinh nghiệm của các thế hệ đi trước và bổ sung, phát triển phù hợp trong điều kiện lịch sử mới. Đặc biệt, cần nghiên cứu, phát triển nghệ thuật tác chiến trong thế trận quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân đối với từng lực lượng và phối hợp, hiệp đồng quân, binh chủng, các lực lượng trên cả đất liền, biển, đảo, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

Kế thừa tri thức nhân loại của Các Mác - Giá trị lịch sử và thực tiễn sinh động ở Việt Nam

 

Trong Chủ nghĩa Mác, phương pháp kế thừa tri thức nhân loại là đặc sắc; nhờ phương pháp đó, Chủ nghĩa Mác đã không ngừng đổi mới, phát triển bằng cách tiếp thu có chọn lọc, có phê phán tất cả sản phẩm trí tuệ loài người đã sáng tạo ra. Nghiên cứu toàn diện và sâu sắc đồng thời tiếp thu có phê phán, chọn lọc toàn bộ tri thức nhân loại đã sáng tạo ra nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng là đặc điểm nổi bật trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác.

Trước Mác, các nhà tư tưởng hoặc là kế thừa một cách rập khuôn, giáo điều hoặc là phủ định sạch trơn, do vậy lịch sử tư tưởng nhân loại trước Mác đều có những hạn chế nhất định. Mác và Ăngghen đã vượt lên tất cả những hạn chế của lịch sử tư tưởng trước đó bằng cách kế thừa toàn bộ tinh hoa tri thức nhân loại, đồng thời phê phán, phủ định những hạn chế của những tư tưởng đó và sáng tạo ra chủ nghĩa mới mang bản chất khoa học và cách mạng, đó là Chủ nghĩa Mác.

Hêghen và Phoiơbắc đại diện cho hai trường phái triết học đối lập nhau: Hêghen là đại biểu cho trường phái duy tâm nhưng “hạt nhân hợp lý” trong triết học của ông là phương pháp biện chứng cách mạng (phép biện chứng); Phoiơbắc đại diện cho trường phái duy vật nhưng hạn chế trong triết học của ông là phương pháp siêu hình (phép siêu hình). Mác đứng trên lập trường duy vật cách mạng của Phoiơbắc nhưng phê phán phép siêu hình của ông ta; Mác cũng phủ định lập trường duy tâm của Hêghen nhưng tiếp thu “hạt nhân hợp lý” trong triết học của ông là phép biện chứng cách mạng. Nhờ đó, triết học Mác có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng: Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng còn phép biện chứng là phép biện chứng duy vật, nó hoàn toàn khác về chất so với chủ nghĩa duy tâm biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc. Hơn nữa, trước Mác, các nhà triết học chủ yếu là giải thích thế giới, triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà sứ mệnh cao cả hơn là cải tạo thế giới.

Học thuyết về kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học cũng tương tự như vậy. Mác đã kế thừa có phê phán những tư tưởng kinh tế chính trị học cổ điển Anh và tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp... Trên cơ sở đó, ông đã tìm ra quy luật giá trị thặng dư và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Trong diễn văn tại Đại hội III toàn Nga của Đoàn Thanh niên Cộng sản Nga diễn ra ngày 2-10-1920, Lênin đã truyền thụ phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác cho thế hệ trẻ và mong muốn thế hệ trẻ sẽ là người kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang đó. Trong khuôn khổ bài này, tôi xin nêu hai biểu hiện đặc sắc trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác và sự vận dụng của Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh:

Một là, Mác đã nghiên cứu toàn diện và sâu sắc toàn bộ tri thức nhân loại đã sáng tạo ra. Lênin khẳng định: “Tất cả những cái mà xã hội loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại một cách có phê phán, không hề bỏ sót một điểm nào”. Muốn trở thành người cộng sản, nhất là đối với thanh niên, thế hệ trẻ thì phải không ngừng học tập, nghiên cứu để có tri thức toàn diện, phong phú và sâu sắc. Lênin nhấn mạnh: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.

Theo chỉ dẫn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nghiên cứu, đã kế thừa toàn bộ tri thức nhân loại sáng tạo ra, trên cơ sở đó lựa chọn con đường phát triển đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đó là con đường cách mạng vô sản nhằm giải phóng dân tộc và tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Sự lựa chọn đó đã dứt khoát từ năm 1930 và kiên định thực hiện, kể cả khi hệ thống CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, đặt CNXH trước sự phê phán gay gắt chưa từng thấy, từ nhiều hướng. Trong muôn vàn khó khăn đó, tại Đại hội VII, Đảng ta đã quyết nghị và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991): Khẳng định ý chí sắt đá, không gì lay chuyển nổi mục tiêu CNXH mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, toàn Đảng, toàn dân ta quyết tâm theo đuổi đến cùng con đường dẫn tới mục tiêu ấy. Nhân dân ta, dưới ngọn cờ của Đảng, phát huy cao độ truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc, đã chiến đấu hy sinh ròng rã mấy chục năm trời, hoàn thành về cơ bản những nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đã chuyển sang thực hiện những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH, không có lý gì nay lại rẽ sang con đường khác ngược với mục tiêu đã lựa chọn.

Hai là, trên cơ sở phê phán những khuyết điểm, hạn chế, Mác đã tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa tri thức nhân loại. Đây là đặc sắc trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác. Lênin nhấn mạnh: “Tất cả những cái mà xã hội loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại, đã phân tích, phê phán và đã căn cứ phong trào công nhân để kiểm tra lại”. Thật vậy, Mác đã phê phán những hạn chế, khuyết điểm mà tri thức nhân loại đã sáng tạo ra, nhất là những tiền đề lý luận trực tiếp lúc bấy giờ là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và CNXH không tưởng Pháp để xây dựng nên học thuyết mới hoàn chỉnh với ba bộ phận cấu thành gồm triết học, kinh tế chính trị học và CNXH khoa học.

Con đường tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh động cho phương pháp kế thừa tri thức nhân loại. Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối nhưng không tán thành con đường cứu nước của họ, bởi phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại. Người chọn con đường khác để tìm ra và đi theo Chủ nghĩa Mác, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo cách mạng giành độc lập dân tộc, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên CNXH.

Con đường đi lên CNXH ở nước ta bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản là sáng tạo đặc sắc của Việt Nam. Bỏ qua ở đây là bỏ qua quan hệ sản xuất bóc lột tư bản chủ nghĩa, bỏ qua kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, bỏ qua những thói hư, tật xấu của xã hội tư bản. Còn tiếp thu những thành tựu phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, tiếp thu văn minh mà nhân loại đạt được trong giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đồng chí Nguyễn Đức Kiên-Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ khẳng định: “Mỗi một dân tộc họ chọn một con đường khác nhau và chúng ta lựa chọn con đường xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng CNXH. Ở đây nó sáng tạo ở chỗ chúng ta tận dụng được tất cả những thành tựu của trí tuệ con người để chúng ta đạt được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bỏ qua chủ nghĩa tư bản, bỏ qua những vấn đề bất cập để tiến thẳng lên CNXH thì nó chính là ở khía cạnh ấy và khi người đứng đầu mà tuyên bố như thế thì nó giúp cho người điều hành trực tiếp có động lực và có niềm tin để họ có thể đi tắt, đón đầu”

                                                                                        

TÌNH ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI - GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CAO ĐẸP!

