Thứ Tư, 20 tháng 9, 2023

Quan điểm, chủ trương của Đảng ta về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 Quan điểm, chủ trương của Đảng ta về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực 

    Thứ nhất, phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách, vừa lâu dài, vừa khó khăn, phức tạp; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì liên tục, “không ngừng”, “không nghỉ” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực; với những cách làm vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm. Xây dựng cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”, răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”, bảo đảm để “không cần tham nhũng” và liêm chính để “không muốn tham nhũng”. Văn kiện Đại hội XIII chỉ rõ: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(4). Cụ thể hóa và phát triển Nghị quyết Đại hội XIII, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ban hành Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW ngày 01/8/2022 về một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực.  Theo tinh thần này, công tác phòng, chống tham nhũng được đưa lên tầm cao hơn, thực sự là nhiệm vụ của toàn Đảng, bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể nhân dân, thể hiện qua ba vấn đề: kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn; kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự.

    Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ quan điểm chỉ đạo: “Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tham nhũng, lãng phí”(5). Vì vậy, công tác tuyên truyền phải làm rõ hơn, sâu sắc hơn quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; làm cho mọi người thấy rõ việc chỉnh đốn Đảng, xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm “chậm lại” sự phát triển, mà ngược lại, càng làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. 

    Thứ ba, tập trung chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đảng ta nhấn mạnh: “Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về kinh tế – xã hội, về kiểm tra, giám sát và phòng, chống tham nhũng, lãng phí”(6), do đó phải xây dựng một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”. Đặc biệt, cần có cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng, tiêu cực và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật. Rà soát, bổ sung quy chế làm việc, cơ chế lãnh đạo của các cấp, đảm bảo công khai, minh bạch, dân chủ trong quản lý, lãnh đạo, điều hành và chấp hành. Khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; phòng, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống. 

    Thứ tư, tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải: “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, phát hiện sớm, xử lý nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng, lãng phí”(7) để kịp thời phát hiện, giải quyết từ sớm, ngăn chặn từ đầu sai phạm; tiến hành mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường giám sát của tổ chức đảng từ trên xuống, giám sát từ dưới lên, phát huy vai trò giám sát lẫn nhau trong cùng cấp, tăng cường quản lý, giám sát thường ngày đối với đảng viên và cán bộ lãnh đạo. Xử lý nghiêm theo kỷ luật của Đảng và kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và trách nhiệm pháp lý.  Kiểm tra toàn diện công tác cán bộ; chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ có biểu hiện tham nhũng, tiêu cực; có nhiều dư luận phản ánh, tố cáo tham nhũng, tiêu cực; cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và cán bộ được quy hoạch vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đổi mới chính sách tiền lương; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Quyền lực luôn có nguy cơ bị “tha hóa”, tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, cho nên phải thiết lập cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực đối với người có chức vụ, quyền hạn theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn phải được ràng buộc với trách nhiệm, quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền hạn càng cao, trách nhiệm càng lớn. 

    Thứ năm, nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực. Cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, cơ sở, khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Tập trung chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, kiểm toán vào những nơi có vấn đề phức tạp, dư luận quan tâm, các lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng. Đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng về kinh tế, nhất là các vụ việc, vụ án nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ. Có cơ chế phù hợp để khuyến khích và kịp thời xử lý thông tin do người dân phát hiện, phản ánh, tố cáo. Tích cực xác minh, kịp thời áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, thu hồi triệt để tài sản tham nhũng trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; khuyến khích người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả trong các vụ án tham nhũng, kinh tế.

    Thứ sáu, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Ban Chỉ đạo Trung ương và Ban Chỉ đạo cấp tỉnh cấp về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đặc biệt, những người làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói chung, những người trực tiếp làm việc trong các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ nói riêng phải thật sự liêm chính, trong sạch, biết gương mẫu giữ mình, trọng liêm sỉ. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương và thực hiện tốt chế độ đãi ngộ, nâng cao đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp. Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có bản lĩnh, thật sự liêm chính, trong sạch; không chịu bất cứ sức ép không trong sáng nào của tổ chức, cá nhân; bất cứ sự cám dỗ, mua chuộc nào.  