 

Trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ trong là phạm trù phản ánh mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa lãnh đạo, chỉ huy và phục tùng. Tình đồng chí, đồng đội trong quân đội là một nội dung cơ bản biểu hiện bản chất cách mạng của quân đội ta, trong đó lãnh đạo, chỉ huy giữ vai trò quyết định vì: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, còn chiến sĩ là lực lượng có vai trò cực kỳ quan trọng trong thực hiện thắng lợi mọi công việc. Bác Hồ từng căn dặn: “Cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không có quần chúng, thì không làm được gì”, và “Các chú dù là đại đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, hay tiểu đoàn trưởng, cũng chỉ là những người đặt kế hoạch và điều khiển đánh trận. Lúc ra trận, việc đặt mìn, phá lô cốt đều do tay anh em đội viên làm”.

Tình đồng chí, đồng đội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh của quân đội.

Mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ trong QĐND Việt Nam được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của quân đội ta. Một mặt, nó dựa trên chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội; mặt khác, dựa trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, đoàn kết gắn bó chặt chẽ keo sơn như ruột thịt trong “lúc thường cũng như lúc ra trận” giữa những con người cùng chung lý tưởng, mục tiêu, cùng thực hiện nhiệm vụ cao cả của người quân nhân cách mạng-một nhiệm vụ hết sức nặng nề, nhưng rất vinh quang và cao quý: Sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là nguồn sức mạnh vô biên để bộ đội ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Yêu cầu, nhiệm vụ đó cũng đòi hỏi cán bộ phải luôn luôn làm kiểu mẫu cho chiến sĩ học tập, noi theo; chiến sĩ phải “tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên, khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”.

Tấm gương cán bộ thể hiện trước hết ở sự quan tâm thiết thực và chu đáo đến đời sống tinh thần và vật chất của bộ đội. Trong thư gửi Hội nghị chính trị viên tháng 3-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đối với bộ đội, chính trị viên phải săn sóc luôn luôn đến sinh hoạt vật chất của họ: Ăn, mặc, ở, nghỉ, tập luyện, công tác, sức chiến đấu. Về mặt tinh thần, phải săn sóc để nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ hóa, phát triển văn hóa và đường lối chính trị trong bộ đội”. Có chăm lo đến đơn vị, hòa mình với vui, buồn của người lính, đồng cam cộng khổ với bộ đội thì bộ đội nhất định tin và nghe theo. Bác nói: “Đối với binh sĩ, thì lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh”. Và Người khẳng định: “Cán bộ có coi đội viên như chân tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”.

Quan tâm đến cuộc sống của đơn vị hằng ngày một cách chu đáo đã là một tấm gương. Song người cán bộ còn phải làm cho mọi hành vi, lời nói của mình trở nên mẫu mực để bộ đội noi theo. Nhiều lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ phải làm gương cho chiến sĩ, không loại trừ ở cấp chức nào. Người chỉ rõ: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”.

Khi cán bộ lãnh đạo, chỉ huy mẫu mực, hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân với tay” thì cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu như óc”, như người thân; từ đó họ sẽ mang hết khả năng của mình để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Trái lại, nếu cán bộ không làm “mực thước” cho cấp dưới, quan liêu, hách dịch, thì chắc chắn cấp dưới sẽ xa lánh họ; chỉ thị, mệnh lệnh mà họ đưa ra sẽ được cấp dưới tiếp thu một cách khiên cưỡng, hiệu quả thấp, thậm chí bị chối bỏ. Bởi vậy hơn ai hết, lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị phải thực sự xứng đáng là người anh, người “chị hiền” tận tụy chăm lo cho tập thể, cho từng chiến sĩ. Cán bộ phải là hạt nhân đoàn kết thống nhất, thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng.

Khi được xem như một tấm gương về đức và tài cho chiến sĩ, người cán bộ quân đội sẽ luôn là biểu tượng cho họ phấn đấu học tập rèn luyện noi theo. Đó chính là làm nảy sinh nhu cầu về mặt xã hội của người lính, tạo ra động lực mạnh mẽ cho quân nhân vươn lên, làm cơ sở để giáo dục trong quân đội nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng đạt kết quả tốt.

Cần thấy rằng, mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ không chỉ biểu hiện qua việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ giữa lãnh đạo, chỉ huy và phục tùng mà còn được biểu hiện ra qua tình đồng chí, đồng đội-một giá trị đạo đức cao đẹp mang ý nghĩa xã hội-chính trị sâu sắc, thấm đượm tính nhân văn, chứa chan tình yêu thương con người. Khó có thể tìm thấy ở đâu tình cảm đồng chí, đồng đội sâu sắc, gắn kết chặt chẽ, trong sáng như tập thể quân nhân, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến đấu gian khổ, ác liệt.

Tình đồng chí, đồng đội bắt nguồn từ sự thống nhất các lợi ích giai cấp của người lao động. Trong từ “đồng chí”, “đồng đội”, sự bình đẳng về chính trị, về nghĩa vụ quân nhân, tình anh em, tình bạn chiến đấu được bày tỏ sâu sắc và vô cùng súc tích. Trong quân đội, do tính chất và ý nghĩa xã hội-chính trị của hoạt động quân sự, tình đồng chí, đồng đội có điều kiện củng cố vững chắc và không ngừng phát triển; trở thành đặc trưng không thể thiếu trong lối sống của mỗi quân nhân và tập thể quân nhân.

Biểu hiện của tình đồng chí, đồng đội là sự tin cậy lẫn nhau và quên mình vì nhau, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như lúc chiến đấu. Với mỗi người quân nhân, tình đồng chí, đồng đội còn biểu hiện ở “tinh thần đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể”, nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội, nhường cơm sẻ áo, chia sẻ với nhau những nỗi vui buồn; ở sự thẳng thắn, trung thực; không làm ngơ trước những thiếu sót, khuyết điểm trong thái độ, hành vi của đồng đội; biết ngăn đồng chí khỏi những việc làm sai trái, giả dối; biết giữ nguyên tắc với mình và những người xung quanh, trong việc lớn cũng như việc nhỏ; không dung hòa với những biểu hiện vô đạo đức, thói kẻ cả, kiêu ngạo.

Tình thương yêu đồng chí, đồng đội được tôi luyện, thiết lập vững chắc trong QĐND Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và cho đến nay, trở thành nét đẹp truyền thống, thành bản chất không thể phai mờ của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Cụ Hồ, là một trong những nhân tố “gốc” cấu thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân đội ta.

Ngày nay, trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng quân đội càng đòi hỏi phải chăm lo củng cố, phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa cán bộ và chiến sĩ trong quân đội, đặc biệt trước sự biến động về nhiều mặt của điều kiện kinh tế-xã hội, sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường. Nhiệm vụ xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ phải vươn lên một tầm cao mới về mọi mặt, hàng đầu là chính trị tinh thần và đạo đức, trong đó thực hiện tốt mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ là một nội dung có tầm quan trọng đặc biệt. Để đáp ứng các yêu cầu đó, chúng ta phải tập trung nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức quân nhân; nắm vững và thực hiện tốt một số nội dung giáo dục cơ bản, gồm: Nâng cao trình độ tri thức, bồi dưỡng thế giới quan Mác- Lênin; giáo dục lý tưởng cách mạng, rèn luyện bản lĩnh chính trị; giáo dục trách nhiệm và nghĩa vụ quân nhân; giáo dục truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, đấu tranh với những biểu hiện làm hoen ố danh dự quân nhân; xây dựng, phát triển các quan hệ tốt đẹp trong tập thể quân nhân và quan hệ quân-dân; bồi dưỡng, rèn luyện lòng dũng cảm, tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh; giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật…

Về giải pháp cơ bản, cần tăng cường định hướng chính trị, kết hợp chặt chẽ tính khoa học, tính chiến đấu và tính thực tiễn trong thực hành giáo dục đạo đức, coi trọng và phát huy năng lực tự giáo dục đạo đức của mỗi quân nhân; phát huy vai trò các tổ chức, các lực lượng trong giáo dục, rèn luyện đạo đức quân nhân; chăm lo xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức lành mạnh, tốt đẹp ở các đơn vị cơ sở; quan tâm bảo đảm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.

 

Tham gia xây dựng các sản phẩm bảo vệ và hỗ trợ trẻ em trên Internet.

     Thông qua hợp tác quốc tế và các đoàn thể xã hội trong nước về bảo vệ trẻ em trên không gian mạng, nhiều chương trình thiết thực, có ý nghĩa đã ra đời. Điển hình là quá trình hợp tác với ChildFund tại Việt Nam để xây dựng đề cương bộ thuật ngữ về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng để tiến tới hoàn thiện, chuẩn hóa thuật ngữ phù hợp với luật pháp, tình hình thực tế tại Việt Nam và thuận lợi cho việc tiếp cận các công ước, quy định quốc tế. Đồng thời, đề cương bộ thuật ngữ cũng được xem là cơ sở, căn cứ đưa vào các văn bản quản lý, văn bản luật pháp, chính sách.

    Hiện nay, Mạng lưới ứng cứu bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng đã ra mắt ứng dụng Báo cáo các hành vi xâm hại trẻ em trên môi trường mạng và Công cụ kiểm tra đường link, website an toàn cho trẻ em trên webiste VN-COP. Qua đó, giúp Tổng đài 111 giảm tải nguồn thu nhận thông tin tư vấn về trẻ em trên không gian mạng. Sự ra đời của hai ứng dụng này cũng là tiền đề để Việt Nam tiến hành thiết lập cơ sở dữ liệu CSAM (Child Sexual Abuse Material – Dữ liệu về xâm hại và lạm dụng trẻ em). Như vậy, dù còn một số khó khăn vì hạn chế về nguồn lực, công tác bảo vệ và hỗ trợ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo trên môi trường mạng đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, thể hiện rõ những nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm và phát huy quyền trẻ em.

    Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, xây dựng cơ sở dữ liệu CSAM, nâng cao nhận thức cho trẻ em, gia đình và nhà trường về bảo vệ bí mật của trẻ trên môi trường mạng, tiến tới hoàn thành các khuyến nghị của Ủy ban Liên hợp quốc về quyền trẻ em liên quan đến vấn đề bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng tại phiên đối thoại với Việt Nam năm 2022.

Sợ sai, né tránh, đỏ nỗi do cơ chế chỉ là nguỵ biện

         Công cuộc chống tham nhũng đang được đẩy mạnh, nhiều cán bộ, công chức sai phạm nghiêm trọng bị kỷ luật, khởi tố dẫn đến một bộ phận có tâm lý sợ sai. Nhìn nhận với góc độ tư tưởng chính trị, dù vì nguyên nhân nào thì cán bộ sợ sai, không dám làm là vi phạm quy định, có biểu hiện suy thoái, cần nghiêm khắc phê phán và phải có giải pháp để triệt tiêu hiện tượng tiêu cực này. Đổ lỗi cho việc sợ sai phạm pháp luật để né việc, đùn đẩy trách nhiệm chỉ là một cách ngụy biện, bởi thực tế, cùng quy định pháp luật, cùng cơ chế nhưng một số địa phương vẫn thực hiện tốt đầu tư công, tăng trưởng kinh tế, phát triển doanh nghiệp, cán bộ vẫn năng động, sáng tạo, dám làm và làm tốt. Do đó, không thể đổ lỗi hoàn toàn do vướng mắc về quy định, cơ chế để không thực thi công vụ.

 ĐA DẠNG GIẢI PHÁP, NGUỒN LỰC CHĂM LO NGƯỜI NGHÈO

Một trong những chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội được Đại hội Đảng bộ TP Hồ Chí Minh lần thứ XI (nhiệm kỳ 2020-2025) xác định là: “Đến cuối năm 2025, cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chuẩn nghèo của cả nước, còn dưới 0,5% hộ nghèo theo chuẩn nghèo của thành phố”. Để thực hiện chỉ tiêu này, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp đã tích cực triển khai nhiều giải pháp, thiết thực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần giúp người nghèo ổn định cuộc sống.

Dịp Quốc khánh 2-9 năm nay, gia đình ông Đào Viết Cường, ở khu phố 2, phường 15, quận Gò Vấp (TP Hồ Chí Minh) được Ủy ban MTTQ Việt Nam phường 15 phối hợp trao tặng căn nhà tình thương khang trang, sạch đẹp. Xúc động trước tình cảm của chính quyền, đoàn thể địa phương, ông Cường bày tỏ: “Vợ chồng tôi tuổi cao, sức yếu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, chỉ ước mơ có được căn nhà kiên cố che mưa, che nắng. Nay nhờ sự quan tâm của các cấp, các ngành, gia đình tôi toại nguyện mơ ước ở tuổi xế chiều. Nghĩa tình này, gia đình tôi mãi ghi lòng tạc dạ”.

Cũng trong dịp Quốc khánh, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Hồ Chí Minh phối hợp cùng đơn vị tài trợ trao 100 phần quà tặng hộ nghèo; phối hợp với Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố trao 100 phần quà tặng giáo dân gặp hoàn cảnh khó khăn... Bà Trần Kim Yến, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Hồ Chí Minh, chia sẻ: “Tiếp tục thực hiện chủ trương chăm lo cho người nghèo, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố, MTTQ Việt Nam các cấp chủ trì, phối hợp và huy động mọi nguồn lực hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng có hoàn cảnh khó khăn... bằng nhiều cách làm cụ thể. Mục đích cuối cùng là bảo đảm cuộc sống cho người dân, kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo, không để tái nghèo và không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Không chỉ trao nhà, tặng quà, các ngành, các cấp còn triển khai nhiều hình thức, phương pháp hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo có cuộc sống ổn định, phát triển kinh tế, như: Trao phương tiện sinh kế, tặng thẻ bảo hiểm y tế, hỗ trợ vốn, giới thiệu việc làm... Các địa phương, đơn vị tùy điều kiện cụ thể cũng triển khai nhiều mô hình, hoạt động để giúp đỡ hộ nghèo; thành lập nhóm hộ giúp nhau làm kinh tế, tổ phụ nữ tiết kiệm, quỹ phụ nữ nghèo, hội viên nông dân thi đua làm kinh tế giỏi... Qua đó, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự chung tay, góp sức của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài thành phố, các tầng lớp nhân dân trên địa bàn góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu giảm nghèo, chăm lo cho người nghèo theo Nghị quyết của Đảng bộ thành phố và chủ trương của Thành ủy.

Bà Huỳnh Lê Như Trang, Phó giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội TP Hồ Chí Minh, cho biết: "Hiện nay, các chính sách và giải pháp hỗ trợ giảm nghèo của thành phố thực hiện theo hướng giảm dần từ trợ cấp sang tác động hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tự vươn lên thoát nghèo. Việc dạy nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên, thiếu niên thuộc diện hộ nghèo và hộ cận nghèo được thực hiện đều đặn. Sở tăng cường phối hợp với hội doanh nghiệp trẻ thành phố trong công tác tuyển dụng và giới thiệu việc làm cho các đối tượng chính sách và lao động thuộc diện hộ nghèo; phối hợp với Liên minh Hợp tác xã thành phố hỗ trợ, giúp đỡ người dân, nông dân vươn lên thoát nghèo bền vững...