ĐẤU TRANH VỚI THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Để ngụy tạo chứng cứ, tung tin thất thiệt nhằm bôi nhọ, hạ bệ thần tượng, triệt hạ uy tín cá nhân là những chiêu bài “một mũi tên trúng nhiều đích” mà các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng từ trước đến nay hòng đạt được các mục tiêu đó là:

Thứ nhất, chúng muốn hướng dư luận theo những vấn đề nóng, giật gân, bịa đặt, luận điệu xảo trá… đặc biệt là, chúng đã lợi dụng tình hình thời gian qua, có một số cán bộ, nguyên cán bộ cấp cao của quân đội vi phạm kỷ luật, pháp luật bị xử lý, truy tố… chúng ra sức xuyên tạc, bôi đen tình hình nội bộ quân đội, công kích. Chúng cho rằng, nội bộ lãnh đạo cấp cao của quân đội đang có “vấn đề”, mâu thuẫn, mất đoàn kết...?! Thông qua đó, chúng xuyên tạc, kích động để cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân nhận thức sai lệch về mối quan hệ giữa cán bộ đương chức với các đồng chí đã nghỉ hưu, nghỉ chờ hưu; phá hoại mối quan hệ đoàn kết đồng chí, đồng đội, bóp méo truyền thống văn hóa Bộ đội Cụ Hồ; hạ thấp uy tín của quân đội trong tình hình mới.

Thứ hai, chúng muốn chống phá vào hàng ngũ tướng lĩnh, cán bộ cấp cao của quân đội để thúc đẩy sự thâm nhập tư tưởng xấu độc chính trị từ trong đánh ra, từ trên đánh xuống. Đây là chiêu bài nham hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình” được các thế lực thù địch thực hiện, ngày càng diễn biến điên cuồng. Chúng muốn xuyên tạc, phá hoại chủ trương hiện đại hóa quân đội theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Bởi, để hiện đại hóa quân đội thành công, phải bắt đầu bằng chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Thứ ba, chúng làm cho lòng tin, mối quan hệ đoàn kết giữa quân với dân bị xói mòn, phá vỡ. Trong giai đoạn hiện nay, quá trình hội nhập quốc tế với phương châm tự lực, tự cường, hướng tới mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước hùng cường dưới sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững ổn định chính trị đất nước là nhân tố có ý nghĩa quyết định. Từ đó, phải bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó, quân đội giữ vai trò rất quan trọng. Bởi vậy, các thế lực thù địch luôn nhắm vào trận địa tư tưởng trong quân đội, xuyên tạc, phá hoại từ trung tâm bộ máy lãnh đạo. Đây là chiêu bài “rút gạch chân tường” hướng đến mục tiêu làm sụp đổ hệ tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, chúng ra sức phá hoại trận địa tư tưởng trong quân đội bằng cách cản trở quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng gắn với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta với những chiêu bài như: gây rối ren về chính trị, tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ LLVT, lôi kéo, xúi giục nhân dân phủ nhận vai trò của quân đội.

CÁCH MẠNG THÁNH 8 NĂM 1945 - SỰ THẬT VẪN LÀ SỰ THẬT

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, vào Tháng 8 năm 1945, nhân dân ta đã tiến hành thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam, đó là một sự thật lịch sử không ai có thể phủ nhận được.

Nhưng một số phần tử xấu của thế lực phản động ngoan cố hùa nhau đả kích, cho rằng: “Cách mạng Tháng Tám chỉ là cuộc nổi loạn của những kẻ bần cùng, khố rách áo ôm, do cộng sản xúi bẩy” hoặc “Tổng khởi nghĩa là do quốc gia đề xướng nhưng cộng sản nhảy ra cướp công”; “Năm 1945, Việt Minh gặp cái may hiếm có là Pháp thì bị lật đổ, rồi Nhật lại bị Đồng minh đánh bại, tình hình chính trị như một trái chín cây đang rụng, Việt Minh mau tay, lẹ chân chìa ra hứng chứ chẳng có tài ba, công trạng gì”... Các quan điểm trên hoàn toàn bịa đặt và vô căn cứ! đánh tráo khái niệm và là hành động vô liêm sỉ!

Những sự thật mà Đảng và nhân dân ta đã làm nên Cách mạng Tháng 8 năm 1945 lịch sử vẫn mãi là sự thật. Đây là cuộc cách mạng vĩ đại nhất của nhân dân ta trong thế kỷ 20, là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam; là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là sự thử nghiệm thành công đầu tiên chủ nghĩa Mác-Lênin tại một nước thuộc địa ở châu Á. Đây còn là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu, đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh của cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hòa quyện với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với xu thế của thời đại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, Đảng và dân tộc ta có tài ba hay không, có công trạng gì hay không, chúng ta đều đã rõ.