Nhờ thực hiện đa dạng giải pháp chăm lo, hỗ trợ nên tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo, người nghèo trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giảm rõ rệt. Tính đến hết tháng 6-2023, thành phố còn 39.375 hộ nghèo, hộ cận nghèo, với 155.736 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 1,55%/tổng hộ dân thành phố; trong đó, 21.308 hộ nghèo, với 83.088 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 0,84%. Dự kiến đến cuối năm 2023, thành phố phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu giảm 0,38% tỷ lệ hộ nghèo và giảm 0,28% tỷ lệ hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của thành phố giai đoạn 2021-2025.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đến năm 2025 cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chuẩn nghèo của cả nước và còn dưới 0,5% hộ nghèo theo chuẩn của TP Hồ Chí Minh, các ngành, các cấp toàn thành phố cần tăng cường phối hợp, đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ giảm nghèo; tạo thuận lợi cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và người nghèo chủ động tiếp cận các chính sách giảm nghèo. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, cần huy động tối đa các nguồn lực xã hội tham gia chương trình, tạo điều kiện tốt nhất để người nghèo vươn lên thoát nghèo. Đồng chí Nguyễn Hồ Hải, Phó bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, nhấn mạnh: "Nhiệm vụ chăm lo cho người nghèo đã được cụ thể hóa thành chỉ tiêu trong nghị quyết lãnh đạo của Đảng bộ thành phố. Cấp ủy, chính quyền các cấp phải quyết liệt thực hiện, biến chỉ tiêu thành hiện thực. Ngoài cơ chế, chính sách, cần đẩy mạnh công tác đào tạo, giới thiệu việc làm cho lao động thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo có thu nhập ổn định; tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức để người nghèo tự vươn lên thoát nghèo, không phụ thuộc quá nhiều vào sự hỗ trợ của địa phương và của cộng đồng".

 ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN - KỲ TÍCH LỊCH SỬ

Đường Hồ Chí Minh trên biển là một trong những phát kiến xuất sắc của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cùng với thời gian, con đường huyền thoại với những chiến công hiển hách của lực lượng Hải quân và nhân dân các tỉnh duyên hải nơi tuyến đường đi qua đã đi vào lịch sử dân tộc như một kỳ tích.

     “Đường Hồ Chí Minh trên biển” là tên gọi của tuyến đường vận tải quân sự do Hải quân nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam thực hiện bí mật trên Biển Đông trong chiến tranh, để vận chuyển vũ khí, cán bộ từ miền Bắc vào chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam, trong kháng chiến chống Mỹ. Đây là một nhân tố quan trọng, chiến lược, góp phần đưa cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn. 

Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đất nước ta tạm thời chia cắt thành hai miền Nam - Bắc. Miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ, ra sức đàn áp, khủng bố, thực hiện “tố cộng - diệt cộng”, đặt cách mạng miền Nam trước muôn vàn khó khăn, nguy hiểm. Trước tình hình đó, ngày 13/01/1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) quyết định chuyển hướng cách mạng miền Nam, từ đấu tranh chính trị sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Thực hiện Nghị quyết 15, cách mạng miền Nam tập trung đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang; chuyển thế từ bị truy lùng ráo riết sang chủ động tiến công địch cả về chính trị, quân sự. Để kịp thời chi viện cho các chiến trường, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam; sau khi nghiên cứu, thử nghiệm, rút kinh nghiệm và chuẩn bị về mọi mặt, ngày 23/10/1961, Bộ Tổng Tư lệnh ra quyết định thành lập Đoàn Vận tải quân sự 759 (đơn vị tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân ngày nay), mở tuyến đường vận tải chiến lược - Đường Hồ Chí Minh trên biển. Đây là một quyết định lịch sử mang tầm chiến lược, táo bạo, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ chủ trương đúng đắn đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện với tinh thần, quyết tâm cao nhất, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, vượt qua mọi hy sinh, gian khổ, thông tuyến và vận chuyển được vũ khí đến những địa bàn chiến lược, xa hậu phương miền Bắc, vào thời điểm tuyến chi viện Trường Sơn chưa vươn tới. Đó thực sự là kỳ tích trong điều kiện con người, phương tiện của ta, đặc biệt là phải vượt qua sự ngăn chặn, đánh phá quyết liệt của địch.

     Những chiến công xuất sắc của Đường Hồ Chí Minh trên biển đã trở thành kỳ tích lịch sử - một huyền thoại sống động của ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm, trí thông minh và sức sáng tạo của con người Việt Nam trong cuộc đụng đầu với đế quốc Mỹ xâm lược. Điều đó được thể hiện trong tổ chức, biên chế của “Đoàn tàu không số.

 CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT: DỰ ÁN OBAMA VỀ “KỶ NIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM”

Được Obama khởi động từ 2012, dự án tẩy xoá lịch sử mang cái tên hay ho “Dự án kỷ niệm chiến tranh Việt Nam” này dài tới 13 năm, được chia làm 3 giai đoạn chính:

+ Giai đoạn 1: từ 2012 – 2014, “tập trung vào việc tuyển dụng đội ngũ cộng tác viên trên toàn quốc và toàn cầu. Tổ chức các sự kiện quốc tế, quốc gia, khu vực, tiểu bang và địa phương. Mục tiêu đặt ra là tuyển dụng 10.000 đối tác khắp thế giới”.

+ Giai đoạn 2: từ 2014 -2017, “khuyến khích các đối tác cam kết thực hiện ít nhất hai sự kiện mỗi năm”.

+ Giai đoạn 3: từ 2017 – 2025, “tập trung duy trì các kết quả tích cực đã được thiết lập trong Giai đoạn 1 và Giai đoạn 2. Tổ chức các ‘hoạt động mục tiêu’ cần thiết”.

“Dự án” được Tổng thống Barack Obama khởi xướng, theo một Đạo luật được Quốc hội Mỹ bỏ phiếu thông qua từ năm 2008. Obama chính thức phát động trong bài phát biểu tại “Bức tường Việt Nam” nhân Ngày tưởng niệm 28 tháng 5 năm 2012, với ngân sách ban đầu từ chính phủ 180 triệu USD, chưa kể các khoản tài trợ và các nguồn bí mật khác.

Toàn bộ chiến dịch, sẽ bao gồm hàng chục nghìn sự kiện trong 13 năm, bề ngoài là nhằm “cuối cùng vinh danh” những người lính Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam, những đoàn quân cuối cùng đã phải cuốn cờ cách đây hơn 40 năm. Thực chất là nhằm tẩy trắng lịch sử t.ộ.i á.c của đ.ế q.u.ố.c M.ỹ trong cuộc chiến phi nghĩa này.

Trên thực tế, dự án chưa từng có này – mang tên là Dự án Kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam – dưới danh nghĩa“ủng hộ cựu chiến binh” để thực hiện hai mục tiêu chính và dài hơi là:

+ Thứ nhất là hợp pháp hóa và tăng cường tinh thần cho sự hiếu chiến mới ở Mỹ khi Lầu Năm Góc tìm cách thoát ra khỏi hai cuộc chiến tranh phi nghĩa, tốn kém và bế tắc ở Iraq và Afghanistan, đồng thời chuẩn bị cho những cuộc phiêu lưu quân sự xa hơn ở châu Á, Trung Đông và châu Phi. Chẳng hạn, trong vòng vài ngày sau bài phát biểu của Obama, Bộ trưởng Quốc phòng Leon E.Panetta đã tuyên bố tăng cường lực lượng Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, một động thái rõ ràng là nhắm vào Trung Quốc. Đồng thời, các cuộc chiến bằng máy bay không người lái của Chính quyền Obama đã tăng tốc khi danh sách g.i.ế.t người của Phòng Bầu dục dài thêm, đồng thời tổng thống cũng tham gia vào các vụ t.ấ.n c.ô.ng mạng chống lại Iran.

+ Thứ hai là làm loãng ký ức về sự phản đối lịch sử của công chúng đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam bằng cách đưa ra những mô tả có kiểm duyệt (tuyên truyền) của Lầu Năm Góc về cuộc chiến này trong các cuộc họp công khai, các cuộc diễu hành và các buổi giáo dục dự kiến sẽ diễn ra trên toàn quốc và cả ở các quốc gia liên quan cho đến năm 2025. Những hoạt động “cổ động tinh thần yêu nước” sẽ có sự góp mặt của các cựu chiến binh, quân nhân tại ngũ, quan chức chính phủ, chính trị gia địa phương, giáo viên và lãnh đạo doanh nghiệp. Kết hợp các lực lượng để ca ngợi những người đã tham chiến ở Việt Nam và những người dân Mỹ đã ủng hộ cuộc chiến. Sẽ cố gắng lược bỏ sự quan tâm đến hoạt động phản chiến của đa số những người Mỹ phản đối cuộc phiêu lưu của chủ nghĩa đế quốc, ngoại trừ phần chú thích mô tả “nền dân chủ” Hoa Kỳ đã khoan dung như thế nào đối với những người bất đồng chính kiến.

Đại học Fulbright Việt Nam, việc phát hành, công chiếu bộ phim "The Vietnam War" của hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick rất có thể cũng nằm trong số “đối tác” của Dự án Obama, nhằm tẩy trắng lịch sử t.ộ.i á.c của M.ỹ và tay sai gây ra với nhân dân Việt Nam. Hiện nay, ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều tranh cãi và sự chia rẽ trên truyền thông và giới nghiên cứu, chính bởi tác động, ảnh hưởng từ dự án này.

 KẾT QUẢ CỦA BÀN TAY ẤM "DÂN CHỦ"

Sự cố vỡ đập ở Lybia khiến nhiều người nhớ đến Đại tá Gaddafi.

Ít ai biết, Gaddafi đã thực hiện dự án thủy lợi lớn nhất thế giới mà được ca ngợi là “Kỳ quan thứ 8 của thế giới”. Hệ thống tưới tiêu lớn nhất thế giới chính là con sông nhân tạo được thiết kế để cung cấp nước cho tất cả người dân Libya sống trên toàn lãnh thổ nước này. Dự án được chính phủ Gaddafi cung cấp kinh phí và đáp ứng cuộc sống của người dân. 

Dưới thời lãnh đạo của Gaddafi thì Libya từng có thời điểm là quốc gia có thu nhập bình quân đầu người giàu có hơn nhiều quốc gia châu Âu. Năm 2012, GDP của Libya là 15k USD/1 người. 

Dưới thời Gaddafi thì một số chính sách của ông là:

- Học tập miễn phí hết đại học 

- Cấp nhà là quyền công dân, ai cũng được cấp 

- Chăm sóc sức khỏe miễn phí 

- Chăm sóc tuổi già miễn phí 

Từng có thời điểm có hàng chục ngàn lao động Việt Nam sang XKLĐ tại Libya, được trả lương cao hơn cả Hàn Quốc, Nhật, Đài Loan. Chế độ cho lao động Việt Nam cũng rất tốt. 

Cuối cùng, giờ chỉ chỉ còn đống đổ nát

 

Quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị

(LLCT) - Trong công tác xây dựng Đảng, đội ngũ những nhà giáo, những người làm công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc truyền bá, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với toàn xã hội. Song do nhiều nguyên nhân, một bộ phận cán bộ, giảng viên làm nhiệm vụ này đã có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái đạo đức, lối sống. Điều đó đang làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng, đồng thời là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trước tình hình đó, việc học tập quán triệt nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng trong đội ngũ này thực sự là một yêu cầu cấp bách đặt ra hiện nay.


1. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị trước tác động của tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Từ sau sự sụp đổ của CNXH hiện thực mô hình Xô viết và những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, của các yếu tố quốc tế; tình trạng tham nhũng có xu hướng phát triển mạnh... Cùng với đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, khiến chotình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang diễn ra trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có một bộ phận cán bộ, giảng viên làm công tác tuyên truyền, giảng dạy lý luận chính trị. Điều đó đang làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của Đảng, đồng thời là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của CNXH ở Việt Nam.

Trước tình hình đó, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII nhằm tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ; giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái, “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái, đã giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên tự soi vào đó để nhận diện rõ, từ đó tự kiểm điểm và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tự phê bình và phê bình để phòng tránh, khắc phục; tránh tư tưởng cho rằng những biểu hiện đó có ở người khác, mà không có trong nội bộ, bản thân ta.

Xét dưới góc độ chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được hiểu là quá trình tự chuyển biến từ nhận thức đến hành vi của mỗi cá nhân theo hướng phai nhạt dần mục tiêu, lý tưởng XHCN; có xu hướng chuyển sang cổ xúy cho con đường phát triển tư bản chủ nghĩa. Khi chủ thể đã thay đổi về nhận thức theo hướng phủ nhận các nền tảng tư tưởng của Đảng, từ bỏ mục tiêu lý tưởng cộng sản thì đồng thời sẽ từ bỏ đạo đức, lối sống cao đẹp của người cộng sản. Đây là quá trình tự chuyển hóa diễn ra bên trong nội tâm của mỗi cán bộ, đảng viên theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”. Đến một lúc nào đó, nó sẽ dẫn đến những thay đổi về chất và được thể hiện ra bằng hành động xuyên tạc, hoặc tìm cách chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tình trạng này nếu không được kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi, nó sẽ như vết dầu loang có thể làm bùng phát các điểm nóng chính trị, nổi dậy chống phá chính quyền, chống phá chế độ; hoặc dẫn đến tình trạng thờ ơ, lãnh cảm đối với các vấn đề chính trị, đối với vận mệnh quốc gia dân tộc... Do vậy, sự suy thoái đạo đức, lối sống, sự “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị các cấp là vô cùng nguy hiểm, cần phải sớm được khắc phục, ngăn chặn.

Nguyên nhân của tình trạng này đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ rõ: một mặt do chính bản thân mỗi cán bộ, đảng viên mất cảnh giác, thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, để cho chủ nghĩa cá nhân chi phối... Mặt khác, do “công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và những hậu quả gây ra...”(1).

Với nhận định này của Đảng, thẳng thắn nhìn vào sự thật, cần phải nhận rõ trong đó có một phần trách nhiệm thuộc về đội ngũ những nhà giáo, những nhà khoa học, những người làm công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, truyền bá nền tảng tư tưởng của Đảng và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị và đến toàn dân còn chưa được coi trọng, phương thức, biện pháp giáo dục, tuyên truyền chưa hiệu quả.

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - mái trường huấn luyện đội ngũ cán bộ hàng đầu của Đảng ta - có hai chức năng cơ bản: 1) Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, công chức hành chính, viên chức quản lý các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp, cán bộ khoa học chính trị của hệ thống chính trị; 2) Nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị để thực hiện nhiệm vụ tham mưu, đề xuất, tư vấn cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, xây dựng chính sách, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, cải cách nền hành chính quốc gia.