Tóm lại, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mùa thu năm 1945 đã tạo nên một bước ngoặt lịch sử, làm thay đổi căn bản vận mệnh của đất nước và dân tộc ta, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

ĐẤU TRANH VỚI THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI DÂN SỰ ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Chiến lược “din biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch triệt đ sử dụng các thủ đoạn phi quân sự, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... để phá hoại từ bên trong nội bộ, hòng tạo ra lực lượng chính trị đối lập với Đảng, Nhà nưc. Trong đó, chúng đặc biệt quan tâm, lợi dụng vấn đề xã hội dân sự.

Xã hội dân sự được hiểu là các tổ chức xã hội và dân sự tự nguyện, như: Công đoàn, hợp tác xã, nhóm, hội thực hiện mối liên hệ giữa công dân với nhà nước, là tổng thể các quan hệ và mạng lưới các tổ chức, hội, nhóm xã hội được hình thành và hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp lý. Xã hội dân sự có các đặc trưng cơ bản là: các tổ chức hội nhóm nằm ngoài nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, độc lập về tài chính; quy mô, hình thức tồn tại, thiết chế tổ chức đa dạng; mục tiêu chung vì sự phát triển của cộng đồng, xã hội. Từ những đặc điểm đó thì ở Việt Nam gồm có các loại tổ chức xã hội dân sự: các t chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp, tổ chức nhân đạo, từ thiện, hữu nghị; các tổ chức cộng đồng theo dòng tộc, sở thích; các tổ chức dịch vụ công, không do Nhà nước lập ra...

Về bản chất, xã hội dân sự có nhiều đim tích cực, đó là hoạt động trong khuôn khổ pháp lý và đạo lý vì mục tiêu khẳng định quyền làm chủ của nhân dân đi với xã hội và nhà nước. Trong đó, mối quan hệ giữa người với người dựa trên sự tự thảo luận và tự đồng thuận với các vấn đề của cuộc sống mà không cần sự can thiệp của nhà nước. Xã hội dân sự góp phần giúp Nhà nước giảm bớt gánh nặng chi phí, tinh giản bộ máy, hoạt động hiệu quả và minh bạch; là cầu nối các cá nhân với nhà nước; cùng với nhà nước hoạch định và t chức phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách và giám sát hoạt động của đội ngũ công chức; góp phần phát huy các nguồn lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sng.

Song, thực tiễn chính trị ở các nước Đông Âu hay những biến động chính trị ở Trung Đông, Bắc Phi, Nam Mỹ gần đây cho thấy, các thế lực bên ngoài đặc biệt chú trọng thúc đẩy hình thành các tổ chức xã hội dân sự theo tiêu chí phương Tây, từng bưc tạo ra các tổ chức đối lập, hình thành xã hội đa nguyên, đa đảng; áp đặt các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa theo kiểu của họ, thực hiện “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”... Xã hội dân sự coi đây là phương thức hoạt động chủ yếu nhằm chuyển hóa chế độ xã hội ở các quốc gia này.

Đối với Việt Nam, trong nhng năm qua, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng xã hội dân sự để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta, chúng tập trung vào một s hoạt động cơ bản sau:

Trước hết là tuyệt đối hóa tính độc lập tương đối của xã hội dân sự nhằm từng bước làm cho các tổ chức xã hội dân sự trở thành tổ chức chính trị đi lập với Đảng, Nhà nước. Các thế lực bên ngoài ra sức tuyên truyền xã hội dân sự là hiện thân của tự do, dân chủ và nhng gì tốt đẹp trong xã hội. Chúng đả kích, xuyên tạc, phủ nhận bản chất tốt đẹp của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong lịch sử và hiện tại; coi đó là mô hình nhà nước độc tài, không có khả năng điều hành xã hội, không phát huy dân chủ vì thiếu xã hội dân sự. Họ tìm cách xoáy sâu, thổi phồng những tiêu cực, hạn chế của mặt trái nền kinh tế thị trường ở c ta, những thiếu sót trong thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tệ nạn tham nhũng, hối lộ nhằm hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta.

Thứ hai là lợi dụng xã hội dân sự để gây sức ép về dân chủ, nhân quyền, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; đòi Nhà nước phải bảo đảm tự do vô gii hạn trong các lĩnh vực xã hội. Các thế lực thù địch coi hình thành xã hội dân sự độc lập về chính trị là điều kiện, tiền đ cho việc bảo đảm quyền con người; cổ súy tự do cá nhân thông qua thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do biểu tình... Chúng đặc biệt cổ súy quyền bày tỏ chính kiến không giới hạn và liên kết hình thành các tổ chức “độc lập” tham gia vào đời sng cộng đồng, thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; lập các hội, nhóm vi tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ, mục đích thu hút được các tầng lớp, thành phần xã hội tham gia như: “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”...

Thứ ba là các thế lực bên ngoài tìm cách xâm nhập tác động, chuyển hóa các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta nhằm “phi chính trị hóa” các tổ chức này, từng bước biến chúng thành các tổ chức xã hội dân sự theo tiêu chí phương Tây. Thông qua các mối quan hệ hơp tác chúng tìm cách tiếp xúc, móc nối, mua chuộc một số cán bộ, đảng viên trong nội bộ để tuyên truyền, kích động tâm lý bất mãn, lôi kéo họ thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Họ khai thác, lợi dụng internet để phát tán thông tin thất thiệt, bịa đặt, bôi nhọ Đảng, chính quyn và các đồng chí lãnh đạo; tung hô những trí thức, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo bất mãn, cơ hội chính trị, một s cán bộ tha hóa, biến chất; phủ nhận, xét lại lịch sử và giá trị văn hóa dân tộc; kích động tư tưởng vô chính phủ, tuyên truyền các giá trị văn hóa phương Tây... Từ đó, làm “đổi màu” các tổ chức chính trị, xã hội, các cơ quan do dân bầu trong hệ thng chính trị...

Thứ tư thông qua triển khai dự án tài trợ, tổ chức hội thảo, tọa đàm, din đàn có nội dung đòi hỏi thực hiện quyền con người như: quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, báo chí, lập hi... theo tiêu chí phương Tây. Tìm cách thúc đẩy, khuyến khích cán bộ, đảng viên và ngưi dân tích cực tham gia phản biện chính sách xã hội tác động và gây sức ép đòi thay đổi chính sách, hệ thống pháp lut và lĩnh vực tư pháp, đặc biệt là sửa đổi, ban hành các lut thực hiện các quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận báo chí, lập hội theo tiêu chí phương Tây.

Để góp phần đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng xã hội dân sự của các thế lực thù địch, các tổ chức chính trị xã hội cần thực hiện một số biện pháp sau:

Một là, cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; công tác quản lý nhà nước đi vi hoạt động của các hội, đoàn thể quần chúng và các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam. Giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó có các tổ chức chính trị, xã hội. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa gồm cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức quần chúng. Trong đó, Mặt trận Tổ quốc cần phát huy chức năng phản biện, giám sát, vận động nhân dân cùng tham gia giám sát, phản biện, góp ý kiến trong việc hoạch định cơ chế, chính sách nhằm góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thng chính trị trong sạch, vững mạnh tiếp tục phát huy tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Chú trọng xây dựng tổ chức đảng cơ sở, nhất là các địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa; chăm lo xây dựng tổ chức đảng, chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của đất nước và từng địa phương; giải quyết kịp thời những bức xúc, khó khăn, nguyện vọng chính đáng của các tổ chức quần chúng và các tầng lớp nhân dân.

Hai là, chủ động đổi mới nội dung, hình thức công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất xã hội dân sự, âm mưu, hoạt động lợi dụng xã hội dân sự của các thế lực thù địch để tác động chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam hiện nay. Xã hội dân sự là vấn đề chính trị, xã hội phức tạp, đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu, nhận diện, tuyệt đối tránh khuynh hướng đơn giản hóa nhận thức về xã hội dân sự. Chú trọng bồi dưng nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền có trình độ, năng lực, kiến thức đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trên lĩnh vực này. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền với đẩy mạnh hoạt động hợp tác quc tế về nhân quyền, làm cho các nước và nhân dân thế giới hiểu rõ thực tế chính sách và thành tựu nhân quyền ở Việt Nam, góp phần đu tranh, ngăn chặn các luận điệu vu cáo, xuyên tạc vấn đề này đối với nước ta.

Ba là, thường xuyên nắm chắc tình hình hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự để chủ động phát hiện, đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động lợi dụng xã hội dân sự để xâm phạm an ninh chính trị, trật tự xã hội. Kiên quyết xử lý các hội, đoàn thể, các tổ chức vô chính phủ hoạt động vi phạm pháp luật, đồng thời tăng cưng đối thoại, tiếp xúc, cảm hóa, không đề các thế lực thù địch, phản động lôi kéo nhằm thực hiện ý đồ chống đối từ bên trong... Kịp thời phát hiện, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng các tổ chức, đoàn thể xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc tình hình trong nước và tập hợp lực lượng gây rối trật tự, xâm phạm an ninh chính trị. Giải quyết dứt điểm những vụ việc khiếu kiện, tố cáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp.