Trong hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành, với sự nỗ lực, cố gắng, với tinh thần trách nhiệm và sáng tạo, với ý thức đoàn kết nhất trí của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Học viện đã vượt qua không ít khó khăn, thử thách, để có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.

Trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của Học viện thì các nhà khoa học, giảng viên của Học viện là bộ phận quan trọng trực tiếp nhất. Bởi vì, nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị ở Học viện là trực tiếp trang bị những tri thức khoa học, những nhận thức lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH; trực tiếp giáo dục, trang bị lập trường chính trị - tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, cho giai cấp công nhân và nhân dân; qua đó trực tiếp củng cố niềm tin, trang bị lập trường chính trị và nhận thức khoa học vững vàng để vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, vừa đấu tranh làm thất bại những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Do vậy, nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đến mỗi cán bộ, giảng viên, các nhà khoa học và toàn thể người lao động của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là một yêu cầu cấp bách.

Hiện nay, đại bộ phận đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, các nhà giáo, nhà khoa học trong hệ thống Học viện đang nỗ lực đóng góp vào việc thực hiện sứ mệnh của Học viện, có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn tin tưởng vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng và phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng đó. Điều đó thể hiện ở tâm huyết, trách nhiệm của mỗi giảng viên thông qua mỗi giờ lên lớp, mỗi trang viết; ở tinh thần và nhiệt huyết phục vụ người học; ở những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Tuy vậy, vẫn còn tình trạng một số ít cán bộ, giảng viên trong các bài giảng trên lớp, các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học còn thiếu chiều sâu và chưa đủ sức thuyết phục người học. Cá biệt có trường hợp khi giảng dạy, hoặc ở một số diễn đàn đã có biểu hiện chệch hướng, như phát ngôn thiếu chuẩn mực, thiếu tính chiến đấu, thậm chí phát ngôn đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đề cao và ca ngợi các quan điểm chính trị xa lạ với lợi ích quốc gia - dân tộc; hoặc biểu hiện ở việc thiếu giữ gìn phẩm chất, đạo đức, bị cuộc sống vật chất cám dỗ làm mất đi hình ảnh cao quý của người giảng viên Trường Đảng v.v.. Như vậy, họ đã rơi vào cái bẫy của chiến lược “diễn biến hòa bình”của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

Đây là điều vô cùng nguy hiểm vì mỗi điều giảng viên nói, mỗi hành vi ứng xử và hành động khi họ làm sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến người học - mà đối tượng học viên của Học viện là các cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp từ Trung ương đến địa phương. Từ đó, vô tình hay hữu ý, họ đã góp phần làm suy giảm niềm tin của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của quần chúng nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Nguyên nhân của tình trạng này đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng chỉ ra: đó là do “nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả...”(2), hoặc “phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(3).

2. Yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ cán bộ, giảng dạy lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay

Để nâng cao chất lượng dạy - học lý luận trong điều kiện hiện nay, đồng thời đấu tranh chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tự diễn biến, tự chuyển hóa, mỗi cán bộ, giảng viên giảng dạy lý luận chính trị cần rèn luyện, trau dồi một số nội dung cơ bản sau:

Một là, kiên định lập trường tư tưởng, xây dựng niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Đây là yêu cầu hàng đầu đối với mỗi cán bộ, giảng viên nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị tại Học viện hiện nay. Nếu không có niềm tin vào mục tiêu, con đường mà Đảng và nhân dân ta đã chọn, không có bản lĩnh chính trị vững vàng thì không thể thực hiện được nhiệm vụ chính trị cao quý và rất đỗi tự hào mà đội ngũ này đang đảm nhiệm. Họ chính là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng chính trị, góp phần bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, đồng thời đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng và suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.

Hai là, phải làm giàu tri thức, thường xuyên học tập lý luận, nghiên cứu thực tiễn để nâng cao chất lượng giảng dạy trong tình hình mới

Sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng sau hơn 30 năm triển khai thực hiện mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, song từ lý luận và thực tiễn cũng đang đặt nhiều vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển cho phù hợp với tình hình mới. Do vậy, mỗi cán bộ, giảng viên cần tăng cường hơn nữa việc học tập, nghiên cứu khoa học, góp phần bổ sung, phát triển lý luận, nhất là nghiên cứu bổ sung những vấn đề mới về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Chỉ có như vậy mới giải đáp được những băn khoăn trong nhận thức, trong tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và người học về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta hiện nay.

Mặt khác, bài giảng của người thầy chỉ có sức thuyết phục khi vừa đảm bảo tính lý luận khoa học, vừa mang đậm hơi thở từ thực tiễn, do vậy, mỗi cán bộ, giảng viên cần nắm vững, hiểu biết sâu sắc những nguyên lý cơ bản trong nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời cần phải nắm vững những kiến thức cơ bản của các môn khoa học liên ngành để có thể luận giải vấn đề một cách khoa học, lôgíc, có tính thuyết phục cao. Muốn vậy, tự đào tạo, trau dồi tri thức, nâng cao năng lực của đội ngũ này là một yêu cầu thường xuyên, liên tục, trong đó coi trọng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm cho mỗi bài giảng phải mang “hơi thở của cuộc sống”, phải gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phong phú, đa dạng và phức tạp. Do vậy, nghiên cứu thực tế cần phải được tiến hành thường xuyên với nhiều hình thức đa dạng, phong phú.

Ba là, coi trọng rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, tuân thủ kỷ luật phát ngôn

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, là căn bệnh mẹ đẻ ra trăm thứ bệnh khác. Đồng thời nó là mảnh đất tốt cho các thế lực thù địch thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm suy yếu nội bộ và tạo điều kiện thuận lợi để chúng tác động, can thiệp, thúc đẩy sự chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta.

Vì vậy, mỗi cán bộ, giảng viên cần nêu cao tinh thần tự giác, tự rèn luyện tu dưỡng bản thân để không rơi vào chủ nghĩa cá nhân, và đủ sức đề kháng đối với những biểu hiện thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đồng thời, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, không ngừng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện tốt văn hóa Trường Đảng, bảo đảm kỷ luật phát ngôn  để xứng đáng là người thầy, người cán bộ dưới mái Trường Đảng mang tên Bác Hồ kính yêu.

 

_____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính tri số 8-2017

 

(1), (2), (3) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.25, 28-29, 28.

 

Nguồn: PGS, TS Bùi Thị Ngọc Lan

Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


 

Giáo dục quyền con người theo chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước Việt Nam

(LLCT) - Giáo dục quyền con người là vấn đề được các tổ chức quốc tế và các quốc gia quan tâm, bởi nó có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao nhận thức xã hội, phòng ngừa vi phạm và giúp mọi người biết cách tự bảo vệ quyền và tự do của bản thân, đồng thời tôn trọng quyền và tự do của người khác. Hiện nay, việc đưa giáo dục quyền con người vào hệ thống giáo dục quốc dân là yêu cầu cấp thiết. Ngày 5-9-2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1309/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nội dung đề án đang được triển khai thực hiện, từng bước hiện thực hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và thực hiện các cam kết quốc tế của Nhà nước Việt Nam về giáo dục quyền con người.

1. Sự cần thiết tăng cường giáo dục quyền con người

Giáo dục quyền con người có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm nâng cao nhận thức xã hội, giúp ngăn ngừa, hạn chế vi phạm quyền do thiếu hiểu biết; cung cấp tri thức, trang bị kỹ năng, giúp mỗi người nhận thức đúng đắn ý nghĩa, giá trị của các quyền, biết tự mình bảo vệ các quyền, tuân thủ pháp luật và biết tôn trọng phẩm giá, các quyền và tự do của người khác.