Bốn là, Đảng, Nhà nước cần tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thng văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh hoạt động của các t chức, đoàn th, hội, nhóm phù hợp với định hướng phát triển đt nưc, đáp ứng nhu cầu, nguyn vọng hợp pháp, chính đáng ca nhân dân. Cn tiếp tc nghiên cứu, đ xut đi mi công tác qun lý nhà nước đi với lĩnh vực này, sao cho phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường đấu tranh chng quan liêu, tham nhũng xây dựng Nhà nưc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân, vì dân./.

Một số nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng

 Nghị quyết Đại hội xác định sáu nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ đó là:

          Một là, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

          Hai là, tập trung kiểm soát đại dịch Covid-19, tiêm chủng đại trà vắcxin Covid-19 cho cộng đồng; phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, đối mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thế chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh; có chính sách hỗ trợ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nhất là trong nông nghiệp; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bố, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về sở hữu trí tuệ và giải quyết các tranh chấp dân sự; khắc phục những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước.

          Ba là, giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.

          Bốn là, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; có chính sách cụ thể phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam.

          Năm là, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là việc thực thi tinh thần “thượng tôn pháp luật”, gương mẫu tuân theo pháp luật, kỷ cương và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị - xã hội các cấp, của cán bộ, đảng viên; tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc.

          Sáu là, quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, tài nguyên; bảo vệ, cải thiện môi trường; chủ động, tích cực triển khai các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu.

         

Giải pháp nào để nhằm thanh toán triệt để bệnh giáo điều

     Một trong những tác hại của bệnh giáo điều, ở những người giáo điều là, dù không tự giác, không cố ý, họ cũng rơi vào sự kìm hãm dân chủ và tự do tư tưởng, có nguy cơ trở thành độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ và làm phương hại tới sự trong sạch, trong sáng của môi trường đạo đức, văn hóa đạo đức. Hệ lụy của nó là tạo ra những kẻ hở, những mảnh đất dung dưỡng cho thói dân chủ hình thức, đoàn kết hình thức, “giả đạo đức” và “giả khoa học”, “giả chính trị”, “giả cách mạng”. Kẻ cơ hội và chủ nghĩa cơ hội sẽ lợi dụng triệt để tình trạng này để thực hiện những ý đồ, những hành vi bất minh, bất chính để vụ lợi và trục lợi. Đủ thấy vấn đề đặt ra phức tạp như thế nào và phải tìm tòi như thế nào để có một hệ giải pháp đồng bộ nhằm thanh toán triệt để bệnh giáo điều, từ nhận thức đến hành động trong cán bộ đảng viên và nhân dân.

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHO RẰNG HIỆN NAY VIỆT NAM KHÔNG THỂ ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 

    Thái Bá Tân sinh năm 1949 tại Nghệ An. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở giai đoạn cam go, quyết liệt nhất, lớp lớp thanh niên Miền Bắc hăng hái tòng quân ra trận thì Tân được Đảng, Nhà nước cử đi học ở Liên Xô suốt 7 năm (1967-1974). Sau khi về nước, Thái Bá Tân làm nhiều công việc khác nhau, nhưng chủ yếu là phiên dịch và dạy học. Từng in 70 đầu sách gồm thơ dịch, truyện ngắn và thơ sáng tác; trong đó có nhiều bài thơ chuyển thể từ các câu chuyện cổ tích được đông đảo các thế hệ thiếu nhi yêu mến, như: Hai con dê qua cầu, Con cáo và chùm nho, Rùa và thỏ...

          Những năm gần đây, ở tuổi 70, Thái Bá Tân bỗng dưng trở cờ, sáng tác nhiều bài thơ 5 chữ nói xấu Đảng, chế độ, cán bộ, đảng viên; tung hô quan điểm cho rằng “CNXH sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, vì thế Việt Nam không nên và không thể đi lên CNXH", gây bất bình lớn trong nhân dân.

          Quan điểm cho rằng CNXH sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, vì thế Việt Nam không nên và không thể đi theo con đường CNXH" không phải bây giờ mới được các thê lực thù địch và Thái Bá Tân đưa ra, mà luận điệu đó đã có từ lâu, từ sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Nhưng từ đó đến nay, những kẻ chống đối   thù địch với Đảng như Thái Bá Tân vẫn không ngừng rêu rao theo kiểu “mưa dầm thâm lâu” hòng gây mất lòng tin vào con đường đi lên CNXH trong lòng quần chúng nhân dân.

          Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thập niên 80 đầu thập niên 90, mặc dù là một cơn động đất chính trị lớn của thế kỷ 20 đã ảnh hưởng đối với bức tranh chính trị toàn thế giới. Các ông trùm chiến lược gia và chính khách của chủ nghĩa tư bản cũng như các phần tử chống cộng trong và ngoài nước đều hoan hỷ ăn mừng cho rằng đây là hồi chuông báo tử chủ nghĩa xã hội (CNXH) sẽ diệt vong vào cuối thế kỷ 20. Nhưng, thực tiễn lịch sử thế giới trong hơn ba mươi năm qua đã và đang chứng minh điều ngược lại, đó là: Sự sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu kéo theo thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân thế giới là một tổn thất lớn, nhưng đó là tạm thời chứ không phải tất yếu. CNXH không hề diệt vong. Các nước XHCN còn lại không những giữ vững trận địa mà còn định hướng vững vàng cho sự phát triển tiến lên. Từ vùng Trung-Nam Mỹ đã phát sinh phong trào XHCN kiểu Mỹ Latinh, khởi đầu từ Venezuela rồi lan ra một số nước khác... và xu thế XHCN đã và sẽ tiếp tục phát triển dưới hình thức này hay hình thức khác.

          Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã vào những năm 1989-1990, Đảng Cộng sản Việt Nam và những người cộng sản kiên trung đã không chùn bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quá trình phát triển của Việt Nam, đặc biệt công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong 37 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn trên nhiều mặt góp phần. Trải qua hơn ba thập niên đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, vị thế đất nước được nâng cao và đời sống của người dân được cải thiện, nâng cao. Không ít quốc gia xem Việt Nam là tấm gương trong phát triển, xóa đói, giảm nghèo. Chính trong 37 năm đổi mới, Việt Nam đang trên con đường tiến tới một nền kinh tế công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế do hậu quả của chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động nhất thế giới và tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á với tốc độ tăng trưởng hằng năm đạt từ 6-8% thời kỳ trước đại dịch COVID-19, cuộc sống của người dân tốt hơn nhiều, nguồn cung cấp lương thực-thực phẩm được đảm bảo, giới trẻ có đầy đủ cơ hội tiếp cận giáo dục đào tạo. Việt Nam đã và đang hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế quốc tế, ký kết nhiều hiệp định song phương và gia nhập các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB) và gần đây nhất là Hiệp định Thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EVFTA); duy trì quan hệ hợp tác kinh tế- thương mại với Mỹ, …Việt Nam hoàn toàn không chỉ là nhà cung cấp nguyên liệu thô mà còn là một địa điểm sản xuất hàng hóa quan trọng cho các nước EU

          Trong khi đó, chính thực trạng phát triển của thế giới, nhất là ở các nước TBCN cho thấy rõ: mặc dù CNTB đã tận dụng thành tựu khoa học công nghệ tạo bước phát triển nhất định, tạm thời khắc phục các hạn chế, và có những sự điều chỉnh để thích nghi, nhưng CNTB thế giới không thể chứng minh được rằng nó là lực lượng thống trị toàn cầu và xã hội tư bản là xã hội tốt đẹp cuối cùng của loài người. Ngay giữa lúc thế giới tư bản chủ nghĩa huênh hoang về sức sống dài lâu của mình, bản chất của CNTB không hề thay đổi, các mâu thuẫn cơ bản vốn có trong quá trình phát triển của nó ngày càng bộc lộ gay gắt, không thể điều hòa. Đó là mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn cạnh tranh giữa các nước tư bản và giữa các nước tư bản với các nước đang phát triển dưới tác động của quy luật giá trị thăng dư và quy luật phát triển không đồng đều. Tình trạng phân hóa giàu nghèo trong các nước TBCN có chiều hướng gia tăng, không thể khắc phục; hàng loạt vấn đề mang tính toàn cầu đặt ra thách thức sự phát triển... CNTB hiện đại cũng đã lâm vào khủng hoảng cục bộ, rồi đến khủng hoảng toàn diện hơn, kể từ năm 2008 đến nay, vẫn còn chưa hoàn toàn hồi phục. Chủ nghĩa tư bản thể hiện rõ sự bất lực trước nhiều vấn đề toàn cầu hiện nay. Hàng loạt các vấn đề toàn cầu, như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường,... chất lượng cuộc sống của người dân.