Bản Tuyên bố Viên về Chương trình hành động được thông qua tại Hội nghị Thế giới lần thứ hai về quyền con người, tháng 6-1993 đã “coi giáo dục, đào tạo và thông tin chung về quyền con người là thiết yếu cho thúc đẩy và đạt được các quan hệ hài hòa, ổn định trong các cộng đồng và để tăng cường được sự hiểu biết lẫn nhau, khoan dung và hòa bình”(1). Hưởng ứng Tuyên bố Viên và Chương trình hành động, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua Nghị quyết 59/113A ngày 10-12-1994, tuyên bố về Chương trình Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995 - 2004). Từ đó đến nay, Liên Hợp quốc đã thông qua ba giai đoạn của giáo dục nhân quyền. Giai đoạn 1 (2005 - 2009) tập trung vào cấp tiểu học và trung học với mục tiêu chính là “tiếp cận giáo dục - dựa trên quyền”; giai đoạn 2 (2010 - 2014) tập trung vào giáo dục cấp đại học, giáo dục cho đội ngũ giáo viên, giảng viên, công chức, cán bộ thực thi pháp luật và sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp; giai đoạn ba (2015 - 2019) tập trung củng cố quá trình thực hiện hai giai đoạn đầu của Chương trình và thúc đẩy việc đào tạo cho giới truyền thông, báo chí(2). Đồng thời, nhằm thúc đẩy hơn nữa giáo dục, đào tạo quyền con người, năm 2011, Liên Hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn về Giáo dục và Đào tạo quyền con người, trong đó nhấn mạnh giáo dục quyền con người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng “một nền văn hóa quyền con người” toàn cầu.

Thực tiễn giáo dục quyền con người tại các nước trong khu vực và trên thế giới cho thấy, các quốc gia ngày càng quan tâm thúc đẩy giáo dục quyền con người trong xã hội, trong đó đã đưa nội dung quyền con người vào các chương trình trong hệ thống giáo dục quốc dân. Theo thống kê của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp quốc về quyền con người, tính đến nay đã có 20 quốc gia xây dựng và thông qua Chương trình Hành động quốc gia hoặc Chiến lược quốc gia về giáo dục quyền con người và có 36 quốc gia đã xây dựng và thông qua Chương trình hành động tổng thể quốc gia về quyền con người, trong đó có giáo dục quyền con người(3). Các nước gần với Việt Nam như Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc đều rất coi trọng giáo dục quyền con người trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hiện nay, Thái Lan đã đưa nội dung quyền con người vào các chương trình giảng dạy từ cấp tiểu học đến cấp trung học và giáo dục đại học, sau đại học; Trung Quốc mới đây cũng đưa nội dung quyền con người vào các trường tiểu học, trung học, đã xây dựng chương trình đào tạo công chức, đào tạo bậc đại học và sau đại học về quyền con người.

Đối với Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người đã được Đảng, Nhà nước ta sớm quan tâm thực hiện, nhất là từ khi Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới đến nay. Đảng, Nhà nước đã quan tâm chỉ đạo, dành nguồn lực nhất định để tổ chức các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp có liên quan tới công tác bảo vệ, đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người, nhằm xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ, bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, tạo thế chủ động tham gia vào các hoạt động bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên trường quốc tế và các điều ước quốc tế về quyền con người(4).

Năm 1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12-7-1992 về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”; Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 41/CT-TTg ngày 2-12-2004 về “Tăng cường công tác bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền trong tình hình mới”; Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20-7-2010 về “Công tác nhân quyền trong tình hình mới”; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2057/QĐ-TTg ngày 23-11-2015 về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể triển khai thực hiện các khuyến nghị của Việt Nam chấp thuận theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ 2 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc. Các văn kiện nêu trên đều nhấn mạnh nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục để nhân dân nhận thức sâu sắc quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân, nhấn mạnh nhiệm vụ lồng ghép nội dung giáo dục về quyền con người vào chương trình đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học.

Cùng với đó, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tếvà Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 9-6-2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, đã tạo cơ sở lý luận, chính trị và pháp lý thúc đẩy hoạt động giáo dục quyền con người ở Việt Nam trong thời gian qua.

2. Hoạt động giáo dục quyền con người trong các cơ sở giáo dục, đào tạo hiện nay

Hiện nay, nội dung về quyền con người đã được đưa vào chương trình giáo dục của một số cấp học, ngành học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trong một số chương trình chính khóa ở cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông đã có sự lồng ghép quyền công dân, quyền trẻ em vào môn học đạo đức, giáo dục công dân, ngữ văn. Trong các chương trình đào tạo đại học, quyền con người đã được tích hợp, lồng ghép vào một số môn học như Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Công pháp quốc tế... Năm 2008, các nội dung về quyền con người được xây dựng thành môn học độc lập “Lý luận và pháp luật về quyền con người” và được đưa vào giảng dạy cho sinh viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung quyền con người cũng đã được đưa vào chương trình đào tạo của một số trường đại học thuộc khối ngành luật, hành chính và nội chính với hình thức môn học bắt buộc hoặc lựa chọn như Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính quốc gia, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân dân, Đại học Kiểm sát Hà Nội, Học viện Ngoại giao...

Chương trình đào tạo thạc sỹ quyền con người/pháp luật về quyền con người đã và đang được triển khai tại ba cơ sở đào tạo là Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Bên cạnh việc đào tạo thạc sỹ chuyên ngành pháp luật về quyền con người, nội dung môn học về quyền con người, quyền công dân đã được đưa vào chương trình đào tạo thạc sỹ ở một số chuyên ngành khác, như Chính trị học, Lý luận lịch sử Nhà nước và pháp luật, Hình sự và tố tụng hình sự, Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Xã hội học, Chính sách công,...

Giảng dạy về quyền con người cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị đã được tiến hành từ năm 1998, dành cho hệ đại học lý luận chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Từ năm 2015, chuyên đề quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người đã được đưa vào chương trình giảng dạy hệ Cao cấp lý luận. Hiện nay, Giám đốc Học viện đang chỉ đạo Viện Nghiên cứu Quyền con người soạn thảo bộ giáo trình mới về Lý luận và pháp luật về quyền con người, được đưa vào giảng dạy từ năm học 2017 - 2018 với số lượng 50 tiết, trong đó có 30 tiết giảng, 10 tiết thảo luận, 10 tiết tự nghiên cứu, 5 tiết thi hết môn học.

Bên cạnh các chương trình đào tạo chính thức tại các cơ sở giáo dục và đào tạo, các hình thức giáo dục không chính thức, thông qua việc mở các khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về quyền con người, quyền trẻ em, quyền phụ nữ/bình đẳng giới... đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Ủy Ban Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội và một số cơ quan, ban, ngành ở Trung ương và địa phương triển khai với sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế.

Thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quyền con người, nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên và người dân đã có những chuyển biến nhất định. Tri thức về quyền con người và các quan điểm của Đảng, Nhà nước về quyền con người nhìn chung được vận dụng tốt trong các hoạt động đối nội và đối ngoại, bảo vệ, bảo đảm quyền con người cho mọi người dân, hợp tác và đấu tranh có hiệu quả trên trường quốc tế, góp phần đẩy lùi một bước những nhận thức lệch lạc, sai trái về quyền con người ở Việt Nam.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc giáo dục quyền con người ở Việt Nam còn không ít hạn chế.