          Như vậy, chúng ta hiện đang sống trong giai đoạn thăng trầm của cuộc đấu tranh cách mạng, sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH, chứ không phải sự sụp đổ của CNXH nói chung, với tư cách là một nấc thang phát triển của xã hội loài người, theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Bởi vì, sự tan rã và sụp đổ của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô không phát bắt nguồn từ bản chất của chế độ chính trị XHCN mà sự sụp đổ đó trước hết và chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan của các Đảng Cộng sản trong việc hoạch định đường lối kinh tế, chính trị-  xã hội ở các nước đó mang tính chủ quan, duy ý chí, đã phạm sai lầm nhiều mặt khi tiến hành cải tổ, đặc biệt là sai lầm đã từ bỏ quyền lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản và thực hiện đa nguyên, đa đảng.

          Thực tiễn lịch sử thế giới đương đại và quá trình phát triển của Việt Nam, đặc biệt công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong 37 năm qua đã khẳng định sự lựa chọn con đường đi lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn. Con đường đi đến một xã hội mới- xã hội mà ở đó không còn cảnh người bóc lột người của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ nhất định sẽ thành công dù cho phải trải qua bao chông gai, thách thức.

NHẬN DIỆN SỰ SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

 

Những biểu hiện suy thoái chính trị trong Đảng hết sức phức tạp, tinh vi, dưi nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Song, có thể nói gọn lại, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức là sự tha hóa và thoái hóa về nhận thức chính trị và hành động chính trị của cán bộ, đảng viên, nó trực tiếp gây tổn hại đến uy tín chính trị và vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; vai trò, chức năng, quản lý, điều hành của Nhà nước và sức mạnh của hệ thống chính trị đối vôi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta.

Suy thoái về tư tưởng chính trị trước hết, đó là sự thờ ơ chính trị hay lãnh đạm chính trị. sự bàng quan với thi cuộc và tình hình đất nước, vận mệnh của Đảng, của dân tộc, sự lẩn tránh trách nhiệm của chính mình... đã và đang trở thành phương châm hành xử của không ít người. Đó chính là hành động “trùm chăn”, “án binh bất động”; là thái độ “sống chết mặc bay”, “cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”... Nói chính xác, sự th ơ chính trị là đồng nghĩa với sự tê liệt về ý chí cách mạng, tự hạ vũ khí chiến đấu, “đầu hàng” tự tước bỏ vị thế của người chiến sĩ tiên phong và vô tình cổ vũ cho cái xấu, cái ác ngóc đầu dậy và hoành hành.

góc độ khác, suy thoái tư tưởng chính trị là sự dao động chính trị, tha hóa đạo đức. Đó là sự mất thế ổn định vững chắc về tư tưng, tinh thần và sự nao núng, ngả nghiêng trong hành động trước sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quc. Đó là sự giảm sút niềm tin xã hội chủ nghĩa, là sự “nhạt Đảng”, “nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa”; nhận thức mơ hồ, lệch lạc về chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội, về đường lối, chủ trương của Đảng... Đặc biệt, trước những bước ngoặt của cách mạng, họ hoài nghi sự đúng đắn của mục tiêu chính trị và thậm chí ngả theo luận điệu của các thế lực thù địch. Họ cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, họ “giữ thân”, “sống chết mặc bay”... không dám đấu tranh với các quan điểm, hành vi sai trái, trái với quan điểm của Đảng, thậm chí a dua, cổ súy cho những tư tưởng đó rồi mất phương hướng chính trị, tư tưởng, mất khả năng chủ động kiểm soát và điều chỉnh hành động của mình, từ đó rơi vào tình trạng hoặc “tả” khuynh hoặc “hữu” khuynh hoặc chiết trung chủ nghĩa, hoặc tự phát manh động, hoặc phiêu lưu chính trị...

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức cũng được biểu hiện thành thói thực dụng chính trị, thực dụng đạo đức. Đó là tình trạng phân liệt cực tả về tư tưởng, hành động và lối sông. Nghĩa là, họ chỉ nhằm vào những gì mang lại lợi ích cho mình (phe, nhóm) một cách nhất thời, trước mắt mà không quan tâm tới lợi ích chung của cách mạng, của Nhân dân, thậm chí chà đạp lên lợi ích chung đó, cốt mưu toan chiếm đoạt cho lợi ích riêng của mình, của phe nhóm mình. Từ đó tạo nên tình trạng phe nhóm, cát cứ, vùng miền theo kiểu “trên có chính sách, dưới có đối sách”... hình thành và lũng đoạn xã hội bằng lợi ích nhóm và những nhóm lợi ích... làm phân liệt ý chí và rã ri sức mạnh của tổ chức làm suy nhược sức mạnh đất nước. Hành động đó vô tình hoặc có chủ ý nhằm phá vỡ tính thống nhất và chỉnh thể của đưng lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc

Mức độ trầm trọng và nguy hiểm hơn là, suy thoái tư tương chính trị, đạo đức được hiện diện bằng tình trạng cơ hội chính trị, cơ hội về đạo đức. Đó là thói tùy thời thỏa hiệp vô nguyên tắc, là hành động lợi dụng cơ hội nhằm chiếm đoạt lợi ích trước mắt và cục bộ, bất kể việc làm đó đúng hay sai, như kiểu “mượn gió bẻ măng”, “đục nước béo cò”, ngả nghiêng, xoay xở, “gió chiều nào che chiều ấy”, sng a dua, tìm kiếm “ô, dù” trong các chuyến “buôn quyền lực”, “chuyến tàu vét quyền lực”, kèn cựa, gây bè kéo cánh, thậm chí vu cáo, bôi nhọ đồng chí, gây rối nội bô V.I. Lênin chỉ rõ: Họ xác định thái độ của mình tùy theo hoàn cảnh, vì lợi ích cá nhân sẵn sàng hy sinh lợi ích chung, lợi ích sống còn của giai cấp vô sản, đó là chính sách của bọn xét lại. Đây là một căn bệnh cực kỳ nguy hiểm trong Đảng, đặc biệt là tình trạng “cơ hội giấu mặt”. Bằng “vỏ bọc cộng sản”, dưi danh nghĩa tiếp tục “đổi mới”, họ đòi xét lại cơ sở, nền tảng lý luận và tư tưởng của Đảng, đưng lối chính trị của Đảng trên những phương diện cốt tử nhất; cổ súy cho tư tưởng và quan niệm đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập; gắn kết chủ nghĩa cơ hội với chủ nghĩa bè phái và cục bộ địa phương, hình thành các “ô, dù”, cánh hẩu trong Đng, phân hóa một bộ phận đội ngũ đảng viên của Đảng, làm biến chất, phân rã và tê liệt không ít tổ chức đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức v.v. ở họ chứa đựng thứ “đạo đức ba mặt”: cao đạo trong cuộc họp, trí trá ngoài hành lang và nịnh bợ trước cấp trên - hành xử cốt sao có lợi cho họ, dù hại đồng chí mình và tổ chức. Họ sợ sự thật và tìm cách bóp nghẹt thậm chí chà đạp những người trung trinh. Đó là những con “kỳ nhông chính trị”, “con trùng biến hình đạo đc” trong Đảng. Một lần nữa, cần khắc sâu và cảnh báo: ssuy thoái về đạo đức là con đường ngắn nhất dấn ti sự băng hoại về chính trị; đến lượt nó, sự băng hoại v chính trị dn tới “cái chết về đạo đức”.

Biu hiện tập trung nhất, cao nhất và nguy hiểm nhất của suy thoái tư tưởng chính trị là tham nhũng chính trị, phản bội chính trị, thối rữa tư tưởng và băng hoại đạo đức... tạo nên những “kẻ thù giấu mặt”, những “liên minh tội phạm”. Họ cho mình cái quyền sở hữu quyền lực chính trị mà Nhân dân ủy thác cho họ thành “của riêng” để đổi chác, ban phát cho “nhóm”, thành hàng hóa mưu toan định giá bán mua... Tất c gieo mầm họa trong cán bộ: tệ “chạy” (chức chức quyền, tuổi tác, luân chuyn, bng cp...); tệ gian di (trước cấp trên, cấp dưới và Nhân dân); tệ “đạo vị”, nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, tức là “ăn trộm chức quyền”... Đó cũng là sự quay quắt về tư tưởng chính trị và giả trá về đạo đức, sự ngả hẳn hành động về phía kẻ thù chống lại cách mạng, phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhân dân ta, mà trước hết là, phá vỡ Đảng một cách toàn diện công cuộc đổi mi, chống lại dân tộc và Nhân dân. Có người kêu gào đòi lập đảng đối lập với Đảng ta... Nếu sự phản bội chính trị, sự tan rã đạo đức nằm trong những cán bộ cốt cán của Đảng, ở những phương diện và bộ phận quan trọng của Đảng thì hậu quả càng khôn lưng.

Bài học về sự tan v của một s đảng cộng sản gần đây ở Liên Xô, Đông Âu đã cảnh báo điều đó. Đây là những giặc nội xâm nguy hiểm nhất, những “cục bướu ác tính” tích tụ và phát tác trong nội bộ làm Đảng rã ri, có nguy cơ đột quỵ, đội ngũ rối loạn, chế độ tan v, hậu họa đối với dân tộc khôn lường./.