Thứ nhất, mặc dù nội dung về quyền con người đã được đưa vào chương trình giáo dục tại một số cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân, nhưng còn thiếu tính chỉnh thể, tính liên thông, tính cập nhật và thống nhất theo cách tiếp cận “giáo dục dựa trên quyền” - cách tiếp cận phổ biến của cộng đồng quốc tế hiện nay;

Thứ hai, dung lượng kiến thức về quyền con người trong chương trình giảng dạy của đa số các trường đại học còn quá ít, chưa tương xứng với nhu cầu của đối tượng đào tạo; đặc biệt chưa đưa ra các quan điểm, cách tiếp cận của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người, giúp người học có khả năng nhận diện và phê phán các quan điểm sai trái trên lĩnh vực quyền con người ở Việt Nam;

Thứ ba, chưa có một chương trình giáo dục về quyền con người thống nhất trong các cơ sở giáo dục; việc đưa nội dung quyền con người vào chương trình giảng dạy còn tuỳ thuộc vào nhận thức về mức độ cần thiết và năng lực của mỗi cơ sở đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân;

Thứ tư, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên, giáo viên, người học và cộng đồng xã hội chưa được trang bị các kiến thức cơ bản về quyền con người. Điều này ảnh hưởng lớn đến nhận thức, kỹ năng và triển khai các nhiệm vụ giáo dục trên thực tế;

Thứ năm, các tài liệu và học liệu giảng dạy, học tập về quyền con người ở các cơ sở giáo dục đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân còn thiếu, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giáo dục.

Sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay đang đặt ra yêu cầu cấp thiết có nhận thức mới về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của giáo dục về quyền con người. Trước yêu cầu từ thực tế, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20-7-2010 về “Công tác nhân quyền trong tình hình mới”, nhấn mạnh “nghiên cứu đưa nội dung về nhân quyền vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Xây dựng nội dung tuyên truyền, bồi dưỡng về nhân quyền phù hợp với từng loại đối tượng trong xã hội”.

Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã giao Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu xây dựng Đề án đưa quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân trình Thủ tướng Chính phủ.

3. Tăng cường giảng dạy quyền con người tại các cơ sở giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng

Quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011), Văn kiện Đại hội XII của Đảng, Hiến pháp năm 2013, và thực hiện các cam kết quốc tế của Nhà nước Việt Nam về giáo dục quyền con người, trong thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục về quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam theo đúng lộ trình được nêu trong Quyết định số 1309/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 5- 9-2013 về việc phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Một là, đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân

- Lồng ghép/tích hợp nội dung quyền con người một cách hợp lý trong chương trình giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học và giáo dục phổ thông song song, đồng bộ với thực hiện Đề án Đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông;

- Lồng ghép/tích hợp nội dung quyền con người một cách hợp lý trong chương trình giáo dục nghề nghiệp song song, đồng bộ với thực hiện Đề án Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;

- Lồng ghép/tích hợp nội dung quyền con người một cách hợp lý trong chương trình giáo dục đại học. Trong đó có tính tới đưa nội dung quyền con người vào giảng dạy ở tất cả các cơ sở giáo dục đại học thông qua việc sửa đổi giáo trình pháp luật hoặc pháp luật đại cương để giảng dạy cho sinh viên các trường đại học không thuộc khối ngành luật, hành chính, nội chính; tích hợp/lồng ghép quyền con người vào các môn học chuyên ngành luật thuộc khối ngành luật, hành chính, nội chính và xây dựng môn học độc lập về quyền con người và giáo trình dùng chung cho các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng thuộc khối ngành luật, hành chính, nội chính.

- Chỉnh lý, bổ sung khung chương trình đào tạo thạc sỹ pháp luật về quyền con người và mở mã ngành đào tạo tiến sỹ pháp luật về quyền con người.

- Triển khai có lộ trình việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục ở các cấp học, ngành học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, để cung cấp và trang bị các kiến thức, kỹ năng và nâng cao nhận thức về quyền con người, vai trò, trách nhiệm và tầm quan trọng của bảo vệ, bảo đảm quyền con người và giáo dục quyền con người.

Hai là, đưa nội dung quyền con người vào giảng dạy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống chính trị

 Bên cạnh đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, cần tiếp tục nghiên cứu từng bước xây dựng và biên soạn tài liệu giảng dạy, mở các khóa bồi dưỡng kiến thức về quyền con người cho phù hợp với từng nhóm đối tượng.

- Thực hiện giáo trình mới về lý luận và pháp luật về quyền con người, giảng dạy cho các lớp cao cấp lý luận tại hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đối tượng là cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị;

- Chỉnh sửa, bổ sung nội dung quyền con người vào chương trình trung cấp lý luận chính trị;

- Biên soạn chương trình bồi dưỡng kiến thức về quyền con người cho cán bộ của các cơ quan Đảng, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; cán bộ trong các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể quần chúng;

- Biên soạn chương trình bồi dưỡng kiến thức về quyền con người cho cán bộ thực thi pháp luật, lực lượng vũ trang, quân nhân chuyên nghiệp, bộ đội biên phòng, lực lượng công an, thẩm phán, kiểm sát viên...;

- Biên soạn chương trình bồi dưỡng kiến thức về quyền con người cho nhà báo, cán bộ quản lý các cơ quan truyền thông, báo chí;

- Biên soạn chương trình bồi dưỡng kiến thức về quyền con người cho các luật sư, luật gia...

- Biên soạn chương trình bồi dưỡng kiến thức về quyền con người cho lãnh đạo các tổng công ty, tập đoàn, doanh nghiệp; gắn vai trò, trách nhiệm, đạo đức kinh doanh với bảo vệ quyền con người;

- Biên soạn chương trình bồi dưỡng kiến thức về quyền con người cho giới văn nghệ sỹ, bác sỹ...

___________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị số 11-2017

(1) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu quyền con người: Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người,  Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.130.

(2) Như Brazil, Burundi, Costa Rica, Colombia, Croatia, Cộng hòa Dominica, Fiji, Pháp, Hy Lạp, Honduras, Nhật Bản, Jordan, Nigeria, Peru, Philippines, Bồ Đào Nha, Senegal, Slovakia, Thổ Nhĩ Kỳ, Uruguay, Nguồn: http://www.ohchr.org.

(3) Như Úc, Adécbaizan, Bolivia, Brazil, Cape Verde, Chad, Trung Quốc, Croatia, Congo, Ecuador, Ethiopia, Phần Lan, Đức, Guatemala, Thái Lan, Indonesia, Honduras, Iraq, Latvia, Li băng, Malawi, Mauritanie, Mexico, Moldova, Ma rốc, New Zealand, Nigeria, Nauy, Paraguay, Peru, Hàn Quốc, Sri Lanka, Sudan, Thuỵ Điển, Tanzania, Venezuela. Nguồn: Office of High Commissioner for Human.

(4) Với tư cách là thành viên của Ủy ban Nhân quyền (nhiệm kỳ 2001-2003), thành viên Hội đồng Nhân quyền (nhiệm kỳ 2014-2016), Ủy ban Liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền, Việt Nam tích cực, chủ động tham gia vào nhiều hoạt động của Liên Hợp quốc và khu vực có liên quan tới bảo vệ, thúc đẩy quyền con người. Hiện nay, Nhà nước Việt Nam đã ký kết, phê chuẩn và gia nhập 7/9 điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người.

Nguồn: PGS, TS Tường Duy Kiên

Viện Nghiên cứu Quyền con người,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh